Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Những Phi Đội Bay Về Phía Tây - Anatôli Kôgiepnhicốp

A.L.Kozhevnikov sinh ngày 12 tháng 3 năm 1917 tại làng Bazaikha (nay thuộc thành phố Krasnoyarsk), trong một gia đình nông dân. Ông tốt nghiệp trường cao đẳng nông nghiệp Krasnoyarsk, làm việc như một nhân viên trắc địa trong quá trình  xây dựng nhà máy chế biến gỗ Krasnoyarsk. Kể từ năm 1938, tham gia Hồng quân Liên Xô. Năm 1940 ông tốt nghiệp khóa huấn luyện tại phi trường hàng không quân sự Bataisk và trở thành giảng viên. Từ tháng 6 năm 1941 Trung sĩ A.L. Kozhevnikov chiến đấu trong quân đội. Sau đó trở về trường hàng không quân sự Bataisk . Năm 1942, ông tiếp tục ra mặt trận chiến đấu. Vào tháng năm 1945, là  Trung đoàn phó trung đoàn cận vệ 212 (sư đoàn không quân cận vệ 22, tập đoàn không quân 2, phương diện quân Ukraina 1). A.L. Kozhevnikov đã thực hiện 211 phi vụ tấn công, trinh sát, yểm hộ máy bay ném bom, hỗ trợ  cho lực lượng bộ binh. Sau khi trải qua 62 trận chiến trên không, tự mình bắn hạ  25 máy bay kẻ thù và 2 cùng với các đồng đội. Phá hủy rất nhiều trang thiết bị khác nhau của  kẻ thù trên mặt đất. Ngày 27 tháng 6 năm 1945 ông đã được trao danh hiệu Anh hùng Liên Xô cho lòng can đảm và dũng cảm thể hiện trong các trận chiến với kẻ thù. Năm 1950 ông tốt nghiệp Học viện Không quân, năm 1958 - Học viện Quân sự Bộ Tổng tham mưu. Trung tướng Không quân. Tác giả của nhiều cuốn sách. Ông đã được trao Huân chương Lenin, huân chương Cờ đỏ (năm lần), huân chương Alexander Nevsky, huân chương Chiến tranh thế giới hạng nhất, huân chương Sao đỏ (ba lần); nhiều huy chương và giải thưởng của nước ngoài. *** Chúng tôi yểm hộ các hoạt động chiến đấu của bộ binh ở vùng Naumberg - Bunslau. Trong cuộc chiến tranh Vệ quốc năm 1812, nguyên soái Mikhain Illarionôvich Cutuzôp đã đến thành phố này. Ông cũng mất tại đây. Gần con đường nhựa có một ngọn đồi nhỏ, dưới chân đồi ấy đã chôn cất trái tim của người thống soái Nga vĩ đại. Những binh đoàn tăng và cơ giới đã qua đây hai ngày sau khi để lại cho những chiến binh ngọn lửa yêu nước của đất Nga. Bây giờ, họ nhanh chóng di chuyển về phía Tây, đập tan những phòng tuyến cuối cùng của phát xít. Chúng tôi lại xuất kích bay dọc phòng tuyến mặt trận khoảng 150km. Gần đấy không có sân bay bê tông xi măng nào, còn những sân bay đất thì lại ẩm ướt. Tuyến hành trình dài đến mục tiêu và bay ngược lại tiêu tốn quá nhiều thời gian. Dọc đường đi, gặp gỡ những biên đội hai chiếc "Metxersmit" và "Phôcke-Vulph", nhưng chúng tôi cũng không ham tiến hành những trận không chiến lâu, vì vậy những cuộc gặp gỡ với bọn chúng đều kết thúc bằng những trận đánh nhỏ. - Có lẽ, chiến tranh kết thúc đến nơi rồi, mà ngành Hậu cần của chúng ta không học được cách xây dựng sân bay cho nhanh, - Êgôrôp cau có. Hậu cần làm sao được? Một ngày đêm bộ binh tiến được 30 - 40km. Qua 3-4 ngày là mình đã ở sâu trong hậu phương rồi. Chúng ta chỉ tiếc rằng Hítle không xây dựng ở hướng này lấy vài sân bay tốt thôi. - Đến khi chiếm được sân bay mới, - tôi nói, - thì chúng ta phải sử dụng những thùng dầu phụ cho thận trọng. Đừng vội vã vứt chúng khi mới thấy địch xuất hiện, kẻo không lại không có đủ dầu liệu khi quay về. Chúng tôi nhận nhiệm vụ đi yểm hộ những phân đội tiền tiêu ở khu vực Lauban. Hành trình phải bay dọc tuyến trước. Dọc đường, chúng tôi gặp 2-3 biên đội hai chiếc "Metxersmit". Thấy chúng tôi chiếm ưu thế, chúng không muốn giao chiến. Chúng tôi cũng không thèm đuổi theo. Mục đích chính của chúng tôi là phải yểm hộ đơn vị tăng. Lauban đây rồi. Tôi nối liên lạc với đại diện không quân ở binh đoàn tăng, ngày hôm nay Rưbkin giữ nhiệm vụ ấy - đấy là thanh tra kỹ thuật bay. - Có thấy tôi không? - Rưbkin hỏi, cùng lúc thấy hai phát pháo hiệu bay vọt lên. - Tôi thấy rồi. - Người anh em ơi, hãy đến cứu bọn tôi đi, bọn Đức đã chia cắt đội hình chúng tôi rồi. Nhưng chúng tôi đang ở trên máy bay tiêm kích thì cứu giúp thế nào được đây? Cứu bằng cách nào tôi chưa nghĩ được. Còn Rưbkin, có lẽ đứng nhìn máy bay chúng tôi với sự ghen tỵ và hy vọng. - Hãy báo cáo qua đối không để "ông chủ" cử không quân cường kích đến đi, - đồng chí ấy đề nghị. - Dù chỉ là một phi đội thôi cũng được. Tôi ở đây sẽ dẫn dắt họ. Không thì gay go lắm. Tôi báo cáo qua đối không về sở chỉ huy những đề nghị của bộ đội tăng và nhận được câu trả lời: "Chúng tôi sẽ cử đến ngay. Cố gắng giữ vững". Trong khi ấy, chúng tôi phát hiện thấy một tốp lớn những máy bay "Phôcke-Vulph" đeo bom lặc lè. Rõ ràng là bọn chúng đến oanh kích đơn vị tăng của chúng ta rồi. Chúng mày không đến được đâu, bọn đểu giả ạ. Nhanh chóng chiếm vị trí có lợi, toàn đội hình của tôi lao vào tấn công bọn Đức. Bọn chúng vội vã vứt bom bừa bãi, nhưng rồi thấy có ưu thế về số lượng, chúng lại không rút lui khỏi chiến trường. Chúng tự do đánh thế nào tuỳ ý, điều ấy dẫn đến mất sự chỉ huy, điều hành. Chúng tôi thì ngược lại, hành động thống nhất hiệp đồng giúp đỡ lẫn nhau và giành được thế chủ động. ... Mời các bạn đón đọc Những Phi Đội Bay Về Phía Tây của tác giả Anatôli Kôgiepnhicốp.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Cơm Thầy Cơm Cô
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) Tập ký sự Cơm Thầy Cơm Cô của tác giả Vũ Trọng Phụng. Cơm Thầy Cơm Cô (đăng báo 1936) cũng là một phóng sự mô tả hiện tượng những người dân thôn quê tìm ra đô thị do hấp lực của “ánh sáng kinh thành” để rồi bị biến thành những vú em, con sen thằng ở, thằng bồi thằng xe, bị bóc lột sức lực, bị lạm dụng tình dục, bị buôn đi bán lại, không ít người biến thành trộm cắp, đĩ điếm, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Ở đây nhà văn đã sớm phát hiện những hậu quả tha hóa, phi nhân hóa, gây ra bởi sự di dân, sự nhập cư, là những hiện tượng mà quy mô sẽ tăng lên hàng chục hàng trăm lần khi xã hội ta bước sang thời công nghiêp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa. Một số truyện khác: Con người điêu trá, cuộc vui ít có, bụng trẻ con, tình là dây oan.... ***   Một thứ “mặt trái đời”. Kết quả chuyến xâm nhập điều tra nghề cơm thầy cơm cô của Vũ Trọng Phụng đã bị nhà báo Lê Tràng Kiều xem là một thứ “mặt trái đời” của thời Hoàng Tích Chu ở một hình thể mới. Kiều cho rằng những điều Phụng tố cáo là những sự thực nên kiêng, bởi có quá nhiều điều đáng kinh sợ trong những mẫu hạng về giới cơm thầy cơm cô: “Có những đứa đầy tớ bị chủ nhà đánh chết. Có những con sen được ông chủ quý hơn vợ. Có những thằng nhỏ bỏ thuốc độc định giết cả nhà chủ nhà. Có những anh bếp nhổ đờm vào nồi cá kho. Có những vú già quyền hành như mẹ “cậu mợ”. Có những thằng nhỏ được kỳ lưng cho các tiểu thư. Có những anh xe được ngủ giường Hồng kông với bà chủ. Có những đứa ở lúc chủ chết khóc như khóc bố mẹ. Có những đứa liều mạng cứu chủ. Có những quân đốt nhà của chủ. Hoặc dắt cướp vào nhà. Hoặc thư đi thư lại, làm nghề ma cô. Có những thằng nhỏ hiếp con gái ông phán. Có những con sen bị ông tham hiếp dâm. Có nhiều!” Có tốt, có xấu, chẳng thể chỉ viết điều tốt không, mà đem tất cả điều xấu ra nói thì khó tránh kiểm duyệt. Trong lúc trù trừ Phụng đã được Nguyễn Công Hoan đề nghị: “Mình cứ việc điều tra ngay ở chính mình!” Và rồi phóng sự “Cơm thầy cơm cô” được xuất bản năm 1936, gồm 9 chương và phần mở đầu, ghi lại hết thảy hiện thực một cách chân thực về chuyến điều tra mà nhà văn là nhân vật “tôi” đi xin việc. Cám dỗ của “ánh sáng kinh thành”. Sau hòa ước Patenôtre 1884 – hòa ước cuối cùng nhà Nguyễn ký với thực dân Pháp – thực dân Pháp chia nước ta làm 3 miền với 3 chế độ cai trị khác nhau. Nam Kỳ với chế độ thuộc địa. Trung Kỳ theo chế độ nửa thuộc địa, nửa bảo hộ. Riêng Bắc Kỳ hoàn toàn theo chế độ bảo hộ. Bắc Kỳ, nơi đất ít, người đông, khí hậu khắc nghiệt nên quan hệ làng xã được duy trì bền vững, thực dân Pháp lợi dụng mối quan hệ này để định ra cách cai trị riêng cho Bắc Kỳ. Chúng giữ nguyên bộ máy cai trị của phong kiến để biến tầng lớp này thành tay sai đắc lực cho chính quyền Pháp ở Đông Dương bằng cách trao cho họ những quyền lợi về kinh tế và chính trị, nhằm mua chuộc người Việt làm tay sai cho thực dân Pháp, chia rẽ sự đoàn kết, đẩy nhanh quá trình phân hoá giàu nghèo, làm tăng mâu thuẫn trong xã hội, làm cho nhiều gia đình nông dân điêu đứng, bần cùng. “Cơm thầy cơm cô” là kết quả cuộc điều tra về nạn buôn người và nghề đi ở của ông vua phóng sự đất Bắc những năm 1930, dưới hậu quả thâm độc trong chính sách cai trị bóc lột của thực dân Pháp, người nông dân nghèo không biết làm gì cho có cái ăn, cái mặc, buộc phải di dân, buộc phải rời làng quê đi đến Hà thành với hy vọng đổi đời. Có lẽ những đêm không trăng không sao, người nhà quê vùng Nam Định, Hải Dương, Bắc Ninh, Sơn Tây, Hòa Bình mỗi khi ra sân, quay về một phía trời, đã thấy có một vùng hào quang sáng rực. Đó là ánh sáng của kinh đô Hà Nội! Nơi nghìn năm văn vật, dân giàu, nhiều tiền lắm của, dễ kiếm sinh nhai… Ánh sáng kinh thành cám dỗ người dân quê. Khi ra đi, có lẽ họ chắc mẩm trong bụng về công việc vẻ vang. Họ như con thiêu thân bay vào đống lửa, cho nên mới bị quáng mắt bởi những ánh sáng của kinh thành. Trong khi chờ cho có việc, họ có mấy đồng xu cứ ăn hết dần. “Đến cái ngày mà túi cạn mà việc chưa có, mà không ai thí cho đồng chinh hay bát cháo, tất là họ phải sinh ra liều mạng, có những lá gan to. Đàn bà sẽ đi đến Dục tình. Đàn ông sẽ đi đến Hình phạt.” Hiện tượng những người dân thôn quê bỏ nhà bỏ cửa ồ ạt nối đuôi nhau ra đô thị, một mặt do điêu đứng bần cùng bởi sưu cao thuế nặng nơi làng quê, một mặt do hấp lực của “ánh sáng kinh thành” để rồi bị biến thành những vú em, những con sen thằng ở, những thằng bồi thằng xe… Họ bị bóc lột sức lao động, bị lạm dụng tình dục, bị buôn đi bán lại, không ít người biến thành trộm cắp, đĩ điếm, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Bằng phong cách của người làm báo, Vũ Trọng Phụng nói thẳng, nói thực, tả chân. Ông đi sâu vào điều tra xã hội con sen thời bấy giờ. Khi giá trị con người có lúc không bằng lũ súc vật. Đám dân hạ lưu chia nhau ra khắp các phố, như dòng nước len lỏi qua các cống ngầm, thành thử những người lịch sự tưởng Hà thành lịch sự, mà các nhà xã hội học cũng tưởng là Hà thành không có chuyện gì bi thương. Nhưng thực ra, nó rất là thương tâm. “Nó đã cất tiếng gọi dân quê bỏ những nơi đồng khô cỏ héo đến đây để chết đói một lần thứ hai sau khi bỏ cửa bỏ nhà. Nó đã làm cho giá con người phải ngang hàng với giá loài vật: Nó đã làm cho một bọn trẻ đực vào nhà Hoả Lò và một bọn trẻ cái làm nghề mãi dâm!” Cái cách dùng từ “bọn trẻ đực” và “bọn trẻ cái” sao mà đắt giá! Bởi giá trị con người có khi không bằng giá súc vật. Người dân quê đi đến được đất Hà thành, để kiếm việc làm phải nhờ vào mụ làm nghề đưa người ở, mụ tập trung họ đến chợ buôn người, họ ngồi giơ mặt cho ruồi bâu, chờ được mua. Mỗi người chỉ cầu như một con chó, nhiều khi kém một con chó. Vì con chó có khi còn được chủ mua thịt bò cho ăn, vì con chó có khi mỗi tháng còn khiến chủ tốn kém hơn nuôi một đứa tôi tớ trong nhà. Còn phận tôi đòi đem chân tay ra làm nhiều việc có ích, rất nặng nhọc, ăn đói làm no, mà vẫn không kiếm được việc, không có khách nào muốn mua. Rõ ràng không phải ra giá cao nên ế, chính là bán rẻ mà vẫn ế! Vũ Trọng Phụng phơi bày một sự thật trần trụi đến đau lòng, khi phận con người khát khao đời sống của một con chó còn không được. “Nước mẹ đại Pháp” đã làm gì nhân dân Việt Nam thế này? Vũ Trọng Phụng đã viết ra hiện thực mà nhiều người không dám viết, không phải ông nhìn đời bằng con mắt đen, mà thực tế xã hội Việt Nam dưới chính sách bảo hộ đầy thâm độc của thực dân Pháp đã mục nát như vậy rồi. Từ việc mua bán người, ra giá, trả giá như đồ vật, đến những sự việc diễn ra khi đi ở, bị bạo hành, bị hãm hiếp, trả thù… quan hệ nhân quả và sự tha hóa bản chất con người quả thật đã khiến độc giả phải rùng mình ghê sợ. Với một thái độ trung dung, Vũ Trọng Phụng không đứng về phía quân chủ nhà, cũng không bênh vực đám đầy tớ, ông chỉ đơn giản là trần thuật nguyên nhân, quá trình, hậu quả, hệ lụy… Tất cả là cái phông nền bộc lộ rõ bản chất xã hội đất Hà thành dưới thời Pháp thuộc.  “Nghệ thuật thì dài mà cuộc đời thì ngắn.” Danh ngôn của Hippocrates – cha đẻ Y học, người thầy thuốc vĩ đại nhất lịch sử Hy Lạp cổ đại – như ứng vào cuộc đời Vũ Trọng Phụng. Chỉ với 27 năm kiếp người và vỏn vẹn 9 năm cầm bút, ông đã để lại những đứa con tinh thần mang gen trội với sức sống dồi dào theo thời gian. Vũ Trọng Phụng không sợ cũng không ngại đào sâu vào những u uất của xã hội đương thời, những cái điều mà nhà văn khác e ngại nói ra. Với “Cơm thầy cơm cô”, nhà văn đã phát hiện những hệ lụy tha hóa, phi nhân hóa gây ra bởi di dân và nhập cư, cùng hậu quả ghê rợn của nó dưới thời Pháp thuộc. Ngày nay, khi đất nước ta bước sang thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, thì ảnh hưởng bởi hiện tượng này vẫn còn, tuy nhiên dưới sự quan tâm và quản lý của nhà nước Việt Nam, dù là di cư thì cuộc sống nhân dân vẫn có nhiều ổn định. Vũ Trọng Phụng đã chứng minh cái tài của người cầm bút được tôn vinh là “ông vua phóng sự đất Bắc”, mang đôi mắt tỏ tường trước xã hội dù nơi ánh đèn soi rực rỡ hay nơi tối tăm hôi hám, mang lòng can đảm dám viết thực theo lối tả chân. Bởi vậy mà văn Vũ Trọng Phụng vẫn sống và đang sống căng tràn trên diễn đàn văn học cả trong và ngoài nước. Mời các bạn mượn đọc sách Cơm Thầy Cơm Cô của tác giả Vũ Trọng Phụng.