Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Gia Đình

Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Gia Đình của tác giả Phan Thúy Hà. Cách viết của “Gia đình” - Nguyễn Lương Hải Khôi Khái niệm trung tâm để chúng ta đọc tác phẩm “Gia đình” của Phan Thúy Hà là “chấn thương”. Nó là sự tiếp nối hai tác phẩm “Đừng kể tên tôi” (2017) và “Tôi là con gái của cha tôi” (2019).  “Đừng kể tên tôi” là tiếng nói của những người lính miền Bắc, còn “Tôi là con gái của cha tôi” là tiếng nói của những người lính miền Nam, tất cả họ, dù bước vào cuộc chiến vì nghĩa vụ hay vì  lý tưởng, đều là những số phận nhỏ bé, bị thời cuộc xé nát trong cuộc chiến Nam Bắc tàn khốc. Còn “Gia đình” là một mảnh của lịch sử cuộc Cách mạng ruộng đất của phong trào cộng sản ở miền Bắc Việt Nam thập niên 1950. Tất cả các nhân chứng trong sách “Gia đình” đều mang một chấn thương tinh thần không thể chữa lành. Nhân chứng Trần Lệ: Mười lăm tuổi, tôi là đứa trẻ sợ hãi. Đêm, bị nhốt trong chuồng trâu. Chân giẫm lên phân. Các thanh chắn chuồng trâu thưa, có thể chui ra ngoài nhưng tôi không dám. Quá nửa đêm, dân quân không canh nữa, tôi vẫn sợ. Tôi đã tiểu ra quần. Nỗi khiếp sợ năm mười lăm tuổi. Nay tám mươi hai tuổi tôi vẫn là ông già sợ hãi. Tôi không dám thắc mắc một điều gì. Muốn viết đôi điều cho con cháu biết về cha ông mình. Cầm bút lên tôi lại run. Nhân chứng Nguyễn Bút: Hai chị dâu con bác kéo xác chị đi chôn. Chôn ở đâu, không ai nhớ nữa. Nỗi khiếp sợ khiến cho các chị không còn nhớ gì nữa. Các chị chỉ nhớ lúc đó không ai còn sức nên không kéo được đi xa, cũng không đào được sâu. Nếu tôi ở lại, chị em dựa vào nhau. Hay tôi cũng chết giống như chị. Chị Loan dằn vặt. Giá hôm đó giữ chị Liên ở lại, đừng để cho chị về thôn Cầu. Nếu lường trước được chuyện xảy ra thì cha mẹ tôi đã bỏ lại tất cả, đưa các con đi khỏi thôn Cầu ngay từ đầu. Nếu, thì, làm sao ra nông nỗi mười một cái chết đau thương như vậy trong nhà bác Cả, bác Hai và nhà tôi. Văn học như là vi-lịch sử Tác giả Phan Thúy Hà chia sẻ rằng trong Lời cuối sách của “Gia đình”, cũng giống như hai tác phẩm trước, các nhân vật đều là người thật, tên của nhân vật cũng là tên người thật, câu chuyện của họ trong tác phẩm là sự thật trong ký ức của họ. Như vậy, ở đây, tác giả không hư cấu mà chỉ viết lại lời kể từ điểm nhìn của nhân chứng. Chị cho biết, có câu chuyện trong tuyển tập này, tuy chỉ dài hai trang nhưng chị phải đi gặp tới bốn người, lắng nghe họ để ráp nối các sự kiện và dựng lại cho câu chuyện được đầy đủ. Như vậy, tác phẩm còn là một công trình khảo sát xã hội nữa. Không phải là khảo sát ở quy mô lớn, mà là khảo sát số phận những con người cụ thể. Bằng cách này, Phan Thúy Hà làm cho nghệ thuật và khoa học của “vi lịch sử” gặp nhau. “Vi lịch sử” (micro history) là một nhánh mới của sử học gần đây. Sử học truyền thống phục dựng thời đại đã qua chủ yếu bằng cách khảo sát những nhân vật lớn, những anh hùng, những nhà tư tưởng, nhà kinh tế lớn, những trận đánh, những hiệp ước xoay chuyển thời đại… Vi lịch sử phục dựng diện mạo của thời đại đã qua bằng cách khảo sát những con người nhỏ bé, những số phận hoàn toàn vô nghĩa, những con người “không tên, không tuổi, không tiền” của những thời đại đã qua. Vi lịch sử chọn cách tiếp cận này vì đối với nó, những số phận nhỏ bé này, những con người bên lề này lại cung cấp những dữ liệu để sử gia nhìn thấy những phiên bản khác của thời đại cũ, những góc khuất của lịch sử mà những “nhân vật lớn” của sử học truyền thống không cho ta thấy được. “Gia đình” (cũng như “Đừng kể tên tôi” và “Tôi là con gái của cha tôi”) của Phan Thúy Hà cũng là một dạng thức nghiên cứu về chấn thương tinh thần của những con người nhỏ bé, đứng bên lề dòng thác khốc liệt của lịch sử, số phận bị quyết định bởi sự lựa chọn lịch sử của những “nhân vật lớn”. Nhưng qua đời sống tinh thần của họ, chúng ta nhìn thấy những đường nét, màu sắc và hình khối khác của bức tranh lịch sử, khác hoàn toàn với những đường nét, màu sắc và hình khối đứng ở trung tâm của bức tranh lịch sử “cỡ lớn” được khắc họa thông qua những nhân vật “lớn”, nhân vật “trung tâm” của thời đại, tức những chính trị gia, những tướng lĩnh quân sự. Thậm chí, những mảng màu trong bức tranh lịch sử được phục dựng từ những con người nhỏ bé này có thể trở thành điểm trung tâm của bức tranh đã qua, tùy theo điểm nhìn của người xem. Viết văn như sắc thuốc: Lịch sử tự cất tiếng nói Viết văn bằng cách kết hợp giữa nghệ thuật và khoa học lịch sử (vi lịch sử), Phan Thúy Hà không phải là, hoặc không chỉ là “nhà văn”. Chị là một “tác giả”. Cách viết của chị khi xây dựng tác phẩm này giống như hái một nắm lá về sắc thuốc. Trong y học cổ truyền, sắc thuốc là cho lá thuốc vào nồi ấm đất, đun sôi để tạo ra nước cốt. Người ta không đun lửa quá to, chỉ đun lửa nhỏ, để nước sôi dần sao cho không bao giờ trào ra khi sôi. Người sắc thuốc không tự tay tạo ra thuốc, không tác động vào nguyên liệu bằng kỹ thuật tinh xảo. Họ chỉ tạo điều kiện để thuốc tự ra đời. Nói như vậy không có nghĩa “Gia đình” không phải là một sáng tạo văn học của tác giả, ngược lại, đó là một sáng tạo độc đáo. Tác giả sử dụng giọng văn triệt tiêu mọi cảm xúc chủ quan của chính mình. Trong “Gia đình”, chúng ta không thấy hình ảnh tác giả hiện lên trong câu chuyện, dù đó là cảm xúc hay quan điểm của chị, mà chỉ có nhân vật người thật đang kể lại những chấn thương tinh thần của họ. Điều đó có nghĩa là, tác giả từ bỏ vai trò của “người sáng tạo” theo cách hiểu của văn học truyền thống, để trở thành một “nền tảng” (“platform”) nơi sự thật tự nó phơi bày, hay, trở thành một cửa ngõ để những mảnh đời sống tinh thần đang ẩn hiện đâu đó trong lòng xã hội được đi qua để hiện diện một cách trực quan và thuần khiết trước mắt cuộc đời. Cánh cửa mở ra, không phải để lôi kéo sự chú ý của người khác đến mình, mà chỉ để những gì đằng sau nó hiện ra trước ánh sáng. Câu chuyện lịch sử diễn ra cách đây bảy thập niên, do đó, không được phản ánh như là nhận thức của tác giả, dù là nhận thức chủ quan hay khách quan, mà chỉ như là những dữ liệu khách quan, cụ thể là những dữ liệu khách quan về những chấn thương còn đọng lại trong tinh thần của những con người nhỏ bé bị cơn cuồng phong đỏ xé nát. Một mảnh nhỏ của lịch sử tự nó cất tiếng nói. Nói cách khác, người sắc thuốc là người vụng về, tác giả không miêu tả tâm lý nhân vât, không sắp xếp câu chuyện bằng những kỹ thuật thời thượng, nhưng cái vụng về này là cái vụng về lớn của tài năng lớn, không để cái tôi của mình đúc khuôn hình ảnh của cuộc đời. Cách viết này không chỉ làm cho nhà văn không tự quyết định cách hiểu của độc giả thông qua thẩm quyền áp đặt của người viết, nó còn làm cho tác phẩm không phải là một thông điệp về giáo dục, đạo đức hay thẩm mỹ. Ở “Gia đình”, tác phẩm không được tạo ra như một khách thể thẩm mỹ (aesthetic object) để người đọc, người xem thưởng thức như một đối tượng tự nó hàm chứa sẵn các thông điệp và giá trị, và do đó, nhiệm vụ của người đọc, người xem cũng không phải là khám phá được các giá trị và thông điệp đó, thông qua việc giải mã các kỹ thuật viết của tác giả. Người đọc không cần có nỗi lo mình không đủ tầm về kinh nghiệm hay tri thức để hiểu tác giả và tác phẩm. Bởi lẽ người đọc không có nhiệm vụ hiểu những thông điệp có sẵn, mà người đọc giống như cái trống, còn tác phẩm như bàn tay vỗ trống. Ý nghĩa và giá trị của tác phẩm thông qua một mảnh lịch sử diễn ra cách đây hơn bảy thập niên giống như âm thanh được tạo ra từ sự tương tác giữa cái trống và bàn bay. Ý nghĩa vốn không có sẵn trong tác phẩm. Mỗi người đọc tạo ra một hình ảnh về lịch sử của riêng mình. Cách viết của “Gia đình”, do đó, làm cho giá trị của nó không dừng lại ở địa hạt văn chương, nói đúng hơn, nó không phải là văn chương theo cách hiểu truyền thống. Chúng tôi không biết tên để gọi thể loại của tác phẩm, chỉ biết rằng, đó là một tác phẩm để chúng ta nhận thức về lịch sử một cách khách quan. Chú thích Một trong những tác phẩm sử học tiên phong của vi lịch sử (micro history) là “Phô mai và côn trùng” (“The Cheese and the Worms”) của Carlo Ginzburg năm 1976. Tác giả nghiên cứu cuộc đời của một người làm phô mai tên là Menocchio (1532–1599), sống ở một ngôi làng hẻo láng và không biết chữ. Tác phẩm khảo sát niềm tin tôn giáo và tưởng tượng của người nông dân làm phô mai về vũ trụ, phác thảo diện mạo của văn hóa đại chúng ở châu Âu đương thời. *** “Gia đình” (Phan Thúy Hà) – Gió bụi một thời ai oán By Chơn Linh Ở thế kỷ 21, khi chứng kiến một cá nhân hay một gia tộc giàu có, đứng đầu một tập đoàn hay sở hữu một khối tài sản khổng lồ, ai trong chúng ta cũng trầm trồ ngưỡng mộ và ao ước một ngày nào đó mình sẽ được vinh hoa phú quý như họ. Nhưng ngược dòng thời gian trở về miền Bắc Việt Nam cách đây tròn 70 năm, nhà cửa, đồn điền, tiền của, vàng bạc hay tài sản trong nhà từng là thứ khiến tầng lớp giàu có thời bấy giờ phải kinh hồn bạt vía đến nỗi họ phải ước ao giá như mình đừng giàu, giá như mình chỉ là thành phần nông dân bần cùng mạt hạng trong xã hội. Đó là câu chuyện có thật nằm trong một góc khuất lịch sử của nước nhà thường ít được nhắc đến trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Có thể giống như mình, bạn đã từng loáng thoáng nghe qua về cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam, nhưng còn chi tiết như thế nào thì không phải ai cũng biết và chủ tâm tìm hiểu, nhất là thế hệ trẻ bây giờ. Trong chương trình Lịch sử phổ thông, cải cách ruộng đất là một “khoảng trống” bị bỏ ngỏ trong suốt nhiều năm qua vì những lý do nhạy cảm. Ngay cả trong lĩnh vực xuất bản, những cuốn sách nào đề cập tới mặt trái của cuộc cải cách này cũng gặp phải vấn đề kiểm duyệt và bị thu hồi lại sau khi phát hành, thậm chí nhà văn phải trả giá đắt. Mãi cho đến khi đọc được tác phẩm “Gia đình” của tác giả Phan Thúy Hà, mình mới thấy được những sóng gió kinh hoàng của một thời ai oán. Những thông tin mình sắp chia sẻ không phải là thông tin lịch sử khô khan khó nuốt, mà mình tin ai cũng nên biết tới sự kiện này. Nói đến nạn đói năm Ất Dậu 1944-1945, hầu như chúng ta ai cũng biết vì đó là một thông tin chấn động chúng ta được học trong môn Lịch sử, với gần 2 triệu người Việt Nam chết đói ở miền Bắc Việt Nam do hậu quả của cuộc chiến tranh tại Đông Dương. Cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam cũng là một sự kiện chấn động như thế xảy ra trong những năm 1953-1956 do Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện. Mục đích của chương trình là nhằm phân chia lại ruộng đất nông thôn, xóa bỏ văn hóa phong kiến, tiêu diệt các thành phần phản quốc (theo Pháp, chống đất nước), phản động (chống chính quyền) như địa chủ phản cách mạng, Việt gian, cường hào cộng tác với Pháp,… Những người theo chủ nghĩa cộng sản cho rằng họ phải thực hiện cuộc cải cách này để thiết lập lại trật tự và công bằng trong xã hội, đồng thời thiết lập nền chuyên chính vô sản nhằm tiến lên chủ nghĩa xã hội một cách nhanh chóng. Chương trình cải cách ruộng đất ở Việt Nam được dựa theo chương trình thổ địa cải cách ở Trung Quốc (1946-1949) với sự cố vấn trực tiếp của các cán bộ đến từ Trung Quốc. Trong 3 năm đầu, cuộc cải cách đã phân chia lại ruộng đất công bằng cho đa số nông dân miền Bắc, xóa bỏ giai cấp địa chủ phong kiến. Nhưng trong giai đoạn sau từ giữa năm 1955, việc vội vã nhân rộng mô hình cải cách tới nhiều địa phương và cuộc “chạy đua KPI” thành tích đã khiến cho việc thi hành trở nên mất kiểm soát và dẫn tới việc xét xử địa chủ vô tội vạ. Hậu quả của việc thi hành sai lầm đó là có hàng loạt địa chủ bị đem ra đấu tố và chết oan, hàng loạt gia đình địa chủ phải tan cửa nát nhà, con em thuộc thành phần địa chủ bị kỳ thị rẻ rúng, cùng vô số câu chuyện bi đát thương tâm mà chúng ta khó có thể tưởng tượng được ở thời hiện đại. Trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng ấy, không khí tang thương và tiếng khóc thê lương bao trùm các vùng nông thôn ở miền Bắc Việt Nam, khiến cho lòng dân phẫn nộ và mất niềm tin vào chính quyền. Kết cục là, đến đầu năm 1956, cuộc cải cách bị đình chỉ và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phải tổ chức chiến dịch nhận khuyết điểm và sửa sai. Ngay chính Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rơi nước mắt khi nói về những sai lầm trong giai đoạn ấy. Mình biết tới tác giả Phan Thúy Hà qua cuốn sách Qua khỏi dốc là nhà mà mình đọc từ cuối năm 2021. Sau đó tác giả có chia sẻ bài review sách của mình trên Facebook cá nhân và mình được một người bạn gửi link cho xem. Từ thời điểm đó, mình mới theo dõi và tìm hiểu thêm về những cuốn sách khác của chị rồi mua luôn đủ bộ 5 cuốn. Đọc sách của chị, mình bị sốc toàn tập, sốc từ cuốn này qua cuốn khác bởi những sự thật trần trụi đến đau đớn. Như cuốn Gia đình này là tập hợp rất nhiều câu chuyện có thật được tác giả ghi chép lại về những nhân chứng sống từng trải qua cuộc cách mạng ruộng đất ở Nghệ An và Hà Tĩnh. Đây cũng là cuốn sách khiến mình sốc nhiều nhất bởi những câu chuyện quá đỗi thương tâm, đến mức có những lúc tim mình như thắt lại khi đọc sách và phải dừng lại vì không thể đọc tiếp được nữa. Có thể nói tác giả Phan Thúy Hà như một thư ký của lịch sử, người không quản ngại thời gian và công sức đi dọc khắp các nẻo đường đất nước, tìm gặp những nhân vật từng trải qua các giai đoạn lịch sử của nước nhà ở cả hai phía chiến tuyến để ghi chép lại những câu chuyện cho thế hệ sau. Nếu không có tiếng nói của chị, có lẽ những câu chuyện này đã mãi mãi bị chôn vùi trong lớp trầm tích của lịch sử, bao nhiêu người đạp lên nó mà đi tới tương lai nhưng chưa bao giờ ngoảnh lại để thấy những gì cha ông ta đã trải qua. Để biết được tầng lớp địa chủ giàu có một thời đã trải qua những bi kịch thảm khốc như thế nào, mình xin điểm qua một số câu chuyện mình ấn tượng trong sách qua giọng kể của mình để độc giả hình dung (vì trích lại nguyên văn thì khá dài). 1. Một địa chủ bị tịch thu hết gia sản ruộng đất, phải vào rừng chặt nứa để bán kiếm sống qua ngày. Khi gánh nứa trên đường về nhà, trong cơn đói rét bủn rủn chân tay ông ghé nhà một người dân ven đường xin một bát cơm. Do nhà đó mới ăn cơm xong nên họ mới thương tình nấu một nồi cơm mới cho ông. Nhưng xui rủi thay, ông lại vô trúng nhà dân quân đang họp và bị một dân quân phát hiện khi đi ra bếp. Người chủ nhà sợ hãi phải dẹp bỏ nồi cơm và đuổi người địa chủ ra đường ngay lập tức. Sáng hôm sau, người ta phát hiện xác ông nằm chết co quắp bên vệ đường, chỉ cách nhà vài cây số. 2. Một em học sinh học xong cấp ba nộp đơn vào trường Thủy Lợi. Khi giấy gọi đi học gửi về xã, xã ghi lý lịch mật gửi ra tận trường: “Cha làm lý trưởng. Ông làm chánh tổng. Ba đời ôm chân đế quốc. Đề nghị không xét tuyển”. Không được đi học, em phải ở nhà làm nông dân hợp tác xã. Trong một buổi tối sinh hoạt, một người đứng lên chỉ thẳng mặt vào em và người em họ: “Hai đồng chí không được như đống phân. Đống phân còn có giá trị bón ruộng cho lúa tăng năng suất nuôi bộ đội đánh giặc”. Là con địa chủ thời bấy giờ đồng nghĩa với việc bị nhục mạ cũng phải im lặng. Con cái nhà địa chủ mỗi khi ra đường là bị đánh, đi học cũng bị đánh. Con gái thì bị giật tóc, gõ đầu, cấu véo, bị sỉ nhục là con địa chủ. Mỗi buổi đi học của các em đều như địa ngục trần gian, khi tan học là bị rượt đánh đến tận nhà. Một em bị bạn học bắt phải ăn khế chấm phân trâu, không ăn là bị đánh chết. Mạng sống của con em nhà địa chủ lúc bấy giờ không bằng một con chó. 3. Một gia đình thuộc tầng lớp trung nông lớp dưới, tức chưa được xếp vào hàng trung nông và cũng không phải bần nông, nhưng do người cha bị bắt nên cả gia đình cũng bị liên lụy. Dù trong nhà chẳng có của cải gì nhiều nhặn để tịch thu, dân quân thấy trong nồi có cơm nguội cũng vốc ăn hết sạch rồi lấy cả cái sành đựng nước tiểu. Bị tịch thu căn nhà, gia đình này phải phải sống ở một túp lều ven đường tàu, mỗi ngày phải đi hái rau má và bắt cua đi bán kiếm sống. Có lần dân quân bắt gặp người mẹ cầm giỏ cua trên đường, bèn giật lấy, đổ cua ra bên đường rồi giẫm nát. 4. Một địa chủ nổi tiếng nhân hậu trong vùng có đất đai ruộng vườn cò bay thẳng cánh. Vào năm cải cách ruộng đất, ông bị bắt giam, bị treo ngược chỏng đầu rồi bị dọng đầu ầm ầm xuống đất. Họ dọng như thế từ sáng tới trưa, từ trưa đến tối, với lý do nếu ông có nuốt vàng trong bụng thì sẽ nhả ra. Sau đó ông bị bắt bỏ tù, về sau bệnh mà chết. Những năm nạn đói trước đó, chính ông là người cứu giúp người dân trong vùng qua cơn đói, nhưng cũng chính những người dân ấy sau này lại tham gia đấu tố và chỉ trích ông trong cuộc cải cách ruộng đất. Câu chuyện này được người cháu của ông kể lại. Sau khi gia đình ông bị tịch thu hết tài sản ruộng đất, hai mẹ con người cháu này phải vào núi ở và tự khai khẩn làm ruộng kiếm miếng ăn qua ngày. Khi ruộng lúa đã gần đến ngày thu hoạch, sáng sớm người mẹ ra ruộng coi có thể gặt được chưa thì sững sờ phát hiện ai đó đã tháo đập và nước dâng lên thành hồ, dìm hết mớ lúa chìm trong biển nước. Hóa ra người ta vẫn luôn theo dõi gia đình họ và chỉ chờ đến ngày này, khi lúa sắp thu hoạch mới ra tay. Tại sao họ lại nhẫn tâm dồn những gia đình địa chủ vào đường cùng đến thế? 5. Trong cải cách ruộng đất có một hoạt động gọi là đấu tố địa chủ. Các địa chủ trong làng sẽ bị bắt ra giữa làng hay sân đình, bị trói vào cột hay bị chôn dưới hố, dưới sự chứng kiến của các cán bộ cải cách cùng người dân trong làng. Mỗi người dân khi đó sẽ tham gia tố khổ, kể rằng đời sống của họ đã khó khăn khổ sở ra sao trong khi tầng lớp địa chủ sung sướng ăn trắng mặc trơn thế nào. Có những cuộc đấu tố thậm chí người tố khổ còn nhổ nước bọt hay ném đá địa chủ, để rồi kết cục sau cùng là địa chủ đó sẽ bị dân quân xử bắn nếu tội lỗi bị tố chất chồng. Chuyện tố khổ không chỉ có ở người lớn, mà còn được đưa vào môi trường học đường. Mỗi tổ trong lớp vừa là tổ học tập vừa là tổ tố khổ. Vào giờ sinh hoạt, mỗi em học sinh phải nghĩ ra nỗi khổ trong gia đình mình để quy tội cho giai cấp địa chủ. Thời đó thì nhà nào cũng đói cũng rét, kể mãi cũng chỉ có nhiêu đó chuyện thì bị cán bộ hiệu đoàn kiểm điểm là thiếu nghiêm túc. Cực chẳng đã, có những em phải kiếm chuyện để tố như: “Mẹ tôi chết là do ra ruộng định vớt trứng ếch lại vớt nhầm trứng cóc luộc ăn ngộ độc chết. Tội này do địa chủ độc ác gây ra”. Thậm chí, hiệu đoàn còn chuẩn bị sẵn những bài tố khổ để “bồi dưỡng” cho các em học sinh học thuộc lòng. 6. Ông nội một nhân vật là một vị quan đại thần triều Nguyễn, vốn nổi tiếng thanh liêm và từng bênh vực cho rất nhiều người nghèo trong những vụ kiện tụng. Trước khi mất, ông có được đúc tượng và bức tượng đó về sau được đặt trên bàn thờ kèm theo một nhành mai bằng bạc. Đó là nhành mai do vua ban cho ông vào năm ông đỗ tiến sĩ. Trong cuộc cải cách ruộng đất, bức tượng bị tịch thu và đem ra triển lãm như một thắng lợi của chiến dịch. Các bác các chú và cả gia đình nhân vật cho tới tận bây giờ vẫn còn ăn năn day dứt và cảm thấy có lỗi với tổ tiên mình khi để mất bức tượng thờ đó. 7. Cha một nhân vật từ một người làng chài tay trắng làm nên mà gây dựng cả sản nghiệp cho gia đình và trở thành một hộ giàu có trong vùng. Khi cải cách ruộng đất diễn ra, gia đình người này bị tịch thu hết ruộng đất tài sản. Người cha phải quỳ gối giữa trời mưa cho từng người nông dân lên đấu tố, trong đó có những người từng chịu ơn ông. Ngay cả bà nội của nhân vật đã 92 tuổi cũng bị phạt đứng cúi đầu cả ngày và bị bỏ đói mấy ngày liền khiến cho thần kinh đờ đẫn. Trước đây, mỗi năm nhà có giỗ, gia đình ông thường mổ bò, mổ lợn mời cả làng tới ăn. Nhưng giờ đây tới ngày giỗ, ông thậm chí còn không thể làm một bát cơm cúng cho bố của mình. Phẫn uất và bất mãn, ông quyết định treo cổ tự vẫn. Trên đây chỉ là một số câu chuyện điển hình trong vô vàn những câu chuyện đã bị lãng quên trong lịch sử. Đã có không biết bao nhiêu địa chủ, quan lại thời phong kiến, tầng lớp trung nông giàu có thời bấy giờ gánh chịu nỗi oan khiên lịch sử, mất hết tất cả của cải tài sản mà cả đời tích lũy, mất hết cả những đất đai nhà cửa của tổ tiên bao đời, đến ngay cả nhà thờ họ hay bàn thờ tổ tiên cũng bị tàn phá hay chẻ ra làm củi, bị đem ra lợp mái chuồng bò chuồng lợn. Cho đến tận hôm nay, chưa có một con số thống kê chính thức nào được đưa ra về con số nạn nhân của cuộc cải cách ruộng đất, nhưng qua một số tài liệu của các học giả nước ngoài nghiên cứu về lịch sử Việt Nam thì ước tính nó lên tới hàng ngàn cho đến chục ngàn trường hợp. Hỡi ôi, sự vinh hoa phú quý giàu sang tột bậc với những nhà cao cửa rộng sơn son thếp vàng, ruộng đồng cò bay thẳng cánh, đất đai bạc ngàn, thóc lúa đầy kho, vàng bạc đầy rương, người ở đầy nhà,… của một thời quá vãng và cũng là những thứ mà biết bao nhiêu người thời nay tới nằm mơ cũng ao ước có được, vậy mà chỉ là một cuộc phù du khói bụi khốc liệt ở một điểm đen của lịch sử. Vậy mới thấy, sự giàu sang ở mỗi thời đoạn lịch sử cũng mỗi khác và không ai biết được sự giàu có khi nào là họa hay là phước. Có biết bao người ở trên đỉnh giàu sang hôm trước mà hôm sau đã kẻ khóc người cười tử biệt sinh ly hay vướng vào vòng lao lý chôn vùi cả kiếp người về sau. “Một nhà hoảng hốt ngẩn ngơ,  Tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây” (Truyện Kiều – Nguyễn Du) P/S 1: Bộ sách của tác giả Phan Thúy Hà hiện rất khó tìm trên các trang thương mại điện tử. Bạn đọc có thể liên hệ trực tiếp tác giả để đặt sách hoặc mua đủ bộ tại Sách Khai Minh. P/S 2: Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về những góc khuất của cuộc cải cách ruộng đất, bạn có thể tìm đọc/nghe những tác phẩm sau: Audiobook “Điện cô Tám” – Bùi Ngọc Phúc Sách “Đất mồ côi” – Cổ Viên (bút danh khác của Tạ Duy Anh) Sách “Đội gạo lên chùa” – Nguyễn Xuân Khánh Sách “Chuyện làng Cuội” – Lê Lựu Sách “Thời của thánh thần” – Hoàng Minh Tường Sách “Dưới chín tầng trời” – Dương Hướng Sách “Nước mắt một thời” – Nguyễn Khoa Đăng Sách “Biết đâu địa ngục thiên đường” – Nguyễn Khắc Phê … Mời các bạn mượn đọc sách Gia Đình của tác giả Phan Thúy Hà.

Nguồn: dtv-ebook.com

Đọc Sách

Bá Chủ Hắc Đạo Cưng Chiều Vợ Sát Thủ
Thể loại: Hắc bang, ngôn tình, HE Lôi Lạc Thiên anh ngoài thân phận đứng đầu giới bạch đạo ở thành phố S thì còn là người đứng đầu Bang Lôi Ưng của hắc đạo. Anh có tướng mạo vô cùng phi phàm, lạnh lùng và tàn nhẫn. Điều đặc biệt là anh không thích phụ nữ. Anh có hai thuộc hạ trung thành đồng thời cũng là bạn tốt của anh. Trình Lam cô là một siêu sát thủ đứng đầu tổ chức Thần Long. Khuôn mặt trái xoan, đôi môi xinh đẹp, mái tóc hạt dẻ khiến cô trông thật dịu dàng và nữ tính. Nhưng sở trường của cô gái nhỏ đó lại là đua xe, mở khóa, võ thuật, sử dụng các loại vũ khí và là một cao thủ hacker. *** Thành Phố Las Vegas là một trong những thành phố xa hoa nhất tại Mỹ. Khi màn đêm buông xuống những ánh đèn neon rực rở ánh sáng, là lúc bất đầu một đêm ăn chơi trụy lạc. Các sòng bạc và quán bar bất đầu tụ tập những kẻ ăn chơi xa đọa. Những người tự cho mình là người của giới thượng lưư điều tụ tập tại quán Bar Night Angel. Một quán bar nổi tiến và xa xỉ nhất tại Las Vegas cũng là 1 trông 5 quán Bar của bang Lôi Ưng trông và ngoài nước. Những người muốn vào đây điều phải có thẻ hội viên. Tiền để mở thẻ hội viên có thể để người bình thường sống một cuộc sống giản dị cả đời. Những kẽ ra vào nơi nầy không phải con ông cháu cha thì là các công tử, tiểu thư nhà giàu và các đại minh tinh. Trên sàn nhảy có những vũ công xinh đẹp với thân hình bóc lửa đang lượng theo những điệu nhạc sống động. Các nam nữ tụm ba tụm bẩy nói chuyện và liên tục uống rượu. Trong một góc của quầy bar có một cô gái mặc bộ váy bó sát người để lộ ra những đường công hoàn mỹ. Cô là Trình Lam cao 1m68 dáng người duyên dáng mảnh mai, có khuôn mặt trái xoan. Làn da trắng mịn đôi chân thôn dài. Tóc màu hạt dẻ dài đến thắc lưng. Cô gọi một ly Brandy có độ cồn rất cao. Người Bartender mới vừa đặt ly rượu xuống trước mặt cô, cô cầm ly Brandy lên uống một hơi cạn sạch. Cô gọi thêm một ly nữa. Giờ phút nầy trong một góc của quán bar có 4 người đàn ông đang ngồi nối chuyện. Lôi Lạc Thiên là Tổng giám đốc tập đoàn Lôi Thị kinh doanh bất động sản, đứng đầu giới bạch đạo ở Thành Phố S. Cũng đồng thời là người đứng đầu Bang Lôi Ưng trong giới Hắc đạo chuyên buôn bán vũ khí. Anh Lôi Lạc Thiên 27 tuổi, con trai độc nhất của Ông Lôi Lạc Hùng gia tộc đứng đầu Thành phố S. tướng mạo phong nhã, lịch sự sang trọng,nước da mầu nâu, có đôi mắt như chim ưng, sống mũi cao thẳng và một đôi môi mỏng, cao 1m8 thân hình hấp dẩn cường trán, nhưng khi người ta nhìn vào có một cảm giác lạnh thấu xương. Anh ra tây tàn nhẫn, thánh tình bình tĩnh quyết đóan, trên người anh tỏa ra sự cao quý và oai nghiêm. Anh Không bao giờ bỏ qua cho bất cứ ai giám động đến anh hoặc là đồ thuộc về quyền sở hưữ của anh. Tính tình ưa sạch sẽ. Lôi thiếu ít khi anh có hứng thú đến nơi này, nào mình cạn một ly. Tràn Hao lên tiếng. Tràn Hao là Tổng giám đốc tập đoàn Tràn Thị kinh doanh trong làng giả trí và khách sạn. Năm nay 28t, tính tình ôn hoà, phong lưu, có nụ cười rạng rở, nhưng đằng sau bộ mặt bất cần đời là một người vô cùng nghiêm nghị, tướng người hoàn mỹ. Ngồi khế bên Tràn Hào là Manh Hùng, Tổng giám đốc tập đoàn Manh Thị, năm nay 30 tuổi, kinh doanh ngân hàng và buôn bán vũ khí. Tính tình tàn nhẫn thà giết lầm còn hơn bỏ sót. Ngồi đối diện kế bên Lôi Lạc Thiên là Nam Liệt, Tổng giám đốc tập đoàn Nam Thị. Năm nay 27 tuổi kinh doanh hệ thống truyền thong và Internet. Một cao thủ hacker cũng là Nhị đương gia của bang Lôi Ưng. Diện mạo tuấn tú, thân hình cường trán tính tình ôn hoà, vẽ bề ngoài thì sao cũng được nhưng thật sự rất thâm đọc. Đây chín là nhóm tài phiệt đứng đầu Chau á với số tài sảng khủng lồ. Họ ở Thành Phố S là những chàng trai độc thân hoàng kim, cũng là những người được các cô gái hâm mộ chỉ cần có thể tiếp cận được họ, các cô sẽ không bỏ qua bất cứ cơ hội và thủ đoạn gì. Các nhà doanh nhân trong nước ai cũng muốn gả con gái cho bọn họ, để có thể củng cố địa vị và thế lực của mình trên thương trường. Lôi Lạc Thiên tây cầm ly rượu, mắt hơi híp lại nhìn về một góc bar nơi Trình Lam đang ngồi. Khi Bartender đặt ly rượu thứ nhì xuống trước mặt cô, Trình Lam cầm lên uống một hơi. Ực ực... Đặt mạnh ly xuống. Cô Hướng về phía cửa, nơi một người đàn ông cao lớn mặc Âu phục màu xám mới bước vào, cùng 2 tên vệ sĩ toàn thân màu đen. Cô đứng lên mái tóc dài màu hạt dẻ rủ xuống bả vai, cập đùi thon dài để lộ ra làn da trắng mịn. Cập mắt trong như suối hướng người đàn ông mặc đồ xám nở nụ cười động lòng người. Khi cô bước ngan qua người đàn ông kia cô xoay nhẹ chiếc nhẫn trên tay, một cộng dây bằng bạc sắc bén từ trong chiếc nhẩn đưa ra. Cô dùng tóc độ nhanh nhất, đưa tay ngang qua cổ của người đàn ông, rồi lước qua 2 tên vệ sĩ đi ra ngoài cửa. Với tốc độ nhanh như chớp cổ người đàn ông bị rạch một đường thật sâu, máu phúng ra ngoài làm các người chung quanh hốt hoảng la hét chạy tán loạn. Lôi Lạc Thiên ngồi xem toàn bộ quá trình chỉ diễn ra trong vòng 1 phút. Cập mắt Anh hơi nhắm lại, dựa lưng vào ghế Sopha uống một ngụm rượu vang, chất lỏng màu đỏ từ từ chảy xuống cổ họng của anh. Trong lòng thầm nghĩ “Cô gái nầy thật thú vị“. Mời các bạn đón đọc Bá Chủ Hắc Đạo Cưng Chiều Vợ Sát Thủ của tác giả Lan Hồ Điệp 134.
Mực Giấy Và Sao Trời
Mực Giấy Và Sao Trời - một cuốn sách có phép màu! Isabella, mười ba tuổi, cô và ba mình sống trên hòn đảo Joya dưới sự thống trị của Thống đốc Adori tàn ác. Tuy tàn độc nhưng Thống đốc Adori lại có một cô con gái lương thiện là Lupe, cũng là bạn thân của Isabella. Cuộc sống thanh bình trên Joya đột nhiên xảy ra biến động lớn khi người bạn cùng lớp của Isabella và Lupe bị giết một cách kì bí, còn Lupe thì mất tích. Isabella buộc phải cải trang thành con trai để trà trộn vào đoàn tìm kiếm của Thống đốc. Cô bé sử dụng kĩ năng vẽ bản đồ được thừa hưởng từ ba mình để giúp cả đoàn. Cũng trong chuyến đi này, Isabella khám phá ra nhiều bí ẩn về quá khứ huy hoàng của Joya - một hòn đảo trôi nổi tự do trên biển. Cuộc hành trình mạo hiểm nhưng đầy bất ngờ đã tặng cho cô bé những bài học quý giá, giúp cô trưởng thành và mạnh mẽ hơn. Mực giấy và Sao trời là câu chuyện phiêu lưu đầy màu sắc kì diệu về tình cha con, tình bạn và lòng dũng cảm tiềm ẩn trong mỗi cô gái. *** Review sách Mực Giấy Và Sao Trời "Mực Giấy Và Sao Trời" - Câu chuyện là đan xen giữa tình bạn, tình cha con, sự đấu tranh và lòng dũng cảm. Mình được tặng cuốn này từ rất lâu. Nhưng sau đó bận quá nên vứt một chỗ rồi sau này tiếc rằng không đọc nó sớm hơn."Mực Giấy Và Sao Trời" hay ngay từ tên truyện rồi, nghe cứ như là một chuyến đi xa và mực giấy để ghi chép lại hành trình tuyệt vời đó, và sao trời nghe như những điều chỉ đường dẫn lối cho những cuộc phiêu lưu. Và đúng, nó là câu chuyện phiêu lưu mà mình vô cùng thích. Kiran Millwood Hargrave là một nhà văn rất nổi tiếng về truyện viết cho thiếu nhi. Chính vì thế, nhân vật trong câu chuyện này vẫn còn nhỏ. Nhỏ mà lại có hành trình lớn, thế mới hay và thú vị."Mực Giấy Và Sao Trời" kể về cuộc sống trên một hòn đảo nhỏ có tên làJoya dưới sự thống trị của Thống đốc Adori hung ác. Thế nhưng con gái của ông ta Lupe, lại là một cô bé lương thiện dễ mến và cũng là bạn thân của Isabella. Câu chuyện bắt đầu xảy ra khi một người bạn cùng lớp củaIsabella và Lupe bị giết một cách bất ngờ, để lại nỗi bàng hoàng và thương xót của tất cả mọi người. Cuộc sống thanh bình trên Joya cũng từ đó mà bị chấn động lớn, mọi thứ gần như bị đảo lộn hết lên. Ngay sau đó, Lupe cũng bị mất tích một cách bất ngờ. Trong cuộc hành trình đó, Isabella đã phải cải trang thành nam và đi kiếm cô bạn thân của mình. Cô bé sử dụng kĩ năng vẽ bản đồ được thừa hưởng từ ba mình để giúp cả đoàn. Cũng trong chuyến đi này, Isabella khám phá ra nhiều bí ẩn về quá khứ huy hoàng của Joya - một hòn đảo trôi nổi tự do trên biển. Cuộc hành trình mạo hiểm nhưng đầy bất ngờ đã tặng cho cô bé những bài học quý giá, giúp cô trưởng thành và mạnh mẽ hơn. Và"Mực Giấy Và Sao Trời" cũng dành cho người đọc những triết lý sâu xa về tình yêu thương trong cuộc đời này: tình cha con, tình bạn bè. Nếu như bạn thân của mình mà bị mất tích giống Lupe, chắc mình cũng hoảng loạn và kinh hoàng lắm. Mình cũng sẽ làm mọi để tìm bạn mình và đưa bạn trở về an toàn. Nhưng bây giờ đặt trong hoàn cảnh củaIsabella, một cô bé nhỏ hơn mình rất nhiều tuổi lại dám dũng cảm dấn thân vào cuộc hành trình như thế, một cuộc hành trình mà có khi người lớn cũng phải e ngại. Thế mới nói, chính tình thương mới giúp chúng ta mạnh mẽ và trưởng thành hơn. Đây là một cuốn sách đáng đọc để bạn có thể trở về tuổi thơ, chìm đắm trong tình thương và nhận được nhiều bài học. Mời các bạn đón đọc Mực Giấy Và Sao Trời của tác giả Kiran Millwood Hargrave & YokenJ (dịch).
Khiêu Vũ Với Bầy Sói
Đại tá John Dunbar phiêu bạt đến một bộ lạc người da đỏ và được bộ lạc cưu mang. Cuộc sống êm đềm diễn ra giữa thiên nhiên hoang dã và những con người hồn nhiên, đặc biệt tình yêu nảy nở giữa anh và một người con gái da trắng được bộ lạc này nuôi dưỡng từ nhỏ. Năm 1836, khi chiến tranh còn đang giai đoạn nóng bỏng, đại tá John Dunbar vừa thoát chết sau một cuộc giao tranh với một bên chân bị thương nặng. Các bác sĩ ở bệnh viện Union Field tại Tennessee không thể cắt bỏ nó, đau đớn đến cùng cực tưởng như không thể chịu đựng được nữa, Dunbar tuyệt vọng và suýt nữa tự tử. Đột nhiên trong lúc tuyệt vọng và lang thang ở biên giới phía tây, Dunbar bắt gặp một con sói tên là Two-Socks và bộ lạc người da đỏ Sioux. Anh được họ cưu mang và gọi tên là “Dances With Wolves”. Thời gian đầu thực sự khó hòa nhập với những người da đỏ xa lạ. Anh phải quan sát học tập theo lối sống và cách xử sự của họ, kể cả ngôn ngữ của người da đỏ. *** Bản dịch này dịch theo phong cách lược dịch thường gặp ở những bản dịch cũ trước năm 2000, tức là ở đó người dịch sẽ bỏ không dịch một số đoạn văn và ở một số đoạn văn thì trình bày và diễn giải tương đối khác với nguyên tác. Do đó nếu so sánh với nguyên tác Dances with Wolves thì bản dịch này có khác biệt sau: Không chia các chương nhỏ như trong nguyên tác; và đôi khi có vài đoạn văn được bỏ qua, không dịch. Số hoá quyển sách này với mục đích lưu trữ nên tôi chủ trương trung thành hết mức có thể với phiên bản giấy. Ở phiên bản số này tôi chỉ sửa lại các lỗi đánh máy, lỗi chính tả, lỗi dịch tên không thống nhất, và có một đoạn văn dài 1500 chữ mang thông tin quan trọng với nội dung câu chuyện nhưng không được dịch, tôi đã đề chú thích bên dưới để tóm tắt nội dung đoạn bị thiếu nhằm giúp bạn đọc dễ theo dõi mạch truyện hơn. Còn lại, tất cả thông tin của sách giấy được giữ nguyên, bao gồm cả nội dung ở trang xi-nhê và bìa sau. Bìa của phiên bản này, cũng như cách dàn trang sách đều do tôi thiết kế lại. Phần Lời giới thiệu cho phiên bản số do tôi thêm vào. Trung uý John Dunbar là kẻ đang yêu, chàng yêu vùng đất miền Tây hoang sơ và bạo liệt. Tình yêu của chàng là thứ tình yêu nhiều người khao khát mà không có, nó thuần khiết và vô tư, nó cho đi và không cần nhận lại, nó không thể giải thích được bằng lí trí. Chẳng thế mà sau một trường hợp vừa có thể gọi là anh dũng, vừa có thể gọi là may mắn khiến chàng Trung uý trẻ tuổi Dunbar lập một chiến công lẫy lừng đến mức đủ cả cho một đời binh nghiệp, đến mức chàng được tưởng thưởng và xuất ngũ ngay, thế nhưng thay vì trở về quê hương chàng lại xin đầu quân vào đồn biên phòng Sedgewick. Bởi vì chàng vừa yêu miền Tây vừa sợ biên giới phía Tây sẽ biến mất trước khi chàng kịp ngắm nó. Cũng chính vì thế nên mặc cho đồn Sedgewick đã trở thành hoang lương từ lâu trước khi Dunbar đến do toán lính cũ bỏ đi vì nản lòng với cuộc sống thiếu thốn và buồn tẻ, chàng vẫn kiên định bám đồn và tự đặt nhiệm vụ cho mình là sửa sang tôn tạo nó để chờ đến khi chính quyền lại cử toán lính khác tới. Quanh chàng chỉ có nhõn hai người bạn: người bạn vàng Cisco, con ngựa cừ khôi đã cùng chàng vượt qua kì tích thập tử nhất sinh hồi còn trong quân ngũ; và người bạn không mời mà đến, một con sói già đơn độc thường lảng vảng quanh đồn Sedgewick. Chàng cô đơn lắm, mà chàng hẵng còn trẻ trung nên nỗi cô đơn càng thêm bứt rứt. Chàng cần bạn bè, cần đồng đội, và cần đàn bà. Đang lúc những đồng đội da trắng của chàng chưa đến và không biết bao giờ mới đến, thì chàng gặp những người da đỏ. Sau nhiều gặp gỡ và giao tiếp đầy khó khăn vì khác biệt ngôn ngữ, Dunbar nhận ra những người da đỏ thật khác xa với tuyên truyền của chính quyền. Nhưng 5 dù sao chàng vẫn là người da trắng, cuối cùng chàng vẫn phải đứng giữa lựa chọn vì tổ quốc hay vì hạnh phúc cá nhân. Và tuy chàng có chọn gì đi nữa, lựa chọn ấy ắt hẳn là lựa chọn mà theo lời của một người bạn quý đã từng nhận xét về chàng: lựa chọn để được đi trên “con đường của con người chân chính”. 24/1/2021 TORNAD Trung úy Dunbar chưa đến nỗi bị choáng ngợp. Đó là ý nghĩ đầu tiên bật ra trong đầu óc chàng. Mọi thứ xung quanh đều mênh mông. Bầu trời bao la không một gợn mây. Cả một thảo nguyên rập rờn bất tận. Ngoài ra không còn thứ gì khác, không có thứ gì lưu giữ tầm mắt của chàng. Không hề thấy một con đường. Thậm chí không một vết bánh xe khả dĩ đưa cỗ xe ngựa to lớn của chàng lần theo. Hoàn toàn chỉ là một khoảng trống bao la. Chàng cảm thấy lạc lõng. Điều đó khiến trái tim chàng rộn ràng một cách kỳ lạ và sâu sắc. Trong lúc ngồi trên tấm ghế phẳng lỳ lộ thiên, để mặc cho thân thể lắc lư dọc theo đám cỏ, ý nghĩ của Trung úy Dunbar tập trung vào trái tim đang đập rộn rã. Nhưng dòng máu của chàng lại không chảy mạnh. Máu của chàng vẫn bình thản. Tình trạng trái ngược ấy giúp trí óc chàng hoạt động đầy thích thú. Các từ ngữ liên tục quay cuồng trong đầu và chàng cố thử tách bạch ra xem câu nào, chữ nào thể hiện đúng cảm giác của chàng lúc này nhưng không nổi. Sang ngày thứ ba chàng bỗng chộp được một câu: “Thật là linh thiêng!” và câu đó có vẻ chính xác hơn cả. Khốn nỗi Trung úy Dunbar chưa hề theo tín ngưỡng nào bao giờ nên tuy câu đó có vẻ chính xác, chàng vốn hoàn toàn không biết dùng nó để làm gì. Nếu như bị câu đó ám ảnh nhiều, có lẽ Trung úy Dunbar cũng thử phân tích xem sao. Nhưng đầu óc mơ màng, chàng quên ngay câu ấy đi. Trung úy Dunbar trở thành kẻ si tình. Chàng phải lòng cái xứ sở hoang vu tuyệt đẹp cùng mọi thứ chứa đựng trong đó. Đấy là loại tình yêu bất cứ ai cũng khao khát được có đối với một người khác: một tình yêu vị tha và tuyệt đối tin tưởng, một tình cảm tôn sùng và bất biến. Tinh thần chàng phấn chấn và trái tim chàng rộn ràng. Phải chăng đó chính là nguyên do khiến chàng trung úy kỵ binh đẹp trai và tâm hồn cao thượng thoáng nghĩ đến tôn giáo. Chàng liếc mắt sang bên và thấy bác đánh xe Timmons đang nghiêng đầu ra ngoài thành xe nhổ nước bọt đến lần thứ một ngàn xuống đám cỏ mọc cao ngang lưng. Bác nhổ liên tục đến nỗi đờm dãi bắn ra thành một dòng dính liền nhau, chỉ chốc chốc mới đứt quãng khiến bác ta phải lấy tay quệt ngang miệng. Dunbar không nói gì nhưng thấy Timmons khạc nhổ liên tục như thế chàng bất giác co rúm người lại. Cử chỉ của bác ta là vô hại nhưng làm chàng ghê tởm, giống như lúc nào cũng phải nhìn một người xỉ mũi. Họ ngồi cạnh nhau suốt buổi sáng. Mặc dù chỉ cách nhau hai bước chân nhưng vì gió thổi từ phía Dunbar sang nên chàng không ngửi thấy mùi nồng nặc của bác Timmons. Trong gần ba chục năm sống trong cõi đời, chàng đã phải ngửi quá nhiều mùi chết chóc và không thứ mùi gì khó ngửi hơn thế. Nhưng xác chết nào cũng chỉ một lúc sau đã được đem đi chôn hoặc bản thân chàng Michael Blake rời xa nó, nhưng với bác Timmons này thì chàng không có cách nào thoát được. Khi gió đổi chiều, mùi hôi thối từ người bác ta bay sang, trùm lên Dunbar như một đám mây ô uế vô hình. Nghĩ đến đây chàng ngoái lại nhìn con ngựa Cisco đang chạy lóc cóc đằng sau cỗ xe, khoan khoái vục mõm vào chiếc bị đựng thóc. Bộ da màu nâu như da nai của nó ánh lên dưới nắng. Dunbar mỉm cười nhìn con ngựa và bỗng mong muốn loài ngựa cũng sống lâu được như loài người. Con Cisco này may lắm cũng chỉ sống được khoảng mười, mười hai năm nữa. Tất nhiên sau đó chàng sẽ cưỡi những con ngựa khác, nhưng chắc chắn là không có con ngựa nào sánh được với Cisco. Trong lúc Dunbar nhìn, con ngựa bé nhỏ ngước cặp mắt màu hổ phách lên như thể dò tìm xem chàng trung úy của nó lúc này đang ở đâu và làm gì. Đến khi thấy chủ, nó yên tâm lại vục đầu vào trong bị thóc. Dunbar điều chỉnh lại thế ngồi rồi thọc tay vào túi tấm áo choàng sĩ quan, lấy ra một tờ giấy gấp tư. Chàng giữ gìn rất cẩn thận tờ giấy này bởi đó là bản quyết định, trong có ghi tất cả những mệnh lệnh quân sự chàng phải thực hiện. Từ lúc rời khỏi căn cứ Fort Hays chàng đã đưa cặp mắt màu sẫm và không đồng tử lướt trên mặt giấy sáu bảy lần, nhưng nghiên cứu mãi nó chàng vẫn chưa cảm thấy yên tâm thêm chút nào. Trong bản quyết định, tên họ chàng bị ghi sai đến hai lần. Ông thiếu tá hơi thở nồng nặc mùi rượu ký vào dưới tờ giấy đã vụng về quệt ống tay áo lên nét chữ chưa khô mực và chữ ký của ông ta bị nhòe nhoẹt. Tờ quyết định lại quên không ghi ngày tháng cho nên Trung úy Dunbar đành phải điền thêm lúc chàng đã trên đường đi. Nhưng chàng điền bằng bút chì và nét chữ đè lên vết mực nhòe của ông thiếu tá, lẫn cả vào hàng chữ tiêu đề in sẵn trên tờ quyết định. Trung úy liếc nhìn bản quân lệnh. Trông nó giống như một tờ giấy lộn nhiều hơn. Bản quân lệnh làm chàng nhớ lại do đâu mà có nó và chàng càng thấy bối rối hơn. Chàng bực dọc nhớ lại cuộc tiếp xúc với vị thiếu tá thở ra toàn mùi rượu ấy. Do tha thiết muốn được sớm nhận nhiệm vụ, khi bước chân ra khỏi tàu hoả, chàng đã đi thẳng một mạch đến ban chỉ huy tiểu đoàn. Ông thiếu tá là người đầu tiên và cũng duy nhất chàng nói chuyện trong khoảng thời gian từ khi chàng tới tiểu đoàn đến lúc chiều tà, khi chàng leo lên cỗ xe ngựa ngồi bên cạnh bác đánh xe chuyên môn nhổ nước bọt Timmons. Ông thiếu tá với cặp mắt đỏ ngầu đã giữ chàng lại khá lâu. Và khi lên tiếng, giọng ông đầy châm biếm làm chàng thấy khó chịu. — Thích đánh nhau với bọn da đỏ, hả? Trung úy Dunbar từ bé chưa hề nhìn thấy một người da đỏ nào, nói gì đến chuyện chiến đấu với họ. — Vâng, nhưng không phải dịp này, thưa thiếu tá. Tôi nghĩ rằng tôi có thể chiến đấu với họ, chắc chắn là như thế. — Vậy là cậu thích chiến đấu, chứ gì nữa? Trung úy Dunbar không trả lời câu hỏi đó. Hai người nhìn thẳng vào mắt nhau một lúc lâu rồi ông thiếu tá mới cầm bút điền vào bản quân lệnh in sẵn. Ông ta viết với vẻ giận giữ, không buồn để ý đến việc mồ hôi chảy ròng ròng trên má. Dunbar nhìn thấy cả những giọt mồ 10 Michael Blake hôi đang to dần trên đỉnh chiếc đầu hói gần hết của ông ta. Vài sợi tóc lơ thơ màu muối tiêu còn sót lại dính bết trên đỉnh đầu ông. Hình dạng ông khiến chàng trung úy nhớ đến một con người bệnh hoạn nào đó. Dunbar đâu biết được rằng ông thiếu tá quá ốm yếu. Đôi khi sức khỏe của ông chỉ được giữ bằng một sợi chỉ mong manh và sợi chỉ ấy hôm nay vừa mới đứt, đúng mười phút trước khi chàng trung úy đến gặp ông. Lúc đó ông đang ngồi bất động sau bàn giấy, hai bàn tay chắp lại đặt trên bàn và đang quên béng cả cuộc đời. Đó là một cuộc sống bạc nhược, dựa trên sự bố thí mà người ta dành cho những kẻ phục vụ nhẫn nhục nhưng không hề làm nên được chiến tích gì. Khốn nỗi cả cuộc đời đã trôi qua, bao gồm những năm tháng sống độc thân, những năm tháng chống cự với rượu chè, tất cả đều đã biến đâu mất như do một phép thần thông. Nỗi nhàm chán đắng cay của cuộc đời Thiếu tá Fambrough chỉ được thay thế trong khoảnh khắc bằng một sự kiện hấp dẫn và nhất thời. Ông thèm được thấy mình ngồi trên ngai vàng như một bậc vua chúa trong cái căn cứ Fort Hays, một lát trước bữa ăn tối. Ông thiếu tá viết xong, nhấc tờ giấy lên. — Tôi điều cậu ra đồn Sedgewick. Cậu nhận phân công trực tiếp của Đại úy Cargill. Trung úy Dunbar ngó xuống bộ quân phục nhàu nát. — Xin tuân lệnh thiếu tá. Tôi sẽ đi đến đó bằng cách nào? — Cậu tưởng tôi biết ư? – Viên thiếu tá xẵng giọng đáp. — Không phải thế, thưa thiếu tá. Chỉ có điều tôi không biết. — Tôi đang vui và sẵn sàng ưu ái cho cậu. Một cỗ xe tiếp tế chất đầy lương thực, thực phẩm và vật dụng sắp sửa lên đường ra đó. Cậu hãy đi tìm một bác nông dân tên là Timmons và cùng ngồi xe với bác ấy. Nói đến đây ông ta trỏ tờ giấy Dunbar đang cầm. — Con dấu của tôi sẽ bảo đảm an toàn cho cậu trong vòng một trăm năm mươi dặm của vùng đất mọi rợ này. Ngay từ ngày nhập ngũ, Dunbar đã hiểu rằng không nên băn khoăn về những thói tật oái oăm của các sĩ quan chỉ huy cấp trên. Chàng lập tức đưa tay lên mũ chào và đáp: “Rõ, thưa thiếu tá!” rồi quay gót bước ra. Chàng tìm được Timmons, bay ra ga nhận con ngựa Cisco. Nửa giờ sau chàng đã rời khỏi căn cứ Fort Hays. Lúc này, sau khi vượt được một trăm dặm đường, ngồi ngắm tờ quân lệnh, chàng nghĩ, chắc mọi sự sẽ ổn thỏa thôi. Chàng thấy xe đi chậm lại. Bác Timmons đang nghiêng đầu nhìn xuống bãi cỏ ngay bên cạnh. — Trung úy nhìn kìa! Vật gì trăng trắng nằm trong đám cỏ, cách xe chừng hai mươi bộ(1). Cả hai người cùng nhảy xuống xem thứ gì. Thì ra một bộ xương người trắng, sáng lên dưới ánh nắng, sọ ngửa lên phía trên. Dunbar quỳ xuống bên cạnh bộ xương, cỏ mọc lách xuyên qua xương sườn. Khoảng hai chục mũi tên chĩa lên như những chiếc trâm cắm vào gối. Dunbar rút một (1) Từ đây người dịch sẽ giữ nguyên cách đo lường của nước Anh. Bộ = 0,30 m. Thước = 0,91 m. Dặm = 1,609 m. Bảng = 453 g. (ND) Michael Blake mũi tên lên lật lật trong hai bàn tay. Thấy chàng đưa ngón tay sờ mũi tên, bác Timmons thốt lên sau lưng chàng. — Chắc phải có người nào nhìn thấy chứ, sao họ không báo gì về nhà nhỉ? Ngày thứ tư cũng giống như ba ngày trước, không xảy ra sự cố gì. Rồi ngày thứ năm và thứ sáu, Dunbar bắt đầu thất vọng khi thấy cỏ không còn um tùm nữa. Chàng vẫn chưa nhìn thấy một sinh vật nào hết. Bác đánh xe Timmons bảo rằng đôi khi các bầy súc vật bỗng tự nhiên biến đâu mất cả, chẳng đáng băn khoăn làm gì, bởi sẽ đến lúc chúng hiện ra đông đúc như châu chấu vậy. Họ cũng không thấy một người da đỏ nào nhưng điều này thì bác Timmons không có cách giải thích nào hết. Bác ta chỉ bảo rằng nếu nhìn thấy lúc này thì là quá sớm, và thế là may, họ không bị bọn cướp hay du đãng nào tấn công. Nhưng, sang đến ngày thứ bảy thì Dunbar chỉ nghe bác Timmons bằng nửa tai. Trong lúc họ vượt nốt những dặm đường cuối cùng Trung úy Dunbar càng suy nghĩ nhiều hơn. Chàng nghĩ đến cái đồn biên giới chàng sắp tới. Đại úy Cargill quay quay lưỡi trong miệng, mắt ngước đăm đăm. Nét mặt ông ta tươi lên một chút rồi lập tức lại cau có ngay. Lại một đứa nữa bị mất tích, ông ta nghĩ. Mẹ kiếp! Mời các bạn đón đọc Khiêu Vũ Với Bầy Sói của tác giả Michael Blake.
Mồ Hôi Nước Mắt
Ánh đang ủi đồ, một đống quần áo của người lớn lẫn trẻ con để bên cạnh. Lúc ông giáo sư Ngọc-Minh nắm bàn tay Ánh, Ánh khẽ hất ra. Ánh biết rằng ông Ngọc-Minh không toan tính điều gì bất lương. Nhưng một chút cử chỉ thân thiện đó cũng đã làm cho Ánh hoảng sợ rồi. Ánh vùng đứng dậy chạy xuống bếp. Ông Ngọc-Minh thong thả bước theo. Ánh ngồi trầm ngâm trên ngạch cửa không ngó ông, Ông Ngọc-Minh đứng trước mặt nàng. Ông thò tay vào túi áo lấy ra gói thuốc, đánh lửa châm một điếu hút, rồi nói với con ở : - Xin lỗi Ánh, lúc nãy tôi đã làm phiền lòng Ánh. Ánh cúi đầu làm thinh. Ông giáo sư nói tiếp : - Tôi rất mến Ánh. Tôi để ý đến Ánh lâu rồi, chắc Ánh cũng đã cảm thấy. Ngay từ ngày Ánh vô giúp việc trong nhà này, nghĩa là cách đây sáu tháng, tôi đã hiểu Ánh nên tôi yêu Ánh. Nhưng chỉ yêu âm thầm mà thôi. Nay nhân cơ hội gia đình đi vắng, tôi muốn thú thực với Ánh cảm tình thiết tha chân thật của tôi. Nếu Ánh tin tôi, tôi sẽ thuê phòng riêng để ở với Ánh. Con ở điềm nhiên không đáp, Ông Ngọc-Minh ngồi xuống ngạch cửa, gần Ánh. Ông âu yếm nhìn vào khuôn mặt hổng hào tuyệt đẹp, khẽ hỏi : - Ánh có yêu tôi không ? Ánh ngẩng mặt lên, nghiêm nghị ngó ông : - Tôi không thể yêu ông được. - Tại sao không thể ? - Tại hoàn cảnh. - Tôi không thấy hoàn cảnh nào cản trở tình yêu của tôi với Ánh. Ánh biết rằng tôi góa vợ đã hai năm nay và không có con ? - Dạ tôi biết. - Vậy thì tôi được tự do yêu Ánh và lấy Ánh làm vợ, có gì ngăn cản đâu ? - Ông được tự do, nhưng tôi không được tự do. - Nếu tôi không lầm thì Ánh chưa có chồng. - Dạ, tôi chưa có chồng. - Vậy sao Ánh nói là không tự do ? Con ở làm thinh. Ông Ngọc-Minh hơi ngạc nhiên vì những câu trả lời cứng rắn của người tớ gái mười chín tuổi. Rất đẹp và rất hiền lành, thường ngày Ánh ít nói, Lần đầu tiên ông thấy Ánh có cử chỉ và ngôn ngữ khôn ngoan cương quyết không ngờ. Ông gặng hỏi : - Ánh ! Tại sao Ánh không được yêu tôi ? Hay là Ánh đã có người yêu rồi ? Con ở vẫn nghiêm nét mặt : - Dạ không phải. - Thế thì tại sao ? - Ông là người trí thức, chắc ông hiểu nhiều. - Tôi thực không hiểu. - Xin ông tha lỗi tôi phải đi ủi đồ khuya rồi, ông Năm bà Năm sắp về. - Hai em tôi dẫn các cháu đi xem xi-nê, 12 giờ khuya mới về. Nhưng Ánh không muốn nói chuyện nữa, Ánh đi thẳng lên phòng giữa, ngồi lặng lẽ tiếp tục ủi đồ, làm công việc bỏ dở ban nãy. Ông Ngọc-Minh đến ngồi cạnh Ánh : - Ánh à, tôi muốn biết tại sao Ánh không được tự do yêu tôi, trong lúc tôi thiết tha yêu Ánh ? - Thưa ông, tôi chỉ là đứa đầy tớ, tôi đâu có quyền được yêu một người ở giai cấp giàu sang, một bậc trí thức thượng lưu. - Tôi không cần giai cấp. Tôi không phân biệt giai cấp. Tôi chỉ biết Ánh là một thiếu nữ như tất cả các thiếu nữ khác. Ánh lại có tư cách đứng đắn, ngôn ngữ đoan trang, nết na hiền lành, và Ánh có đi học, đã ở Đệ-Tứ. Ánh có học thức, chỉ tại vì số phận quá hẩm hiu cực khổ nên Ánh phải đi ở mướn tạm một thời gian thôi. Tôi biết rõ hoàn cảnh của Ánh lắm chớ ! Ánh ngạc nhiên : - Tại sao ông biết ? Tháng bảy vừa rồi, bà cô của Ánh đến thăm Ánh, trong lúc Ánh đi chợ, Ánh có nhớ không ? Nhân vui miệng với em tôi, bà đã kể hết chuyện của Ánh cho em tôi nghe. Ngồi ở pbòng khách tôi được nghe rõ cả. Do đó, tôi được biết rằng ba má của Ánh là người lao động ở một ngõ hẻm xóm An-Bình. Hồi nhỏ Ánh đi học đã được thầy thương bạn mến, vì Ánh học giỏi và hạnh kiểm tốt nhất trong lớp, Ánh đã đỗ bằng tiểu học và học đến lớp Đệ-Tứ thì ba của Ánh chết vì tai nạn lao động trong xưởng máy. Ánh phải thôi học, kiếm việc làm ở đâu cũng chưa được nên phải ở nhà giúp đỡ mẹ. Sau, Ánh đi bán hàng ở cầu Muối. Mẹ Ánh thì làm công trong một hãng thuốc lá. Rồi hai năm sau mẹ Ánh tái giá, gặp phải người chồng lưu manh, chỉ cờ bạc rượu chè, và giao du với bọn đàng điếm. Nhiều lần cha ghẻ bắt ép Ánh đi làm nghề mãi dâm do y kiếm mối. Ánh cự tuyệt và hai lần phải bỏ nhà trốn đi đến nhà bà cô. Ánh muốn học đánh máy chữ để dễ kiếm việc làm, nhưng không có tiền. Ánh phải gánh nước thuê ở xóm Bàn-Cờ. Rồi có lần Ánh nhớ mẹ, về thăm mẹ thì mẹ Ánh đi vắng, người cha ghẻ khốn nạn lại ép buộc Ánh làm nghề mãi dâm. Ánh cương quyết không chịu liền bị y đánh đập tàn-nhẫn đến đỗi lổ đầu sưng mặt. Người cha ghẻ vũ phu, vô lương tâm, đạp Ánh té nhào xuống cạnh chum nước, Ánh nằm bất tỉnh, tưởng như chết rồi. May nhờ hai bà hàng xóm kêu xe chở Ánh vào nhà thương. Ở bệnh-viện ra, Ánh không về nhà cha ghẻ nữa, trốn đến nhà bà cô ở ngõ hẻm Bàn-Cờ. Từ đó Ánh đi ở mướn để kiếm tiền độ thân. Ánh xem, tôi biết rõ hoàn cảnh rất đau khổ của Ánh như thế đấy. Vì lẽ đó mà tôi đem lòng thương Ánh và yêu Ánh. Ánh ngồi ủi đồ, hai dòng nước mắt lặng lẽ trào ra trên đôi má hồng, âm thầm rơi xuống áo. Ông Ngọc-Minh khẽ hỏi : - Những điều bà cô của Ánh kể lại như thế có đúng không, Ánh ? Ánh ngưng bàn ủi, gục đầu vào tường, khóc nức nở. Ông giáo sư bảo : - Ánh à, với tôi Ánh không phải một kẻ ty tiện đâu. Tôi coi Ánh như một người bạn gái đau khổ, vì nghèo, phải, chỉ vì NGHÈO, mà chịu cảnh lầm than cực nhọc ! Tôi không có quan niệm giai cấp. Tôi chỉ có quan niệm LÀM NGƯỜI. Cho nên tôi thành thật đem lòng yêu Ánh, và tôi muốn giúp đỡ Ánh tìm hạnh phúc mà mọi người đều có quyền được hưởng, mọi người đều phải có, không phân biệt ở từng lớp nào, không chia ranh giới một giai cấp nào. Ánh có tin lời nói của tôi không ? Ánh càng khóc, nước mắt càng chảy ràn rụa. Ông Ngọc-Minh xúc động, âu yếm hỏi : - Ánh à, nếu tôi thành thật muốn cưới Ánh, thì Ánh nghĩ sao ? Ông Ngọc-Minh hỏi đi hỏi lại ba lần, Ánh chỉ khóc mà không trả lời. Ông hỏi nữa, Ánh lau nước mắt, khẽ nói : - Thưa ông, ông có lòng tốt nói vậy, nhưng tôi đâu dám nhận. - Tại sao ? - Tại vì tôi là một đứa ở. Tôi là hạng người hèn hạ như ông thấy. - Tôi đã nói với Ánh rằng tôi không nghĩ như thói thường nhiều người đã nghĩ. Quả thật trong xã hội có những thành kiến giai cấp quá vô lý, nhưng tôi sẽ tỏ cho mọi người thấy rằng, không giai cấp nghèo và giàu, không có giai cấp tư bản và vô sản, mà chỉ có giai cấp lương thiện và bất lương, chỉ có giai cấp quân-tử và tiểu-nhân, chỉ có giai cấp cao thượng và đê tiện, chỉ có giai cấp ở phẩm giá của con người mà thôi. Trước mắt tôi, một thiếu nữ nghèo nàn mà tính tình cao đẹp như Ánh, có tư cách đứng đắn, đoan trang như Ánh, là đáng quí, đáng trọng hơn một tiểu thơ khuê các ở nhà cao cửa rộng, đi xe hơi Mỹ, mà tính tình bất hảo, tư cách đê tiện, phẩm giá hèn hạ. Tôi đánh giá trị con người không phải với những hào nháng bề ngoài của vật chất, mà với giá trị tinh thần và đạo đức. - Thưa ông, ông nói thế chớ làm sao xóa bỏ những thành kiến giai cấp cho được ? Tôi đã nói, tôi không được tự do, bởi tôi bị ràng buộc trong thành kiến giai cấp. Tôi ít học, tôi chỉ thấy thực tế đời người trong xã-hội, cho nên tôi đâu đám mơ tưởng đến danh vọng-cao xa. - Nhưng tôi yêu Ánh, tôi muốn chánh thức cưới Ánh làm vợ, tức là tôi muốn phá tan những thành kiến bất công. - Tôi xin lỗi ông, dù ông thực lòng thương tôi chăng nữa, tôi cũng xin thành thật cảm ơn tấm lòng quá tốt của ông, nhưng thật tình tôi không dám nhận. Bởi lẽ gia đình của ông và xã hội thượng lưu của ông, vẫn khinh bỉ tôi, vì họ chỉ thấy tôi là một đứa đầy tớ, con gái của một người cu-li đi làm thuê ở mướn. Thưa ông, tôi hiểu như thế cho nên tôi phải giữ giá trị của tôi. Thà rằng tôi cam phận tôi đòi, một ngày kia tôi có lấy người chồng cu-li chăng nữa, cũng không ai khinh tôi được. Tôi tuy là ít học nhưng tôi cũng biết gìn giữ danh giá của một người con gái. Tôi vẫn thường nghe người ta nói rằng tình yêu không có giai cấp, nhưng tôi phải tự biết thân phận tôi ở một địa vị hèn hạ, thấp kém mọi bề, tôi đâu có tham vọng lớn lao. - Nhưng một khi tôi yêu Ánh, thì Ánh có quyền yêu tôi chớ, Ánh có quyền tỏ cho mọi người thấy rằng một cô gái nghèo cũng có thể là một người vợ tốt, một người mẹ hiền, một phụ nữ xứng đáng trong xã hội… Tôi đã nói những ý nghĩ của tôi cho Ánh nghe, tôi mong Ánh suy nghĩ, và hiểu lòng tôi. Tôi mong Ánh sẽ đồng ý với tôi, và Ánh đừng tưởng rằng tôi muốn ve vãn Ánh để làm trò chơi, hoặc lừa gạt Ánh như một kẻ trưởng giả bất lương. Không phải vậy đâu Ánh à. Tôi thật lòng yêu Ánh và muốn lấy Ánh làm vợ, công khai trước gia đình và xã hội. Thôi tôi lên lầu… Ánh suy nghĩ, và mai mốt Ánh trả lời cho tôi biết nhé. Tôi tha thiết chờ đợi câu trả lời của Ánh. Ông Ngọc-Minh chúc Ánh ngủ ngon đêm nay, rồi ông thong thả bước lên lầu, Ánh điềm nhiên ngồi ủi đồ. Một đống áo quần của gia đình bà Năm, Ánh giặt từ lúc sáng sớm, phơi cả ngày, rồi bắt đầu ủi từ lúc chín giờ tối, sau khi dọn rửa chén bát, đến bây giờ mới gần hết. Đồng hồ treo trên tường điềm mười một tiếng đã lâu. Một cây đèn nê-ông gắn trên trần nhà chiếu một ánh sáng xanh dịu xuống căn phòng khá rộng, nơi đây dựng một tủ lạnh, một tủ chứa đồ vặt, và một bao gạo, một xe mô-tô, một bàn máy may, một tủ đựng đồ chơi cho hai đứa con của ông Năm, bà Năm, là em rể và em gái của ông giáo sư Ngọc-Minh. Ông Năm làm chủ sự trong một văn phòng Bộ trưởng với ông giáo Minh đều là công chức vào hàng thượng lưu và trung lưu, bậc « ông » chớ không phải là bậc « thầy » theo thủ tục giai cấp ở miền Nam. Đây là căn nhà giữa, thông qua phòng ăn và phòng khách ở phía trước và nhà bếp ở phía sau. Nơi đây, con ở thường ủi đồ hoặc may vá, làm các việc lặt vặt. Vợ chồng bà Năm kêu con ở bằng « nó », gọi nó là « Con Ánh ». Hai đứa con bà gọi bằng « Chị Ánh ». Riêng ông Ngọc-Minh thì gọi thân mật bằng tên : « Ánh ». Phòng ngủ của Ánh ở kế bếp, có cửa nhưng chật, vừa đủ kê một chõng tre, một bàn con và treo một ngọn đèn mười lăm nến mù mờ, Ánh tuy là đứa đầy tớ đi ở mướn cho gia đình bà Năm mỗi tháng sáu trăm đồng bạc lương, nhưng với tuổi mười chín, Ánh có thân hình nở nang tuyệt đẹp và sạch sẽ, lễ phép, nhu mì. Ông Ngọc-Minh góa vợ đã cảm mến Ánh và yêu Ánh thành thật, hay là chỉ mê sắc đẹp « con nhỏ ở » rồi tìm cách lợi dụng, quyến rũ nó, như trăm nghìn ông chủ nhà khác đã tư tình với con ở, lừa gạt lấy con ở cho có chửa rồi tống cổ nó ra khỏi nhà ? Ông giáo sư Ngọc-Minh có thật yêu Ánh hay không, chỉ có lương tâm ông biết mà thôi. Nhưng có điều chắc chắn là làm vinh dự cho ông, là ông không bao giờ khinh khi người nghèo. Thật sự, ông không hề có thành kiến giai cấp và giả sử ông có thật lòng yêu Ánh thì chắc vi hoàn cảnh xót xa đau khổ của Ánh, vì tư cách đứng đắn của Ánh, chứ không phải hoàn toàn vì nhan sắc diễm kiều của cô gái đang tuổi dậy thì. Ông đã lén lút nhiều lần tìm cơ hội để chuyện trò với con ở. Nhưng không có dịp nào ông được toại nguyện cả, vì Ánh cứ tìm cách thối thoát và trốn tránh ông hoài. Ánh không tàn nhẫn đâu, trái lại Ánh rất lễ phép, dịu dàng nhưng Ánh cũng rất cương quyết và khéo léo chối từ. Đã nhiều lần ông muốn tặng Ánh một vài món tiền khi hai trăm đồng khi năm trăm đồng, nhưng không lần nào Ánh nhận. Ánh nhã nhặn cảm ơn ông mà không bao giờ Ánh cầm lấy những tờ giấy bạc mới tinh của ông âu yếm trao tặng Ánh. Một hôm đầu tháng lương ông Ngọc-Minh có mua một chiếc đồng hồ đeo tay của phụ nữ đáng giá gần ba ngàn đồng. Thừa lúc cơm trưa xong, vợ chồng ông chủ sự đã lên lầu, ông Ngọc-Minh lén xuống bếp đưa cho con ở và nói thầm với nó : - Tôi tặng Ánh chiếc đồng hồ này làm kỷ niệm. Nhưng Ánh khẽ bảo : - Thưa ông, ông thật có lòng cao quí, tôi xin đa tạ ơn ông. Nhưng tôi không dám nhận. - Tại sao Ánh không nhận ? Tôi thành thật tặng Ánh đây mà. - Dạ, xin cám ơn ông. Nhưng tôi ít có dịp dùng đến đồng hồ. - Tôi đã mua nó để tặng Ánh, có hóa đơn để tên của Ánh đấy. Ánh nhận món quà kỷ niệm nầy cho tôi vui lòng. - Dạ thưa ông, tôi không dám. Nhưng tôi rất cảm ơn lòng tốt của ông. Ánh đi rửa chén bát. Ông Ngọc-Minh khẽ nắm lấy cánh tay con ở, cánh tay trắng nõn nà, xinh xắn làm sao ! Nhưng Ánh nghiêm nghị ngó ông : - Thưa ông, xín ông buông cháu ra ! Mời các bạn đón đọc Mồ Hôi Nước Mắt của tác giả Nguyễn Vỹ.