Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Thành Phố Và Lũ Chó

Lũ chó trong Thành phố và lũ chó là danh xưng mà học viên các lớp trên của Trường Quân sự Leoncio Prado “tặng” cho các học viên lớp mới vừa chân ướt chân ráo bước vào trường năm đầu. Và đám lính tò te ấy, lũ “chó con”, ngơ ngác, sợ sệt, “chửa biết gì”, rất nhanh chóng được nếm mùi vị thật của Trường Quân sự, mùi bạo hành, thứ bạo hành mà khi chúng lớn hơn, bản thân trở thành học viên lớp lớn, chính chúng sẽ đem áp dụng với đám “chó con” nhỏ tuổi hơn. Những năm niêu thiếu quan trọng nhất của “lũ chó” đã trôi qua trong môi trường nghiệt ngã của ngôi trường quân sự, một nhà tù để chúng trưởng thành về mọi mặt, cả mặt sáng và mặt tối. Tình yêu, tình dục, tình bằng hữu, ý thức về trung thực, trách nhiệm và phẩm giá, tất cả rồi sẽ nảy nở và hình thành trong cái lò lửa đó, theo cách giống như tất cả chúng ta song cũng theo một cách riêng, rất riêng của lũ “chó con” trường quân sự dưới ngòi bút duyên dáng, sinh động, sục sôi khí lực của một trong những nhà văn hàng đầu Mỹ latinh.   Khi Thành phố và lũ chó được ấn hành lần đầu tiên ở Peru vào năm 1962, tác phẩm đã  gây xì căng đan đến độ có một ngàn bản sách đã bị đốt trong một buổi lễ chính thức diễn ra tại Trường quân sự Leoncio Prado. Cũng năm đó, cuốn sách được trao giải Biblioteca Breve, một giải thưởng tặng cho tác phẩm hư cấu hay nhất bằng tiếng Tây Ban Nha.     ***********     Nhận định   “Cuốn tiểu thuyết đầy bạo lực nhất của Mario Vargas Llosa” - Lời bình của ấn bản tiếng Tây Ban Nha, NXB Alfaguara *** LỜI GIỚI THIỆU Năm 1962, khi còn là bản thảo, Thành phố và lũ chó[1] đã được nhận Giải thưởng Thư viện Ngắn gọn của Nhà xuất bản Seix Barral, cho đến hiện nay vẫn là một trong những nhà xuất bản danh tiếng nhất Tây Ban Nha và Mỹ Latinh. Ngay khi vừa được xuất bản, năm 1963, cuốn tiểu thuyết đã được trao giải thưởng của Giới phê bình Tây Ban Nha và gây nên chấn động chưa từng thấy trong dư luận xã hội và trong giới học giả, nhanh chóng được dịch ra ba mươi thứ tiếng và ngày nay được đánh giá là tác phẩm kinh điển trong nền văn học không chỉ của đất nước Perú mà còn của Mỹ Latinh nói chung. Trong nền văn học bằng tiếng Tây Ban Nha ở Mỹ Latinh, nhà văn nổi tiếng người Guatemala, Miguel Angel Asturias, giải thưởng Nobel Văn chương năm 1967, và nhà văn người Cuba, Alejo Carpentier, được coi là những người khởi đầu và đặt nền móng lý luận cho chủ nghĩa hiện thực huyền ảo (realismo mágico hoặc realismo maravilloso), một khám phá độc đáo của văn học Mỹ Latinh hiện đại[2]. Còn nhà văn Perú Mario Vargas Llosa lại là một trong những người đi tiên phong, đóng góp to lớn vào sự nghiệp cách tân thi pháp tiểu thuyết, mà vấn đề cốt lõi là sử dụng thời gian đa tuyến, một kỹ thuật hết sức mới mẻ thời bấy giờ, đồng thời cũng sáng tạo ra những kỹ thuật kể chuyện có hiệu quả để nắm bắt và phản ánh hiện thực như mê cung của đất nước ông. Trong Thành phố và lũ chó, thời gian đa tuyến được tác giả sử dụng thông qua kỹ thuật tự sự đa chủ thể: thời gian “trong cốt truyện” thông qua chuyện kể của ngôi thứ ba (người kể chuyện) theo diễn biến từ đầu đến cuối - từ khi học viên Cava bị Nhóm bạn giao cho việc ăn cắp đề kiểm tra môn hóa, vô tình làm vỡ cửa kính, nhà trường phạt các học viên gác đêm hôm đó không được đi chơi ngoài trường vào thứ Bảy và Chủ nhật; quá bức xúc, học viên Arana (Nô Lệ) liền tố giác khiến Cava bị đuổi học, rồi bản thân Nô Lệ sau đó bị bắn chết trong cuộc diễn tập quân sự… Bên cạnh đó là thời gian “ngoài cốt truyện”, diễn ra qua lời kể của các nhân vật chính: Trăn, Alberto (tức Nhà Thơ), Báo Đen gồm những hồi ức về gia đình, bản thân (ngược chiều với thời gian cốt truyện, kể về những sự việc đã qua, một thứ flashback), thời gian tâm lý gồm tình yêu chớm nở, tình cảm với con chó cái… Toàn bộ cuốn tiểu thuyết được chia làm hai phần và phần vĩ thanh, mỗi phần có tám chương, mỗi chương thường có bốn hoặc năm phân đoạn, hai chương có đến mười phân đoạn. Một phần ba cuốn tiểu thuyết (ba mươi sáu trong số tám mươi mốt phân đoạn) được kể ở ngôi thứ nhất dưới dạng độc thoại nội tâm của ba nhân vật chính với thời gian và không gian bị đảo lộn, xáo trộn, khiến cốt truyện dù đơn giản cũng trở nên ly kỳ, hấp dẫn. Các đoạn độc thoại này không được nói rõ của nhân vật nào, độc giả phải tự luận ra, hơn nữa chúng lại kết hợp rất khéo léo, khi thì trực tiếp khi thì gián tiếp với ngôi thứ ba, kỹ thuật kể chuyện này được M. Vargas Llosa tự gọi là “phương pháp bình thông nhau”, ví dụ trong đoạn độc thoại sau đây của Alberto: “Mình có thể sẽ đi mà nói với bố, bố ơi cho con hơi mươi đồng sol đi và ngay bây giờ mình đã thấy rõ, hai mắt bố sẽ đẫm lệ và bố sẽ cho mình bốn mươi hoặc năm mươi đồng, nhưng việc đó sẽ chẳng khác gì nói với bố, con tha thứ cho những việc bố đã làm với mẹ và bố vẫn có thể cứ làm ba cái trò đĩ thoã của mình đi với điều kiện là phải tiếp tục cho con tiền thưởng hậu hậu vào.” Dưới chiếc khăn quàng bằng len của mẹ cho từ mấy tháng trước, đôi môi của Alberto cử động liên tục mà không hề phát ra âm thanh nào… Cấu trúc phức tạp này đòi hỏi nhà văn phải vững tay nghề và, cùng với một cốt truyện ly kỳ, cấu trúc này đã giữ được mạch hồi hộp thích thú cho độc giả và buộc họ phải tham gia tích cực vào diễn biến của câu chuyện, phải chăm chú theo dõi, tự sắp xếp lại không gian và thời gian của các lời kể thì mới có thể nắm chắc được nội dung. Yếu tố kỹ thuật kể chuyện này hoàn toàn mới lạ trong nền tiểu thuyết Mỹ Latinh thời kỳ đó, và trở thành yếu tố kỹ thuật cơ bản của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh. Và chính Mario Vargas Llosa là một trong những người đầu tiên vận dụng nhuần nhuyễn ngay từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên của mình. Ngoài ra, khả năng sử dụng ngôn ngữ đời thường, kể cả những từ lóng, thậm chí thô tục của lứa tuổi mới lớn; nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật; sự kết hợp hài hòa giữa những trang miêu tả các sự kiện đầy bạo lực với những trang hết sức trữ tình về tình yêu của những thanh niên mới lớn, tình yêu thuở học trò, những trang miêu tả sương mù bảng lảng đầy chất thơ và chất u ám tăm tối ở khu vực La Perla nơi trường quân sự được xây dựng và ẩn hiện thường xuyên chất hài hước chế giễu sâu cay; tất cả làm nên giá trị nghệ thuật độc đáo và hết sức mới mẻ của tác phẩm này. Nét mới mẻ và độc đáo còn ở ngay nội dung tác phẩm. Thành phố và lũ chó là bản cáo trạng lên án nền giáo dục quân phiệt, quan điểm phân biệt chủng tộc, đẳng cấp xã hội, triết lý kẻ mạnh áp chế kẻ yếu còn ngự trị trong xã hội và trong trường quân sự. Là di sản của chế độ thực dân-phong kiến của Tây Ban Nha, chế độ gia trưởng, vai trò các trưởng lão, các thủ lĩnh (Caudillo) còn tồn tại lâu dài trước sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản. Các thế lực quân sự, nhằm đào tạo ra một thế hệ quân nhân mù quáng tôn thờ chế độ gia trưởng, chế độ độc tài quân sự, đã lập ra hệ thống trường quân sự nơi nền giáo dục dựa trên chính bạo lực và dối trá, nơi triết lý kẻ mạnh ngự trị trên hết. Bằng chính trải nghiệm của bản thân, Vargas Llosa đã đề cập đến một đề tài hết sức mới mẻ: nền giáo dục quân phiệt đầy bạo lực. Và Trường Quân sự Leoncio Prado cũng chính là xã hội Perú thu nhỏ với mọi tệ nạn xã hội, đầy rẫy tệ phân biệt chủng tộc, phân biệt đẳng cấp xã hội, nguồn gốc văn hóa. Lên án nền giáo dục bạo lực đối với thế hệ thanh niên mới lớn trong trường quân sự, Thành phố và lũ chó cũng mang tính dự báo và kết án chế độ độc tài quân sự đã hình thành ở một số nước và sau đó, suốt thập niên 60 và 70 của thế kỷ trước, đã thống trị một cách tàn bạo ở hầu hết các nước Mỹ Latinh. Đây cũng là một đề tài được nhiều nhà văn nổi tiếng, từ M Angel Asturias, Alejo Carpentier, Augusto Roa Bastos, Ernesto Sabato… đến G. García Márquez đều đã viết và đạt thành tựu quan trọng. Nhưng nếu các nhà văn khác viết về các nhà độc tài, các trưởng lão, thì Vargas Llosa khai thác đề tài nền giáo dục, đào tạo ra bọn độc tài. Thành phố và lũ chó còn hấp dẫn bởi vì lần đầu tiên văn chương đề cập đến đời sống tinh thần và vật chất của lứa tuổi mới lớn trong trường quân sự, tình bạn, tình yêu. Họ là nạn nhân của một xã hội thối nát, của lối giáo dục tàn bạo, nên sống buông thả, bài bạc, đĩ điếm, ăn trộm, vô kỷ luật, tàn nhẫn với nhau, theo đuổi lối sống tình dục bản năng của tuổi chưa trưởng thành (tình dục đồng giới, tình dục với thú vật như gà mái, chó cái), thậm chí còn gây tội ác. Vargas Llosa mạnh dạn bóc trần những tệ nạn đó, lên án và chế giễu chua cay những kẻ đại diện cho chế độ xã hội dựa trên bạo lực và giả dối. Lập trường chống chế độ quân phiệt, chống giai cấp tư sản, chống tư tưởng ỷ thế kẻ mạnh, chống bạo lực tàn bạo của Vargas Llosa trong tác phẩm này đã làm cháy lên tinh thần phản kháng và thức tỉnh ý thức phải đổi mới trong xã hội Perú, như García Márquez từng nói:”… đảo ngược hẳn lại thực tế.” Mới mẻ, đặc sắc từ đề tài, quan điểm tiếp cận thực tế đến phong cách, nghệ thuật kể chuyện cùng những yếu tố kỹ thuật mới, Thành phố và lũ chó được liệt vào một trong những tác phẩm văn học mở đầu cho cuộc bùng nổ của tiểu thuyết Mỹ Latinh. Cùng với Gabriel García Márquez, Julio Cortázar, Carlos Puentes, Mario Vargas Llosas được coi là những nhà văn xuất sắc nhất của Mỹ Latinh từ nửa cuối thế kỷ XX cho đến hiện nay. M. Vargas Llosa sinh ở Arequipa, Perú, năm 1936, cho đến năm lên mười mới biết mặt bố vì trước đó bố mẹ ông đã ly thân. Từ chỗ được mẹ yêu chiều, khi về sống với bố và mẹ lúc này đã tái hợp, ông phải đối mặt với thái độ hà khắc của bố, từ đó nảy sinh xung đột bố- con, và nỗi khát khao được sống tự do. Ông bị đưa vào học Trường Quân sự Leoncio Prado. Chính trong môi trường bạo lực này, tố chất và năng khiếu văn chương của ông đã được nảy nở: ông viết thư hộ cho bạn, viết truyện tình bán cho bạn học. Ngay khi ra trường, ông tham gia viết báo và nhận ra sự nghiệp đời mình chỉ có thể gắn với chữ nghĩa. Năm 1953 ông vào học ở khoa Văn và Luật trường Đại học San Marcos và bắt đầu viết truyện ngắn; năm 1959 các truyện này được tập hợp trong tập Các vị chỉ huy, giành giải thưởng Leopoldo Alas. Sau đó, ông yêu và kết hôn cùng Julia Urquidi, người dì dâu của chính ông. Năm 1955, cùng với vợ, ông sang châu Âu học tập theo học bổng Javier Prado và lấy bằng Tiến sĩ Triết học và Văn chương; đồng thời tìm thấy môi trường thích hợp cho hoạt động văn học. Những chi tiết trong tiểu sử này đã được ông đưa vào một số tiểu thuyết nổi tiếng như Lầu xanh (La casa verde, 1966), Đối thoại trong quán La Catedral (Conversacion en La Catedral, 1969) và Dì Julia và nhà văn quèn (La tía Julia y el escribidor, 1977, hai cuốn sau đã được dịch ra tiếng Việt). Ngoại trừ một giai đoạn có tham gia hoạt động chính trị, thậm chí là ứng viên tổng thống năm 1990, phần lớn cuộc đời cho đến hiện nay ông dành cho văn học và báo chí. Ông có sức sáng tạo mạnh mẽ: hàng chục tiểu thuyết nổi tiếng như Pantaléon và các nữ du khách (Pantaleón y las visitadoras, 1973); Cuộc chiến tranh nơi tận cùng thế giới (La guerra del fin delmundo, 1981), Câu chuyện của Mayta (Historia de Mayta, 1984), Ai đỡ giết Palomino Molero? (iQuién mató a Palomino Molero?, tiểu thuyết hình sự, 1986), Người nói chuyện (El hablador, 1987), Ca ngợi người mẹ kế (Elogio de la madrastra, 1988), Người Lituma ở dây Andes (Lituma en los Andes, 1993), Những quyển vở của ông Rigoberto (Los cuadernos de don Rigoberto, 1997), Lễ hội của dê (La fiesta del chivo, 2000), Thiên đường nơi góc phố (El paraíso en la otra esquina, 2003), và ở tuổi 70, năm 2006, lần đầu tiên ông viết cuốn tiểu thuyết tình yêu Trò nghịch của gái hư (Travesuras de la nina mala). Ngoài ra ông còn một số lượng rất lớn sách tiểu luận về văn học, triết học, chính trị và nhiều tác phẩm sân khấu. Năm 2010 vừa qua, Mario Vargas Llosa được trao giải thưởng Nobel Văn chương. Bên cạnh đó, ông từng đoạt tất cả các giải thưởng quan trọng nhất ở đất nước Perú và các nước nói tiếng Tây Ban Nha: giải thưởng Cervantes, giải thưởng Hoàng tử Asturias về văn chương - hai giải thưởng danh giá nhất trong các nước nói tiếng Tây Ban Nha - giải thưởng của các nhà xuất bản quan trọng nhất Barral và Planeta, giải thưởng của các nước khác của Mỹ La tinh, của Ý, Pháp, Mỹ, Anh, Đức… Và, như ông tự nói: giải thưởng lớn nhất trong đời chính là niềm đam mê và lòng quyết tâm theo đuổi nghề văn. Lê Xuân Quỳnh   *** "Thành phố và lũ chó" là tác phẩm đầu tay của nhà văn người Tây Ban Nha gốc Peru Mario Vargas Llosa - người đoạt giải Nobel Văn học 2010. Bối cảnh của câu chuyện là trường quân sự có thật mang tên Leoncio Prado ở Lima, Peru. Tại đây, những đứa trẻ 14-15 tuổi đã phải nhập học và trải qua cuộc sống lính khắc nghiệt. Những năm tháng quan trọng nhất trong thời niên thiếu của lũ trẻ sống dưới dưới sự tàn khốc của chế độ quân phiệt Peru. Những học viên mới của trường bị gọi là “chó con”. Chúng phải trải qua thử thách là những trò hành hạ mà lũ “chó con” năm trước áp đặt. Trong môi trường khép kín và đầy thiết quân luật, trường học trở thành nơi lũ trẻ đe nẹt, hành hạ lẫn nhau. Ngoài ra, đây cũng trở thành nơi chúng hút hít và vụng trộm giải tỏa những nhu cầu sinh lý của những cậu trai đang lớn. Nội dung chính của tác phẩm tập trung vào một hội nhóm bí mật của đám học viên năm thứ tư. Chúng thường tổ chức các vụ trộm cắp, trao đổi những phi vụ bí mật trong trường. Một lần, Cava, một trong ba thành viên của nhóm, nhận nhiệm vụ đánh cắp đề thi môn Hóa. Vụ việc vỡ lở, toàn bộ học viên của khóa bị cấm trại cho đến khi tìm được thủ phạm. Cava bị một học viên khác trong trường tố giác và sau đó là những kế hoạch trả thù của nhóm hội bí mật với người bạn học này. Tác phẩm từng gây chấn động lớn trong xã hội ngay khi ra đời năm 1963 vì lên án chế độ quân sự của Peru. Đã có cả nghìn bản sách bị chính các sĩ quan của ngôi trường này đốt bỏ. Tuy nhiên, cuốn sách cũng được đánh giá cao về giá trị văn chương và đã đoạt giải Biblioteca dành cho tác phẩm hư cấu hay nhất của giới phê bình Tây Ban Nha. Nhà văn Mario Vargas Llosa khi ấy mới 23 tuổi. Song Ngư *** Đã từng lướt qua không biết bao nhiêu lần và cũng đã từng muốn mua không biết bao nhiêu lần nhưng lần nào cũng đang trong lúc cạn ngân sách nên đành bấm bụng quay đi. Sau một hồi quên lãng thì lại đọc ké hết cả quyển trong quán Cà phê. Và cảm xúc sau khi đọc xong là Cực kì muốn đọc lại. Đau đớn thay là khi ấy Quyển này đã hết hàng, còn đau đớn hơn nữa khi biết là không hề có bản Ebook. Và vì không có Ebook, cũng không có Sách trong tay, thế nên bài Review này cũng không có bất cứ dẫn chứng nào. Mà cũng đừng ai hỏi bạn chẻ có quyển này hay không, hay hỏi mượn, hay đại loại là hỏi mua ở đâu, đơn giản là vì bạn chẻ cũng đang kiếm chỗ mua đây. FULL: AZW3 EPUB MOBI PDF

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Chuyến Thư Miền Nam - Antoine De Saint-Exupéry‎
'Chuyến thư miền Nam' là tự truyện của người phi công (cũng của chính tác giả Antoine de Saint-Exupéry) như những thước phim tài liệu trữ tình chứa đựng những suy tư về chủ nghĩa anh hùng cùng nỗi cô độc luôn đeo bám. Lối văn đầy chất thơ và bút pháp ẩn dụ của tác giả cuốn tiểu thuyết 'Hoàng tử Bé', hẳn sẽ khiến độc giả hài lòng. Chuyến thư miền Nam được xuất bản năm 1929 là tiểu thuyết đầu tay của ông, lấy chất liệu từ truyện ngắn L’Aviateur (Người phi công). Thông qua nhân vật Jacques Bernis, Saint-Exupéry kể về chính cuộc đời mình cùng những suy tư và cảm xúc của người phi công. Cuốn tiểu thuyết là tự truyện của người phi công và thước phim tài liệu trữ tình chứa đựng những suy tư về chủ nghĩa anh hùng, cùng nỗi cô độc hiện lên như người bạn đường trung thành của ông trong những tháng ngày đầu đời làm phi công. Một mình lèo lái cỗ máy bất kham và khó lường, mang theo những cánh thư hướng tới Nam bán cầu, bay qua những vùng trời khắc nghiệt nơi mỗi sự cố đều có thể đồng nghĩa với cái chết, hoặc bởi một cú hạ cánh thất bại hoặc bởi những phát súng trường hay nhát gươm sắc lẹm của bộ lạc du mục chốn sa mạc. Cuộc đời phi công đầy bất trắc và cô đơn ấy chỉ được cứu rỗi bằng ánh sáng của tình yêu, từ mối tình phiêu lưu với những trìu mến xa xôi, tựa nguồn nước mát lành hóa giải cơn khát, tựa kho báu bao năm chôn sâu dưới đất ngầm nay được mở ra. Một lần nữa, chúng ta sẽ gặp lại ở tiểu thuyết đầu tay của Saint-Ex lối văn đầy chất thơ và bút pháp ẩn dụ đã làm nên thành công rực rỡ cho kiệt tác Hoàng tử Bé. Antoine de Saint-Exupéry hay gọi tắt là Saint-Ex (sinh ngày 29 tháng Sáu năm 1900 - mất tích ngày 31 tháng Bảy năm 1944) là một nhà văn và phi công Pháp nổi tiếng. Saint-Exupéry được biết tới nhiều nhất với kiệt tác văn học Hoàng tử Bé (Le Petit Prince). Tác phẩm của Saint-Exupéry tập trung vào đề tài phi công hoặc lấy cảm hứng từ những chuyến bay của chính tác giả. Do mất tích khi mới 44 tuổi và cũng dành rất nhiều thời gian để thực hiện các chuyến bay, số lượng tác phẩm của Saint-Exupéry không nhiều, nhưng đa phần đều đặc sắc. *** Cùng lúc là tự truyện của người phi công và thước phim tài liệu trữ tình chứa đựng những suy tư về chủ nghĩa anh hùng cùng nỗi cô độc hiện lên như người bạn đường trung thành của ông trong những tháng ngày đầu đời phi công. Một mình lèo lái cỗ máy bất kham và khó lường, mang theo những cánh thư hướng tới Nam Bán cầu, bay qua những vùng trời khắc nghiệt nơi mỗi sự cố đều có thể đồng nghĩa với cái chết, hoặc bởi một cú hạ cánh thất bại hoặc bởi những phát súng trường hay nhát gươm sắc lẹm của bộ lạc du mục chốn sa mạc. Cuộc đời phi công đầy bất trắc và cô đơn ấy chỉ được cứu rỗi bằng ánh sáng của tình yêu, từ mối tình phiêu lưu với những trìu mến xa xôi, tựa nguồn nước mát lành hóa giải cơn khát, tựa kho báu bao năm chôn sâu dưới đất ngầm nay được mở ra. Một lần nữa, chúng ta sẽ gặp lại ở tiểu thuyết đầu tay của Saint-Ex lối văn đầy chất thơ và bút pháp ẩn dụ đã làm nên thành công rực rỡ cho kiệt tác Hoàng tử bé. Mời các bạn đón đọc Chuyến Thư Miền Nam của tác giả Antoine De Saint-Exupéry‎.
Những Người Tạo Ra Hiện Thực Tập 2 - Olivier Lockert
"Người biết tự làm cho mình hạnh phúc với một ảo tưởng đơn giản khôn ngoan hơn nhiều lần so với người tuyệt vọng với thực tại." - Alphonse Allais Thôi miên nhân văn là một nhánh tiếp cận mới mẻ và tràn đầy ánh sáng của ngành Thôi miên có lịch sử lâu đời. Với hướng trị liệu hướng đồng thời vào bên trong và ra ngoài, vừa “ở đó” lại vừa “ở đây”, cá thể kết nối với toàn thể, thôi miên nhân văn kết nối với Ma trận, với Toàn thức, với Core Gem, thôi miên nhân văn luôn tỏa ra sức cuốn hút huyền bí không những trong giới nghiên cứu mà còn có tác động trên diện rộng. Tiếp tục thể hiện dưới dạng tiểu thuyết, Những người tạo ra hiện thực (Tập 2) của Olivier Lockert dẫn người đọc bước vào chuyến du hành không gian đến thung lũng Kamchatka, nơi có các nhân vật quen thuộc: Marc, Lehya, Jonathan và Elean, ông già thông thái Khayr và anh bạn chuyên gia tâm lý Lou White. Bắt đầu từ hình ảnh trái-bom-người phát nổ, Những người tạo ra hiện thực (Tập 2) đan xen trong suốt toàn bộ mạch truyện là phương pháp trị liệu bằng thôi miên nhân văn được lồng ghép mà không có bất cứ ai trong trạng thái đờ đẫn. Trên nền giọng văn như thôi miên, cuộc trò chuyện của các nhân vật diễn ra trong ánh sáng nhận thức và chân thực nhưng tác động đến tâm thức sâu xa trong lòng mỗi người. Với cốt truyện tưởng như trừu tượng, Những người tạo ra hiện thực (Tập 2) đã làm ngạc nhiên rất nhiều thân chủ và nhà chuyên môn từ khắp nơi trên thế giới về độ hiệu quả cao và vẻ đẹp của cách tiếp cận thôi miên nhân văn. *** “Mỗi người là một phần của cái tổng thể mà chúng ta gọi là “Vũ trụ”... một phần giới hạn trong thời gian và trong không gian. Ta trải nghiệm chính ta, những suy tư và những cảm xúc của ta cứ như thể tách biệt với phần còn lại – là một kiểu ảo tưởng của nhận thức của nó. Ảo tưởng này như một nhà tù giam ấy, giới hạn ta trong những mong cầu cá nhân, và khiến ta chỉ yêu thương một vài con người gần gũi nhất với ta. Nhiệm vụ của chúng ta là tự giải phóng mình khỏi ngục tù ấy bằng cách trải rộng lòng yêu thương của ta, để ôm trọn tất cả những sinh vật, toàn bộ thiên nhiên và vẻ đẹp của tất cả.” - Albert Einstein - “Hôm nay Thế giới đổi thay! Tôi không nói về thời đại của chúng ta, mà chính xác là nói về ngày hôm nay, về bây giờ. Chuyện đó đã bắt đầu rồi. Bạn có cảm nhận được không? Bạn đang cầm quyển sách này trong tay và Thế giới, và cuộc đời bạn vừa có một bước ngoặt. Hãy nhìn ra bên ngoài... ngay cả không trung cũng có vẻ khác đi, dường như trong trẻo hơn. Nó rung động khác đi. Nhưng bạn đang nhận thức về điều gì vậy?... Về căn phòng quanh bạn ư? Về những âm thanh?... Thoảng qua về những suy nghĩ của chính mình... Và trong lúc này chuyện gì đang xảy ra trong những ngôi nhà lân cận? Và ở thành phố kề bên?... Bên kia địa cầu, có chuyện gì có tầm quan trọng quyết định đang xảy ra không... và ở trong chính bạn? Thế giới thay đổi, bạn biết điều đó. Và bạn biết nhiều hơn là những gì bạn hiểu nãy giờ, vì bạn biết nhiều hơn những điều bạn biết... Đó là sự thật! Vậy thì nếu bạn chờ đợi đọc thấy lại ở đây những điều bạn đã biết, lại nữa, bạn sẽ thất vọng. Ngược lại, nếu những suy nghĩ của bạn tự do, nếu bạn sẵn sàng tin... Nhưng, thật ra thì bạn sẵn sàng đến mức nào để tìm lại... ký ức? Cuộc phiêu lưu lại tiếp tục. Và Anh hùng lần này... là chính bạn! Tiến lên thôi. Cuộc đời không đợi đâu.” ... Mời các bạn đón đọc Những Người Tạo Ra Hiện Thực Tập 2 của tác giả Olivier Lockert.
Những Người Tạo Ra Hiện Thực Tập 1 - Olivier Lockert
"Người biết tự làm cho mình hạnh phúc với một ảo tưởng đơn giản khôn ngoan hơn nhiều lần so với người tuyệt vọng với thực tại." - Alphonse Allais "[..] Thật ra, anh chỉ biết có một hiện thực. Chỉ có hiện thực của Anh. Cảm nhận này, còn gọi là Hiện-thực-cảm-nhận, là một thứ rất riêng cho anh, là kết quả của việc anh bóp méo Hiện-thực-thực theo cách nào. Không có cái Hiện-thực-cảm-nhận nào là đúng hơn cái nào, của người khác hay của anh đều vậy. Mỗi Hiện thực là thực đối với người cảm nhận nó [...]" - Olivier Lockert - Những người tạo ra hiên thực, tập 1 Tiểu thuyết Những Người Tạo Ra Hiện Thực dẫn dắt bạn cùng  thực hiện cuộc hành trình với Marc, Elean, Jonathan và Lehya, bốn số phận sẽ đan xen nhau từ khắp những thành phố lớn Châu Âu, đến tận cùng sâu thẳm đồi núi vùng Kamtchaka (Viên Đông nước Nga). Câu chuyện hé lộ cho ta một cách tiếp cận toàn diện về cuộc sống và sự Thay đổi, về những bí mật trong kỹ thuật Thôi miên nhân văn, cùng những sự thay đổi ngoạn mục đúc kết từ công trình thực tế của tác giả. Độc giả sẽ được mở rộng tâm thức, khơi dậy tiềm năng sáng tạo, sẽ hiểu và nhớ trước khi kịp nhận thấy mình được hỗ trợ như thế nào qua giọng văn thôi miên của tác giả. *** Olivier Lockert làm việc từ hơn hai mươi lăm năm nay trong lĩnh vực Con người, hướng đến Sức khỏe, cải thiện Chất lượng cuộc sống và Sự tiến hóa của con người nói chung, dưới rất nhiều hình thức. Là nhà trị liệu và giảng viên, người sáng lập của Thôi miên nhân văn, giảng viên quốc tế về Thôi miên trường phái Erickson và Lập trình ngôn ngữ - tư duy, Chủ tịch hội Thôi miên Pháp: Thôi miên trường phái Erickson và Thôi miên nhân văn, ông được tán thưởng bởi sự nhiệt tình, đơn giản và sự thấu hiểu về cuộc đời. Sách của Olivier Lockert hiện đã có mặt tại trên 60 quốc gia. *** Những trải nghiệm đa dạng, những suy ngẫm và phát hiện của cá nhân, tổng hòa với những kiến thức cốt lõi truyền đời – đôi khi được soi sáng bởi những kiến thức khoa học hiện đại nhất về vũ trụ và não bộ con người, tất cả đã được kết hợp để cho ra đời “Core Gem”, triết lý sống nền tảng của quyển sách mà bạn sắp đọc. Thôi miên nhân văn chính là thế giới quan nói trên thể hiện cụ thể thành trị liệu. Quyển sách này có hai cách tiếp cận bổ sung cho nhau: - Khía cạnh trị liệu, với những ví dụ minh họa cho những kỹ thuật căn bản của Thôi miên nhân văn (Trị liệu biểu tượng). - Khía cạnh triết lý, cho phép những độc giả có quan tâm hiểu hơn về cách vận hành của Sự sống và mục đích của nó, tất cả nhắm đến một ứng dụng cụ thể: trở thành Người sáng tạo ra chính cuộc đời mình. *** “Người biết tự làm cho mình hạnh phúc với một ảo tưởng đơn giản khôn ngoan hơn nhiều lần so với người tuyệt vọng với thực tại.” Alphonse Allais. Tất  cả những chuyện này làm tôi nhớ đến câu chuyện xưa… một người một bướm gặp nhau trong cùng một giấc mộng. Điều mà các bạn sắp khám phá đây có tên là Core Gem. Đó là một ly rượu pha hảo hạng trong đó bạn có thể tìm thấy những hiểu biết thông tuệ cổ xưa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, và cả những khám phá hiện đại. Tôi đã được truyền thụ bởi một con người… rất kỳ lạ. Mục tiêu của Core Gem (dịch từng chữ thì ta có thể gọi là Viên ngọc nội tâm) là cho phép ta đạt tới một khả năng siêu phàm can thiệp trên Hiện thực, một cách đơn giản, tức thì và hiệu quả. Mục tiêu tối hậu là gì? Hiện thực hóa những ước mơ của bạn và sáng tạo cuộc đời của chính bạn trong nhận thức sáng suốt, từng ngày từng ngày. Bạn sẽ nói rằng điều này có vẻ không tưởng… và bạn có lý. Nếu bạn không điều chỉnh những niềm tin của mình, tất cả những điều này sẽ hoàn toàn là tưởng tượng thuần túy. Và rồi, cuối cùng, bạn sẽ nhận ra rằng Core Gem gợi bạn nhớ về một điều gì đấy. Một điều mà bạn đã biết từ rất lâu, mà bạn đã từng biết sử dụng…  Bởi vì Core Gem sẽ chỉ là một lý thuyết vô nghĩa nếu như nó không dựa trên những trải nghiệm rất thật của biết bao nhiêu người như bạn, từ khi Sự sống bắt đầu tồn tại. Tất cả những điều này dường như là không thể… nhưng lại thật sự tồn tại. Thế thì? Core Gem tuôn trào theo Sự sáng tạo. Core Gem không nói lý thuyết, chỉ bao gồm toàn những tiến trình. Nó hành động hơn là lý luận. Khả năng sử dụng của nó có thể là khôn cùng, dĩ nhiên vượt xa những gì bạn có thể tưởng tượng vào lúc này. Nhiều hơn cả những gì tôi có thể tưởng tượng. Bạn sẽ không tìm thấy những giải thích về Core Gem, hay những luận giải hay bằng chứng khoa học của những kỹ thuật của nó. Bởi Core Gem sử dụng chính những gì bạn suy nghĩ, và bạn có thể suy nghĩ mà không cần chứng minh bất cứ điều gì. ... Mời các bạn đón đọc Những Người Tạo Ra Hiện Thực Tập 1 của tác giả Olivier Lockert.
Người Thứ 41 - Boris Lavrenyov
Tôi biết đến Người thứ 41 lần đầu tiên vào một buổi chiều mùa hè của vài năm trước. Gần đây, dọn lại tủ sách tôi có dịp đọc lại. Tuy cảm xúc của lần đọc thứ hai đã khác lần đầu tiên, nhưng câu chuyện tình ngang trái trong truyện luôn luôn khiến người ta day dứt và mãi mãi chẳng thể nào quên Câu chuyện xuất hiện trong bối cảnh nội chiến của nước Nga Xô Viết giữa hai phe Bonsevic đại diện cho tầng lớp lao động và phe Mensevic đại diện cho tầng lớp quý tộc. Đại diện của hai phe này, hay  nhân vật chính trong truyện là hai thanh niên nam-nữ còn rất trẻ, nữ hồng quân Maria Filatovna và sĩ quan bạch vệ Govorukha Otrok. Lẽ ra anh chàng sĩ quan kia đã trở thành kẻ tử trận thứ bốn mươi mốt dưới tay súng thiện xạ của cô gái nhưng cuối cùng, anh lại trở thành người mà cô yêu tha thiết và có lẽ cô sẽ không bao giờ quên được anh.   Câu chuyện khép lại với một kết thúc buồn thảm với mối tình dở dang của cô gái. Cô đã phải tự tay giết chết người mình yêu thương để bảo vệ cho lý tưởng giải phóng giai cấp cao đẹp mà cô chọn lựa, nhưng có lẽ đó sẽ là sự ám ảnh suốt đời cho người trong cuộc. Hình ảnh đôi mắt của nhân vật chính xuất hiện hầu như xuyên suốt trong tác phẩm, như một sự khẳng định về tâm hồn viên sĩ quan Bạch vệ. Đôi mắt xanh trong veo như màu nước biển Aran, hay là màu của sự hy vọng, của những điều tinh khiết nhất mà anh còn giữ lại được không bị ảnh hưởng của chiến tranh. Đôi mắt ấy đã thu hút tâm hồn Marjutca để rồi cuối cùng nhìn cô với vẻ băn khoăn, ai oán. Đây là một trong số ít những tiểu thuyết buồn mà tôi rất thích. Vượt lên trên chiến tranh và sự ngăn trở của thân phận, cuộc tình ngắn ngủi đầy kỳ lạ giữa hai con người khác biệt về giai cấp ấy vẫn là một bản tình ca đẹp ngân nga trong lòng người đọc qua năm tháng. *** Thời gian trước, bộ phim "Sắc, Giới" (Lust, Caution) của Lý An ra đời đã gây ít nhiều sóng gió và xôn xao dư luận, khi nó mong manh giữa ranh giới nghệ thuật và sự câu khách rẻ tiền. Xem xong bộ phim về mối tình éo le và bi thảm giữa tên trùm mật vụ và một cô gián điệp trẻ tuổi, chẳng hiểu sao tôi lại nghĩ mãi về một quyển truyện vừa của dòng văn học Xô Viết, cũng cùng mô-típ mâu thuẫn giữa tình yêu và lí tưởng như thế nhưng kết thúc và tư tưởng tác phẩm lại khá khác biệt. Đó là truyện Người thứ 41 của Boris Lavrenhjov viết năm 1924. Trong Sắc, Giới, cô gái vì yêu mà không giết kẻ thù nhưng kẻ thù đã giết cô cho trọn chức trách; còn Người thứ 41 thì "phe địch" phải chết... Người thứ 41 lấy bối cảnh là cuộc nội chiến ở Trung Á, câu chuyện tình giữa một nữ chiến sĩ Hồng quân Marjutca và một tên bạch vệ Gơvorukha - một cô gái quê mùa ít học và 1 tên quý tộc trí thức. Trên đường áp giải gã sĩ quan về căn cứ, đội quân của Marjutca bị đắm thuyền, chỉ còn mình cô và gã sĩ quan sống sót, trôi dạt vào 1 hòn đảo. Giữa những ngày tháng miễn cưỡng sống tựa vào nhau, những câu chuyện về cuộc sống ở hai thái cực đối lập của họ, những bất đồng giai cấp sâu sắc, kì lạ thay, không ngăn được tình yêu nảy nở. Và ngược lại, cái tình yêu ấy cũng chẳng xoá nhòa hay khoả lấp được những hố sâu cách biệt về ý thức hệ giữa họ. Kết thúc chuyện tình éo le này cũng là cái chết, đó là khi Marjutca, với phản xạ của một chiến sĩ hơn là suy nghĩ của một cô gái đang yêu, đã bắn chết tên sĩ quan - người tình của mình, khi anh ta chạy đến thuyền của phe bạch vệ vừa cập bến... Cái vấn vương người đọc ở câu chuyện này là, nếu như họ không kẹt giữa cuộc chiến ấy, giữa sự phân cực hệ tư tưởng và giai cấp, thì làm gì có bi kịch, mà ngẫm lại, không còn bi kịch thì cũng chẳng phải là cuộc sống! Khi gã sĩ quan đề nghị cô gái quên chiến tranh đi, cùng hắn đi đến một nơi thật xa xây tổ ấm, chắc ít nhiều bạn đọc cũng thầm nói "ừ chịu đi cho hết chuyện với kết thúc có hậu"! Nói thẳng ra, hắn ta cũng chẳng phải là kẻ ác đại ác ôn gì, hoặc giả là "chưa kịp ác" cho đến tận lúc người đọc chứng kiến hắn chết! Nhưng chính cái kết thúc bi thảm và ngang trái của câu chuyện này rất hay: người ta có thể cảm nhận một tình yêu thực sự giữa tinh thần cách mạng triệt để, cái kết thúc "rất Bôn-sê-vich" ấy hoá ra lại làm cho chuyện tình của họ "tình" và buồn hơn bao giờ hết... Ôi, cái anh chàng mắt xanh biêng biếc lạ kì, hay tình yêu cũng là một thứ lạ kì như vậy, chẳng có lí do gì cụ thể nhưng dường như là tất cả, có thể bị nhuộm màu máu như nó phải thế, nhưng màu xanh ấy dường như vẫn còn... Về mặt nghệ thuật thì truyện vừa này không phải là quá xuất sắc, nhất là khi nó ra đời tại một nền văn học vĩ đại với nhiều tác phẩm xuất sắc là văn học Xô Viết. Có thể cảm nhận được tư tưởng tác giả khá "tả khuynh", nhưng đặt trong bối cảnh ra đời của truyện thì lại hoàn toàn chấp nhận được. Điểm ấn tượng của truyện chính là phần kịch tính của câu chuyện ở cách tác giả xử lí đoạn kết, sau trăm trang viết giản dị, mộc mạc tưởng chừng như sẽ "rất có hậu"... Chỉ có thể nói truyện "vương vấn một cách nhẹ nhàng nhất" đối với người đọc!   Mời các bạn đón đọc Người Thứ 41 của tác giả Boris Lavrenyov.