Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Phi Trường

Tên sách: Phi trường Nguyên tác: Airport Tác giả: Arthur Hailey NXB: Doubleday & Company, IncGarden City, New York 1968 Người dịch: DgHien Có tham khảo quyển Phi Trường của Thái Hà (Dịch từ Tiếng Nga) NXB Lao Động 1986. Từ những thông tin rời rạc, những người có trách nhiệm tại Phi trường quốc tế Lincoln đã khám phá ra một âm mưu đánh bom máy bay để trục lợi tiền bảo hiểm, và tìm cách ngăn chặn nó. Bên cạnh đó, quyển sách cũng trình bày nhiều hoạt động của những bộ phận khác nhau trong một phi trường, những hoạt động mà những hành khách bình thường không bao giờ thấy được. Và những suy nghĩ, hành động của những con người có liên quan trong một bộ phận xã hội. Arthur Hailey đã có nhiều sách xuất bản tại Việt Nam, mỗi quyển đều có liên quan đến một ngành nghề trong xã hội, một số đã có ebook. Tuy nhiên, theo đánh giá của tôi, Phi Trường là quyển hay nhất, hấp dẫn nhất, đến nay vẫn chưa có ebook, ngoài quyển Phi trường (PDF) do bạn Nga Hoang đưa lên mới đây. Quyển Phi Trường của Thái Hà (dịch từ Tiếng Nga) NXB Lao Động 1986 có một số thiếu sót: (1) phiên âm tên riêng, không còn nhận ra được tên nguyên gốc, không còn phù hợp thời đại; (2) bản Tiếng Nga dịch phóng túng, tùy tiện thêm vào những cái tên không có trong nguyên bản; và quan trọng (3) dịch sai một số chi tiết kỹ thuật, hoặc không hiểu rõ bộ phận kỹ thuật nên để nguyên tên Tiếng Anh không dịch. Do đó tôi đã mạnh dạn dịch mới từ nguyên tác Tiếng Anh, quyển Phi Trường của Arthur Hailey. *** Thông qua câu chuyện hồi hộp về quá trình nghi ngờ, điều tra phát hiện, và tìm cách ngăn chặn một vụ âm mưu cho nổ một chuyến máy bay hành khách quốc tế đông người ngay trên không. Arthur Hailey muốn cung cấp cho bạn đọc những hiểu biết tương đối tường tận và lý thú về hoạt động của một sân bay dân dụng vào loại lớn và hiện đại nhất nước Mỹ, sân bay quốc tế Lincoln, với lưu lượng máy bay lên xuống trung bình 30 giây một chiếc. Qua đó, tác giả muốn nói đến những vấn đề xã hội đang đặt ra hiện nay cho nước Mỹ: đó là những mâu thuẫn và bất công không thể tránh khỏi trong cuộc chạy đua theo tiến bộ khoa học kỹ thuật không phải vì hạnh phúc con người, mà trước hết vì lợi nhuận, đẩy con người đi đến chỗ có những hành động mù quáng điên rồ, tìm lối thoát trước cảnh ngộ bế tắc bằng cách tự giết mình và giết oan nhiều người vô tội khác. *** Arthur Hailey (người Anh có quốc tịch Canada) (1920 - 2004) là tác giả của mười một cuốn best-sellers, trong đó có "Bản tin chiều" đã được dựng thành phim. Ông có 11 tiểu thuyết bán rất chạy được in ở 40 quốc gia với 170 triệu bản. Hailey được coi là người trường vốn trong sự nghiệp sáng tác. Những cuốn truyện ông viết đã vượt khỏi quê hương, được xuất bản trên 40 nước với hơn 170 triệu bản. Điểm nổi bật trong tác phẩm của ông là những nhân vật có xuất xứ rất tầm thường nhưng khi bị đẩy vào hoàn cảnh bi hùng đã vượt lên thành một số phận khác.  Sinh ngày 5/4/1920, Hailey sớm phải bỏ học ở tuổi mười bốn, bởi cha mẹ không đủ tiền chu cấp ăn học cho con trai. Sau đó, chàng trai Arthur trở thành phi công trong quân chủng Hoàng gia Anh trong đại chiến 2. Năm 1947, nhà văn tương lai rời bỏ xứ sở sương mù đến Canada và nhập quốc tịch tại đây. Thời gian đầu nơi đất khách, Hailey phải kiếm sống như một nhân viên tiếp thị cho nhà máy sản xuất máy kéo. Được một thời gian thì việc viết lách đã cám dỗ Hailey. Cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông là The Final Diagnosis, xuất bản năm 1959, kể về một bác sĩ chẳng may gây ra cái chết với một bé sơ sinh.  Mải mê với những con chữ trong một thập kỷ, rồi ông trở về công việc kinh doanh, chỉ ngồi vào bàn viết như một thú vui. Bà vợ của Hailey cho biết, nhà văn rất khiêm tốn và giản dị, nhưng ông có một niềm hân hoan đặc biệt khi đọc những bức thư của độc giả tán dương tác phẩm mình. Hậu duệ của ông dự định sẽ tổ chức một bữa tiệc tưởng nhớ ông vào tháng giêng theo đúng nguyện ước của người quá cố. Mười bốn tuổi đã nghỉ học vì cha mẹ không đủ tiền cho ông đi học tiếp, Arthur Hailey tham gia thế chiến thứ 2 với tư cách là phi công trong không lực hoàng gia Anh và trở thành nhà văn khi xuất bản tác phẩm đầu tay The final diagnoisis vào năm 1959.  Arthur Hailey có cách viết tiểu thuyết rất hấp dẫn, mô tả những người bình thường trong hoàn cảnh bất thường. Năm 2001 ông nói với hãng tin AP: "Tôi không thật sự tạo ra ai cả. Tôi chỉ lấy từ đời thật". Một số tác phẩm của ông đã được ra tiếng Việt như Phi trường, Bản tin chiều, Trong khách sạn... *** T háng giêng, lúc sáu giờ ba mươi chiều một ngày thứ sáu, Phi trường quốc tế Lincoln, tiểu bang Illinois, vẫn đang hoạt động, dù rất khó khăn. Cũng như toàn bộ miền trung nước Mỹ, phi trường đang rối tung bởi một cơn bão tuyết lớn chưa từng thấy trong vòng sáu năm nay. Cơn bão đã kéo dài ba ngày. Bây giờ, như những mụn mủ trên một thân thể xiêu vẹo, yếu ớt, những chỗ yếu nhất đang vỡ ra đều đều. Một xe tiếp phẩm của hãng United Airlines mang theo hai trăm phần ăn, bị mất tích và bị kẹt tuyết đâu đó trong phạm vi sân bay. Việc tìm kiếm chiếc xe tải hoặc người tài xế của nó đã thất bại trong bão tuyết và bóng tối. Chuyến bay 111 của hãng United, chuyến bay thẳng đến Los Angeles mà chiếc xe tiếp phẩm phải phục vụ, đã chậm lịch bay nhiều giờ. Sự hỗn loạn do chiếc xe tiếp phẩm bị mất tích sẽ làm cho nó chậm hơn nữa. Những trường hợp chậm tương tự vì những lý do khác nhau đã làm ảnh hưởng đến ít nhất một trăm chuyến bay của hai mươi hãng hàng không khác nhau đang sử dụng Phi trường quốc tế Lincoln. Trong phạm vi sân bay, đường băng 3-0 không sử dụng được, do bị chặn bởi chiếc máy bay Boeing 707 của hãng Aéreo-Mexican, những bánh xe của nó kẹt sâu trong lớp bùn tuyết, gần mép đường băng. Hai giờ tận lực để kéo chiếc máy bay khổng lồ đi đều thất bại. Bây giờ, sau khi sử dụng hết khả năng của mình, hãng Aéreo-Mexican phải cầu cứu hãng TWA. Vì đường băng 3-0 bị chặn nên đài kiểm soát không lưu (KSKL) phải áp dụng chế độ kiểm soát trên không hết sức chặt chẽ và hạn chế việc tiếp nhận máy bay từ những trung tâm lân cận như Minneapolis, Cleveland, Kansas City, Indianapolis và Denver. Mặc dù vậy, vẫn có hai mươi máy bay đang lượn tròn trên trời xin hạ cánh, một số gần cạn nhiên liệu. Còn trên mặt đất thì có gấp đôi số máy bay như thế sẵn sàng cất cánh. Nhưng chừng nào tình hình trên không chưa bớt căng thẳng, đài KSKL chưa cho phép bất cứ máy bay nào cất cánh. Kết quả là các cửa ra máy bay, đường lăn, khu sân đỗ nhồi đầy máy bay đang nằm chờ, nhiều chiếc đang nổ máy sẵn. Trong kho của tất cả các hãng hàng không đều đầy ứ hàng hóa, những hàng hóa cần vận chuyển gấp nhưng giờ bị cơn bão ngăn trở. Các nhân viên giám sát hàng hóa lo lắng nhìn những đống hàng mau hỏng - những hoa hồng trồng trong nhà kính từ Wyoming đi New England; một tấn phó mát Pennsylvania chở đi Anchorage, Alaska; đậu ướp lạnh chở đi Iceland; những con tôm hùm sống từ miền đông chở đi châu Âu trên chuyến bay qua b ắc cực. Những con tôm hùm này phải xuất hiện trong thực đơn ngày mai của các khách sạn, nhà hàng ở Edinburgh và Paris, nơi chúng được gọi là “hải sản tươi sống của địa phương” và đám khách du lịch Mỹ cả tin sẽ tranh nhau ăn chúng. Dù có bão hay không, các hợp đồng đã ghi rằng những thứ hàng mau hỏng này phải được vận chuyển đến nơi vẫn còn tươi và phải nhanh chóng. Điều làm các nhân viên hàng hóa của hãng American Airlines đặc biệt lo ngại là lô hàng mấy nghìn con gà tây mới ra khỏi lồng ấp cách đây vài giờ. Lịch chuyên chở món hàng này đã được sắp xếp chính xác từ nhiều tuần lễ trước đây - giống như mệnh lệnh khai hỏa một trận chiến - trước khi những quả trứng gà tây được đưa vào lồng ấp. Chậm nhất những con gà sống này phải được chở tới bờ biển phía tây trong vòng bốn mươi tám giờ đồng hồ sau khi nở, là thời hạn để những sinh vật tí hon này có thể sống sót mà không cần ăn uống. Thông thường, việc vận chuyển như vậy có tỉ lệ sống sót gần một trăm phần trăm. Còn nếu cho chúng ăn uống trong khi vận chuyển thì chúng và cả chiếc máy bay sẽ bốc mùi nặng đến nhiều ngày sau chưa hết. Bây giờ lịch vận chuyển chúng đã bị chậm mất nhiều giờ. Vì thế một chuyến bay chở hàng được điều động thay cho một chuyến bay hành khách, xem ra những chú gà tây mềm yếu này được ưu tiên hơn mọi thứ, kể cả những hành khách VIP. Trong nhà ga hàng không chính, sự hỗn loạn đã tăng cao. Các phòng chờ chật kín hàng nghìn hành khách của các chuyến bay bị hoãn hay bị hủy. Hàng đống hành lý khắp nơi. Cả căn phòng khổng lồ trông giống như sự lộn xộn kết hợp giữa một trận đấu bóng đá kiểu Mỹ với cửa hàng Macy's trước lễ Giáng sinh. Cao trên mái nhà ga, câu slogan thiếu khiêm tốn PHI TRƯỜNG QUỐC TẾ LINCOLN - NGÃ TƯ HÀNG KHÔNG THẾ GIỚI, hoàn toàn bị tuyết che lấp. Thật đáng kinh ngạc là mọi thứ vẫn tiếp tục hoạt động, Mel Bakersfeld nghĩ. Mel, Tổng giám đốc phi trường - dáng gầy, khắc kỷ - đang đứng cạnh phòng chỉ huy chống tuyết, cao trên tháp KSKL, nhìn chăm chú vào màn đêm. Bình thường từ văn phòng kính này, toàn bộ khu liên hợp phi trường - các đường băng, đường lăn, nhà ga, giao thông dưới đất và trên không - trông giống như những mô hình bé xíu, ngay cả vào ban đêm hình dạng và chuyển động của chúng có thể nhìn thấy rõ ràng dưới ánh đèn. Chỉ có một nơi nhìn được như vậy cao hơn - Đài KSKL chiếm hai tầng trên cùng. Nhưng đêm nay chỉ nhìn thấy thấp thoáng vài ánh đèn gần nhất sau tấm màn tuyết dày đặc đang bị gió cuốn. Mel nghĩ rằng mùa đông này sẽ còn được thảo luận tại Hội nghị các nhà khí tượng trong nhiều năm tới. Trận bão tuyết này xuất hiện cách đây năm ngày tại vùng núi khuất gió ở Colorado. Lúc mới xuất hiện nó chỉ là một vùng áp thấp không to hơn một quả đồi, và đa số các nhà dự báo thời tiết, để lập bản đồ khí tượng cho các chuyến bay, không ghi nhận ra nó, hay bỏ qua nó. Và như bất mãn, cơn áp thấp đó gia tăng sức mạnh giống như một căn bệnh ác tính khổng lồ, vẫn đang phát triển, lúc đầu hướng về phía đông nam, sau đó phía bắc. Nó vượt qua Kansas và Oklahoma, sau đó tạm dừng tại Arkansas, thu thập thêm sức mạnh.  Ngày hôm sau, mạnh lên và hung hãn, nó ào ào đổ vào thung lũng Mississippi.  Cuối cùng, cơn bão trút xuống Illinois, gần như làm tê liệt cả tiểu bang với gió mạnh, nhiệt độ đóng băng, và một lượng tuyết dày mười inch trong 24 giờ. Tại sân bay, lớp tuyết dày mười inch lúc đầu rơi nhẹ, liên tục. Nhưng bây giờ lớp tuyết cũ được tiếp nối bởi nhiều tuyết hơn, gió cuốn chúng thành từng đống, cùng một lúc các đống tuyết mới lại chồng lên các đống tuyết cũ.  đ ội dọn tuyết đã gần như kiệt sức. Trong vòng vài giờ qua một số người đã được lệnh về nhà, mặc dù trong trường hợp khẩn cấp như thế này sân bay có cung cấp cho họ nơi tạm nghỉ. Tại phòng chỉ huy chống tuyết ở gần Mel, Danny Farrow - lúc bình thường là trợ lý của Tổng giám đốc phi trường, nay phụ trách phòng chỉ huy chống tuyết - đang gọi Trung tâm chống tuyết qua radio. “Chúng tôi đang mất cả các bãi đậu xe rồi. Tôi cần thêm sáu xe dọn tuyết nữa và một đội banjo tại ngã ba bảy bốn”. Danny đang ngồi tại phòng chỉ huy chống tuyết, thực sự không phải là một căn phòng đúng nghĩa, nhưng là một chỗ rộng cỡ ba gian nhà.  Trước mặt Danny và hai người giúp việc của ông ở hai bên là một loạt điện thoại, máy telex và máy radio. Xung quanh họ là các bản đồ, sơ đồ, và các tờ phiếu ghi lại tình trạng và vị trí của tất cả các xe dọn tuyết, cũng như các nhân viên và các giám sát. Có một phiếu riêng biệt cho các đội banjo - đội lưu động với dụng cụ dọn tuyết cá nhân. Phòng chỉ huy chống tuyết chỉ hoạt động đúng mục đích của mình trong một mùa này. Tại các thời điểm khác trong năm, căn phòng này chỉ còn sự vắng vẻ và yên tĩnh. Cái đầu hói của Danny bóng nhẫy những giọt mồ hôi khi ông ghi chú những ký hiệu trên bản đồ khổ lớn của sân bay.  Ông lặp đi lặp lại thông điệp của mình cho Trung tâm chống tuyết, nghe giọng ông giống như một lời van xin cho cá nhân, mà có lẽ đúng như thế thật. Ở trên cao này là phòng chỉ huy. Và người chỉ huy phòng này phải hiểu rõ toàn bộ sân bay, biết rõ từng yêu cầu và triển khai các thiết bị đến bất cứ nơi nào cần thiết nhất.  Một vấn để - và chắc chắn là nguyên nhân làm cho Danny toát mồ hôi - là những người dưới kia, những người đang chiến đấu để sân bay tiếp tục hoạt động, ít khi chia sẻ quan điểm giống nhau về những nơi nào ưu tiên hơn. “Chắc chắn, chắc chắn rồi.  Thêm sáu xe dọn tuyết nữa”.  Một giọng nói từ Trung tâm chống tuyết, từ đầu bên kia sân bay, gắt gỏng trong loa. “Để chúng tôi hỏi Ông già Noel đã. Hình như ông ta đang ở quanh đây thôi”.  Im lặng một chút, rồi sôi nổi hơn, “Còn có chỉ dẫn ngu ngốc nào nữa không?” Liếc nhìn Danny, Mel lắc đầu.  Ông nhận ra giọng nói trong loa là của một đội trưởng có lẽ đã làm việc liên tục kể từ khi bắt đầu có bão tuyết. Tâm trạng giận dữ trong hoàn cảnh như thế này cũng dễ hiểu.  Thông thường, sau một mùa đông khó khăn chiến đấu với tuyết, Trung tâm chống tuyết và Ban giám đốc sân bay sẽ tổ chức một buổi tối vui vẻ với nhau mà họ gọi là “đêm-hóa-dữ-làm-lành”.  n ăm nay chắc chắn sẽ cần một buổi tối như thế. Danny nói có lý, “Chúng tôi đã yêu cầu bốn xe dọn tuyết đi tìm chiếc xe tiếp phẩm của hãng United. Họ có lẽ đã xong việc rồi chứ”. “Họ có thể đã xong việc rồi - nếu chúng ta tìm được chiếc xe chết tiệt đó”. “Anh chưa tìm ra nó sao? Mấy người của anh đang làm gì vậy - Ăn tối với các quý bà chắc?” Danny vươn tay vặn nhỏ âm thanh như một cử chỉ đáp trả bực bội. “ n ghe này, những con chim trong cái chuồng nhếch nhác đó làm sao có ý tưởng nào về những gì xảy ra ngoài sân bay?  Có lẽ anh nên nhìn ra ngoài cửa sổ một lát chứ.  Bất kỳ ai có thể ở Bắc cực chết tiệt đêm nay mới biết khác biệt như thế nào”. “Cố thổi vào tay đấy, Ernie”, Danny nói. “ Nó có thể làm tay anh ấm áp và im miệng”. Mel Bakersfeld hiểu hầu hết các trao đổi này, ông biết rằng những gì đã nói về tình hình bên ngoài nhà ga là sự thật. Một giờ trước đây, Mel đã lái qua sân bay.  Ông đã sử dụng đường công vụ, mặc dù ông biết rõ sân bay như lòng bàn tay, nhưng tối nay ông đã rất khó khăn khi tìm đường và nhiều lần gần như bị lạc đường. Mel đã đến kiểm tra Trung tâm chống tuyết nơi đang hoạt động khẩn trương. Nếu t òa tháp nơi đặt phòng chỉ huy chống tuyết là sở chỉ huy, thì Trung tâm chống tuyết là một doanh trại ở chiến tuyến. Từ đây, các đội công nhân mệt mỏi và các đội trưởng đến và đi, những người đẫm mồ hôi và lạnh cóng thay phiên nhau, các công nhân thường xuyên được bổ sung thêm những công nhân tạm thời - thợ mộc, thợ điện, thợ ống nước, nhân viên, cảnh sát. Các công nhân tạm thời được lấy từ công nhân và nhân viên làm nhiệm vụ thường xuyên trong sân bay và được trả lương gấp rưỡi cho đến khi kết thúc tình hình khẩn cấp vì tuyết. Nhưng họ biết công việc phải làm, vì trong mùa hè và mùa thu họ đã diễn tập dọn tuyết nhiều lần vào những ngày cuối tuần, như những người lính, trên đường băng và các đường lăn. Những người đứng bên ngoài đôi khi tức cười khi xem các nhóm công nhân cào tuyết, máy ủi, máy thổi tuyết gầm rú, vào một ngày nắng nóng. Nhưng nếu có ai ngạc nhiên trước mức độ chuẩn bị công phu như thế, Mel Bakersfeld sẽ nhắc nhở họ rằng việc dọn tuyết khỏi khu vực hoạt động của sân bay tương đương bằng bảy trăm dặm đường cao tốc. Cũng giống như phòng chỉ huy chống tuyết trên tháp KSKL, Trung tâm chống tuyết chỉ hoạt động theo chức năng của nó vào mùa đông.  Đó là một gian phòng lớn, tối tăm ở bên trên một nhà để xe tải của sân bay, khi sử dụng, được lãnh đạo bởi một người điều vận phụ trách công tác vận chuyển trong sân bay. Căn cứ từ giọng nói trong radio hiện nay, Mel đoán rằng người ta đã thay người điều vận khác, có lẽ người kia đã về ngủ trong “Phòng Xanh”, như mọi người trong sân bay gọi đùa phòng nghỉ của công nhân. Tiếng người đội trưởng của Trung tâm chống tuyết vang lên lần nữa trong radio: “ Chúng tôi cũng đang lo về chiếc xe đó, Danny. Thằng con hoang khốn khổ đó chắc chết cóng ngoài đó rồi.  Mặc dù nếu hắn ta có tháo vát chút nào đi nữa, hắn ta không phải chết đói”. Chiếc xe tiếp phẩm của UAL đã rời nhà bếp của hãng hàng không để đến nhà ga chính cách đây gần hai giờ.  Hành trình của nó chạy theo đường vành đai, thông thường chỉ mất mười lăm phút. Nhưng chiếc xe tiếp phẩm đã không đến nơi, và rõ ràng lái xe đã lạc đường và bị kẹt tuyết trong khu hoang vu nào đó của sân bay. Hãng United đã gửi đi một đội tìm kiếm, mà chưa có kết quả. Bây giờ những người quản lý sân bay phải đích thân lo việc này. Mel hỏi: “Rốt cuộc chuyến bay United cất cánh rồi sao? Bay mà không có thực phẩm à?” Danny Farrow trả lời mà không cần nhìn lên. ”Tôi nghe thấy cơ trưởng nhường cho hành khách quyết định. Ông ta nói với họ rằng phải mất thêm một giờ nữa mới có một chiếc xe tiếp phẩm khác, rằng họ đã có phim và rượu trên máy bay, và mặt trời vẫn chiếu sáng tại California. Mọi người đã biểu quyết để rời khỏi địa ngục này. Nếu là tôi, tôi cũng sẽ làm như vậy”. Mel gật đầu, chống lại sự cám dỗ để tiếp nhận và đích thân tìm kiếm chiếc xe tải mất tích và người lái xe. Hành động là một liệu pháp.  Cái lạnh và sự ẩm ướt nhiều ngày, đã làm nhói đau vết thương cũ thời chiến tranh của Mel một lần nữa - ký ức chiến tranh Triều Tiên không bao giờ rời ông - và ông có thể cảm thấy nó ngay bây giờ. Ông chuyển, nghiêng, tì trọng lượng của mình sang chân lành.  Nhưng chỉ được một lát. Hầu như cùng một lúc, ở vị trí mới, cơn đau trở lại. Ông vui mừng, một lúc sau đó, rằng ông đã không can thiệp.  Danny hầu như đã làm đúng - tăng cường tìm kiếm chiếc xe, kéo các xe dọn tuyết và công nhân từ khu vực nhà ga, chuyển ra các đường vành đai. Trong thời gian này, các bãi đỗ xe sẽ phải để lại, và sau đó sẽ có rất nhiều lời phàn nàn về điều đó.  Nhưng người lái xe mất tích phải được cứu giúp ưu tiên. Giữa các cuộc gọi, Danny cảnh báo Mel, “Ông phải tự chống chọi với nhiều khiếu nại hơn nữa đấy. Việc tìm kiếm này phải chặn đường vành đai. Chúng tôi phải giữ lại tất cả xe tiếp phẩm khác cho đến khi chúng ta tìm thấy anh chàng kia”. Mời các bạn đón đọc Phi Trường của tác giả Arthur Hailey.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Thời Đại Khủng Long
  Tôi là Marco. Tôi đúng là một tên đại ngốc khi vô tình xem tin tức trên ti vi, và lại còn vô tình nghe cả câu chuyện tàu ngầm hạt nhân bị chìm nữa chứ. Bạn đã từng bao giờ ước chỉ cần học được cách câm miệng chưa? Tôi thì có rồi đó. Ít nhất là trong trường hợp này. Vì nếu tôi chỉ cần im như thóc thôi thì tôi đầu có cần phải cố gắng đẩy không khí qua lỗ phun nước giữa cơn bão dữ dội tạo nên những ngọn sóng cao đến chín mét trên đầu mình như lúc này đây. Nhưng có lẽ tôi cần phải quay ngược lại thời gian một chút. Và trước hết tôi cần phải giải thích tại sao tôi lại có lỗ phun nước cái đã. Tôi sẽ giải thích ngắn gọn thôi: Có vài chuyện đang xảy ra ở đây, ngay trên Trái Đất quen thuộc và tươi đẹp này; những chuyện mà chắc chắn hầu hết mọi người chưa bao giờ mơ thấy nữa luôn á; những chuyện mà nếu như bạn kể cho người khác nghe, họ sẽ bảo với bạn, “Ừ, rồi. Muốn mặc đồ của bệnh nhân tâm thần hả?” Chúng ta đang bị xâm lược. Không phải bởi những con tàu ngoài không gian được trang bị những ụ súng bắn tia lửa chíu chíu đâu nha. Ý tôi là… đúng về chuyện “tàu không gian”, nhưng hầu hết bọn Yeerks thường không sử dụng súng bắn tia. Yeerk là loài ký sinh giống như giun đũa hay chí rận vậy, hay giống mấy ông huấn luyện viên môn thể dục dụng cụ cho rằng bạn không chơi bóng rổ được chỉ vì bạn hơi bị “bất mãn” chiều cao. Nhưng loài Yeerk không có bò trên đầu của bạn giống như con chí mà chúng bò vào bên trong đầu của bạn. Nó trườn vào trong tai của bạn, rỉ ra một chất lỏng sền sệt vào trong não của bạn, tự ép mỏng cơ thể mình trám hết toàn bộ những khe nứt trong bộ não của bạn và từ đó kiểm soát bạn. Nó thậm chí có thể bắt bạn nghe nhạc của Kenny G. Tôi nói thật đấy, không phải giỡn chơi đâu. Tôi thường hay biến những thứ khiến tôi khó chịu thành trò đùa. Mà loài Yeerk là một trong những thứ đó. Một trong những người bị biến thành nô lệ của chúng chính là mẹ tôi. Cha con tôi nghĩ là mẹ đã chết. Nhưng, không, mẹ không chết. Ít nhất là tôi nghĩ vậy. Lần cuối cùng tôi nhìn thấy mẹ thì mẹ vẫn còn sống. Và thực sự là lúc đó bà đang cố tiêu diệt tôi và các bạn của tôi. Có chuyện gì còn tệ hại hơn việc cứ biện minh này nọ kia chứ. Dù sao đi nữa thì cũng có tồn tại loài Yeerk. Bọn ký sinh này hoành hành khắp dải thiên hà tìm kiếm những vật chủ mới. Chúng kiểm soát người Gedd - loài sống chung hành tinh với chúng. Chúng khống chế luôn người Hork-Bajir và loài Taxxon. Và mục tiêu kế tiếp của chúng là Trái Đất và loài người. Vậy chuyện bọn Yeerk này có liên quan gì đến việc tôi có lỗ phun nước không ư? Thế này nhé, trong chuyện này còn có một giống loài khác nữa. Người Andalite đó. Người Andalite đang dàn mỏng lực lượng của mình ra và cố gắng chống trả lại bọn Yeerk. Một lực lượng đặc nhiệm Andalite bị đánh bại khi bay trong quỹ đạo Trái Đất. Hoàng tử Elfangor - một chiến binh trong đội đặc nhiệm - đã lái con tàu hạ cánh xuống Trái Đất. Và tôi cùng đám bạn đang xớ rớ gần đó đã tình cờ chứng kiến vụ va chạm này. Ông ấy trao cho tụi tôi quyền năng biến hình của người Andalite - khả năng hấp thụ ADN của bất kỳ loài động vật nào, và thực tế sau đó, hoàn toàn theo nghĩa đen, sẽ biến thành chính loài động vật đó. Tụi tôi sử dụng quyền năng đó để chiến đấu chống lại bọn Yeerk. “Tụi tôi” ở đây gồm có sáu đứa trẻ. Jake, vị thủ lĩnh can đảm và già trước tuổi; Cassie - bà lang thú - cô nhỏ chuyên môn bảo vệ môi trường và cây cối; Rachel - em họ của Jake - xinh đẹp mà cũng khùng hết biết; Tobias - một chú diều hâu chuyên ăn chuột;  thêm một tên nửa hươu nửa bọ cạp người Andalite, nghiện bánh quế, được tụi tôi gọi là Ax; và tôi, Marco, anh chàng nhạy cảm, thông thái, thanh lịch, bảnh trai. Lại còn khiêm tốn và trung thực nữa chứ. À mà tôi nói tôi duyên dáng chưa nhỉ? Dù sao đi nữa, vào một ngày Chủ nhật mưa dầm dề, tôi ở tịt trong nhà với ba coi tivi. Tôi ngồi thu lu trong chiếc ghế bành, dán mắt vào ti vi, tự hỏi không hiểu mình có đủ năng lượng để lết vô nhà bếp lấy thêm một ít món Doritos nữa hay không, thì mẩu tin tai hại đó xẹt đến. Một tàu ngầm hạt nhân được báo cáo đã gặp trục trặc khi kích hoạt lò phản ứng hạt nhân. Nó chìm mất tăm xuống đáy biển sâu. Các tàu cứu hộ và những đội thợ lặn đã có mặt đông đủ tại hiện trường, nhưng công việc của họ đang gặp nhiều khó khăn vì bão lớn hoành hành. Người ta không thể tìm ra vị trí của con tàu ngầm, trong khi nếu để lâu thì toàn bộ thuỷ thủ đoàn sẽ có nguy cơ bị nhiễm phóng xạ. “Ui trời ơi,” tôi rền rẫm. “Hừ,” ba tôi phụ họa. Ông đang nằm ườn trên trường kỷ và hẳn đang tự hỏi: liệu mình có đủ ý chí để lê bước vô nhà bếp lấy món Cheez Puffs khoái khẩu hay không. “Ừm...” Tôi e hèm. *** Megamorphs gồm có:  Megamorphs 1: Món Quà Của Người Andalite. Nguyên tác: Animorphs – Megamorphs #1: The Andalite’s Gift. Ebook mới tương đương tập 44 cũ (Quái vật Sao Thổ) · Megamorphs 2: Thời Đại Khủng Long. Nguyên tác: Animorphs – Megamorphs #2: In The Time of Dinosaurs. Ebook mới gồm hai phần:– Thời đại khủng long (tập 45 cũ)– Thảm hoạ sao chổi (tập 46 cũ) · Megamorphs 3: Bí Mật Của Elfangor.Nguyên tác: Animorphs – Megamorphs #3: Elfangor’s Secret. · Megamorphs 4: Trở Lại Những Ngày Đầu. Nguyên tác: Animorphs – Megamorphs #4: Back to before. *** Katherine Alice Applegate là một nữ tác giả rất được ưa chuộng với: Animorphs, Remnants, Everworld, và hàng loạt cuốn sách khác, mặc dầu nhiều cuốn bị ảnh hưởng bởi phong cách viết của những tác giả khác. Hầu hết những cuốn sách phổ biến nhất của Applegate thuộc về thể loại khoa học viễn tưởng, phiêu lưu mạo hiểm. Bà đã giành được giải thưởng Sách mới hay nhất dành cho trẻ em năm 1997 của Publishers Weekly. Bộ truyện Animorphs của bà, vẫn đang nhận được sự hâm mộ nồng nhiệt của độc giả trẻ trong những năm gần đây. Applegate sinh ra ở Michigan năm 1956. Sau đó bà đã chuyển đến sống ở nhiều nơi như: Texas, Florida, California, Minnesota, Illinois, Bắc Carolina, và sau khi sống ở Pelago, Italy, một năm, bà đã chuyển đến sống ở: Nam California. Kể từ hồi còn thơ ấu, bà đã là một người yêu động vật, điều đó chính là lý do để bà viết bộ Animorphs và viết như thế nào. Như hầu hết mọi người bình thường khác, Applegate cũng có những ước mơ từ thời thơ ấu. Bà đã có mơ ước trở thành một bác sỹ thú y hoặc một nhà văn. Ở trong trường trung học, một phần mơ ước của bà đã trở thành sự thật, khi bà làm những công việc của một bác sỹ thú y. Giờ đây, khi đã trở thành một nhà văn, phần kia của mơ ước cũng đã trở thành sự thật. Một vài công việc mà bà đã làm là: nhân viên đánh máy, phục vụ bàn và trồng trọt. Điều đó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc viết sách. Bà đã nghiên cứu rất nhiều về động vật để viết những cuốn sách của mình. Ngoài việc viết văn, bà còn là một cây violoncello nghiệp dư. Applegate còn thích làm vườn, du lịch và tất nhiên là… đọc sách. Mời các bạn đón đọc Megamorphs Tập 2: Thời Đại Khủng Long của tác giả Katherine Alice Applegate.
Món Quà Của Người Andalite
MEGAMORPHS 1: MÓN QUÀ CỦA NGƯỜI ANDALITE 1. Người kể chuyện: Tất cả 6 thành viên Hội Animorph, từng người một. 2. Nội dung: Visser Ba mang từ Sao Thổ về Trái Đất một quái thú bụi, Veleek . Nó được huấn luyện chuyên săn đuổi năng lượng biến hình. Veleek được Hội Animorph đặt tên là “th ợ săn hình biến ”. Ax và Marco đã bị Veleek bắt được mang về tàu Lòng Chảo. Quyết tâm không để bí mật của Hội bị tiết lộ, tận dụng mọi sức mạnh của quyền năng biến hình - món quà do ông hoàng Andalite Elfangor trao tặng - sáu bạn trẻ đã phát hiện được điểm yếu của Veleek và tiêu diệt con “chó s ăn ” m ột cách hoàn hảo, đồng thời cũng bảo toàn được lực lượng.  3. Nhân vật quan trọng: Hội Người hoá thú: Jake, Marco, Rachel, Cassie, Tobias Ax Visser Ba Veleek - quái thú bụi 4. Những loài thú mới được thu nạp: Jake: Marco: Chuột Rachel: Cassie: Cá voi lưng gù Tobias: Ax: Chuột, Bọ chét 5. Những lốt hình được sử dụng: Jake: Sói, Cọp Siberi, Cá heo Marco: Chuột, Sói, Khỉ đột, Mòng biển, Cá heo Rachel: Đại bàng đầu bạc, Voi, Gấu xám, Cú sừng, Cá heo Cassie: Ruồi, Sóc, Cú sừng, Cá heo, Gián, Cá voi lưng gù Tobias: Ax: Chuột, Người, Diều mướp phương Bắc, Bọ chét. *** Tôi tên là Jake. Không có họ, hoặc ít nhất là tôi không thể nói cho các bạn biết họ của tôi. Tôi là một người hoá thú. Điều đó khiến tôi trở thành một trong những sinh vật nguy hiểm và bị săn đuổi trên Trái Đất. Bọn Yeerk muốn tôi chết. Chúng cũng muốn các bạn tôi chết. Do vậy, nếu chúng biết tôi là ai và biết tìm tôi ở đâu, ắt hẳn tôi chẳng còn cơ hội sống sót. Bởi vậy tôi không muốn nói cho các bạn biết họ của tôi và tôi đang sống ở thành phố nào, thuộc tiểu bang nào, tôi muốn tiếp tục được sống. Thế nên tôi phải chiến đấu chống lại bọn chúng. Bạn có hay nhìn lên bầu trời đêm và băn khoăn liệu có một sự sống nào tồn tại ở trên một vì sao nào đó không? Bạn có biết đến đĩa bay không? Bạn có từng nghĩ rằng người ngoài hành tinh sẽ tới viếng thăm Trái Đất chưa? Ồ, khỏi cần phân vân nữa. Bọn Yeerk đã tới đây, tới Trái Đất của chúng ta rồi. Chúng là một loài ký sinh - giống hệt như những con sên không vỏ. Bọn sên này bò vào trong đầu bạn qua đường lỗ tai, quấn chặt bộ não của bạn và buộc bạn phải làm những điều chúng muốn. Bạn sẽ bị mất chính con người bạn, bạn trở thành một kẻ bị Mượn xác. Tụi tôi gọi những người bị bọn Yeerk kiểm soát với cái tên như thế. Khi bạn nói chuyện với một kẻ bị Mượn xác, bạn có thể đang nhìn khuôn mặt anh ta, nghe anh ta nói nhưng thực chất là bạn đang nói chuyện với một tên Yeerk. Chúng ở khắp mọi nơi. Nếu bạn nghĩ rằng bạn chưa từng gặp chúng thì bạn nhầm to. Chúng có thể là một viên cảnh sát đang ngồi trong xe tuần tra, là một nhân viên bán hàng trong tiệm tạp hoá, có thể là thầy giáo của bạn, có thể là mục sư hay là bác sĩ của bạn cũng nên. Bố mẹ anh chị em hay bạn thân của bạn đều có thể là một tên bị Mượn xác. Tôi biết, anh trai tôi, Tom, là một kẻ bị Mượn xác. Chúng đã biến anh trai tôi thành kẻ thù của tôi. Mỗi sáng tôi ngồi ăn sáng và nói chuyện gẫu với Tom trong khi tôi biết rõ rằng Tom không còn là Tom của tôi nữa. Bọn Yeerk cũng bắt mất mẹ Marco, thằng bạn nối khố của tôi. Ai cũng nghĩ mẹ của Marco đã chết. Chỉ có nó và tôi biết sự thật: Bà ấy cũng là một người bị Mượn xác. Chúng ở khắp nơi, có thể là bất cứ ai. Chúng làm tanh bành cuộc sống chúng ta. Chúng làm những chuyện chẳng thể nói thành lời. Và chúng tôi, chỉ có sáu đứa tụi tôi - năm Animorphs và một người Andalite - biết về mối hiểm hoạ này, đơn thương chiến đấu chống lại chúng. Năm đứa trẻ với quyền năng biến hình, có thể biến thành bất cứ một con vật nào sau khi chạm tay vào nó. Và còn một đứa trẻ nữa từ hành tinh khác - một sinh vật pha trộn giữa hươu, người và bọ cạp - một Andalite. Sáu đứa tụi tôi chống lại bọn Yeerk, và trên hết là chống lại kẻ lãnh đạo chúng, một con quỷ ác độc. Hắn là Visser Ba. Chính vì những lý do này khiến Rachel cứ lo cuống cả lên khi nhỏ tính rời thành phố chỉ có hai ngày cuối tuần. Rachel phải đi xa có vài ngày cuối tuần, vậy mà nhỏ cứ cuống lên như gà mắc tóc. Tối thứ Sáu ấy, mấy đứa tụi tôi tụ lại trong Dưỡng đường Thú hoang - chỉ năm đứa thôi: Marco, Cassie, Tobias, Rachel và tôi. Ax không dự vì ảnh hổng muốn mất công biến thành người chỉ vì cái lý do không đâu này. “Thiệt nhảm hết sức. Mình đăng ký dự hội trại thể thao này từ xưa xửa xừa xưa mà. Tới hai ngày lận,” Rachel cao giọng. “Chẳng có gì hay ho. Mấy thứ đó mình đã làm đi làm lại đến phát ngán rồi.” “Rachel, bồ nên đi đi,” Cassie ôn tồn nói. “Ngoài những trận chiến ác liệt với Yeerk, tụi mình cũng phải làm những điều bình thường chứ. Vậy thì… hãy tham dự hội trại thể thao đó đi. Còn bây giờ, vui lòng nâng cái lồng quạ này lên kệ coi…” Tobias đang đậu trên rui nhà ca cẩm bằng giọng truyền ý nghĩ. Trong lốt diều hâu đuôi đỏ, cặp mắt của Tobias lúc nào cũng như đang giận dữ kinh khủng lắm, chẳng bù cho cậu Tobias nhút nhát, hiền lành trước kia… *** Megamorphs gồm có:  Megamorphs 1: Món Quà Của Người Andalite. Nguyên tác: Animorphs – Megamorphs #1: The Andalite’s Gift. Ebook mới tương đương tập 44 cũ (Quái vật Sao Thổ) · Megamorphs 2: Thời Đại Khủng Long. Nguyên tác: Animorphs – Megamorphs #2: In The Time of Dinosaurs. Ebook mới gồm hai phần:– Thời đại khủng long (tập 45 cũ)– Thảm hoạ sao chổi (tập 46 cũ) · Megamorphs 3: Bí Mật Của Elfangor.Nguyên tác: Animorphs – Megamorphs #3: Elfangor’s Secret. · Megamorphs 4: Trở Lại Những Ngày Đầu. Nguyên tác: Animorphs – Megamorphs #4: Back to before. *** Katherine Alice Applegate là một nữ tác giả rất được ưa chuộng với: Animorphs, Remnants, Everworld, và hàng loạt cuốn sách khác, mặc dầu nhiều cuốn bị ảnh hưởng bởi phong cách viết của những tác giả khác. Hầu hết những cuốn sách phổ biến nhất của Applegate thuộc về thể loại khoa học viễn tưởng, phiêu lưu mạo hiểm. Bà đã giành được giải thưởng Sách mới hay nhất dành cho trẻ em năm 1997 của Publishers Weekly. Bộ truyện Animorphs của bà, vẫn đang nhận được sự hâm mộ nồng nhiệt của độc giả trẻ trong những năm gần đây. Applegate sinh ra ở Michigan năm 1956. Sau đó bà đã chuyển đến sống ở nhiều nơi như: Texas, Florida, California, Minnesota, Illinois, Bắc Carolina, và sau khi sống ở Pelago, Italy, một năm, bà đã chuyển đến sống ở: Nam California. Kể từ hồi còn thơ ấu, bà đã là một người yêu động vật, điều đó chính là lý do để bà viết bộ Animorphs và viết như thế nào. Như hầu hết mọi người bình thường khác, Applegate cũng có những ước mơ từ thời thơ ấu. Bà đã có mơ ước trở thành một bác sỹ thú y hoặc một nhà văn. Ở trong trường trung học, một phần mơ ước của bà đã trở thành sự thật, khi bà làm những công việc của một bác sỹ thú y. Giờ đây, khi đã trở thành một nhà văn, phần kia của mơ ước cũng đã trở thành sự thật. Một vài công việc mà bà đã làm là: nhân viên đánh máy, phục vụ bàn và trồng trọt. Điều đó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc viết sách. Bà đã nghiên cứu rất nhiều về động vật để viết những cuốn sách của mình. Ngoài việc viết văn, bà còn là một cây violoncello nghiệp dư. Applegate còn thích làm vườn, du lịch và tất nhiên là… đọc sách. Mời các bạn đón đọc Megamorphs Tập 1: Món Quà Của Người Andalite của tác giả Katherine Alice Applegate.
Người Ngoài Hành Tinh Qua Đời
... *** Biên Niên Sử Người Andalite gồm có: Tập 1: Chuyến Du Hành Của Elfangor. Nguyên tác: The Andalite Chronicles #1: Elfangor’s Journey. Ebook mới tương đương tập 1 – Bộ đặc biệt cũ (Thiên hà lâm nguy) Tập 2: Sự Lựa Chọn Của Hoàng Tử Alloran. Nguyên tác: The Andalite Chronicles #2: Alloran’s Choice. Ebook mới tương đương tập 2 – Bộ đặc biệt cũ (Một tỉ dặm sai lầm) Tập 3: Người Ngoài Hành Tinh Qua Đời.Nguyên tác: The Andalite Chronicles #3: An Alien Dies. Ebook mới tương đương tập 3 – Bộ đặc biệt cũ (Người lạ mặt qua đời). *** Katherine Alice Applegate là một nữ tác giả rất được ưa chuộng với: Animorphs, Remnants, Everworld, và hàng loạt cuốn sách khác, mặc dầu nhiều cuốn bị ảnh hưởng bởi phong cách viết của những tác giả khác. Hầu hết những cuốn sách phổ biến nhất của Applegate thuộc về thể loại khoa học viễn tưởng, phiêu lưu mạo hiểm. Bà đã giành được giải thưởng Sách mới hay nhất dành cho trẻ em năm 1997 của Publishers Weekly. Bộ truyện Animorphs của bà, vẫn đang nhận được sự hâm mộ nồng nhiệt của độc giả trẻ trong những năm gần đây. Applegate sinh ra ở Michigan năm 1956. Sau đó bà đã chuyển đến sống ở nhiều nơi như: Texas, Florida, California, Minnesota, Illinois, Bắc Carolina, và sau khi sống ở Pelago, Italy, một năm, bà đã chuyển đến sống ở: Nam California. Kể từ hồi còn thơ ấu, bà đã là một người yêu động vật, điều đó chính là lý do để bà viết bộ Animorphs và viết như thế nào. Như hầu hết mọi người bình thường khác, Applegate cũng có những ước mơ từ thời thơ ấu. Bà đã có mơ ước trở thành một bác sỹ thú y hoặc một nhà văn. Ở trong trường trung học, một phần mơ ước của bà đã trở thành sự thật, khi bà làm những công việc của một bác sỹ thú y. Giờ đây, khi đã trở thành một nhà văn, phần kia của mơ ước cũng đã trở thành sự thật. Một vài công việc mà bà đã làm là: nhân viên đánh máy, phục vụ bàn và trồng trọt. Điều đó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc viết sách. Bà đã nghiên cứu rất nhiều về động vật để viết những cuốn sách của mình. Ngoài việc viết văn, bà còn là một cây violoncello nghiệp dư. Applegate còn thích làm vườn, du lịch và tất nhiên là… đọc sách. Mời các bạn đón đọc Biên Niên Sử Người Andalite Tập 3: Người Ngoài Hành Tinh Qua Đời của tác giả Katherine Alice Applegate.
Sự Lựa Chọn Của Hoàng Tử Alloran
MỘT TỈ DẶM SAI LẦM. Với sáu cặp cánh tôi bay dập dềnh ở trên cao và nhìn bao quát cảnh tượng bên dưới. Than ôi! Lúc này tôi chỉ có một thân một mình ngay giữa một hành tinh xa lạ. Sợ sệt, chua xót, và mất tinh thần. Với sáu cặp cánh tôi bay dập dềnh ở trên cao và nhìn bao quát cảnh tượng bên dưới. Tôi đang trong lốt biến hình. Một người Andalite bốn chân và hai tay đã hóa thành một con chim kafit 12 cánh. Phi cảng bạt ngàn của thế giới Taxxon trải dài dưới chân tôi. Một rừng phi thuyền thấy mà ghê đang náu mình trong những ụ tàu kim loại hình thù dị hợm. Tàu thuyền từ khắp mọi ngả của Đế chế Yeerk tụ về đây: những tàu vận tải thô sơ, các chiến đấu cơ gọn nhẹ, và cả một tàu Lòng Chảo kềnh càng. Dáng đậu chầu hẩu của nó khiến tôi liên tưởng tới một con nhện ba chân lểnh khềnh, đáng ghét. Chếch bên trái của tôi nửa dặm là tàu vận tải của người Skrit Na - con tàu khiến tôi phải lần tới đây. Bên trong nó có chứa một thứ quí giá mà bọn Yeerk chưa hay biết: Vòng Xoáy Thời Gian. Cách nửa dặm bên phải tôi là chiếc tàu hàng chứa hàng ngàn con sên Yeerk kinh tởm đã được tôi cứu thoát khỏi lệnh tiêu hủy của Hoàng tử Alloran. Ngay dưới tôi là con tàu Jahar. Trông nó như một tác phẩm nghệ thuật bị quăng vất vưởng giữa một bãi rác khổng lồ. Vẻ đẹp tuyệt mỹ của nó nổi lên rực rỡ giữa đám tàu Yeerk xộc xệch, thô thiển. Và kia! Hai sinh vật kỳ lạ có tên là Chapman và Loren vừa bước ra khỏi tàu Jahar. Chapman xấn xổ đẩy Loren đang bị trói, ngã vập xuống ngay dưới chân tên Phó-Visser Bảy, tên Yeerk Mượn xác-Hork-Bajir lo chuyện an ninh ở phi cảng… “Đó là thứ tôi muốn trao đổi.” Chapman nói. “Cả một hành tinh đầy ắp những… cái này.” Arbron thằng bạn lính nhỏ của tôi đâu rồi? Hoàng tử-Chinh chiến Alloran đang ở chốn nào? Lần cuối cùng tôi thấy họ là khi họ đang ở trong lốt Taxxon. Giới hạn hai giờ biến hình đã trôi qua. Mong sao họ đã hoàn thành kịp thời… Bọn Yeerk tóm lấy Loren và lôi cô đi sềnh sệch. Chapman thì đang cố gắng giao tiếp với tên Phó-Visser Bảy. Bỗng dưng tôi hoảng hồn: Chapman biết về Vòng Xoáy Thời Gian! Nếu hắn tìm ra cách nói cho bọn Yeerk hiểu thì tất cả chúng tôi sẽ đi đời. Đúng rồi, tôi phải làm một cái gì đó! Nhưng biết làm cái gì bây giờ? Thật điên hết sức! Số phận của toàn thể dân tộc tôi đang phụ thuộc vào tôi. Vào chính tôi! Có lẽ Chapman chưa kịp tiết lộ cho tên Phó-Visser Bảy về điều kinh khủng ấy. Dễ gì mà hắn chịu nhả món hàng mặc cả lớn nhất của mình ra. Hắn cũng giống như tụi Skrit Na - ích kỷ, tham lam và lúc nào cũng chăm chắm nghĩ đến chuyện vơ vét và sở hữu của cải. Chắc chắn hắn quyết không để vuột Vòng Xoáy Thời Gian đâu. Tôi đập mạnh sáu đôi cánh chim kafit, lao về hướng tàu Skrit Na. Phía dưới, bọn Yeerk đang kéo lê Loren. Chúng nhẫn tâm lôi tóc cô - tiếng thét đau đớn của Loren vọng đến tận tai tôi. "Lorent, tôi đây, Elfangor đây!" Tôi gọi xuống. Tôi thấy Loren quay đầu tới lui theo cách con người để nhìn ra đằng sau. "Đừng lo, tôi đang truyền ý nghĩ cho riêng cô thôi, không ai nghe thấy đâu. Bình tĩnh đi nào, chớ làm cho tụi nó điên tiết." Loren ngưng kháng cự và ngoan ngoãn bước đi giữa hai tên Hork-Bajir. "Hãy nhớ một điều: đừng hó hé về Vòng Xoáy Thời Gian. Nếu bọn Yeerk có nó thì tất cả sẽ đi tong. Hãy tin tôi. Tôi sẽ cứu cô." Như hầu hết các loài khác, con người giao tiếp với nhau bằng âm thanh nên dĩ nhiên là Loren chẳng thể đáp lại tôi bằng ý nghĩ được. Tôi chỉ biết hy vọng rằng Loren tin tôi. Đúng. Cô phải tin. Nhưng nếu tôi là cô, liệu tôi có tin một người lạ đã đẩy mình vào tình cảnh trớ trêu không nhỉ? Gạt bỏ mọi thứ vớ vẩn ra khỏi đầu óc, tôi tất tả bay tới chỗ tàu Skrit Na. Có mấy tên Mượn xác-Gedd đang chăm bẵm con tàu. Những người Gedd rất vụng về này là loài đầu tiên bị bọn Yeerk chinh phục và chỉ những tên Yeerk thấp kém mới phải nhận vật chủ Gedd. Hình như bọn Mượn xác-Gedd đang kiểm tra những chỗ bị hư hại trên vỏ tàu Skrit Na. Tôi cần phải lẻn vào con tàu ấy và lái nó ra khỏi hành tinh này. Tôi đáp xuống gầm ụ tàu bẩn thỉu gần nơi tàu Skrit Na đậu. Có cả một đống xà bần lẫn rác rưởi ngập ngụa tích tụ nhiều năm ở đó. Rốt cuộc, đất cảng đã biến thành một nhà máy tái chế chất thải cho tàu thuyền. Mùi hôi thối xông lên thật khủng khiếp. Tôi hoàn hình giữa đống đồ thải nhớp nháp đó. Bốn chân tôi thòi ra từ bốn cánh chim kafit. Hai cánh khác biến thành hai cánh tay tôi. Cái đầu chim óng mượt phình bè ra rồi nhú lên hai cuống mắt, trong khi đôi mắt chim trở thành cặp mắt chính của tôi. Những đôi cánh thừa teo rúm lại và biến mất, trong khi mẩu đuôi chim thon mỏng hóa thành chiếc đuôi Andalite dũng mãnh, lợi hại. Nhưng buồn thay, tôi không thể mang dáng hình Andalite trên xứ Taxxon đầy rẫy bọn Yeerk này được. Chắc chắn một người Andalite sẽ là mục tiêu di động cho bọn Yeerk nếu hiên ngang đi lại giữa phố. Chắc chắn tôi sẽ chết tức khắc, ngay sau khi bước ra khỏi chỗ núp mười giây. Tôi chỉ có một con đường: biến thành người Taxxon. ADN của tên Taxxon bị thu nạp vẫn còn ở lại mãi trong tôi. Tôi ráng nuốt trọn nỗi sợ hãi và ghê tởm để bắt đầu biến hình. Ngay lúc cảm thấy cơ thể sâu bọ ụi mọc ra tôi liền cảm thấy cơn đói cuồng bạo của Taxxon gào thét, trong khi tôi đang cố thực hiện một kế hoạch - hòng cùng lúc cứu quê hương tôi, bạn bè tôi, Loren và tất cả. Vừa biến hình được một nửa thì tôi nghe có tiếng ì oạch, lạch bạch của một tên Taxxon. Đôi mắt cuống của tôi đã mất nhưng vẫn còn đôi mắt chính. Tôi quay qua nhìn. Hắn chỉ còn cách tôi chừng hơn ba mét. Chắc hắn đã mai phục trong bóng tối. Chỉ cần hắn la lên báo hiệu là tôi sẽ biến thành bữa trưa cho tụi Taxxon ngoài kia. "Elfangor! Bồ đó hả?" *** Biên Niên Sử Người Andalite gồm có: Tập 1: Chuyến Du Hành Của Elfangor. Nguyên tác: The Andalite Chronicles #1: Elfangor’s Journey. Ebook mới tương đương tập 1 – Bộ đặc biệt cũ (Thiên hà lâm nguy) Tập 2: Sự Lựa Chọn Của Hoàng Tử Alloran. Nguyên tác: The Andalite Chronicles #2: Alloran’s Choice. Ebook mới tương đương tập 2 – Bộ đặc biệt cũ (Một tỉ dặm sai lầm) Tập 3: Người Ngoài Hành Tinh Qua Đời.Nguyên tác: The Andalite Chronicles #3: An Alien Dies. Ebook mới tương đương tập 3 – Bộ đặc biệt cũ (Người lạ mặt qua đời). *** Katherine Alice Applegate là một nữ tác giả rất được ưa chuộng với: Animorphs, Remnants, Everworld, và hàng loạt cuốn sách khác, mặc dầu nhiều cuốn bị ảnh hưởng bởi phong cách viết của những tác giả khác. Hầu hết những cuốn sách phổ biến nhất của Applegate thuộc về thể loại khoa học viễn tưởng, phiêu lưu mạo hiểm. Bà đã giành được giải thưởng Sách mới hay nhất dành cho trẻ em năm 1997 của Publishers Weekly. Bộ truyện Animorphs của bà, vẫn đang nhận được sự hâm mộ nồng nhiệt của độc giả trẻ trong những năm gần đây. Applegate sinh ra ở Michigan năm 1956. Sau đó bà đã chuyển đến sống ở nhiều nơi như: Texas, Florida, California, Minnesota, Illinois, Bắc Carolina, và sau khi sống ở Pelago, Italy, một năm, bà đã chuyển đến sống ở: Nam California. Kể từ hồi còn thơ ấu, bà đã là một người yêu động vật, điều đó chính là lý do để bà viết bộ Animorphs và viết như thế nào. Như hầu hết mọi người bình thường khác, Applegate cũng có những ước mơ từ thời thơ ấu. Bà đã có mơ ước trở thành một bác sỹ thú y hoặc một nhà văn. Ở trong trường trung học, một phần mơ ước của bà đã trở thành sự thật, khi bà làm những công việc của một bác sỹ thú y. Giờ đây, khi đã trở thành một nhà văn, phần kia của mơ ước cũng đã trở thành sự thật. Một vài công việc mà bà đã làm là: nhân viên đánh máy, phục vụ bàn và trồng trọt. Điều đó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc viết sách. Bà đã nghiên cứu rất nhiều về động vật để viết những cuốn sách của mình. Ngoài việc viết văn, bà còn là một cây violoncello nghiệp dư. Applegate còn thích làm vườn, du lịch và tất nhiên là… đọc sách. Mời các bạn đón đọc Biên Niên Sử Người Andalite Tập 2: Sự Lựa Chọn Của Hoàng Tử Alloran của tác giả Katherine Alice Applegate.