Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Nghệ nhân và Margarita - Mikhail Bulgakov

M.Bulgakov - Bản thảo không bị cháy Từng chương, từng trang sách, đều ẩn chứa trong đó những hàm ý triết học được "phổ" vào ngay cả những sự kiện xoàng xĩnh, khôi hài đến thảm hại của một hiện thực rã nát trong thế giới văn nhân. Và toàn thể tiểu thuyết là một tuyên ngôn nghệ thuật mà cho đến ngày nay các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục khám phá không ngưng nghỉ. Nghệ Nhân là nhà văn vừa hoàn thành tiểu thuyết, viết về hai nhân vật Lesua và Ponti Pilat: Một là nhà triết học lang thang và một là quan tổng trấn quyền uy. Lesua đã bị gài bẫy, bị bắt và bị hành hình vì những rao giảng của mình. Cái chết của Lesua đã trở thành nỗi ám ảnh kéo dài suốt hai nghìn năm, không để cho Ponti Pilat được yên, bởi quan tổng trấn đã không thể "cứu" được Lesua khỏi án chết, như ước muốn bí mật chỉ riêng ông biết. Số phận của Nghệ Nhân cũng không hề may mắn hơn: Tác phẩm của anh bị nguyền rủa và khai tử bởi các đồng nghiệp ngay từ lúc chưa công bố, dẫn đến việc anh bế tắc, tuyệt vọng, tự đốt bản thảo và tìm đến nhà thương điên, trốn chạy cả tình yêu định mệnh của Margarita… Chỉ có quỷ sứ mới cứu nổi nhà văn. Và quả thật quỷ sứ đã xuất hiện. Phần lớn số trang của tiểu thuyết đã dành để mô tả những gì mà chúa quỷ Voland và đoàn tùy tùng đã "quậy tưng" thành phố Moscow lên theo cách nào. Bằng những phép thuật được sử dụng như thuốc thử, Voland đã buộc giới văn nhân tự lộn trái mình ra, bộc lộ những phẩm chất tồi tệ: Bất tài, dối trá, ăn bám và hám lợi. Quả thật, Bulgacov với "Tài năng của nhà văn trào phúng, tài năng của nhà văn giả tưởng và tài năng của nhà văn hiện thực" đã nén đến tối đa những vấn nạn văn chương - tư tưởng, nhằm khẳng định khát vọng của nhà văn. Nó ở trong lời đáp của Voland khi Nghệ Nhân lên tiếng hỏi mình có nên chạy theo Ponti Pilat không: "Không, chạy theo dấu vết của cái đã kết thúc để làm gì?…Chẳng lẽ anh không muốn giống như Faust, ngồi bên chiếc bình cổ cong với niềm hy vọng mình sẽ tạo ra được một giống Homuncul mới?". Nếu Nghệ Nhân - nhà văn trong tiểu thuyết khá mềm yếu và thụ động thì Bulgacov - nhà văn ngoài đời thực hoàn toàn ngược lại. Mạnh mẽ, quyết liệt, Bulgacov đã gửi một bức thư dài đến chính phủ Liên Xô: "Và tự tay tôi, tôi đã ném vào lò sưởi một tập bản thảo cuốn tiểu thuyết viết về quỷ sứ, một tập bản thảo hài kịch và phần đầu cuốn tiểu thuyết thứ hai của tôi - tiểu thuyết Sân khấu…Tôi xin lưu ý rằng, không được viết đối với tôi cũng có nghĩa là bị chôn sống… Nếu không được làm đạo diễn, tôi xin làm diễn viên đóng vai phụ. Nếu làm diễn viên phụ cũng không được, tôi xin làm công nhân sân khấu. Nếu cả điều đó cũng không thể được, tôi xin chính phủ Xô viết xử trí tôi như chính phủ thấy cần thiết…". Bức thư đã được gửi đi vào trước thời điểm mà Maiakovski đã dùng súng tự bắn vào đầu. Sự quyết liệt ấy đã thể hiện rất rõ trong tiểu thuyết, ở những đối thoại giữa giữa Lesua - Pilat. Iesua đã trả lời Pilat, nhắc lại những gì mà vì nó, nhà triết học phải bước lên đoạn đầu đài: "Tôi nói rằng ngôi đền của lòng tin cũ sẽ sụp đổ, và ngôi đền mới của chân lý sẽ được dựng lên… Bất kể thứ quyền lực nào cũng là bạo lực đối với con người, và sẽ đến một lúc sẽ không còn quyền lực của các hoàng đế lẫn bất kỳ thứ quyền lực nào khác. Con người sẽ đến được vương quốc của sự thật và công lý, nơi nói chung sẽ không cần một quyền lực nào cả…". Có lẽ sự quyết liệt ấy đã giúp cho "bản thảo không bị cháy", cho dù Nghệ Nhân, cho dù chính Bulgacov đã đốt nó. *** Năm 2006, Mikhail Bulgakov, một trong những nhà văn lớn nhất và kỳ bí nhất của nước Nga, tròn 115 tuổi. Hành trình cuộc đời, hành trình văn chương của ông trên dưới trăm năm đầy gian nan thăng trầm nhưng hướng về bất tử, như lời khẳng định của một nhà văn Nga: “Bulgakov – nhà văn đang sống và sẽ sống chừng nào còn tồn tại văn học Nga”. Hơn thế nữa, mối quan tâm đối với sự nghiệp sáng tác của Bulgakov mỗi ngày một tăng ở Nga và ở nhiều nơi trên thế giới, hầu hết tác phẩm của ông liên tục được in, tái bản, dịch, dựng phim… Xuất hiện ngày càng nhiều những công trình nghiên cứu “Bulgakov học”. Ông là một trong số rất ít nhà văn ở Nga được làm “Bách khoa toàn thư”; và đặc biệt, Bulgakov có lẽ là một trong những nhà văn có tác phẩm được đưa lên và được đọc nhiều nhất trên mạng Internet. Nghệ nhân và Margarita là cuốn tiểu thuyết lớn nhất của M. Bulgakov, một trong những đỉnh cao của nghệ thuật ngôn từ Nga. Tác phẩm này đã được dịch sang tiếng Việt hai mươi năm trước, có thể nói đây là công trình dịch thuật công phu và tâm đắc nhất của tôi. Tuy nhiên, có một sự thật là, khác với ở nước Nga và phương Tây, kiệt tác này không thật sự được phổ biến và tiếp nhận rộng rãi ở bạn đọc Việt Nam – có lẽ là do những khác biệt nhất định về văn hóa. Lần này, 65 năm sau khi tác phẩm ra đời, chúng tôi xin tái bản lại bản tiếng Việt trong một nỗ lực tiếp tục đưa Bulgakov đến gần hơn nữa với bạn đọc Việt Nam, nhất là bạn đọc trẻ tuổi, thế hệ mà tôi hi vọng sẽ dễ dàng tiếp cận Nghệ nhân và Margarita hơn. Ngoài bản dịch cuốn tiểu thuyết, chúng tôi đưa thêm phần Phụ lục để phần nào giúp bạn đọc trong việc cảm thụ tác phẩm này. Hà Nội, 27 tháng 1 năm 2006 Ðoàn Tử Huyến *** Một buổi chiều mùa xuân, vào cái giờ mặt trời lặn nóng chưa từng thấy, trong công viên Hồ Pat’riarsi1 ở Moskva xuất hiện hai vị nam công dân. Người thứ nhất dáng thâm thấp, béo tốt, hói đầu, mặc bộ quần áo mùa hè màu xám nhạt, chiếc mũ còn khá lịch sự bóp lại cầm trong tay, cặp kính gọng sừng đen to quá cỡ ôm ngang khuôn mặt cạo kỹ lưỡng. Người thứ hai còn trẻ, vai rộng, tóc vàng hung rối bù, mũ cát két sọc vuông đội lệch ra sáu gáy, áo sơ mi kẻ ô, quần dài trắng nhàu nát và chân đi đôi giày vải đen. Người thứ nhất không phải ai khác, mà chính là Mikhail Aleksandrovich Berlioz2, chủ tịch ban chấp hành của một trong những hiệp hội văn học lớn nhất Moskva, viết tắt là MASSOLIT3, và ông đồng thời cũng là tổng biên tập một tờ tạp chí văn học lớn; còn người bạn đường trẻ của ông là nhà thơ Ivan Nikolaievich Ponưrev, bút danh Bezdomnưi4. Bước vào dưới dãy bóng râm của hàng cây lipa5 đang bắt đầu nhú lá xanh, việc đầu tiên của hai nhà văn là chạy vội đến bên chiếc quầy dựng bằng ván sơn sặc sỡ với dòng chữ “Bia và nước giải khát”. Mà quên, có lẽ cần phải thông báo ngay cho bạn đọc biết điều kỳ lạ thứ nhất của cái buổi chiều tháng Năm khủng khiếp này. Ðó là, không chỉ ở cạnh quầy giải khát, mà suốt dọc cả con đường có trồng cây chạy song song với phố Malaia Bronnaia cũng không thấy một bóng người nào. Vào cái giờ đó, khi hình như mọi người đã hết cả sức để thở, khi vầng mặt trời, sau một ngày thiêu đốt Moskva, đang bọc mình trong màn sương khô lặn xuống một nơi nào đấy phía sau tuyến đường vòng Sadovoie, chúng ta không hề gặp một ai đi dạo hóng mát dưới bóng hàng cây lipa, không thấy một người nào ngồi trên những chiếc ghế băng “suốt dọc con đường dài vắng tanh vắng ngắt.” “Cho cốc nước khoáng narzan”, Berlioz nói với người đàn bà bán hàng. “Không có narzan đâu”, người đàn bà trong quầy đáp, và không hiểu tại sao bà ta lại tỏ vẻ phật ý. “Có bia không?” Bezdomnưi hỏi bằng giọng khàn khàn. “Bia tối mới chở về”, người đàn bà trả lời. “Thế có gì?” Bezdomnưi lại lên tiếng. “Nước mơ ấm”, người đàn bà nói. “Thôi được, cho xin, cho xin, cho xin!…” Hai cốc nước mơ sủi rất nhiều bọt màu vàng, và trong không khí bốc lên một thứ mùi như ta thường thấy trong các cửa hiệu cắt tóc. Uống xong, hai nhà văn lập tức đua nhau nấc cụt; họ trả tiền và ngồi xuống một chiếc ghế băng, mặt ngoảnh ra hồ, lưng quay về phía phố Bronnaia. Ðúng lúc đó bắt đầu xảy ra điều kỳ lạ thứ hai của buổi chiều hôm đó, nhưng nó chỉ liên quan tới một mình Berlioz: ông bỗng thôi nấc, tim bỗng đập mạnh một cái rồi lặn hẫng đi đâu mất; và thoáng sau nó trở lại nhưng hình như có kèm theo một mũi kim tù nằm mắc bên trong. Thêm vào đó, Berlioz bỗng cảm thấy một nỗi sợ hãi vô cớ nhưng rõ rệt đến nỗi ông muốn ngay lập tức bỏ chạy khỏi nơi đây không ngoái lại. Không hiểu cái gì khiến ông hoảng sợ, Berlioz đưa mắt rầu rĩ nhìn quanh. Mặt ông tái mét; ông lấy khăn mùi soa lau trán, nghĩ thầm: “Cái gì xảy ra với mình thế này nhỉ? Trước đây chưa bao giờ như vậy cả… Hình như tim mình bị sao ấy… Mình mệt mỏi quá rồi. Có lẽ cần phải vứt tất cả lại để đến nghỉ ở Kislovodsk6 thôi…” Ðúng lúc đó, làn không khí oi ả bỗng cô đặc lại trước mắt Berlioz, tạo thành một người đàn ông trong suốt có hình thù hết sức kỳ dị. Trên mái đầu nhỏ tí của anh ta là chiếc mũ lưỡi trai của dân đua ngựa, áo vét kẻ ô mỏng ngắn cũn cỡn… Người này cao khoảng một sagien, nhưng vai hẹp, gầy không thể tưởng được, và bộ mặt, xin bạn đọc lưu ý cho, đầy vẻ nhạo báng! ... Mời các bạn đón đọc Nghệ nhân và Margarita của tác giả Mikhail Bulgakov.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Cẩm Nang Cưa Gái Của Dân Chơi
Vài lời: Một sản phẩm hoàn toàn "made in TVE-4U" nhằm hưởng ứng chiến dịch ebook tự thân. Bản dịch của Ngân Trang @ngantrang0811 có chất lượng rất tốt và truyền tải được sự hài hước, "bẩn bựa" của nguyên tác. Hi vọng thời gian tới cộng đồng mọt sách sẽ được đọc tiếp những dịch phẩm của bạn. Mình khoái nhất mánh "Cây đèn thần", giải thoát cho vị thần nào cô em đỏm đáng >-< ôi (.) (.) Lời người dịch Dân nghiền series Mỹ, đặc biệt là 9 season của How I met your mother thì không thể không biết tới cuốn The Playbook của anh chàng dân chơi Barney Stinson. Trong phim, cuốn sách xuất hiện như một cuốn cẩm nang tập hợp mọi mánh lới cua gái của Barney và mặc dù nó đã bị đốt khi Barney tìm được tình yêu của cuộc đời mình, thì fan hâm mộ bên Mỹ vẫn có cơ hội cầm trên tay cuốn sách này. Trong thời đại FA đầy rẫy thế này, các bạn càng cần một cuốn sách chỉ dẫn cách cua gái (đùa thôi!). Hãy đọc và giải trí cùng thứ ngôn ngữ rất "tửng" và tự tin của anh chàng này nhé! Ngân Trang - 2015 THE PLAYBOOK LÀ GÌ? The playbook cung cấp cho những dân chơi kiên nhẫn rất nhiều chiêu trò. Ẩn chứa trong những trang sách này là tất cả những sự lừa phỉnh, những câu chuyện nhảm nhí, những chiến lược và sự gạ gẫm tôi đã dùng hoặc hi vọng được dùng để cưa gái và cho họ việc để làm. Giờ đây, để thể hiện sự hi sinh cao cả, tôi sẽ truyền lại kho báu này cho bạn như một cuốn chỉ dẫn đơn giản. Trong cuốn sách này là hơn 75 kế hoạch được bảo đảm là sẽ hấp dẫn mọi loại phụ nữ, ngay cả khi kĩ năng giao tiếp xã hội của bạn chỉ ở mức đáng thương. Trên hết, hầu như mọi vở kịch đều không đòi hỏi kinh nghiệm gì và rất ít sự chuẩn bị, và bạn giờ đã có gần như mọi thứ để có thể bắt đầu ngay. Với sự xuất hiện của rất nhiều chương trình hướng dẫn tán gái trên thị trường, có lẽ bạn sẽ tự hỏi điều gì khiến cho The Playbook trở nên khác biệt. Đầu tiên, tôi là người tạo ra cuốn sách này nên bạn có thể tin tưởng nó sẽ cực kì hoành tráng. Thứ hai, tôi đã ngủ với rất nhiều cô nàng nóng bỏng đủ để nhét đầy một máy bay chở hàng (vài người trong số đó đến từ một chiếc máy bay chở hàng, sao nào?). Chỉ duy nhất một lần phải kẻ mắt và đội mũ tai chó Goofy để làm việc đó… Chủ yếu bởi vì cô nàng này đã ở trong trạng thái hôn mê kể từ năm 1983 và việc phải giả làm Boy George đúng là một cực hình. *** LỜI KHEN TẶNG DÀNH CHO THE PLAYBOOK TỪ NHỮNG TAY CHƠI VĨ ĐẠI “The Playbook chính là thứ hàng nhập khẩu từ nước Mỹ mà tôi luôn toàn tâm toàn ý ủng hộ!” - Fidel Castro, nguyên là nhà độc tài, thủ tướng, tổng thống – anh chàng ngậm điếu xì gà với cái mũ nồi ngớ ngẩn “Nếu tôi còn sống đến ngày hôm nay và có thể đọc tiếng Anh, The Playbook chắc chắn sẽ là cuốn sách gối đầu giường của tôi. Cám ơn nhiều, Barney!” - Thành Cát Tư Hãn (Genghis Khan), chiến binh Mông Cổ vĩ đại - được cho là cha đẻ của 25% dân số loài người (nhân tiện, đó sẽ là một tập Maury hay tuyệt). “Có hơn 13000 lí do để mua The Playbook.” - Warren Beatty, huyền thoại Hollywood/huyền thoại trên giường. “Bạn muốn tôi tôn thờ cái gì đây? Mọi người đâu rồi? Đây chính là một nguồn gây qũy cho sự phát triển nền kinh tế châu Phi, đúng không nào?” - Bill Clinton, cựu tổng thống Hợp Chủng Quốc Hoa Kì. Chú thích: Maury Povich là dẫn chương trình của show truyền hình về các vẫn đề nhạy cảm như sex, giới tính của thiếu niên. The Playbook được dành tặng cho những thực thể đẹp đẽ có thể khiến trái tim chàng trai trẻ đập loạn nhịp, làm một người đàn ông trung niên òa khóc vì hạnh phúc và khiến một cụ ông mỉm cười hài lòng: (.) (.) LỜI MỞ ĐẦU Lời đầu tiên, xin được cám ơn những người đã mua cuốn sách này! Giờ đây, khi bạn đang đọc nó, tôi đoán là hoặc bạn quá thảm hại và không dám tán gái một mình, hoặc bạn đang tìm kiếm những ý tưởng hay ho cho bộ sưu tập của mình – nhưng đối tượng thực sự của cuốn sách này lại là những người “quá thảm hại và không dám tán gái một mình.” Bạn tình cờ gặp một người phụ nữ và nói lắp bắp với cái giọng thều thào, “Tôi có thể xin số điện thoại của cô được không?” Đôi tay run rẩy của bạn thì dính chặt trong túi, với nỗ lực trông sao cho thật hấp dẫn. Bạn ăn mặc như một học sinh lớp 8 lớn quá cỡ. Bạn không được khỏe cho lắm. Trời ạ, ông bạn trông như một đống lộn xộn? À, tôi tin là bạn còn bốc mùi nữa. Tin tốt là bạn không chỉ có một mình, Ted. Có hàng triệu những gã ngốc nghếch và thiếu hấp dẫn như bạn ở khắp nơi, những người chẳng bao giờ muốn ngủ với đàn bà. Nhưng tất cả sắp thay đổi vì giờ, với sự giúp sức của The Playbook, bạn có thể tiếp cận với bất cứ người phụ nữ nào và lừa cô ta ngủ với bạn. Bằng cách nào? Bằng việc tạo cho bạn sự tự tin và chứng minh rằng bạn quan trọng (kể cả khi bạn chẳng quan trọng tí nào). Một lần nữa, rất cám ơn những ai đã mua cuốn sách này. Mời các bạn đón đọc The Playbook - Cẩm Nang Cưa Gái Của Dân Chơi của tác giả Barney Stinson.
Cảm Ơn Ký Ức
Khi Joyce xuất viện, sau một vụ tai nạn đau lòng, cùng với tương lai mờ mịt và một cuộc hôn nhân tan vỡ, cô trở về sống với người cha già. Không lâu sau, một cảm giác mạnh mẽ trỗi dậy trong cô. Ký ức cô chứa đựng những việc mà cô chưa hề trải qua và cô không thể giải thích tại sao … Làm sao để bạn biết rõ một người chưa từng gặp? Ký ức của Joyce Conway chứa tất cả những điều mà cô không hiểu làm cách nào mình biết! Cô cảm giác “quen” với từng con hẻm nhỏ rải sỏi - nơi cô chưa từng đặt chân đến. Và đêm nào, cô cũng mơ thấy một bé gái mái tóc vàng hoe. Justin Hitchcock đã ly dị vợ. Anh cô đơn và lúc nào cũng bồn chồn không yên. Anh đến Dublin để giảng dạy về nghệ thuật và gặp một nữ bác sĩ quyến rũ, người đã khuyến khích anh tham gia hiến máu nhân đạo. Đã lâu lắm rồi, anh mới làm một việc xuất phát từ tận sâu thẳm trái tim của mình… Số phận đã đẩy đưa Joyce và Justin gặp nhau. Sau rất nhiều những trắc trở, cuối cùng, họ đã tìm được một nửa yêu thương của mình. “Hơn cả sự cảm động. Đó là điều có thể nói về quyển tiểu thuyết thần kỳ của Cecelia Ahern” *** Khi đi hiến máu, người ta sẽ không biết được máu của mình sẽ được tặng đến ai. Các cơ quan quản lý sẽ bảo mật tất cả những thông tin vì đây là lòng thiện nguyện và để tránh những phiền phức về sau cho cả hai phía. Nhân vật nam chính của câu chuyện đã đi hiến máu vì lời mời của cô bạn gái anh mới quen, cô ấy là một bác sĩ xinh đẹp. Anh chàng cứ luôn mong muốn được biết rõ rằng, ai là người nhận được máu mà anh ta hiến tặng, anh muốn được nhận lời cảm ơn, muốn người nhận máu của anh thể hiện lòng biết ơn với anh. Một người phụ nữ đã sảy thai, rất đau khổ, cô ấy được truyền vào cơ thể dòng máu của anh. Và bắt đầu từ đây đã có rất nhiều điều kỳ lạ xảy ra với cuộc đời của cả hai người. Tất cả những ký ức của người đàn ông, kể cả ký ức đẹp hoặc rất buồn, kể cả những bí mật được giấu kín của người đàn ông xa lạ, người phụ nữ được nhận máu của anh đều nhìn thấy rất rõ như của chính mình, như bản thân đã chứng kiến tất cả những điều đó. Cô còn nói được một số ngôn ngữ khác mà cô chưa từng tiếp xúc, cô còn hiểu được lịch sử của những công trình kiến trúc mà cô chưa từng biết tới. Vì đó là công việc, đam mê của người đã tặng máu cho cô, anh ta là giảng viên chuyên ngành về kiến trúc. Rồi những cuộc gặp gỡ tình cờ giữa họ, những lần cố tình gần gũi, tìm hiểu về nhau mà không để cho người kia biết hoặc khi đã sắp được chạm mặt nhau rồi không thể gặp nhau được cứ diễn ra, khiến họ càng mong muốn chạm mặt, để người kia hiểu được lòng mình, họ dần yêu nhau, rồi yêu nhau. Quyển sách không phải chỉ là tình yêu của hai con người đã từng đi qua một cuộc hôn nhân tan vỡ, không phải chỉ hấp dẫn vì sự bí ẩn của tạo hóa. Nó còn hấp dẫn, sâu sắc vì tình cha con, tình vợ chồng của những người già, tình bạn bè, tình anh em. Nó còn hấp dẫn bởi cách kể chuyện lôi cuốn, ngôn ngữ hài hước, phải đến chương cuối cùng hai người đã yêu nhau ấy mới chính thức gặp nhau và nói lời xin lỗi, lời yêu thương ấm áp. Mình tìm được quyển sách này trong một đống sách giá rẻ khổng lồ ở một hội sách, hình như chỉ có 10 nghìn đồng. Nhiều khi chúng ta thường đánh đồng giữa giá cả và giá trị. Mình đã để cuốn sách trong tủ mấy năm nay, không đọc nó vì phải ưu tiên đọc những cuốn sách đắt tiền hơn. Câu chuyện này đọc vào một chiều mưa, một ngày cuối tuần hay trong một chuyến đi nghỉ dưỡng thì phù hợp biết mấy. – Nhân Trần *** Câu chuyện xoay quanh hai nhân vật chính là Joyce Conway và Justin Hitchcock với các tình tiết rất kịch tính, éo le. Joyce là giảng viên môn nghệ thuật và kiến trúc tại trường cao đẳng Joyce có một cuộc hôn nhân hạnh phúc với người chồng tên Conor, không lâu sau đó một vụ tai nạn đau lòng khi đứa con đầu lòng mong ngóng từng ngày với tất cả niềm hãnh diện đã ra đi, khiến cho cuộc hôn nhân tan vỡ cùng với tương lai mù mịt, cô trở về sống với người cha già. Không lâu sau, một cảm giác mới mẻ trỗi dậy trong cô. Ký ức của cô chứa đựng những việc mà cô chưa hề trải qua và cô không biết giải thích tại sao, không hiểu làm cách nào mà mình biết… Cô cảm giác quen với từng con hẻm nhỏ rãi sỏi- nơi cô chưa từng đặt chân đến và đêm nào cô cũng mơ thấy một bé gái có mái tóc vàng hoe… Làm sao mà bạn biết rõ một người mà mình chưa từng gặp… Justin Hitchcock với cuộc sống hôn nhân tan vỡ và có một cô con gái tên Bea, anh cô đơn và lúc nào cũng bồn chồn không yên, khi anh đến Dublin để giảng dạy thì gặp một người bác sĩ quyến rũ, người đã khuyến khích anh tham gia hiến máu nhân đạo. Đã lâu lắm rồi anh mới làm một việc xuất phát từ tận sâu thẳm trái tim để rồi chính giây phút ấy có một sợi dây vô hình đã gắn kết anh với Joyce. …”Cô ao ước có một đưá bé, hay một cô bé giống như cháu… Cháu là hình ảnh đẹp nhất của mẹ. Phải chi cũng có một đứa trẻ, một đứa trẻ cũng có đôi mắt của cô, cái mũi của cô”. Thật sự việc bị mất đi điều thiêng liêng ấy – đứa con của mình khiến cô hoàn toàn sụp đổ, mọi thứ xung quanh với cô chỉ còn là một màu đen u ám, mỗi một ngày trôi đi hình ảnh đứa bé ấy, hình ảnh căn phòng cho trẻ sơ sinh hiện lên trong đầu cô, dày vò cô, bao nhiêu nước mắt, đau đớn tuyệt vọng và cả sự bế tắc mà cô không thể chia sẽ hay thoát khỏi và cũng chính câu chuyện bi thương này. Nhưng thật may khi bên cạnh cô có một người bố luôn che chở và dõi theo. “Thật đấy con ạ. Bố tin rằng có một thiên đường, ở trên kia, trên cả những đám mây. Tất cả những người từng ở đây rồi một ngày nào đó sẽ lên trên ấy. Ngay cả những người mắc tội tày đình, Đức chúa trời vẫn sẽ tha thứ. Bố tin là như thế “. Vào thời điểm “không có con, không có chồng, không có mẹ và sắp tới là không có nhà” tài sản duy nhất mà cô có bây giờ là bố. Cô mất đi tất cả mọi thứ thế nhưng cô có vài thứ nho nhỏ mà cô chưa từng có trước đó. Và thật sự kì tích, sức sống trong cô trỗi dậy mạnh mẽ khi gắp được định mệnh của cuộc đời mình. Sự tình cờ khi cô và anh chàng Justin cùng vào một tiệm hớt tóc. Và thêm một điều đặc biết là anh từng hiến máu cùng với lúc cô được truyền máu khi bị hư thai… “Người đàn ông giữ cánh cửa và mỉm cười. Đẹp trai. Gương mặt tươi tắn. Cao. Vai rộng. Có dáng thể thao. Hoàn hảo”. Ngay từ lần gặp đầu tiên, Justin rất có ấn tượng trong lòng cô. “Tôi nhìn vào trong gương và nhìn thấy trong đó một mẫu người ở mức trung bình về mọi mặt. Một chút mệt mỏi, một chút buồn nhưng không rơi vào tuyệt vọng. Tôi nhìn người đàn ông bên cạnh mình và tôi thấy anh cũng y như vậy” giữa hai người thực sự có rất nhiều điểm chung, “cảm giác như anh từng biết cô ta nhưng thực tế anh chưa từng biết cô ta”. Không thế giải thích tại sao khi mà cả hai đều có chung một cảm giác vừa thân thuộc nhưng cũng lạ lẫm… Điều khiến chúng ta bất ngờ nhất chính là máu của anh được truyền vào người cô. Các nhà khoa học giải thích rằng, trong trái tim có những tế bào thông minh có khả năng ghi nhớ kí ức. Thế nghĩa là nếu trái tim vẫn giữ được sự thông minh ấy, thì khi máu- thứ được bơm trực tiếp từ trái tim- truyền từ người này sang người khác, nó có thể mang theo cả những ký ức đó luôn ”nghe có vẻ thật điên rồ nhỉ nhưng làm sao có thể giải thích khi mà những hình ảnh lóe lên trong tâm trí như tia chớp rất nhanh và sắc nét“ hình ảnh về một người đàn ông đang đứng ở cầu thang. Một em bé trong vòng tay của tôi. Một bé gái có tóc vàng hoe. Một bài hát quen thuộc… Và thế là cô bắt đầu tìm kiếm anh, tìm kiếm sự thật rằng những ký ức tại sao luôn xuất hiện. Không chỉ riêng cô mà Justin cũng đang không ngừng tìm kiếm người mà anh đã cứu sống, anh có chứng sợ hãi với kim tiêm, nhưng khi gặp được một bác sĩ tên là Sarah khuyến khích anh, anh mới có đủ can đảm một làm một việc có ích chính vì thế mà anh thật sự rất mong muốn tìm ra người anh đã truyền máu nhưng sự thật thì không thể, mọi thứ đều giấu kín. Tưởng chừng như chẳng còn một chút hi vọng nào cho anh thì cô con gái Bea đã mở đường cho anh và mọi thứ đều được giải bày, khi anh nói cho cô con gái điều mình mong muốn người được truyền máu sẽ thực hiện như là gửi lời cảm ơn hay mỗi buổi sáng anh sẽ nhận được món quà ở trước cửa và…, anh đã nhận được. Một giỏ bánh nướng xốp. Và tấm thiếp với từng chữ một trên đó làm anh lạnh cả lưng sống “Cảm ơn… Đã cứu sống cuộc đời tôi”, sau đó là một tờ báo và không có mẫu giấy nào kèm theo, “Anh tâp trung nhìn vào trang nhất. Trên những dòng chữ nổi bật ở một góc nhỏ của trang, anh chú ý đến một lời hướng dẫn, trang 42”. “Người đã nhận máu, mãi mãi biết ơn và ao ước được nói lời cảm ơn với Justin Hitchcock, người hiến máu và là người anh hùng, đã cứu sống cuộc đời tôi. Xin cảm ơn!” Cảm xúc của anh rất hạnh phúc và sung sướng, anh ra khỏi nhà , nhìn ngược xuôi cả con đường và hét lớn “Cảm ơn”, “Tôi rất háo hức để được đọc cái này. Anh vẫy tờ báo lên trong không khí”, “Tôi rất mừng vì bạn còn sống”. Cảm giác được cứu sống một người, làm một việc tốt thật sự rất tuyệt vời, vì bạn, vì những con người đang phải đối mặt với bệnh tật, họ sẽ sẵn sàng giúp đỡ bằng cả tấm lòng với sự chân thành, sâu sắc nhất có thể, rồi nỗi buồn cũng sẽ qua đi khi nhận ra có rất nhiều người bên cạnh bạn, quan tấm lo lắng cho bạn. Và rồi… một sự kết thúc rất ngọt ngào, họ đã giải bày nỗi lòng của mình, những mâu thuẫn cho một sự tình cờ và bắt đầu cuộc hành trình mới cho cuộc sống của mình. Chúng ta không thể giải thích những ký ức, việc truyền máu kỳ quặc ấy nhưng đều chạm đến trái tim chúng ta là cách mà họ đã vượt qua mọi thứ như thế nào. Bao nhiêu nước mắt, đau đớn tuyệt vọng đến nhường nào nhưng vì mọi người, tình mẹ, tình cha và tình yêu đã giúp họ lấy lại niềm tin, như một sức sống luôn ẩn chứa, thôi thúc bên trong và sẵn sàng dâng trào lên bất cứ lúc nào. “Khi bị kịch xảy ra, bạn sẽ nhận ra rằng bạn, người chịu bi kịch, sẽ trở thành người làm mọi việc để cho người khác thoải mái”… ❤ – Nhi Trần Mời các bạn đón đọc Cảm Ơn Ký Ức của tác giả Cecelia Ahern.
Nhà Chử
Tái hiện truyền thuyết Chử Đồng Tử - Tiên Dung. Câu chuyện dân gian về chàng trai nghèo Đồng Tử và cuộc gặp gỡ định mệnh trên bãi Tự Nhiên với nàng công chúa con Vua Hùng được kể lại sinh động và nhiều cảm xúc. *** Tô Hoài (tên khai sinh: Nguyễn Sen; 27 tháng 9 năm 1920 – 6 tháng 7 năm 2014) là một nhà văn Việt Nam. Một số tác phẩm đề tài thiếu nhi của ông được dịch ra ngoại ngữ. Ông được nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật Đợt 1 (1996) cho các tác phẩm: Xóm giếng, Nhà nghèo, O chuột, Dế mèn phiêu lưu ký, Núi Cứu quốc, Truyện Tây Bắc, Mười năm, Xuống làng, Vỡ tỉnh, Tào lường, Họ Giàng ở Phìn Sa, Miền Tây, Vợ chồng A Phủ, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ.   Tô Hoài sinh ra tại quê nội ở thôn Cát Động, Thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông cũ trong một gia đình thợ thủ công. Tuy nhiên, ông lớn lên ở quê ngoại là làng Nghĩa Đô, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam. Bút danh Tô Hoài gắn với hai địa danh: sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức. Bước vào tuổi thanh niên, ông đã phải làm nhiều công việc để kiếm sống như dạy trẻ, bán hàng, kế toán hiệu buôn,… nhưng có những lúc thất nghiệp. Khi đến với văn chương, ông nhanh chóng được người đọc chú ý, nhất là qua truyện Dế Mèn phiêu lưu ký. Năm 1943, Tô Hoài gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc. Trong chiến tranh Đông Dương, ông chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực báo chí, nhưng vẫn có một số thành tựu quan trọng như Truyện Tây Bắc. Từ năm 1954 trở đi, ông có điều kiện tập trung vào sáng tác. Tính đến nay, sau hơn sáu mươi năm lao động nghệ thuật, ông đã có hơn 100 tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau: truyện ngắn, truyện dài kỳ, hồi ký, kịch bản phim, tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác. Ông mất ngày 6 tháng 7 năm 2014 tại Hà Nội, hưởng thọ 94 tuổi. *** Chiếc độc mộc cứ trùi trũi truồi xuôi. Nhập nhoạng tối, về đến một quãng sông êm ả. Chử nằm ngủ, ghếch đầu lên mạn thuyền. Suốt đêm ấy đẫy giấc. Đã qua những vùng lủa tủa đá lẫn với sóng. Không cần phải thấp thỏm đâm vào đá thác. Bỗng nhiên, đương hây hẩy gió may, chuyển ra gió giật. Giữa ban ngày, nổi bão cạn. Trời tạnh mây mà đùng đùng, ù ù như sấm rền. Hai bên sông, gió hung hăng bốc bay từng mảng rừng. Dòng nước đương miên man, chợt nổi từng con sóng úp, sóng ngửa cao bằng đầu, rồi xoáy sâu xuống sâu tròn lông lốc. Thuyền quay veo veo như chiếc lá tre được gió. Chử nhỏm dậy. Lật đật, chân chèo, chân lái, chân đốc, chân mũi. Không lại. Cái độc mộc như cây gỗ lăn xoay chong chóng. Chử đành nằm bám sạp thuyền, mà vẫn lúc lắc, điên đạo. Bụng xoắn lại, nảy đom đóm mắt. Bão cạn ba hôm liền. Rồi lại chui vào một vùng trời nước phẳng lặng như không. Ngày ngày ròng rã, ngẩng mặt lên, chỉ thấy xa xa một khoảng đất lở cách quãng viền cây xanh mờ. Chử đoán đất dễ thường là bến. Chử tạt độc mộc vào. Cái bến vắng chơ vơ không có cả đến một đàn le le hay lặn hụp bắt cá măng quanh thuyền quanh lưới ở những quãng thường có người lội. Mấy nhà chài đương co ro đẩy mảng vào trong đồng xa. Chử gọi lại hỏi mới biết từ dạo vỡ nước, cả bến đã chạy vào chân núi. Nhưng cũng hỏi thăm được. - Đã đến bến Tự Nhiên chưa, chư ông ơi? - Ở đây cũng chỉ mang máng nghe có người nói cứ xuôi đến hôm nào gặp vòng trăng tròn, hẵng hỏi thăm nữa. Còn xa. Chử lại lặn lội trên dòng sông quằn quại đỏ xuộm. Có hôm thuyền va phải xoáy trôi vào vùng nước quẩn. Sóng múa lên bốn phía, đánh thuyền lật mai. Chử tuồi xuống nước, ngoi theo thuyền. Rồi tay chân quặp bụng thuyền, như ôm cây gỗ. Mặc cho sóng dìm xuống, nhồi lên. Người và con thuyền chìm nổi quanh những làn sóng bầm đỏ, dài dằng dặc. Chẳng còn thấy bờ phía nào. Không đạp ra khỏi được lớp sóng quẩn. Không nhìn đâu ra có cái ăn. Chợt thấy lao xao, bàng bạc như cá đàn lượn qua. Rồi sóng lại oà đi. Đấy là những cánh sóng chen nhau, không phải cá. Chử buộc chão ngang lưng rồi lặn xuống. Hoạ may đáy sông tĩnh mịch, có con ốc nhồi, ốc tai voi... Nhưng cũng chỉ thấy bóng nước vàng mờ trong mắt. Cánh bãi ngập nước, những dây rợ cây hẹ nước, đám ngổ cạn, búi cói hoa mới chìm xuống, cá không vào đến đây. Mà giả thử có lạc loài bọn cá nào đến tìm ăn, thì những con lềnh đềnh to bằng chiếc thúng úp trắng bạch trên mặt nước, đôi mỏ dài như cặp đũa cả chăm chắm chúc xuống rình khua khoắng, không một nhách cá thoát nổi. Chử lại phải ngoi lên, lật mai, bò vào lòng thuyền, ngồi thở hồng hộc. Một lúc sau mới thuần mắt, nhìn ra. Nước lên đã ngập tận chân núi trước kia. Khác hẳn trên ngược, dòng chảy rúc vào gờ đá, mất hút vào đá, ở đây chỉ thấy mênh mang. Những con nước đuổi nhau, đè lên nhau, như những đàn ngựa, đàn voi đỏ thẫm chồm dựng đứng. Chử định thần nhìn kỹ bờ núi. Nhưng bơi vào, xa quá. Biết đâu chẳng lạc sang dòng khác. Những con nước đã tràn khắp nơi, nhoà hết các ngả sông, cửa sông rồi. Có chắc được phía nước cờn kia là triền sông Cái? Mà phải ra sông Cái, phải bám được sông Cái mới khỏi lạc. Cho đến hôm nào thấy được trăng lên. Chử định thần nhìn kỹ bờ núi. Nhưng bơi vào, xa quá. Biết đâu chẳng lạc sang dòng khác. Những con nước đã tràn khắp nơi, nhoà hết các ngả sông, cửa sông rồi. Có chắc được phía nước cờn kia là triền sông Cái? Mà phải ra sông Cái, phải bám được sông Cái mới khỏi lạc. Cho đến hôm nào thấy được trăng lên. Cái thuyền chỉ còn là cây gỗ trôi sông, thỉnh thoảng Chử thò tay ra đẩy tránh ngọn sóng. Đôi khi, chợt thoáng thấy một con vờ, một con cá lành canh, Chử quơ nắm lấy, đưa lên miệng nhai cho đỡ đói lòng. Chẳng còn biết kén chọn cá mú thế nào. Có lúc vớ nhầm, nuốt vội cả đám bọt rêu rễ cây sam nước. Thình lình, một ngọn sóng ập xuống. Chiếc độc mộc ngược lên ngang lưng sông rồi đổ xuống. Nhưng Chử đã biết quấn chão quanh bụng người, bụng thuyền từ hôm xuống đợt thác đầu tiên. Độc mộc lại úp mai xuống. Sóng phá dữ quá, không lật lên được. Chử đành lại ngâm mình trong nước, toài hai chân ếch, nhào ra. Cả người và chiếc độc mộc hũm xuống, lọt thỏm vào xoáy lũ mới. Có đến mấy ngày đêm mới trở ra được dòng cả. Sóng không lôi độc mộc trôi quanh nữa, mà người và thuyền vừa chạm vào mép sóng, đã bị nước xiết cuốn vun vút. Nước vẫn đương lên ào ạt, chẳng trông thấy bờ bến nào hai bên. Suốt đêm, Chử bơi bám thuyền, mắt mở căng. Giữa dòng bao la, có mỗi một con người và một cây gỗ. Nếu như nước thong dong bình thường, Chử chỉ việc làm như mọi khi. Lật cái độc mộc lại, chúm tay tát nước ra, lòng thuyền đã khô ráo cho người ngồi. Nhưng con nước đương hung hăng. Chử và cái độc mộc đành úp sấp, lăn lộn trong dòng nước lớn. Người bám vào cây gỗ rỗng, như con nhái bén, lao lên lao xuống. Trông ra trước mặt, cả sau lưng, cả hai bên mông mênh. Nhưng, như thế, Chử lại vẫn yên tâm. Dòng chảy xiết, cá sấu không thể đuổi theo. Giả thử có đánh hơi được mùi người cũng không làm gì nổi. Nhưng còn con giải, con thuồng luồng - những giống trăn nước ấy không sợ sóng, toài nhanh hơn sóng. Không thể trằm mình dưới nước mãi, để làm mồi cho giải, cho thuồng luồng. Ngồi trong độc mộc, Chử có thể rút dao lưng ra đâm thủng đầu cả thuồng luồng, cả giải. Lội trong nước thế này, vướng víu như chân tay phải trói, không đối phó được. Nhưng mà cơn nước đương triền miên lên, cũng không biết ra sao. Chử trông quanh quất, rồi lôi độc mộc rẽ sóng tạt về một bên. Đến chỗ nước phẳng, sóng lớn chưa xô tới, Chử đội độc mộc lên rồi lật ngược, với tay té ù nước ra, nhảy vào thuyền. Mặt trời lên đóng giữa đỉnh đầu, trông thấy một vệt xanh xanh bên mép nước trước mặt. Chử khoả hai tay, cắm cúi bơi dấn về phía ấy. Nhược lắm rồi. Cứ lên bờ ẩn, đợi cho cơn nước nguôi rồi mới lại tính chuyện đi nữa được. Mà phải kiếm ra cái ăn. Vào nơi ẩm thấp cũng dễ kiếm. Ở bùn, có ếch, có chạch, có ốc hương, có trai. Trong bụi cây niễng có rắn hổ mang, hổ lục, hổ bành - những thứ ấy đều ăn ngon. Chỉ ngại nơi đầm lầy cá sấu thường ra núp rình mồi dưới bùn, khó nhìn ra. Nhưng Chử đã có con dao vẫn giắt trên vành dây khố. Phải, nghỉ cái đã. Hôm nào nước lặng, hẵng đi, đi cho đến hôm nào gặp trăng lên. Ồ mà quên hôm trước không hỏi kỹ người bến trên. Một vòng trăng hay mấy vòng trăng. ° ° ° Bến Tự Nhiên! Bến Tự Nhiên! Bến Tự Nhiên ở đâu? Những ngày còn lên năm, lên bảy, bố mẹ thường kể chuyện về bến quê. Chử mơ màng tưởng cái bến Tự Nhiên ở trên khoảng trời cao xanh, chỗ bóng gốc cây đa giữa mặt trăng. Đến năm mười ba, mười lăm, trong câu chuyện về bến Tự Nhiên của bố mẹ, Chử nhìn thấy một vùng sông bãi, phía nào cũng đông đúc đêm ngày thuyền bè vào bến ra bến, trên bờ đợt đợt nhấp nhô những mô cát vàng lẫn phù sa trắng hồng. Xa nữa, xanh rờn bãi ngô, bãi khoai lang, củ từ, những bãi lúa và những bụi chuối ken khít thành rừng. Vào mùa chuối chín, chim các nơi bay về liền cánh, rợp cả trời bến. Những đàn gấu, đàn voi trong rừng sâu lũ lượt kéo ra bẻ chuối. Rồi Chử lại nghe lời bố mẹ tha thiết: - Con ạ, ông con vẫn ở bến Tự Nhiên dưới kia. Chử hỏi: - Ông ở bến quê với ai? - Ông ở một mình. Chử chưa bao giờ được gặp ông, lại tưởng tượng ra như đã nhìn thấy ông. Tóc ông Chử bạc xoá, lơ thơ trên hai vai lực lưỡng. Mặt ông Chử đỏ bồ quân. Ông Chử vác cỗ lưới đay. Ông Chử xách chiếc bê chèo, bước xuống thuyền. Con thuyền đánh cá rời bến, thả ra giữa trời nước lồng lộng. Gió bay, râu tóc ông Chử càng trắng phơ. Bố Chử nói: - Ngày trước, cả nhà ta đều ở bến dưới ấy. Đời con người trên sông nước, mặt trời mọc ở một nơi, đến lúc mặt trời lặn đã lại đổi bến khác, lại khi sớm tối chống sào đẩy thuyền đi thì sao đã đổi ánh. Nhọc nhằn thế chỉ vì cả đời đuổi theo con cá, con mú, không lúc nào ở yên, mà vẫn chưa biết đến chỗ nào cùng. Nhưng ông nói: có khó nhọc mới biết bay nhảy, thế mới là đời người, các con ạ. Bố trò chuyện với mẹ: mới sinh ra đã đi đường nước rồi, song vẫn chưa tường dòng chảy này có bao nhiêu ngọn nguồn đổ vào nhau thành sông Cái, con sông Cái từ đâu đến đây. Ờ nhỉ, phải rồi, dẫu cho trong thế gian có nơi nước dữ nước hiền khác nhau, nhưng nơi nào cũng có cá, có tôm, chúng mình hãy đi dò xem cho biết tận gốc con nước này. Mẹ tần ngần nhìn ra cửa bến, rồi nói: vợ chồng ta hãy đi hỏi ông. Mời các bạn đón đọc Nhà Chử của tác giả Tô Hoài.