Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Thiếu Nữ Đeo Hoa Tai Ngọc Trai - Tracy Chevalier

Một kiệt tác hội hoạ mang tên Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai, danh họa lỗi lạc Johannes Vermmer, trí tò mò về lịch sử của bức tranh, đó là những chi tiết đầu tiên khởi hứng cho Tracy Chevalier viết tác phẩm để đời này. Sau cái chết của người cha, để lo cho gia đình, cô gái trẻ 16 tuổi Griet đến làm hầu gái trong gia đình họa sỹ Johannes Vermmer. Tại đây, giữa bao công việc thường nhật, Griet tìm được một khoảng lặng khi dọn đồ đạc trong xưởng vẽ. Những cảm nhận tinh tế bất ngờ về màu sắc, ánh sáng, độ chính xác của khoảng cách, linh hồn tác phẩm… của cô gái đã làm rung động trái tim người nghệ sỹ. Với Griet, điều đó cũng đến như một lẽ tự nhiên. Dưới ánh mắt dò xét của bao người, dưới sự quản thúc của bà chủ khó tính, góc tình yêu của họ không nằm trong lời nói hay dục vọng. Chỉ có những cái nhìn như thể siết hai tâm hồn lại bên nhau. Griet đã phải giải tỏa tất cả sự bức bối ấy vào một người con trai khác…  *** https://c1.staticflickr.com/5/4251/35281844555_bf8394bd20_o.jpg    “Nó có riêng một dòng chảy kỳ diệu, chậm rãi dựng bạn dậy và lén mang bạn theo mãi… Một câu chuyện đẹp đẽ, được kể lại một cách duyên dáng bởi một văn tài thực sự.” – Daily Mail “Viết ra một cách lộng lẫy, bí ẩn và thương tâm tưởng chừng như không chịu nổi - một trải nghiệm kỳ diệu” - Deborah Moggach “… một tiểu thuyết tuyệt diệu, huyền bí, thấm gợi đúng không khí… phát lộ sâu xa về quá trình sáng tác… thực sự kỳ diệu”  - The Guardian “Chevalier là bậc thầy của chi tiết hùng hồn, hình ảnh gợi cảm… Qua những chi tiết đó, Chevalier mang người đọc vào thế giới của bức họa, vào tâm thế của kiệt mà bà tìm hiểu: xao lòng, bí hiểm, nhiều khi thấm thía đến không chịu nổi. Đôi lúc nó mạnh đến mức người đọc gần như cảm được, thấy được hơi thở của nó vây bọc quanh mình. Đây là một tác phẩm xứng đáng giáng được, và tôi tin nó sẽ giành được, và tôi tin nó sẽ giành được, một giải thưởng.” – The Times “Tracy Chevalier đã dựng lại một cách tuyệt vời thành Deft giữa thế kỷ 17 ở Hà Lan… Cuốn sách cũng ám ảnh tinh tế như bộ phim hay nhất của Eric Rohmer vậy.” – Time Out “Một nhà văn với cảm nhận thực sự về không khí và bối cảnh” – Elizabeth Buchan “Lôi cuốn tuyệt đối… hồi hộp ở những khoảnh khắc nhất định, nó siêu việt cả thời gian lẫn địa điểm.” – New Yorker "Một cuốn tiểu thuyết như ngọc." – Time *** Nhà văn Tracy Chevalier sinh ngày 19.10.1962 là một tiểu thuyết gia ăn khách về đề tài lịch sử. Tracy Chevalier từng tốt nghiệp khoá học Thạc sĩ viết văn tại trường Đại học East Anglia. Tác phẩm đầu tay của bà là The Virgin Blue đã giành được giải thưởng Tài năng trẻ WH Smith năm 2007. Tiểu thuyết Girl with a Pearl Earring (Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai) trở thành best-seller năm 1999, được đề cử giải Orange 2000 và là tác phẩm nổi tiếng nhất của Chevalier. Bộ phim cùng tên mà Chevalier là đồng tác giả kịch bản đã được đề cử 3 giải Oscar năm 2004. Hiện Chevalier sống ở London và tiếp tục sáng tác. Tác phẩm tiêu biểu The Virgin Blue, 1997  Girl with a Pearl Earring, 1999 (đã xuất bản ở Việt Nam với tên Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai, NXB Văn Học, 2007) Falling Angels, 2001  The Lady and the Unicorn, 2003  Burning Bright, 2007  Remarkable Creatures, 2009  The Last Runaway, 2013 *** Mẹ chẳng hề nói với tôi là họ sẽ đến. Về sau bà bảo bà không muốn tôi có vẻ lo lắng. Tôi ngạc nhiên vì tưởng bà hiểu rõ tôi. Những người lạ hay nghĩ rằng tôi là người bình tĩnh. Tôi không hề khóc lóc như trẻ con. Chỉ có mẹ mới nhận thấy hàm tôi hơi nghiến lại, đôi mắt vốn dĩ đã to còn mở to hơn. Tôi đang thái rau trong bếp thì nghe thấy những tiếng nói ngoài cửa trước - một giọng đàn bà sáng lóa như đồng thau và một giọng đàn ông trầm, tối như loại gỗ cái bàn tôi đang thái rau. Tôi vẫn tiếp tục công việc. Đó là những kiểu giọng nói hiếm khi gặp ở nhà chúng tôi. Tôi có thể nghe thấy những tấm thảm đắt tiền trong giọng nói của họ, những cuốn sách, ngọc trai và lông thú. Tôi thấy mừng là trước đó đã ra sức kỳ cọ bậc thềm nhà. Giọng mẹtôi - một cái chảo, một cái lọ - vọng đến từ phòng trước nhà. Họ đang đi xuống bếp. Tôi gạt chỗ tỏi tây đang thái vào một chỗ, sau đó đặt con dao lên mặt bàn, chùi tay vào tạp dề và mím môi cho làn môi mềm lại. Mẹ tôi xuất hiệnở cửa với đôi mắt nhắc nhở. Phía saubà, người đàn bà phải cúi đầu xuống vì cô ta rất cao, cao hơn cả người đàn ông đi đằng sau. Mọi người trong gia đình tôi, thậm chí cả bố và em trai tôi, đều là những người có vóc dáng nhỏ bé. Người đàn bà trông như thể bị gió quật tơi tả, mặc dù đó là một ngày yên ả. Chiếc mũcủa cô ta lệch đi khiến những lọn tóc vàng nhỏ xấu rơi ra, buônglòa xòa trước trán như những con ong mấy lần liền cô ta bực bội xua đi. Cổ áo cô ta không phẳng lắm và không được hồ cứng đủ độ. Cô ta đẩy cái áo choàng không tay màu xám qua sau vài và khi đó tôi nhận thấy, bên dưới cái váy xanh đậm một đứa trẻ đang lớn dần. Chắc cô ta sẽ sinh vào cuối năm, hoặc trước đó. Khuôn mặt người đàn bà giống như một chiếc đĩa hình bầu dục, thỉnh thoảng sáng bừng lên, lúc khác lại u ám. Đôi mắt cô ta như hai chiếc cúc áo màu nâu nhạt, một màu hiếm khi tôi thấy đi đôi với tóc vàng. Cô ta gắng tỏ vẻ chăm chú quan sát tôi nhưngrồi không thể tập trung được, đôi mắt cứ đảo quanh căn phòng. - Vậy đây là con bé đó?- cô ta đột ngột hỏi. - Đây là Griet, con gái tôi,- mẹ tôitrả lời. Tôi kính cẩn cúi chào người đàn ông và người đàn bà. - Xem nào. Con bé không được lớn lắm. Liệu nó có đủ sức khỏe không đấy? Người đàn bà quay lại nhìn người đàn ông khiến nếp gấp chiếc áo choàng vướng vào đuôi con dao tôi dùng lúc trước, làm nó rơi xuống khỏi bàn, quay trên sàn nhà. Người đàn bà hét lên. - Catharina, - người đàn ông điềm tĩnh nói. Ông ta lúng túng gọi tên cô ta cứ như thể đang ngậm hột thị trong miệng. Người đàn bà im tiếng, gắng trấn tĩnh lại. Tôi bước tới, nhặt con dao lên, chùi qua vào tạp dề trước khi đặt lại nó lên mặt bàn. Con dao chạm vào chỗ rau. Tôi đặt lại một miếng cà rốt vào vị trí của nó. Người đàn ông quan sát tôi, mắt ông xám như biển cả. Ông có khuôn mặt dài, xương xẩu. Nét mặt thể hiện sự điềm tĩnh, ngược lại với nét mặt bà vợ, bập bùng cứ như ngọn nến. Ông không để râu và tôi thấy mừng, vì như vậy nó mang lại cho ông một vẻ ngoài sáng sủa. Ông khoác một cái áo choàng,áo sơ mi trắng, cổ còn phẳng phiu. Chiếc mũ của ông ép vào mái tóc màu đỏ của gạch thấm đẫm nướcmưa. - Cô đang làm gì ở đây vậy, Griet? - ông ta hỏi. Câu hỏi khiến tôi ngạc nhiên nhưng tôi đã đủ biết để giấu sự ngạc nhiên của mình. - Thưa ngài, thái rau ạ. Thái rau để nấu súp. Tôi luôn đặt nhữngmiếng rau thành vòng tròn, mỗi loại một chỗ giốngnhư những phần của chiếc bánh nướng. Có năm phần: bắp cải tím, hành, tỏi tây, cà rốt và su hào. Tôi dùng lưỡi dao để khuôn từng phần lại rồi đặt một khoanh tròn cà rốt ở chính giữa. Người đàn ông gõ ngón tay lên mặt bàn: - Có phải chúng được sắp xếp theo đúng thứ tự để cho vào súp? - ông vừa nhìn chăm chú vòng tròn rau vừa hỏi. - Thưa ngài, không ạ,- tôi ngập ngừng. Tôi không thể nói vì sao tôi lại xếp rau theo cách đó. Tôi chỉ đơn giản đặt chúng theo cách tôi cảm thấy hiển nhiên phải như vậy, nhưngtôi quá sợ hãi, chẳng nói được như thế với người đàn ông. - Tôi thấy cô để tách riêng những thứ màu trắng ra, - ông ta vừa nói vừa chỉ tay vào chỗ su hào và hành. - Rồisauđó là màu vàng cam và tía, các màu không để lẫn với nhau. Tại sao lại thế? - Ông ta nhặt lên một miếng bắp cải và một mẩu cà rốt rồi lắc chúng trong tay như những viên súc sắc. Tôi nhìn mẹ đang khẽ gật đầu. - Các màu chọi nhau khi chúng xếp cạnh nhau, thưa ngài. Ông ta nhướng mày, như thể khônghề chờ đợi một câu trả lời như vậy. - Vậy cô có mất nhiều thời gian sắp xếp rau trước khi nấu? - Không, không hề, thưa ngài, - tôi trả lời, cảm thấy lúng túng. Tôi không muốn ông ta nghĩ tôi lười nhác. Tôi thoáng liếc thấy một bóng người, cô em gái Agnes đang ngó quanh cột cửa và lắc đầu trước câu trảlời của tôi. Không mấy khi tôi nói dối. Tôi nhìn xuống. Người đàn ông hơi quay đầu lại và Agnes biến mất. Ông ta buông những mẩu cà rốt và bắp cải xuống chỗ của chúng. Miếng bắp cải rơi hơi chạm vào đám hành. Tôi muốn vươn người ra và đặt lại chúng vào chỗ cũ. Tôi không làm như vậy nhưng ông ta biết rằng tôi muốn. Ông ta đang thử tôi. - Vớ vẩn thế đủ rồi, - người đàn bà thốt lên. Mặc dầu cô ta bực bội vì người đàn ông chú ý đến tôi nhưng cô ta lại cau mặt với tôi. - Vậy ngày mai nhé? - cô ta nhìn người đàn ông trước khi lướt ra khỏi phòng. Mẹ tôi bước theo sau. Người đàn ông nhìn một lần nữa vào những thứ sẽ là món súp, sau đó gật đầu với tôi và đi theo người đàn bà. Khi mẹ quay lại, tôi đang ngồi bên cạnhvòng tròn rau. Tôi chờ mẹ nói. Bà so vai như thể để chống lại cái lạnh buốt giá mùa đông dù rằng đang là mùa hè và căn phòng bếp tỏa hơi nóng. - Từ ngày mai con sẽ là người hầu gái của họ. Nếu làm tốt, con sẽ được trả tám stuiver 1 một ngày. Con sẽ sống ở chỗ họ. Tôi mím môi lại. - Con đừng nhìn mẹ như thế, Griet,- mẹ tôi noid.- Chúng ta buộc phải làm như vây, khi mà giờ đây cha các con đã mất việc. - Họ sống ở đâu ạ? - Ở Oude Langendijck, chỗ cắt với Molenpoort. - ỞKhu người Gia tô? Họ theo đạo Thiên chúa? - Ngày Chủ nhật thì con có thể về nhà. Họ đã đồng ý vậy. Mẹ tôi khum lòng bàn tay xung quanh những miếng xu hào, bốc chúng lên cùng vài miếng bắp cải và hành rồi thả vào nồi nước đang chờ trên bếp. Những phần bánh tôi đã kỳ công cắt tỉa đến thế bị hỏng hết. o O o Tôi trèo lên cầu thang để gặp cha.Ông đang ngồi ngay trước căn phòng áp mái, bên cạnh cửa sổ, nơi ánh sáng chạm vào khuôn mặt. Giờ đây, chỗ này là nơi ông gần với cảm giác nhìn thấy hơn cả. Cha trước kia là thợ vẽ gạch, nhữngngón tay ông vẫn còn dính vệt xanh do vẽ những thần ái tình, cô hầu, anh lính, con tàu, trẻ con, cá, hoa hay các con vật lên những viên gạch trắng, rồi tráng men, nung và bán. Một hôm, lò nung nổ, lấy đi của ông đôi mắt và cả việc làm. Ông là người may mắn, hai người đàn ông khác đã chết. Tôi ngồi xuống bên ông và cầm đôi bàn tay ông. - Cha nghe thấy rồi. Cha đã nghe thấy hết mọi chuyện rồi, - ông nói trước khi tôi kịp bắt đầu. Đôi tai ông đã thu nhận sức mạnh từ đôi mắt bị mất. Tôi không thể nghĩ ra điều gì để nói mà nghe không có vẻ trách móc. - Cha xin lỗi, Griet. Giá như cha có thể lo cho con tốt hơn. Nhưng ông ta là một quý ông tốt và công bằng. Ông ta sẽ đối xử tử tế với con. Nơi trước kia là đôi mắt, chỗ bác sĩ đã khâu kín da lại, toát lên vẻ đau buồn. Ông không nói gì về người đàn bà. - Cha ơi, làm sao mà cha có thể tin chắc như vậy được? Cha có biết ông ta không? - Con không biết ông ta là ai à? - Không ạ. - Con có nhớ bức tranh chúng ta nhìn thấy ở Tòa thị chính vài năm trước, bức mà ngài Ruijven treo sau khi mua nhà ấy? Đó là cảnh thành phố Delft nhìn từ cổng thành Rotterdam và Schiedam. Với bầu trời chiếm một khoảng rất lớn trong bức tranh và ánh nắng chiếu trên mấy ngôi nhà. - Và trong nước sơn có cát để những chỗ xây bằng gạch và những mái nhà trông xù xì, còn có những cái bóng dài đổ trên mặt nước và những người bé tí trên bãi biển gần chúng ta,- tôi nói thêm. - Chính bức đó đấy. Hốc mắt của cha rộng ra, như thể đôi mắt vẫn còn đó và ông đang ngắm bức tranh một lần nữa. Tôi nhớ bức tranh đó rất rõ, nhớ cả chuyện tôi nghĩ tôi đã đứng chính ở chỗ đó rất nhiều lần mà chưa bao giờ thấy Delft theo cách người họa sĩ đã nhìn thấy. - Thế người đàn ông đó là ngài Ruijven à? - Người bảo trợ á? - Cha tôi cười lặng lẽ, - Không, không, con gái bé bỏng, không phải ông ta đâu. Đó là ông họa sĩ. Vermeer. Đó là Johannes Vermeer và vợ ông ta. Con sẽ dọn dẹp xưởng vẽ của ông ta. Kèm theo vài thứ ít ỏi tôi mang theo người, mẹ tôi để thêm vào một cái mũ vải, một chiếc cổ áo và một chiếc tạp dề để hàng ngày tôi có thể giặt cái này rồi dùng cái kia và sẽ trông luôn sạch sẽ. Bà còn đưa tôi chiếc lược chải đầu hình vỏsò bằng đồi mồi, đó là món trang sức bà tôi để lại và quá đẹp đối với một cô hầu gái, một cuốn sách kinh để tôi có thể đọc khi cần phải trốn tránh khỏi đạo Thiên chúa xung quanh mình. Trong lúc chúng tôi thu xếp đồ đạc, bà giải thích tạo sao tôi lại đi làm cho nhà ông bà Vermeer. - Con có biết ông chủ mới của con là người đứng đầu giáo phường St Luke và có mặt khi cha con gặp tai nạn hồi năm ngoái không? Tôi gật đầu, vẫn còn cảm thấy sốc khi biết mình sẽ làm việc cho một họa sĩ như vậy. - Giáo phường tự chăm lo cho họ, trong chừng mực tốt nhấtmà họ có thể. Con có nhớ chiếc hộp mà cha con luôn bỏtiền vào hàng tuần suốt trong nhiều năm trời không? Chiếc hộp đó dành cho những thợ cả gặp hoạn nạn, như chúng ta bây giờ. Nhưng nó chỉ đủ cho một số việc, conthấy đấy, đặc biệt là bây giờ, khi Frans còn đang học việc và chưa kiếm được đồng nào. Chúng ta không có lựa chọn nào cả. Chúng ta sẽ không nhận tiền cứu tế, không nhận chừng nào còn có thể gắng đượcmà không cần đến nó. Rồi sau đó cha con nghe tin rằng ông chủ mới của con đang cần người giúp việc, ai đó có thể lau chùi dọn dẹp xưởng vẽmà không di chuyển bất cứ thứ gì, và ông ấy đưa tên con, nghĩ rằng với tư cách là người đứng đầu và biết rõ hoàn cảnh của chúng ta, chắc ông Vermeer sẽ cố gắng giúp đỡ. ... Mời các bạn đón đọc Thiếu Nữ Đeo Hoa Tai Ngọc Trai của tác giả Tracy Chevalier.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

George Sand
Dịch giả : Đặng thị Hạnh và Lê Hồng Sâm Dịch nguyên bản tiếng Pháp George Sand   Cuốn sách này xuất bản trong khuôn khổ «  Chương trình hợp tác xuất bản, đưọc sự giúp đỡ của Trung tâm Văn hóa và Hợp tác Đại sứ quán Pháp tại nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam (Cet ouvrage, publié dans le cadre du Progamme de participation à la publication, bénéficie du soutien du Centre Culturel et de Coopération de l’Ambassade de France en République Socialiste du Vietnam) Béatrice Didier là một giáo sư trường Đại học Sư phạm ( Phố Uhm, Paris) ; tác giả của nhiều tiểu luận ( Nhật ký thầm kín, văn viết - phụ nữ… ) về văn học Pháp thế kỷ XVII và thế kỷ XIX, đặc biệt về Stendhal và George Sand. Năm 1998 bà đã xuất bản ở PUF một tác phẩm, đầu đề lấy nguồn cảm hứng từ Flaubert : George Sand. Một giòng sông lớn châu Mỹ. bà là người chủ trì việc xuất bản toàn tập George Sand ở Honoré Champion, một công việc từ trước tới nay chưa bao giờ được thực hiện. George Sand «Với tư cách người sáng tạo ra kiệt tác, bà là người thứ nhất trong giới phụ nữ, bà có thứ hạng độc nhất đó, trên phương diện nghệ thuật, không phải chỉ của thời đại chúng ta mà của mọi thời đại; bà có trí tuệ mạnh mẽ nhất và cũng đáng yêu nhất đã được trao tặng cho giới của bà. Thưa Bà, bà làm vẻ vang cho thế kỷ và cho đất nước chúng ta […] Tôi xin cảm tạ bà vì đã là một tâm hồn lớn lao đến thế”. VICTOR HUGO, Thư gửi George Sand, Paris 19 tháng sáu năm 1875 ° ° ° Beatrice Didier là giáo sư trường Đại học Sư phạm (phố Uhm, Paris); tác giả của nhiều tiểu luận (Nhật ký thầm kín, Văn viết - phụ nữ...) về văn học Pháp thế kỷ XVII và thế kỷ XIX, đặc biệt về Stendhal và George Sand. Năm 1998 bà đã xuất bản ở PUF một tác phẩm, đầu đề lấy nguồn cảm hứng từ Flaubert: George Sand. Một giòng sông lớn châu Mỹ. Bà là người chủ trì việc xuất bản toàn tập George Sand ở Honoré Champion, một công việc từ trước tới nay chưa bao giờ được thực hiện.   Mở đầu Ai sợ George Sand ? Các phản ứng khó thương của một Baudelaire có lẽ là bắng chứng rõ ràng nhất về nỗi lo âu do bà gây nên. Trong một thời gian dài người phụ nữ - tác giả đã khiến người ta sợ, đặc biệt nếu người ấy chẳng chịu thôi làm phụ nữ. Ngay từ đầu vinh quang của bà đã có vầng hào quang tai tiếng bao quanh.  Điều này có vẻ đáng ngạc nhiên, bởi rốt cuộc thì trong thế kỷ XVIII của chúng ta, đông đảo nữ văn sĩ từng có tình nhân ; nhưng giữa thời gian ấy đã diễn ra cuộc Cách mạng, rất ít chú ý đến nữ quyền, cần phải thừa nhận như vậy : sau đó nền Đế chế, thời Trùng Hưng và triều đại Louis –Philippe biểu thị bước thoái bộ rất rõ trong việc giải phóng phụ nữ. Và dư luận công chúng, ở thế kỷ XIX, với sự phát triển của báo chí, các phương tiện trung gian để làm rùm beng vụ tai tiếng, những phương tiện mà thế kỷ trước không có. Trong một thời gian dài nền phê bình văn học, chịu ảnh hưởng của dư luận này, cứ khăng khăng thấy George Sand là người tình của Musset hay của Chopin, thay vì thấy bà là một đại văn hào, như chúng ta hiện nay. Điều đó lý giải tình trạng tương đối thất sủng của sáng tác George Sand. Tuy nhiên, sinh thời bà, một Balzac, một Flaubert và nhiều bậc khác coi bà là đồng đẳng với mình. Tại nước ngoài ảnh hưởng của bà hết sức lớn lao, thí dụ như với Dostoievski và với tiểu thuyết Nga, cả với tiểu thuyết Ý. Bà từng được việndẫn bởi tất cả những phụ nữ nhìn thấy ở bà một ngưòi giải phóng. Trong những năm đầu thế kỷ XX, Alaine và đặc biệt Marcel Proust coi bà là một đại văn hào. Sau đó, nhờ nhiều công trình từng in dấu ở nửa sau thế kỷ, hình ảnh của George Sand và công trình của bà đã định hình rõ rệt. Trước hết chúng ta hãy tỏ bày niềm kính trọng đối với việc xuất bản Thư Tín do Georges Lubin phụ trách, gồm hai mươi sáu tập dày, cho phép chúng ta xem xét cuộc sống của George Sand ngày này qua ngày khác, cuộc sống khác hẳn với những sự đơn giản hóa mà bà là nạn nhân, cho ta thấy khả năng làm việc khó tin nổi và theo dỏi công việc sáng tác của bà trong những nét lớn. Chúng ta cũng lưu ý cả nỗ lực đã được thực hiện trong lĩnh vực xuất bản, tuy vẫn còn chưa đủ. Cho đến nay chưa nhà xuất bản nào ấn hành một bộ tổng tập : Honoré Champion là nhà xuất bản đầu tiên khởi sự công trình này, sẽ phải được tiến hành trong nhiều năm. Các trường đại học đã đi vào nghiên cứu văn hào một cách nghiêm túc : trường Đại học Grenoble, với các công trình của..Cellier và L.Guichard, được học trò của các ông tiếp nối, trường Đại học Vérone, với A. Poli, các trường Đại học Paris VII, Amsterdam, Hanovra, các trường Đại học Mỹ … Tuy vậy vẫn còn rất nhiều việc cần làm.   Tiểu thuyết của George Sand, được viết với sự dung dị mà người ta thường chê trách bà, dễ đọc ; tuy nhiên nắm bắt toàn thể công trình của bà lại khó, trước hết do tầm rộng lớn của nó. Rất hiếm người có thể tự phụ là đã đọc chín mươi cuốn tiểu thuyết, các tác phẩm tự thuật, kịch, các bài báo, thư từ trao đổi của bà : giá như muốm làm, phải bỏ vào đó cả cuộc đời. Cho nên người ta thích tái bản những gì tất cả mọi người đều biết, thí dụ như các tiểu thuyết gọi là « đồng nội », và bỏ qua phần kịch, bị đánh giá nhầm lẫn là khó diễn. Tự giới hạn ở vài hình ảnh về George Sand do các thế hệ trước truyền lại thì dễ hơn: người đàn bà định mệnh, rồi « bà phu nhân hiền hậu của Nohant ». Trong chừng mực bà từng gây ra và còn đang gây ra những cách lý giải say sưa sôi nổi, lại cũng khó có được một cái nhìn tương đối khách quan và đừng phóng chiếu lên bà các sơ đồ của thế kỷ XXI chúng ta. George Sand nhà đấu tranh vì phụ nữ ư ? Một số người sẽ cho rằng bà đấu tranh chưa đủ. Sáp nhập bà với các nhà đấu tranh vì phụ nữ những năm 1970 là một việc làm nguy hiểm : sự giải phóng phụ nữ mà bà yêu cầu xét cho cùng khá hạn chế, khi sẵn sàng chấp nhận là những người phụ nữ thuộc mọi đẳng cấp xã hội không có cùng một phận vị. Nhưng cần đặt cuộc đấu tranh của bà vào thời đại bà, chứ không phải thời đại chúng ta. Georges Sand xã hội chủ nghĩa, bạn của Pierre Leroux, ủng hộ 1848, thậm chí tham gia hoạt động trong đó ? Nhưng người ta sẽ thấy chủ nghĩa xã hội ấy là rụt rè, người ta sẽ chê trách thái độ của bà trong thời kỳ Công xã. Cả ở đây nữa, cũng cần xác lập lại các viễn cảnh : năm 1848 và năm 1871 tuổi bà đã khác đi: bà đã sống ngày này qua ngày khác những biến cố mà chúng ta biết một cách tổng quát và theo phương pháp quy nạp, đối với những biến cố đó chúng ta có thể có một cách nhìn khác với những người đương thời. Một điều cũng gây khó nghĩ, đó là trong cuộc sống thọ của bà, George Sand đã tự đổi mới, đã ứng dụng những thể loại rất khác biệt và thật khó đưa bà vào các phạm trù đã định giới hạn. Bà từng được một công chúng hết sức rộng rãi đọc trong suốt thế kỷ XIX. Bà có là nhà sáng tạo những hình thức mới hay không ? Nhiều hơn người ta nghĩ. Bà có quan tâm đến bút pháp, hay như người ta từng khẳng định, bà viết những gì lướt qua óc mình ? Việc nghiên cứu các bản thảo chứng tỏ rằng, dù không chữa kỹ lưỡng như một Flaubert, song bà dụng công, chỉnh sửa, nâng cao, hơn người ta thường bảo rất nhiều. Các bạn đã đọc George Sand chưa? Cuốn sách nhỏ này muốn xui bạn hãy làm điều đó và đặc biệt là hãy phiêu lưu ngay (nếu việc đọc toàn bộ hầu như bất khả thực hiện) đến với những tác phẩm ít nổi tiếng hơn. Như thế bạn sẽ có được một khái niệm về sự phong phú, về tính đa dạng, về chất quảng đại trong văn chương của người được Flaubert ví với “một dòng sông lớn châu Mỹ”. Chú ý đến tác phẩm hơn là cuộc đời, chúng tôi sẽ theo trật tự thời gian trên những nét lớn, nhưng đồng thời có những tập hợp về thể loại để giúp nắm bắt đồng thời cả tính phức hợp cả sự nhất quán của công trình.   *** George Sand ưa nhấn mạnh sự kiện là do chính nguồn gốc gia đình mà bà thuộc về hai giới hết sức khác biệt. Giới quý tộc về bên nội, giới bình dân về bên ngoại. Vào thời kỳ hậu – cách mạng mà người ta mơ hòa giải xã hội, bà thấy nguồn gốc của mình như một biểu trưng cho sự liên kết các cực, cho phép bà thừa kế mọi tiềm năng của một  dân tộc. Amandine – Aurore – Lucile Dupin sinh ngày 12 tháng Messidor năm XII (1 tháng Bảy năm 1840) ở số nhà 15 (ngày nay là nhà số 46) phố Meslée hay Meslay, tại Paris.  Về bên nội, Aurore là dòng dõi của Maurice de Saxe, vị anh hùng trận Fontenoy và của nhiều chiến thắng khác, sau thành Thống chế nước Pháp. Ông có với Marie Rainteau một con gái ngoài giá thú: đó là bà nội của George Sand; được nuôi dạy tại nữ học hiệu Saint – Cyr, bà kết hôn với Louis Claude Dupin de Francueil, sáu mươi mốt tuổi khi bà hai mười chín, và sống với ông rất hạnh phúc, như sau này bà tâm sự với cháu gái. Xuất thân từ giới đại tài chính, ông qua đời trước Cách Mạng ba năm, để lại cho bà một gia sản khá lớn. năm 1793, bà tậu cơ ngơi Nohant, nhưng có bị giam giữ ít lâu dưới thời Khủng bố. Con trai bà, Maurice Dupin, sinh năm 1778, ước mơ vinh quang trong ngành quân sự và gia nhập đội Cộng Hoà. Anh lập công trong cuộc viễn chinh sang Ý, đặc biệt ở Marengo. Cũng ở bên ý, Maurice gặp Antoinette Sophie – Victoire Delaborde, bấy giờ đang là tình nhân của một chuẩn tướng. Nguồn gốc tầm thường, quá khứ hơi lộn xộn của thiếu phụ khiến Maurice giữ bí mật việc kết hôn tiến hành ngày 5 tháng Sáu năm 1804, một tháng trước khi George Sand tương lai chào đời. Sự nghiệp quân sự của Maurice Dupin tiếp tục cùng Đại quân: các cuộc viễn chinh sang Bavière, sang Phổ, sang Ba Lan và Tây ban Nha (ở đó Maurice là trợ lý cho hoàng thân Murat). Người vợ, lại có mang, sang Tây Ban Nha với chồng cùng cô bé Aurore 4 tuổi. Vậy là George Sand, cũng như Victor Hugo, có tuổi thơ in dấu của bản anh hùng ca Napoléon và của cuộc chiến khủng khiếp tại Tây Ban Nha. Những hình ảnh không thể nào quên đã khắc sâu vào ký ức những đứa trẻ còn rất non nớt về sau sẽ trở thành các đại văn hào lãng mạn chủ nghĩa. Cuối tháng 7 năm 1808, trở về Nohant, tiếp theo là hai biến cố đau thương: tháng 9, em trai George Sand chết, được một tháng tuổi, rồi đến người cha, vì ngã ngựa ở gần La Châtre. (vùng Creusse) Sau này nhà văn sẽ dành một phần lớn trong Truyện đời tôi để kể câu chuyện của cha mẹ, nhất là người cha? Sự hòa hợp các tầng lớp xã hội mà Sand mơ ước, bà đã cảm nhận những khó khăn ngay từ thời thơ ấu, và cảm nhận một cách đau đớn. Bà Daupin de Francueil, muốn đảm trách việc giáo dục cô bé, đã khiến người mẹ từ bỏ quyền giám hộ. George Sand tương lai sống thời thơ ấu ở Nohant, với các cuộc đến thăm ngắn ngủi của mẹ, và những khi bà nội nghỉ đông tại Paris thì cô bé gặp mẹ nhiều hơn. Cô bé thấy mình bị giằng xé giữa hai người thể coi là hai bà mẹ, cô yêu mến cả hai, nhưng cảm nhận được sự thù địch sâu xa giữa họ. Cho nên bộ tự truyện sau này sẽ bị lôi kéo bởi những nẻo đường khác nhau: lý tưởng hóa mối tình của bố mẹ, thiên tình sử bên Ý và sự ra đời của mình (“Ngày hôm ấy mẹ tôi mặc một tấm áo dài đẹp màu hồng, còn cha tôi đang chơi vĩ cầm Crémone của ông”, một truyện thần tiên), nhưng cũng diễn tả cả nỗi đau thực sự sau này của mình và biện hộ cho mẹ về việc hầu như bỏ rơi con, sự bỏ rơi có lẽ do ưu thế kinh tế của bà nội nhiều hơn là do điều mà Sand không thể hình dung nổi như thái độ thờ ơ. George Sand, nhìn chung thường ít gạch xóa bản thảo, để lộ niềm bối rối này qua cách viết đầy khăn khoăn dằn vặt ở những đoạn liên tưởng đến mẹ. Nhà văn cũng muốn, một cách hết sức công bằng, bộc bạch món nợ đối với người bà mà tính cách mạnh mẽ đã in dấu lên mình. Nhờ bà nội; George Sand được biết chế độ cũ, về mặt thời gian hãy còn rất gần, nhưng sự đứt đoạn là Cách mạng đã đột ngột đẩy lùi thật xa vào dĩ vãng. Ngoài ra, Nohant là chốn buông neo đích thực của Sand. Bà sẽ du hành, bà sẽ ở Paris, nhưng giống như Antée, bà luôn cảm thấy cần lấy lại sức mạnh từ mảnh đất của thời thơ ấu nơi mà sau này bà muốn sẽ là chốn yên nghỉ cuối cùng cho mình. Chính từ Nohant mà bà cảm thấy niềm say mê đối với miền quê và chính xác hơn là đối với miền Berry, sẽ là khung cảnh cho nhiều tiểu thuyết của bà. Cũng từ nơi đây mà bà có được sức khoẻ cường tráng ít khi suy giảm. Jean Louis François Deschartres, trước kia là gia sư của người cha, trở thành gia sư cho cô con gái, và sự đào tạo về trí tuệ của Aurore, mặc dù lộn xộn đôi chút, về tổng thể vững vàng hơn sự đào tạo mà đa số các cô gái thời đó được hấp thụ. Thư viện của bà nội, người từng quen biết Jean Jacques Rousseau, có nhiều sách, và cô bé thỏa mãn được niềm đam mê đọc sách sẽ bền vững nơi cô. Bà nội chơi phong cầm và hát; chính nhờ bà mà Sand có được cơ sở của một sự giáo dục về âm nhạc nghiêm chỉnh hơn sự giáo dục của rất nhiều nhà văn lãng mạn. Nhưng trong Truyện đời tôi, bà chú ý nhắc nhở rằng mẹ bà thuộc một gia đình bán chim, rằng con chim như một vật tổ của bà: bà nội, đó là âm nhạc bác học, mẹ, đó là âm nhạc của thiên nhiên, cả âm nhạc dân gian nữa; chúng ta sẽ gặp lâi hai phương diền này của lĩnh vực âm nhạc trong sáng tác của bà, và chúng ta sẽ thấy Consuelo hoà giải các phương diện đó ra sao. Mời các bạn đón đọc George Sand của tác giả Beatrice Didier.
Cô Gái Chúc Sơn
Mới hạ tuần tháng chín, trời chưa hẳn sang đông mà đã giá căm căm. Trên mặt sông lạnh tanh từ sáng đến trưa, con đò ngang mới chở được vài ba chuyến, mỗi chuyến lèo tèo dăm sáu người. Cảnh ngược xuôi tấp nập trên đường đê rộng thênh thang lượn dài theo con sông Đáy cũng không còn nữa. Trong túp lều tranh nhỏ xíu dựng nép bên đường, bà hàng tóc bạc phơ buồn bã ngó con đê vắng ngắt, giòng sông lạnh lẽo với con đò bơ vơ. Ngồi co ro trong tấm áo bông cánh còn mới, bà cụ chít lại chiếc khăn vuông nâu cho thật kín và nhớ lại những ngày đông vui đã qua. Nào mấy bà người làng te tái từ dưới bến lên vào uống bát nước chè tươi cho ấm bụng, nào mấy ông khách buôn, tay nải khoác chĩu một bên vai, sà xuống ghế làm một cút 1 rượu nhắm với đĩa lòng béo ngậy… Bà cụ nhớ cả những tiếng dép da trâu lẹp kẹp trên mặt đường, những tiếng nói chuyện ồn ào của những ông lái, bà lái không bao giờ ghé vào trong quán. Họ phải gồng gánh nặng và luôn luôn phải chạy gằn từng thôi 2 thẳng cho kịp giờ họp chợ. Nhớ cả đám trẻ con nô đùa dức lác… Chỉ có nghịch, chỉ có phá, nhưng mà vui. Còn bây giờ, nguyên cả một nồi chè đậu đãi chưa ai động đến với già nữa chõ xôi ngon thật là ngon. Cứ cái cung cách này chắc tối nay cả nhà phải ăn xôi chè trừ bữa… Có tiếng vang lên cùng với tiếng chân người bước tới. - Có nắng rồi !... Cũng sắp có đò nữa ! Hai người đàn ông hăm hở bước vào trong quán. Cả hai cùng cao lớn, vạm vỡ. Nét mặt và cử chỉ cùng lanh lợi. Và họ cùng đảo mắt xoi mói khắp nơi trong quán hẹp trước khi bóc mấy tấm bánh nếp ra ăn. Họ chỉ đưa mắt cho nhau chứ không nói chuyện bằng lời và chỉ ậm ự khi bà hàng đon đả mời họ dùng thêm thứ này thứ khác. Dưới sông, con đò đã gần sang tới bến. Họ trả tiền, đứng dậy. Mấy chiếc lá gói bánh bay lào xào, đuổi nhau trên mặt đê. Bà hàng ngước mặt lên nhìn khách : - Hai ông sang đò ? - Phải ! Đó là tiếng nói độc nhất mà một trong hai người đã miễn cưỡng buông ra trong quán nước. Y có một bộ râu quai nón khá đẹp. Họ bước xuống con đường dốc. Một tên ngoái lại nhìn thấy có ba người từ phía nam đi tới sắp bước vào trong quán. Bà hàng vồn vã : - Mời ba ông vào nghỉ chân sơi nước. Nắng xiên khoai chiếu vào đầy quán. Cả chủ lẫn khách khoan khoái ngâm mình trong ánh vàng ấm áp. Bà hàng một tay vươn ra lật ngửa mấy chiếc bát ở sát mép chõng, một tay ngoái ra đàng sau cầm cái gáo dài múc nước chè tươi rót cho khách. Hình ảnh ngộ nghĩnh y như một người đang quờ quạng bơi trong nắng. Bà suýt soa : - Mới tháng chín mà trời đã rét ngọt ! Đi đường lúc này chắc vất vả lắm, thưa ba ông ? - Phải !... Hàng có gì ăn không, bà cụ ? Ông khách có gương mặt nho nhã nhất lên tiếng hỏi. Bà hàng ân cần đáp, vẻ mừng hiện rõ trên đôi môi ăn trầu cắn chỉ 3 : - Thưa có ạ. Xôi lạc ngon lắm. Cả chè đậu đãi nữa. Xôi tôi để nguyên trong chõ, nóng hôi hổi. Để tôi cơi 4 ra đĩa, ba ông sơi thử. Người cao lớn nhất ngồi ngoài cùng cười nói oang oang : - Thôi, bà cụ cơi cho ông thầy tôi đây một đĩa xôi và hai chén chè là đủ. Còn bao nhiêu bà cụ cứ để đấy, hai anh em tôi lo cho. Hai người lực lưỡng như hai ông hộ pháp ăn như rồng cuốn nước trước sự ngạc nhiên và mừng rỡ của bà hàng. Tuy nhiên, những gì xẩy ra chung quanh cũng không qua được tai mắt họ. Dưới bến, chiếc đò ngang đã tới. Cô lái, người cao dong dỏng, cắm chiếc sào dài xuống đất cho thuyền ghé sát bờ. Khách quá giang ngưng bặt câu chuyện đang nói dở khi họ thấy hai người bịt khăn tùm hụp từ mặt đê xuống tới nơi. Họ lên bờ, lặng lẽ. Tên có hàm râu quai nón nhẩy tót xuống thuyền, nhẹ như chiếc lá. Mặt y lầm lì trong khi gã bạn đồng hành nhe hàm răng trắng nhởn cười nham nhở và làm bộ quờ quạng nắm cổ tay trắng nõn của cô lái như phải có một điểm tựa mới bước được lên thuyền. Sợ hãi, người con gái vội rụt tay lại và kéo theo luôn cả con sào. Mũi thuyền quay ngang hắt tên vô lễ lăn tòm xuống nước. Tiếng cười khoái trá vang trên mặt đê. Cười lớn nhất là hai ông khách ăn mạnh như hùm trong quán. Ông khách nho nhã vuốt chòm râu đen nhánh khen : - Hà hà ! Cô bé cũng là tay đáo để đấy chứ, phải không hai chú ? - Dạ. Thân thủ 5 khá lắm. Người thứ hai tiếp lời : - Còn phải nói ! Con gái Chúc Sơn mà ! - Ờ, trông cách cô bé gỡ tay rồi bước xéo chân khiến cho con thuyền tạt ngang, êm cứ như ru, cũng biết cô bé có nghệ chân truyền. - Vâng. Ngón nghề cô bé vào hạng cừ khôi đó, thưa thầy. Bà hàng bỗng thấy cao hứng, tươi cười nói xen vô : - Con gái họ Hoàng mà, thưa ba ông. Lúc thường thì ăn nói dịu dàng, dễ thương hết sức. Nhưng lúc cần dụng võ thì, nói ba ông bỏ lỗi, con trai lực điền cũng không bằng. Ông khách ngồi ngoài cùng ngó xuống mé sông, thích chí cười ha hả : - Chả thế mà hai tên kia biết thân phải ngồi yên một phép ! - Rét mướt thế này mà tên kia ướt như chuột lột… Kìa, cu cậu phải ngồi thu hình vào một xó cho đỡ lạnh, trông thảm hại chưa ! - Cho thế mới đáng đời ! - Hai đứa cũng là tay võ nghệ, sao chúng không gây sự nhỉ ? Bà hàng tươi cười giải thích : - Chúng nó không dám đâu ông ơi ! Một thằng là người làng làm chó săn cho giặc. Tôi nhận ra ngay khi nó mới bước chân vào trong quán. Còn thằng kia là Tầu. Đánh nhau trên bộ không biết sao, chứ giở giỏi ra trên thuyền thì chết với cô gái. - À, ra thế ! Có phải cô ấy là cô Sơn Ca không bà cụ ? Bà hàng ngạc nhiên : - Phải. Mà sao ông biết ? - Chúng tôi nghe người ta đồn. Bà hàng nhỉ, sao từ nẫy đến giờ, không thấy cô ta hát ? Nở một nụ cười cởi mở khi thấy hai ông hộ pháp đã ăn sạch nhẵn cả chõ xôi lẫn nồi chè, bà hàng kể rành rọt : - “Sơn Ca” không phải là tên thật cô ấy đâu, ông thầy ạ. Tên thật cô bé ấy là Mai, con ông Hương trưởng Tùng. Ngày nhỏ, nó hay hát, hát véo von suốt ngày nên người làng gọi đùa là con Sơn Ca, lâu dần thành tên. Nhớn lên, thấy nước nhà hoạn nạn, giặc lại hay sục sạo làm điều càn rỡ, bọn con gái biết lo không cười đùa ca hát nữa. Họ theo gót cha anh tập võ. Cụ Cử Chúc Sơn khen con bé Sơn Ca giỏi vào hạng nhất nhì làng tôi đấy. Ba thầy trò chưa kịp gợi chuyện thêm, bà cụ đã ướm lời hỏi trước : - Tôi già nua lẫn cẫn hỏi thế này khí không phải, ba ông bỏ lỗi cho nhé. Nghe nói ở đường trong, Bình Định Vương đã đánh đến Tây Đô 6 chả biết đến bao giờ Người mới dẹp được Đông Quan 7 để cho con dân được yên ổn làm ăn ? Ông khách nho nhã cười khiêm tốn đỡ lời : - Ấy chết ! Sao cụ lại hỏi chúng tôi điều ấy ? Chúng tôi cũng là con nhà làm ăn buôn bán như cụ, biết đâu được những việc xa xôi. - Các ông giấu già này cũng chả được. Nhác trông một cái già biết liền. Có điều già muốn nói ra hay không nói ra mà thôi. Này nhé, ba ông là người ngoài ta nhưng ở lâu trong ấy, giọng đã hơi nặng, tinh ý một chút là nhận ra ngay. Bàn tay của ông thầy trông xa cũng thấy là bàn tay cầm bút. Còn hai ông đây đúng là hai ông hổ tướng. Đố ai dám bảo các ông là người buôn bán hay làm việc thổ mộc 8 ! Một người tấm tắc khen : - Bà cụ vậy mà cũng biết xem tướng nữa cơ đấy ! - Chẳng qua là thói quen đấy thôi, các ông ạ. Chả là tôi bán quán đã lâu, khách cũng đông, mỗi người một vẻ, chả ai giống ai, mà tôi nhận xét ít khi lầm lẫn. *** Chân Phương là tác giả, nhà thơ, hiện sống tại Hoa Kỳ. Tác phẩm đã in (dưới bút hiệu Phương Sinh): Chú thích cho những ngày câm nín (1992), Bản án cho các vĩ cầm (1992), Nghĩa đen (1993), Bổ túc lý lịch cho loài di dân (1994) và Biển là một tờ kinh (1996). Mời các bạn đón đọc Cô Gái Chúc Sơn của tác giả Chân Phương.
Chờ Em Đến San Francisco
Truyện viết về Sài Gòn những năm 1980, qua suy nghĩ, qua hồi ức của một nhân vật nay đã là một phụ nữ trưởng thành. Truyện cũng xen vào những bối cảnh rất hiện đại ở các quốc gia châu Âu và Mỹ. Các địa danh như Chicago và San Francisco cũng được nhắc đến nhiều trong truyện. Đọc "Chờ em đến San Francisco", bạn đọc sẽ một lần nữa, được trở lại với Sài Gòn xưa, với những con người xưa và những tình cảm thiêng liêng một khi đã bước vào thì rất khó dể thoát ra...Một kết thúc mở cho cuộc tình giữa một cô gái với 2 chàng trai, cô sẽ lựa chọn ai?... "Một cô gái nuôi dưỡng tình cảm si mê của mình suốt hai mươi năm trời, tưởng không thể gặp lại người trong mộng. Nhưng một ngày, người tình thời thơ ấu đột ngột trở lại. Cô sẽ làm gì để giữ được tình yêu cũ trong khi tim cô cũng đang rối bời vì một người đàn ông khác vừa xuất hiện. Những chuyến bay, những khung cảnh lãng mạn của Paris, Chicago... và đặc biệt là khung cảnh Sài Gòn của hai mươi năm trước bồng bềnh hiện ra, xen giữa câu chuyện tình nóng bỏng." *** Review Nguyễn Ngọc Ánh Bạn có tin vào duyên số không? Những cuộc gặp gỡ, những mối tình, những kỷ niệm xen lẫn nụ cười và nước mắt,… cùng tất cả những thứ mà bạn đã nếm trải trên cuộc đời này, chúng đều là duyên số. Tôi đã nghe ở đâu đó nói rằng “Kiếp trước phải quay đầu nhìn nhau 500 lần, kiếp này mới có duyên gặp gỡ hay ở cạnh nhau”. Và tôi tin vào duyên số mà ông trời đã sắp đặt. Tôi tin một ngày nào đó, chúng ta – những người yêu nhau, dù có cách xa hàng nghìn cây số rồi cũng sẽ trở về bên nhau. Có lẽ, Dương Thụy cũng vậy khi xây dựng tình yêu của nhân vật An và Bình trong cuốn sách “Chờ em đến San Francisco”. Dương Thụy đã nhắc trong Lời nói đầu rằng “Cuốn sách này không dành cho những bạn đọc tuổi teen hay những bạn trẻ dưới ba mươi tuổi” và tôi cũng không phải đối tượng của cuốn sách này. Thế nhưng, tôi vẫn khuyên các bạn nên đọc, cho cái tuổi trẻ “thanh xuân” đang tràn ngập, cho cái thời áo trắng ngây ngô nhưng khao khát tình yêu. Cuốn sách là một câu chuyện nhẹ nhàng và lãng mạn như nước Pháp, pha chút bồng bột của tuổi trẻ, nhưng vẫn rất đáng yêu và chân thành. Mạch kể câu chuyện đan xen giữa những ký ức trong quá khứ và hiện tại qua suy nghĩ cùng hồi ức của nhân vật nữ chính nay đã là một phụ nữ trưởng thành. Đọc “Chờ em đến San Francisco”, bạn sẽ được sống lại thời bao cấp ở Sài Gòn vào những năm 80 của thế kỷ trước, khi cuộc sống còn nhiều thiếu thốn nhưng tình người thì vô cùng bao la. Dưới ngòi bút của Dương Thụy, một Sài Gòn rất khác, một Sài Gòn hào hoa, không quá nhộn nhịp mà gần gũi hơn, Sài Gòn những ngày nắng và trái tim của một cô gái với những rung động đầu đời nhưng cuối cùng cũng có một kết thúc tốt đẹp. Các ký sự về hành trình châu Âu, châu Á không những cung cấp kiến thức về con người, văn hóa, lịch sử của nơi đến mà còn đan xen những cảm nhận rất riêng, rất thật, rất đặc biệt dưới con mắt của nhà văn. Tôi đã đọc lại cuốn sách rất nhiều lần, tôi không nhớ chính xác mình đã đọc nó bao nhiêu lần khi tôi được tặng nữa. Nó thực sự hay. Cũng như những câu chuyện trước của Dương Thụy, các nhân vật trong câu chuyện này cũng có những chức vụ, địa vị khá cao trong xã hội. Ở hiện tại, An là một nhân viên của công ty dược phẩm nổi tiếng, đi đây đi đó khắp nơi như cơm bữa. Ngoài ra, sự xuất hiện của hai chàng trai là John – một doanh nhân ấm áp và lịch lãm, tự tay xây dựng doanh nghiệp của riêng mình và Bình – mối tình đầu ngây thơ của An, anh làm ở Apple với một vị trí mà “không có người để cho phép anh nghỉ” – một vị trí khá cao theo suy nghĩ của tôi, cả hai chàng trai đều đã để lại trong tôi những cảm xúc khó có thể diễn tả xuyên suốt câu chuyện. Trong chuyến đi công tác của mình, An tình cờ quen biết với chàng trai độc thân tên John trên máy bay, giữa họ nảy sinh những rung động sau vài lần gặp gỡ ở Chicago, nhưng khi nhận ra những rung động đó, An bắt đầu băn khoăn, cô chưa sẵn sàng cho một tình yêu mới. Trong quá khứ, An là một cô nữ sinh khiến biết bao thằng con trai trong xóm “thèm” với vẻ ngoài non trẻ của thiếu nữ 18 của mình, nhưng người duy nhất cô trao tình cảm là Bình – mối tình đầu của cô. Cái cảm giác nóng rẫy khi ngồi sau chiếc xe Dream của Bình trước khi anh xuất ngoại đó mãi là phút giây ngất ngây nhất đã làm cô không thể quên trong suốt những ngày tháng sau này. Duyên số đưa đẩy, An và Bình gặp lại nhau vào mùa thu Paris với những cơn gió rét ngọn, tình cảm giữa họ năm ấy vẫn còn đó, những lần cùng nhau học tiếng pháp, thu âm những bài hát tiếng pháp lãng mạn như vừa mới xảy ra. Bình gắn với tuổi thơ của An, gắn với những hồi ức về một thời khốn khó nhưng luôn tràn ngập niềm vui. Bình là Sài Gòn trong An, và quan trọng nhất, Bình là…mối tình đầu. Mối tình đầu chỉ khiến ta thôi nhớ, chứ chẳng thể nào khiến ta mãi mãi quên. An cũng vậy. Sau một khoảng thời gian quá dài, tưởng chừng như bóng hình Bình đã phai mờ trong kí ức cô, nhưng không, anh vẫn luôn ở đấy, ở một góc sâu thẳm trong trái tim của cô gái Sài Gòn. Thật may khi cả hai đều vì những bấp bênh của cuộc sống mà chưa kết hôn. Kết thúc câu chuyện, giữa một chàng trai người Mỹ lịch lãm vừa quen như John và mối tình đầu không thể quên là Bình, An buộc phải đưa ra chọn lựa cho chính mình. Và cô đã chọn Bình. Truyện không chỉ nói về tình yêu, mà còn về những con người xóm Tân Định, cuộc sống thời bao cấp, chị Hương qua đèo, các anh “cu”, và “non-cu”,… Tôi chỉ tiếc rằng mình không sinh ra ở thời ấy để có thể cảm nhận hết những gì Dương Thụy đã viết. Nhưng khi đọc nó và nghiền ngẫm, tôi vẫn có thể tưởng tượng ra một rạp phim tồi tàn cũ kỹ mang cái tên Văn Hoa đầy ắp những kỷ niệm đẹp giữa các nhân vật, có thể tưởng tượng ra một xóm nghèo như vô số những xóm nghèo bây giờ nhưng đầy ắp tình người. Thế nhưng tôi không làm sao hiểu cảm giác bị rệp cắn là thế nào, cũng không làm sao hiểu những thái độ kỳ thị nhau chỉ vì chế độ chính trị ở thời xưa. Với lối viết văn nhẹ nhàng mà giản dị, Dương Thụy đã xây dựng tính cách nhân vật nữ chính mà tôi thực sự yêu thích. Thông qua câu chuyện của nhân vật chính, nó cho ta bài học về tự đối mặt với chính bản thân mình, đối mặt với những cảm xúc sâu thẳm nhất trong tâm hồn chúng ta để có thể đưa ra sự lựa chọn không phải đúng đắn nhất mà là khiến chúng ta hạnh phúc, vui vẻ nhất một cách thực sự từ trong trái tim. Và tôi cũng đã thực sự bị quyến rũ bởi những bức tranh được vẽ ra về những chuyến bay, những khung cảnh lãng mạn của Paris, Chicago… và đặc biệt là khung cảnh Sài Gòn của mấy mươi năm trước bồng bềnh hiện ra, xen giữa câu chuyện tình nóng bỏng. Thế nhưng có lẽ vì câu chuyện theo mô típ cũ trong những cuốn sách trước đây mà tôi từng đọc của Dương Thụy nên với tôi, nó vẫn chưa thực sự đặc sắc, cùng với những sự khó hiểu trong một vài chi tiết của câu chuyện mà cô ấy đã viết, nếu có sự sáng tạo hơn nữa trong cách sáng tác thì cuốn sách này của Dương Thụy sẽ được tôi đánh giá cao hơn. Tuy nhiên với tôi, nó vẫn là cuốn sách mà tôi thực sự yêu thích. Và tôi nghĩ rằng bạn cũng sẽ cảm nhận được như thế khi bạn đọc được nó. Hãy đọc và cùng tôi cảm nhận. Mời các bạn đón đọc Chờ Em Đến San Francisco của tác giả Dương Thụy.
Bù Khú Tiên Sinh
Nếu như tự truyện LẠC ĐƯỜNG kể lại hành trình của một trí thức trẻ lên rừng theo Việt cộng để rồi vỡ mộng khi biết minh lạc đường, thì BÙ KHÚ TIÊN SINH là cuộc chia tay đầy bi kịch của gã Việt cộng ấy với cái guồng máy quái đản mà hắn từng tham dự. Sau ngày 30/4/75 anh ta ở Rừng về nhưng không muốn chen chân vào chốn quan trường mà trở về với quần chúng, sống chung với những người cùng khổ trong xã hội. Đây là một hình thức phản kháng của người trí thức. Sư thức tỉnh của hắn đã phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. TỰA KHÔNG CHỜ NGÀY MAI Năm 1949 Samuel Beckett viết vở kịch nổi tiếng “En Attendant Godot” với những nhân vật cứ loay hoay làm những việc vô nghĩa trong khi chờ Godot đến để cứu rỗi, để đổi thay. Nhưng Godot đã không bao giờ đến. Vở kịch, thoạt tiên không ai xem vì quá đơn điệu, nhưng rồi sau đó khán giả châu Âu ùn ùn đến rạp vì cho rằng nó là một ẩn dụ về sự vô vọng của Chủ nghĩa Xã hội. Nhân vật chính trong tác phẩm “Bù Khú Tiên Sinh” này là một trí thức Sài Gòn lên rừng theo kháng chiến. Gã biết Godot không bao giờ đến nên không chờ. Gã chọn con đường riêng. Gã sống như một nhà tiểu thuyết của đời mình, một kẻ sáng tạo ra bản thân, một bánh răng tự nhảy ra khỏi guồng máy. Lúc ở chiến khu làm Việt cộng, lúc ở tù, hay lăn lộn vào thế tục… đâu cũng thế, vẫn cứ là gã. Sống thực, sống đầy, sống như triều dâng, sống hoang dã và sống tận tình, sống lặng lẽ và sống bất bình. Gã có thể bù khú hay im lặng, cười hay khóc, phóng đãng hay thánh thiện. Sao cũng được. Gã đem cuộc đời mình ra mà bù khú, mà chơi, mà sáng tạo và hủy diệt. Đó là dốc hết tinh anh ra mà sống, không cần ai tán thưởng. Như một dòng sông háo hức băng vào đại dương bao la, gã phóng mình đi. Gã chỉ có một dịp để sống. Gã rất vội. Nên không chờ ngày mai. NHẬT CHIÊU (Nhà văn, nhà nghiên cứu văn học, dịch giả. Sinh 1951 tại Sài Gòn. Hiện là giảng viên của nhiều chuyên đề văn học và văn hoá tại ĐH KHXH & NV TP. HCM, và nhiều đại học khác.) *** Đào Hiếu (sinh năm 1946), tên khai sinh: Đào Chí Hiếu. Các bút danh khác: Biển Hồ, Đào Duy. Hiện ông là hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Đào Hiếu, sinh ngày 10 tháng 2 năm 1946 tại Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Ông sớm gia nhập phong trào sinh viên cách mạng tại Quy Nhơn. Năm 1968 ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1970 ông bị bắt quân dịch và trở thành binh nhì sư đoàn 22 Quân lực Việt Nam Cộng hoà. Sau sáu tháng, ông trốn vào Sài Gòn bắt liên lạc với Tổng hội sinh viên hoc sinh để tiếp tục hoạt động chống Mỹ đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ông tốt nghiệp cử nhân văn chương trước 1975 tại Sài Gòn. Từng làm phóng viên báo Tuổi Trẻ và Nhà xuất bản Trẻ. Hiện Đào Hiếu sống và viết tại TP. Hồ Chí Minh. Truyện dài Giữa cơn lốc, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1978. Một chuyến đi xa, Nhà xuất bản Măng Non, 1984, nxb Trẻ 1994. Qua sông, Nhà xuất bản Văn Nghệ, 1986. Vùng biển mất tích, Nhà xuất bản Đồng Nai 1987. Vượt biển, Nhà xuất bản Trẻ 1988, 1995. Vua Mèo, Nhà xuất bản Trẻ 1989. Người tình cũ, Nhà xuất bản Văn Nghệ 1989. Kẻ tử đạo cuối cùng, Nhà xuất bản Trẻ 1989. Thung lũng ảo vọng, Nhà xuất bản Trẻ 1989. Hoa dại lang thang, Nhà xuất bản Văn Học 1990. Trong vòng tay người khác, Nhà xuất bản Tác phẩm Mới 1990. Kỷ niệm đàn bà, Nhà xuất bản Văn Nghệ 1990. Nổi loạn, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn 1993. Lạc Đường (tự truyện), Nhà xuất bản Giấy Vụn 2008, Nhà xuất bản Kim Thư Production USA 2008. Tuyển tập Đào Hiếu (tập 1 và tập 2) Nhà xuất bản Kim Thư Production USA 12. 2009. Mạt lộ, Nhà xuất bản Lề Bên Trái (tự xuất bản)[1], 03. 2009. Truyện ngắn và tạp văn Bầy chim sẻ, Nhà xuất bản Văn Nghệ 1982. Những bông hồng muộn, Nhà xuất bản Trẻ 1999. Tình địch, Nhà xuất bản Trẻ 2003. Thơ Đường phố và thềm nhà, Nhà xuất bản Trẻ 2004. Mời các bạn đón đọc Bù Khú Tiên Sinh của tác giả Đào Hiếu.