Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Xa Ngoài Kia Nơi Loài Tôm Hát

Sáu triệu bản bán ra trên toàn thế giới 58 tuần trong danh sách bán chạy của New York Times Dẫn đầu mục tiểu thuyết bán chạy của Amazon trong năm 2019 Trong nhiều năm, những tin đồn về "Cô gái đầm lầy" đã ám ảnh Barkley Cove, một thị trấn yên tĩnh trên bờ biển Bắc Carolina. Vì vậy, khi nơi này rúng động với cái chết đầy bí ẩn của Chase Andrew, người dân địa phương ngay lập tức đổ dồn nghi ngờ vào cô. Nhưng Kya Clark – cô gái hoang dã ấy có phải là thủ phạm? Thông minh và nhạy cảm, cô đã sống sót sau nhiều năm cô đơn trong đầm lầy, trú ẩn trong lòng mẹ thiên nhiên, kết bạn với mòng biển và học những bài học đắt giá trên bờ cát. Khi trái tim tuổi mới lớn mở ra, cô cũng chạm vào yêu thương với hai chàng trai, bắt đầu một cuộc sống mới cho đến khi điều bất ngờ xảy đến… “Một tiểu thuyết lãng mạn đầy ắp hơi thở thiên nhiên với một cú ngoặt chết người.” — REFINERY29 “Đầy chất thơ… Sức hấp dẫn của cuốn sách đến từ sự liên kết sâu sắc giữa Kya với vùng đất đã là nhà cô, và với mọi sinh vật của vùng đất đó.” — BOOKLIST *** Cuốn sách "Xa ngoài kia nơi loài tôm hát" của Delia Owens là một tiểu thuyết lãng mạn đầy ắp hơi thở thiên nhiên đẹp đẽ và đau đớn. Cuốn sách Xa ngoài kia nơi loài tôm hát (Tên gốc: Where the Crawdads Sing) lấy bối cảnh những năm 1950 về cô gái trẻ Kya Clark ở Bắc Caroline, nước Mỹ. Kya được biết với cái tên "Cô gái đầm lầy" bởi cô sống một mình giữa thiên nhiên, chỉ kết nối với một vài người. Nhưng khi một vụ án mạng xảy ra, tất cả đổ dồn vào cô bé hoang dã và đơn độc ấy. Lấy vụ án làm trung tâm cuốn sách, tác giả Delia Owens dẫn dắt người đọc khám phá vùng ngập nước hoang sơ và vắng vẻ của bờ Bắc Carolina qua đôi mắt của một đứa trẻ bị bỏ rơi. Đây là tiểu thuyết đầu tay của Delia Owens, được xuất bản lần đầu năm 2018, nhưng đã nhanh chóng chiếm được sự yêu mến của đông đảo độc giả. Cuốn sách đạt được 6 triệu bản bán ra trên thế giới, liên tục đứng trong danh sách bán chạy của New York Times suốt 58 tuần và dẫn đầu mục tiểu thuyết bán chạy của Amazon trong năm 2019. Trên Goodreads, cuốn sách nhận được gần một triệu đánh giá khi 88% độc giả nói rằng mình yêu thích cuốn sách. Trên Amazon, tác phẩm của Delia Owens cũng nhận được hơn 111.000 đánh giá, trong đó có hơn 86.000 đánh giá 5 sao. Delia Owens sinh năm 1949, là tác giả, nhà động vật học người Mỹ. Bên cạnh cuốn tiểu thuyết Xa ngoài kia nơi loài tôm hát, bà còn cùng chồng cũ viết ba cuốn sách về thế giới hoang dã tại châu Phi. Tại Việt Nam, Xa ngoài kia nơi loài tôm hát được dịch giả Trương Hoàng Uyên Phương chuyển ngữ. Theo cô, việc chuyển ngữ tựa đề của cuốn sách là một thách thức lớn, khó nhất là làm sao để người đọc hình dung được một không gian hoang vu và xa vắng, văng vẳng âm thanh rất nguyên sơ của các loài hoang dã. Cuốn sách được viết bằng thứ văn phong đặc biệt, đầy sức sống và hoang dại như tự nhiên, nhưng cũng đầy chất thơ và có sức gợi mãnh liệt. Từ chính nội dung tuyệt đẹp đó, tên sách Xa ngoài kia nơi loài tôm hát đã được ra đời. Dịch giả Uyên Phương cũng đánh giá cuốn sách nổi bật nhất với hai điểm: Cuộc sống khắc nghiệt mà cũng đầy chất thơ của Kya ở đầm lầy và bí ẩn vụ án mạng. Vì Kya gần như phải đơn độc sinh tồn nơi hoang dã, tự nhiên đã trở thành người bạn, người mẹ, người thầy của cô bé. Đó là một thiên nhiên rất đẹp, tráng lệ và huyền bí, trù phú mà khắc nghiệt, tàn nhẫn nhưng lại dịu dàng. Người đọc sẽ dễ dàng bị cuốn hút, ngỡ ngàng, rung động và có lúc rùng mình với những bài học từ thiên nhiên đó. Còn về vụ án mạng trong cuốn sách, dịch giả bật mí rằng, có lẽ độc giả sẽ phải suy nghĩ rất lâu về định kiến cũng như sự phán xét của con người. *** MỞ ĐẦU 1969 Đồng lầy chẳng phải đầm lầy. Đồng lầy là một không gian tràn ánh sáng, nơi cỏ vươn lên trong nước, và nước trôi vào trong bầu trời. Dòng chảy chầm chậm quanh co, mang theo quả cầu mặt trời ra đến biển, và lũ chim chân dài lêu nghêu cất mình vụt lên với sự uyển chuyển không ai ngờ đến – thân hình chúng dường như không được tạo ra để bay lượn – trên nền âm thanh cả ngàn con ngỗng tuyết kêu ran. Rồi trong chính đồng lầy, ở đó đây, đầm lầy đích thực len lỏi vào những vùng trũng thấp, ẩn khuất giữa ẩm ướt đại ngàn. Nước đầm lầy tĩnh lặng và tối tăm, nuốt chửng ánh sáng trong cổ họng bùn nhớp nháp. Trong cái hang đó, cả những loài chuyên lẩn lút về đêm cũng hoạt động ban ngày. Nơi đây cũng có tiếng động, tất nhiên, nhưng so với đồng lầy thì đầm lầy tĩnh mịch hơn hẳn vì sự phân hủy là hoạt động chế ngự tất cả. Sự sống mục nát, bốc mùi và trở về thứ mùn thối rữa; một chốn trầm mình sầu bi của cái chết cho sự sống vươn lên. Vào buổi sáng ngày 30 tháng Mười năm 1969, xác của Chase Andrews nằm trong đầm lầy, cái đầm hẳn sẽ nuốt chửng nó dần dần, lặng lẽ. Vĩnh viễn che giấu nó. Đầm lầy tường tận mọi điều về cái chết, và không nhất thiết coi đó là thảm kịch, chắc chắn chẳng phải là tội ác. Thế nhưng buổi sáng này, hai cậu bé từ ngôi làng đạp xe đến chỗ tháp phòng cháy cũ, và từ chỗ ngoặt thứ ba trên cầu thang đã trông thấy chiếc áo khoác denim của cái xác kia. *** 1952 Sáng ngày hầm hập cái nóng trời tháng Tám, hơi thở ẩm ướt của đồng lầy giăng màn sương mờ lên những nhánh sồi với cành thông. Trảng cây cọ đứng im đến lạ lùng, chỉ có tiếng vỗ cánh trầm trầm, chậm chạp của lũ diệc cất mình lên từ phá nước. Và rồi Kya, bấy giờ chỉ mới sáu tuổi, nghe tiếng cửa lưới sập lại. Đứng trên chiếc ghế cao, con bé ngừng cọ bợn cháo ngô bám trên nồi và để nồi xuống bồn đầy bọt xà phòng đã xẹp. Chẳng còn tiếng động nào nữa ngoài tiếng thở của con bé. Ai vừa ra khỏi lán vậy nhỉ? Không phải má. Má có bao giờ để cửa sập lại đâu. Ấy vậy mà khi chạy ra hiên, Kya lại thấy má trong bộ váy dài nâu, những nếp xếp li nhịp nhịp víu vào mắt cá khi bà bước xuôi dải đường cát trong đôi giày cao gót. Đôi giày mũi bầu giả da cá sấu. Đôi duy nhất để bà mang ra ngoài. Kya muốn gọi to nhưng biết khôn hồn thì chớ có đánh thức ba dậy, vậy là nó mở cửa ra đứng trên bậc thềm gạch ván. Từ chỗ đó, con bé thấy chiếc vali nhỏ màu xanh lam má xách theo. Mọi ngày thì với sự tin tưởng của một chú chó con, Kya biết má sẽ quay về với chút thịt gói trong giấy nâu dính mỡ hoặc một con gà, đầu lủng lẳng chúc xuống. Thế nhưng bà chưa bao giờ mang đôi giày da cá sấu, chưa bao giờ xách theo hành lý cả. Má luôn luôn nhìn lại từ chỗ lối đi nhỏ gặp đường mòn, một tay giơ lên cao, lòng bàn tay trắng nõn nà vẫy vẫy trước khi bà quay lưng bước tiếp, len lỏi qua những khu rừng đầm lầy cùng phá nước khin khít cỏ đuôi mèo, rồi có lẽ nếu con nước gia ơn, cuối cùng bà sẽ ra đến phố. Thế nhưng hôm nay bà không ngoảnh lại mà cứ dấn bước, loạng choạng giữa những vết lún trên đường. Dáng vóc cao của bà thỉnh thoảng hiện ra qua những lỗ hổng giữa rừng, cho đến khi chỉ còn thấy thấp thoáng màu trắng chiếc khăn choàng qua kẽ lá. Kya vụt chạy đến chỗ nó biết con đường sẽ lộ ra; chắc chắn má sẽ dừng lại vẫy tay từ đó, nhưng tới nơi, con bé chỉ kịp thoáng thấy màu lam của chiếc vali trước khi nó mất hút – cái màu sao mà chỏi giữa cánh rừng mướt rượt màu xanh lục. Một cảm giác nặng nề dày đặc như bùn gòn đen chèn lên ngực con bé khi nó quay lại đợi ở bậc thềm. Kya là đứa nhỏ nhất trong đám anh em nhà này, mấy anh chị lớn hơn nó nhiều, mặc dù sau này con bé không nhớ tuổi của họ nữa. Bọn trẻ sống với ba và má, chen chúc nhau như bầy thỏ nhốt chuồng, trong cái lán thô sơ tạm bợ, hàng hiên có lưới che lỏ mắt dòm ra dưới những tán sồi. Jodie, thằng anh gần Kya nhất nhưng vẫn lớn hơn nó bảy tuổi, bước từ trong nhà ra và đứng sau con bé. Jodie có cùng cặp mắt và mái tóc đen của em gái; thằng nhỏ đã dạy con bé bài hát của lũ chim, tên gọi những vì sao và cách lái thuyền qua đám cỏ răng cưa. “Má sẽ về thôi,” thằng anh nói. “Em hông biết. Má mang đôi dày cá sấu đó.” “Một bà má hông bỏ mấy đứa con nhỏ đâu. Điều đó hông nằm trong bản tính của họ.” “Anh kể với em là cáo cái bỏ con của nó mà.” “Ừ, nhưng con cáo đó bị toạc hết chân rồi. Nó xẻ chết đói nếu cố nuôi cả mình dới bầy con nhỏ. Tốt hơn là nó bỏ đám này, dưỡng thương cho lành lại, rồi đẻ thêm khi có thể nuôi tụi nhóc ra hồn. Má thì đâu có đói, má sẽ quay lại.” Jodie không chắc chắn như nó ra vẻ thế, nhưng vẫn nói vậy vì Kya. Cổ họng nghèn nghẹn, con bé thì thầm, “Nhưng má xách theo cái vali xanh như xắp đi xa lắm.” Cái lán nằm tựa vào trảng cọ lùn, vô số cụm cọ mọc rải rác, tỏa khắp bãi cát tới chỗ chuỗi những phá nước xanh, và ở xa xa là toàn bộ vùng đồng lầy sau đó. Hàng dặm lưỡi cỏ cứng cáp đến độ chúng mọc lên cả trong nước mặn, chỉ bị ngắt quãng bởi những thân cây uốn cong đến nỗi chúng mang hình hài cơn gió. Rừng sồi dồn lại quanh những phía khác của cái lán nhỏ, bao bọc lấy phá nước gần đó nhất, nơi mặt nước giàu sự sống đến sục sôi. Bầu không khí trĩu muối và bài ca mòng biển tràn qua hàng cây dạt tới từ biển cả. Từ thế kỷ 16, việc khẳng định quyền sở hữu một vùng lãnh thổ chẳng thay đổi gì mấy. Những khu đồng lầy có chủ rải rác đó đây không được mô tả trên giấy tờ pháp lý, chỉ được vạch ranh giới tự nhiên – một cây sồi chết ở kia, một con lạch đằng này – bởi những kẻ trốn chạy. Người ta đâu có tự dưng dùng cọ dựng chốn nương thân ở đầm lầy, trừ phi đang trốn kẻ nào đó hay đã cùng đường tận lối. Đồng lầy được bao bởi một đường bờ biển bị xé nham nhở, mà những nhà thám hiểm ngày trước gán cho cái tên “Nghĩa địa của Đại Tây Dương” vì dòng chảy rút xa bờ, những luồng gió dữ và bãi cạn sẽ đánh cho tàu thuyền vỡ nát như mấy chiếc nón giấy dọc vùng bờ sẽ trở thành bờ Bắc Carolina. Nhật ký một thủy thủ viết, “vòng quanh bờ biển… nhưng không thấy lối vào… một cơn bão dữ dội ập tới… chúng tôi buộc phải quay ra để giữ cho mình và con tàu được an toàn, và bị xô đẩy dồn dập bởi một cơn sóng dữ… Đất liền… toàn đồng lầy nối đầm lầy, chúng tôi quay về tàu… Làm nản lòng tất cả những ai sau này tìm tới đây cư ngụ.” Những người tìm đất an cư bỏ qua chốn này, và vùng đồng lầy nổi tiếng đây trở thành một tấm lưới, vớt lên một mớ lộn xộn những tay thủy thủ nổi loạn, nạn nhân đắm tàu, con nợ và bọn người trốn chạy khỏi chiến tranh, thuế má hay luật lệ mà họ không ưa. Những kẻ mà bệnh sốt rét không giết chết hay đầm lầy không nuốt chửng sinh ra một bộ lạc người rừng thuộc nhiều chủng tộc và nền văn hóa, mỗi người có thể đốn trụi một khu rừng nhỏ với một cái rìu và vác một con hươu đi hàng dặm. Như lũ chuột sông, mỗi người có riêng một lãnh thổ, nhưng họ phải hòa nhập với cảnh sống ngoài rìa hoặc đơn giản là một ngày biến mất trong đầm tối. Hai trăm năm sau, nhóm này kết nạp thêm những nô lệ bỏ trốn vào đồng lầy và các nô lệ được trả tự do, không xu dính túi và cùng quẫn, tản mát vào vùng đất ngập nước vì chẳng còn bao nhiêu lựa chọn khác. Có lẽ đó là vùng hiểm ác, nhưng không một tấc đất nào nghèo. Tầng tầng lớp lớp sự sống – cua rù rì ngoe nguẩy, tôm hùm đất sủi bùn, hằng hà chim nước, cá, tôm, sò, hươu béo xị, ngỗng mập núc – chất chồng trên đất hay trong nước. Kẻ không ngại lùng sục tìm bữa ăn sẽ không đời nào chết đói được. Bấy giờ là năm 1952, nên đã bốn thế kỷ liền vùng đất bị giành quyền sở hữu bởi một chuỗi rời rạc những người không có sổ sách nào ghi lại. Hầu hết là trước cuộc Nội chiến. Một vài kẻ khác đến chiếm dụng đất gần đây, đặc biệt là sau hai cuộc chiến tranh thế giới, khi những người đàn ông trở về trong tan nát và túng quẫn. Đồng lầy không giam giữ mà định nghĩa con người họ, và như tất cả những vùng đất linh thiêng, chúng giữ cho bí mật của họ được vùi sâu. Họ chiếm đất mà chẳng ai quan tâm vì không ai thèm muốn nó. Dù sao, nó cũng chỉ là thứ bãi lầy hoang. Cũng như cách họ làm lậu rượu whiskey, cư dân đồng lầy đặt ra luật lệ của riêng mình – không giống kiểu luật khắc vào đá hay ghi lên giấy, mà là thứ luật sâu xa hơn, in hằn trong gen họ. Tự nhiên và cổ xưa, như nở ra từ trứng diều hâu với bồ câu. Khi bị dồn vào đường cùng, bí bách, tuyệt vọng hay bị cô lập, con người trở lại với thứ bản năng nhằm thẳng tới sinh tồn. Nhanh gọn và đích đáng. Chúng luôn là những lá chủ bài vì được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thường xuyên hơn loại gen hiền. Đó chẳng phải đạo lý gì, chỉ là phép toán đơn giản. Giữa đồng loại, bồ câu cũng đánh nhau thường xuyên chẳng kém diều hâu. Hôm đó má không về. Chẳng ai đả động gì tới chuyện đó. Ba lại càng không. Bốc mùi cá và nước dùng, ông khua nắp nồi loảng xoảng. “Bữa tối có gì hả?” Mắt cụp xuống, mấy anh chị em chúng nó nhún vai. Ba chửi thề rồi khập khiễng đi ra, trở vào rừng rậm. Đã có nhiều vụ cãi cọ trước đó; má thậm chí đã bỏ đi một hai lần, nhưng lần nào bà cũng quay về, vơ lấy bất kỳ đứa nhỏ nào để ôm ấp. Hai cô chị lớn nấu bữa tối gồm bánh ngô với đậu đỏ, nhưng không đứa nào ngồi vào bàn ăn như chúng sẽ ngồi với má. Mỗi đứa xúc vội đậu từ nồi, trút đại bánh ngô lên trên, rồi lảng đi ăn ở góc của chúng trên thảm trải sàn hay cái sô-pha sờn cũ. Kya không ăn được. Nó ngồi trên bậc thềm trước hiên nhìn xuống con đường. Người cao so với tuổi, gầy trơ xương, con bé có nước da rám thẫm và mớ tóc đen, thẳng, dày như cánh quạ. Màn đêm buộc nó ngừng trông ngóng. Tiếng ếch ồm ộp sẽ vùi đi tiếng bước chân; dẫu vậy, con bé vẫn nằm trên cái giường ngoài hiên, dỏng tai nghe ngóng. Mới sáng hôm đó, nó hãy còn thức dậy trong tiếng mỡ lợn xèo xèo trên chảo sắt và mùi bánh mì sạm nâu trong lò. Kéo cái quần yếm lên người, con bé xộc vào bếp để bày dĩa và nĩa. Nhặt mấy con mọt trong cháo bỏ ra. Hầu như sáng nào cũng vậy, tươi cười, má sẽ ôm lấy nó – “Chào buổi sáng, con gái đặc biệt của má” – và hai má con sẽ làm hết việc này tới việc nọ, thoăn thoắt như múa. Thỉnh thoảng má còn cất giọng hát dân ca hay đọc vài đoạn thơ cho con trẻ: “Chú heo nhỏ đi chợ lon ton.” Hoặc má sẽ đẩy đưa Kya theo điệu jitterbug nhịp dồn, chân họ giẫm bùm bụp lên sàn gỗ dán cho đến khi tiếng nhạc từ cái radio chạy pin dần tắt ngỏm, nghe như nó đang tự hát cho mình nghe dưới đáy một cái thùng tròn. Vào những buổi sáng khác, má lại nói mấy chuyện người lớn mà Kya không hiểu, nhưng con bé đoán rằng lời nói của má cần có chỗ để thoát ra, nên nó thấm lấy từng lời qua da, trong khi tay nhét thêm củi vào lò. Gật gù làm như hiểu rõ. Sau đó là cái nhốn nháo ngược xuôi khi mọi người thức dậy và ăn sáng. Ba không ở đó. Ông chỉ có hai chế độ: im lặng và gào thét. Nên cũng tốt khi ông cứ ngủ, hoặc không về nhà. Thế nhưng sáng nay, má im lặng; nụ cười đánh mất, mắt đỏ hoe. Bà cột thấp ngang trán một cái khăn màu trắng theo kiểu hải tặc, nhưng cái viền thâm tím vàng của một vết bầm vẫn lộ ra. Ngay sau bữa sáng, trước khi chén dĩa được rửa sạch, má đã cho vài món tư trang vào vali và theo lối nhỏ mà đi mất. Sáng hôm sau, Kya lại tới chỗ cũ của nó trên bậc cửa, cặp mắt đen hun hút xoáy xuống con đường như một đường hầm đợi tàu qua. Đồng lầy phía xa bị màn sương bao phủ, sương sà thấp đến nỗi cái gót mềm của nó chạm hẳn xuống bùn. Chân trần, Kya nhịp nhịp ngón chân, xoay xoay ngọn cỏ chọc vào đám ấu trùng kiến sư tử, nhưng một đứa nhỏ sáu tuổi nào có ngồi yên được, chẳng mấy chốc con bé đã la cà tới bãi triều, tiếng nước vỗ liếm láp ngón chân nó. Ngồi xổm bên rìa nước, con bé dõi theo lũ cá tuế vọt qua vọt lại giữa chỗ nắng với chỗ có bóng râm. Jodie cất tiếng gọi Kya từ đám cọ lùn. Con bé nhìn chăm chăm; có lẽ anh nó tới đưa tin mới. Nhưng trong lúc thằng anh len lỏi qua mấy tán lá đầy gai, con bé nhìn dáng đi lững thững của anh và biết má không có ở nhà. “Em muốn chơi thám hiểm hông hả?” Jodie hỏi. “Anh nói anh quá tuổi chơi hám hiểm rồi mà.” “Đâu, anh nói vậy thôi. Hông bao giờ quá tuổi cả. Đua đi!” Hai đứa ùa chạy qua bãi triều, băng rừng cây lao ra bờ biển. Kya ré lên khi thằng anh vọt qua mặt nó và cười nắc nẻ cho tới khi chúng chạy đến chỗ cây sồi lớn chìa ra trên cát những cánh tay khổng lồ. Jodie và anh cả Murph đã đóng vài miếng ván lên cành cây làm đài quan sát và phòng thủ. Giờ thì hầu hết ván gỗ đã sụp xuống, đong đưa một cách nguy hiểm, chỉ dính vào thân cây nhờ mấy cây đinh sét. Thường ngày, nếu Kya có được cho chơi đoàn thám hiểm thì nó cũng phải đóng vai nô lệ, đưa tới cho các anh bánh mì còn nóng lén lấy từ chảo của má. Thế nhưng hôm nay Jodie nói, “Em có thể làm thuyền trưởng.” Kya giơ cao tay phải trong tư thế xông lên. “Đuổi bọn Tây Ban Nha đi!” Hai đứa nhỏ bẻ cây làm kiếm, xộc qua những bụi mâm xôi um tùm, hét váng lên và đâm kẻ thù lia lịa. Rồi – màn tưởng tượng chợt đến chợt tan – Kya bước lại chỗ một khúc cây phủ đầy rêu và ngồi xuống. Im lặng, Jodie đến ngồi cạnh em. Thằng bé muốn nói gì đó để đứa em gái thôi nghĩ về má, nhưng từ ngữ tắt nghẹn, thế là hai đứa lặng ngắm cái bóng loang loáng bơi bơi của lũ gọng vó. Sau khi quay về, Kya trở lại chỗ bậc thềm và đợi thật lâu, nhưng trong lúc nhìn đăm đắm về phía cuối đường, nó không hề khóc. Gương mặt nó bất động, môi mím lại thành một đường mỏng dưới đôi mắt khắc khoải kiếm tìm. Nhưng ngày hôm đó má cũng không trở lại. Mời các bạn đón đọc Xa Ngoài Kia Nơi Loài Tôm Hát của tác giả Delia Owens & Trương Hoàng Uyên Phương (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Em Là Sinh Mệnh Của Anh
- Nhiên chạy nhanh đi con, nhanh lên! Trên con đường mòn ven cánh rừng, người phụ nữ khoảng hơn ba mươi tuổi vừa khóc vừa nói với đứa bé bên cạnh mình, bàn chân chị ta nhuốm đầy bùn bẩn, gai đâm rách toạc cả gấu quần. Bầu trời đêm lạnh buốt, trên trời không có nổi một ngôi sao chỉ có những ánh đèn le lói phía bên kia con đường. Có tiếng bước chân dồn dập phía sau, người phụ nữ không còn giữ được bình tĩnh kéo đứa bé chạy thẳng vào cánh rừng nhưng dù có chạy thế nào chị ta cũng biết mình sẽ không thắng nổi mấy gã đàn ông liền kéo con bé vào một tảng đá. Gió thốc từng cơn vào mặt, mấy giọt nước mắt chưa kịp khô đã tiếp tục lăn xuống trên gò má trắng hồng. Chị ta nhắm nghiền mắt quỳ xuống cạnh đứa bé rồi nói: - Nhiên, con chạy sâu vào trong rừng, cứ thẳng đường này chạy sẽ thấy một ngôi nhà. Ở đó có hai người chờ con sẽ đưa con đến nơi an toàn, chạy nhanh lên! Đứa bé mặc bộ váy trắng, chân đi đôi giày búp bê, khuôn mặt tựa như một cô công chúa thút thít khóc giọng như lạc đi: - Mẹ, con không muốn xa mẹ, mẹ đi cùng con đi mẹ. Còn ba nữa, mẹ bảo ba sẽ đón mẹ con mình mà. Người phụ nữ không kìm được bật khóc nức nở: - Ba con....ba con bị....ba con không còn nữa rồi… Chị ta cố giữ chút bình tĩnh cuối cùng, đẩy đứa bé rồi nói tiếp: - Nhanh đi, con phải sống, con phải sống để trả thù cho ba mẹ. Chạy thẳng vào con đường này, nghe lời mẹ đi con. Con hãy nhớ những kẻ đã hại ba và mẹ, mẹ cầu xin con hãy nghe lời mẹ đi, con phải tiếp tục sống cho bằng được. Đứa bé níu tay người phụ nữ, những giọt nước mắt mặn chát chảy xuống, “Ba con không còn nữa rồi” đủ khiến một đứa bé mười ba tuổi hiểu thế nào là đau đớn tột cùng. - Tại sao vậy mẹ? Tại sao lại hại chúng ta vậy mẹ? Chẳng phải mấy ngày trước chúng ta còn sống hạnh phúc sao mẹ? Tại sao họ lại làm vậy với chúng ta? Chị ta kéo tay đứa bé khỏi tay mình, đưa cho nó một cặp da rồi nói: - Không còn thời gian nữa đâu Nhiên, con chạy đi, nhanh lên, có người sẽ giúp con. Nhanh lên Nhiên, chạy đi. Mẹ cầu xin con đấy, vì ba vì mẹ chạy đi con. Mẹ biết con gái của mẹ mạnh mẽ lắm mà. Chạy đi con! Nói rồi chị ta đẩy đứa bé rồi chạy thẳng về phía những ánh đèn đang tới gần, đứa bé không dám nhìn lại, ôm chiếc cặp da chạy thẳng về phía trước. Nó cứ cắm đầu chạy mải miết, ánh đèn pin cũng khuất dần phía xa. "Đoàng, đoàng.." Tiếng súng nổ từ xa khiến nó giật mình ngoảnh lại chỉ kịp nhìn thấy từ nơi ánh sáng hắt lại, bóng dáng quen thuộc mờ nhạt gục xuống, có tiếng hét lớn dù ở khoảng cách xa vẫn đủ nó nghe được loáng thoáng: - Còn đứa bé, phải bắt bằng được nó! Nó nhìn về phía sau, đau đớn nấc lên. Bàn chân nhỏ bé muốn quay lại ôm chặt người mẹ đáng thương vừa nằm xuống nhưng nó hiểu rằng giây phút này quay lại là tự đâm đầu vào chỗ chết chỉ còn biết chạy về phía trước. Ở ngay phía sau có tiếng hét yếu ớt trong tuyệt vọng: - Chạy đi Nhiên, nhất định phải trả thù cho ba mẹ. Đứa bé bấu chặt hai tay vào nhau, xoay người chạy rất nhanh, không còn tiếng dồn dập phía sau nhưng nó biết những kẻ áo đen vẫn đang lùng sục tìm nó, những giọt nước mắt vẫn mặn đắng trên gương mặt xinh xắn. Nó không còn nghĩ được gì chỉ cắm đầu chạy, mắt đã nhoà đi, trong lòng vẫn đang không ngừng gọi tên người mẹ đáng thương. Đột nhiên có ánh đèn chiếu rọi thẳng vào mặt, nó sợ hãi giật mình, tim đập thình thịch, tiếng thở phát ra rất mạnh, nó không còn giữ được bình tĩnh liền hét lên: - Cút đi! Ánh đèn pin hơi khựng lại, bất chợt tiến lại gần hơn bịt miệng nó rồi kéo ra một góc. Có lẽ chính bản thân nó cũng cho rằng cái sự sống mỏng manh này chẳng còn giữ được trong chốc lát, liền ra sức cắn chặt vào bàn tay đang giữ miệng mình. Chẳng biết nó đã dùng sức lực thế nào chỉ biết đến khi có mùi tanh ngập trong miệng nó mới buông ra, có thứ gì đó ướt át đang chảy trên khoé môi. Là máu! Từng giọt máu chảy xuống ướt cả chiếc váy trắng qua ánh đèn pin trở nên kinh hãi đến đáng sợ, nó chưa kịp định thần lại tiếp tục bị lôi đi. - Lên xe đi, nhanh lên không bọn chúng sắp đến rồi. Giọng nói ồm ồm phía sau mà từ ban nãy vẫn im lặng khiến nó giật mình, lúc này nó mới để ý kỹ người vừa bị nó cắn là một chàng trai khoảng mười tám hai mươi tuổi, dưới ánh đèn mờ nhạt chỉ thấy đôi mắt cậu ta rất sáng. Đứa bé thở hồng hộc, vẫn chưa hết bàng hoàng hỏi lại: - Anh là ai? Không phải do bọn kia sai đến sao? - Không, anh đến để giúp em, mau trèo lên xe anh đưa em đi. Bọn đó sắp đến rồi, nhanh lên! Nó nhìn lên, chiếc xe dream cũ kỹ đang được chàng trai dựng, trên tay vẫn còn vết thương vừa bị cắn máu đang rỉ ra, không còn nghĩ được gì nó liền vội vã trèo lên phía sau xe máy, lúc này đây là sự lựa chọn duy nhất. Chiếc xe nổ máy giòn tan, đứa bé một tay ôm chặt chiếc cặp da, một tay bám chặt vào cậu thanh niên lạ lẫm phó mặc số phận cho ông trời. Phía sau không gian yên tĩnh đến lạ thường, chiếc xe cứ thế tiến về phía trước. "Rầm" một tiếng động lớn phát ra, chiếc xe máy vừa lao thẳng vào một tảng đá không giữ được thăng bằng đổ xuống nền đất, đứa con gái vẫn ôm chiếc cặp, chưa kịp định thần điều gì đang xảy ra chỉ thấy cánh tay đau nhức, nó mở to đôi mắt nhìn, chiếc đèn pin văng ra xa, phía dưới thân nó ấm áp lạ kỳ. Một cánh tay to lớn đang ôm chặt phía bụng nó, cánh tay còn lại che phía trên đầu. Lúc này nó mới phát hiện ra chàng trai vừa nãy lại thêm một lần nữa cứu nó, bất chợt nó thấy một dòng đỏ chảy từ rất nhiều ở chỗ bàn tay vừa bị cắn, ngay tại vết cắn một hòn đá cắm thẳng vào sâu hoắm, vết máu cũ chưa khô vết máu mới lại chảy. Trời đã bắt đầu tờ mờ sáng, nó giương mắt nhìn bàn tay cậu ta hốt hoảng không biết phải làm gì lúc này cúi gằm xuống hỏi một câu thật vô nghĩa: - Anh có sao không? - Em có băng gạc không? Nó ngước đôi mắt to tròn, vẫn ướt long lanh lắc đầu. Cậu ta thở dài nhìn đứa con gái trước mặt hỏi lại một câu không liên quan: - Em năm nay bao nhiêu tuổi rồi? - Em…em…mười ba tuổi. Cậu ta ôm chặt bàn tay rồi nói: - Em cứ đi thẳng về phía trước một đoạn nữa là ra khỏi cánh rừng, chắc bọn đó tạm thời chưa đuổi theo em được nữa vì đường này rất khó tìm. Em đi trước đi! Đứa bé cậu thanh niên trẻ, bất chợt oà lên khóc, lúc này khi bình tĩnh lại nó mới thấy nỗi đau đớn đang gào xé tâm can mình. Cậu ta nhìn nó bối rối hỏi: - Em không sao chứ? - Em…em không còn ai bên cạnh mình nữa rồi. Tất cả đều bỏ em đi…ba em, mẹ em không còn ai nữa… Cậu ta nhìn đứa bé trước mặt, chiếc váy trắng đã nhuốm đầy bùn bẩn, khuôn mặt lấm lem mấy sợi tóc lơ thơ dính lên cả bờ môi nhỏ bé lòng chợt dấy lên nỗi xót xa vô hạn. Phải rồi một đứa trẻ mới mười mấy tuổi vài ngày trước còn đang hạnh phúc bất chợt phải chứng kiến cảnh cả nhà bị truy sát, mẹ bị bắn ngay trước mặt thì làm sao có thể bình tĩnh được? Đột nhiên đứa bé dừng lại, nó lấy miếng băng đô trên đầu rồi nói: - Anh đưa tay đây. Nói rồi đứa bé gái kéo tay cậu thanh niên đặt tấm băng đô lên tay cậu ta cuộn mấy vòng rồi buộc lại, vết thương trên bàn tay đã được băng bó xong, nó liền đứng dậy quệt nước mắt ôm chiếc cặp rồi hỏi: - Bây giờ anh đi đâu? Cậu ta không trả lời mà hỏi lại: - Em định đi đâu? Đứa bé chỉ tay về một góc rồi nói: - Mẹ em bảo em đến ngôi nhà kia, sẽ có người đón em, anh đi cùng em chứ? - Anh không đi được, nhưng đến đây là khá an toàn rồi. Em đi về đó đi, mau lên đi! Đứa bé cắn chặt môi, cúi gằm mặt hỏi lại: - Anh là ai? Tại sao anh lại giúp em vậy? Cậu ta đưa bàn tay còn lại vuốt mấy sợi tóc trên mặt nó rồi nói: - Anh chỉ là người qua đường, thấy em gặp chuyện thì giúp thôi, em đi mau đi, không lại không kịp. Nhanh lên, bay giờ chỉ tạm an toàn thôi bọn nó có thể đến bất cứ lúc nào. - Nhưng sao anh lại giúp em bất chấp cả nguy hiểm? Bọn chúng cũng có thể giết anh mà! - Không sao đâu, chúng không dám giết anh đâu. Em đừng hỏi nhiều nữa, mau đi đi, tìm người em cần có thể giúp em đi, anh chỉ giúp em được thế này thôi. Đứa bé nhìn cậu ta, xoay người bước đi từng giọt nước mắt đau đớn bắt đầu lăn xuống. Có lẽ khi càng bình tĩnh lại, nỗi đau bị giết cả nhà lại càng lớn hơn trong lòng: - Em hãy mạnh mẽ lên nhé, cô gái! Tiếng nói phía sau của cậu làm nó sững lại, nó ngoảnh mặt lại, đôi mắt đỏ hoe mím chặt môi gật đầu: - Cảm ơn anh, nhất định anh sẽ gặp mọi điều tốt lành nhất, em cảm ơn anh rất nhiều! Chàng trai ngập ngừng một lúc rồi hỏi tiếp: - Em có thể cho anh biết tên em không? Nó lấy tay quệt mấy giọt nước mắt rồi trả lời: - Em là Nhiên, Lưu Diệp An Nhiên! Nói rồi nó xoay người lại chạy về phía trước, không kịp nghe câu nói phía sau: - Còn anh tên là Văn, Nguyễn Đình Văn! *** Hà Nội, cuối tháng 4 năm 2016! Trời Hà Nội mới vào dịp đầu hè mà oi bức đến ngột ngạt. Tám giờ sáng, trời đã nắng lên đỉnh đầu, Nhiên cầm tập hồ sơ ngán ngẩm đến tột cùng. Mấy người ngồi xung quanh đang đọc tài liệu chuẩn bị phỏng vấn còn cô lấy bút vẽ vẽ lên tờ giấy trước mặt. Nhiên nhìn cô bé mặc chiếc áo trắng bên cạnh mình, có lẽ cô bé này ít hơn cô một hai tuổi, vẻ mặt non nớt nhưng đầy háo hức. Hơn một năm trước cô cũng từng có nhiều ước mơ, nhiều hoài bão như những người này nhưng đến giờ có lẽ đã quá rã rời mệt mỏi. Không biết cô đã chụp bao nhiêu cái ảnh, làm bao nhiêu hồ sơ, đến bao nhiêu công ty để phỏng vấn nhưng cuối cùng nếu không phải người ta không nhận thì cũng là chưa kịp thử việc xong cũng đã bị đè ép đến mức bỏ việc. Đến giờ phút này chẳng còn chút hứng thú nào với những lần xin việc thế này. Cô thở dài, nếu không phải Quân giục cô đi phỏng vấn ở đây có lẽ cô cũng không thèm đi dẫu biết rằng công ty này là mục tiêu mà bản thân cô đặt ra từ năm ấy. Nhiên chán nản vào nhà vệ sinh, chỉnh lại chút quần áo rồi tô son, nhìn bản thân trong gương bất chợt bật cười. - Này, nghe nói hôm nay Giám đốc đích thân phỏng vấn đấy, anh ta mà phỏng vấn thì… Nhiên nhìn ra ngoài, hai người phụ nữ trạc tuổi cô đang nói chuyện. Người phụ nữ mặc váy đỏ ôm trọn thân hình thanh mảnh tô son bình thản đáp lại: - Thì sao? Đàn ông suy cho cùng cũng là đàn ông, gặp người phụ nữ xinh đẹp thì cũng mềm lòng, huống hồ chúng ta có kinh nghiệm kiểu gì chẳng được vào. Người phụ nữ còn lại mặc bộ đồ công sở, chiếc váy ngắn khoe trọn đôi chân nõn nà lắc đầu đáp: - Thế thì cậu nhầm rồi, tôi được biết giám đốc này cực kỳ khó tính chưa bao giờ vì đối phương là phụ nữ kể cả có đẹp thế nào mà thiên vị đâu. Anh ta rất lạnh lùng và thậm chí trong công việc còn có thể gọi là tàn nhẫn thế nên đến nay đã gần ba mươi tuổi còn chưa có vợ. - Sao cậu biết? - Tôi có bạn làm ở công ty này, cậu ta thường than vãn với tôi mức lương ở đây rất hấp dẫn nhưng công việc rất áp lực vì giám đốc khó tính. Nhưng thật sự tôi rất muốn làm ở môi trường này nên mới rủ cậu đi phỏng vấn vì tôi được biết làm ở đây chỉ cần có năng lực thì đảm bảo sẽ không bị bạc đãi, ở đây rất công bằng không có chuyện cậu là cháu ông này, con ông kia mà sẽ được nhận đâu. Điện thoại của Nhiên bất chợt rung lên tắt ngang cuộc trò chuyện của hai người phụ nữ. Nhiên không dám ngẩng cao mặt cúi xuống ấn nút nghe, là Quân. Cô thở dài bắt máy: - Alo em đây. Đầu dây bên kia nhẹ nhàng hỏi: - Em sắp phỏng vấn chưa? Mấy giờ em về anh chờ cơm? - Sắp đến lượt em rồi, chắc em về sớm thôi. - Vậy anh chờ cơm em nhé. Cố lên nhé, anh tin em sẽ làm được, anh yêu em! Nhiên không dám thở dài, đoạn hội thoại cô vừa nghe lại càng khiến tâm trạng cô tệ hơn bao giờ nhưng lại không dám nói ra vì sợ Quân thất vọng. Anh đã cùng cô tìm việc suốt hơn một năm nay nhưng cuối cùng cũng chỉ là con số không tròn trĩnh. Cô tắt máy ra ngoài phòng chờ ngồi. Mời các bạn đón đọc Em Là Sinh Mệnh Của Anh của tác giả Phạm Vũ Anh Thư.
Vết Thù Hằn Trên Lưng Ngựa Hoang
Trong tác phẩm Vết Thù Hằn Trên Lưng Ngựa Hoang ( 1967 ) nhân vật chính là Hoàng, đờn guitar rất giỏi nên có biệt danh là Hoàng guitar, Hoàng có địa vị cao trong một băng du đãng , sau đó muốn hoàn lương, về mở lớp dạy đàn, nhưng đồng bọn vẫn muốn kéo anh vào những việc bất lương. Ngày cuối vì mong có điều kiện xây dựng tương lai hạnh phúc, anh đã nhận lời làm một phi vụ cuối cùng và bị lộ. Những phát đạn oan nghiệt cắm sâu vào lưng Hoàng như những vết thù đời không bao giờ xoá được và cũng chấm dứt kiếp ngựa hoang. *** Duyên Anh sinh ngày 16 tháng 8 năm 1935 tại Thái Bình Bắc việt mất ngày 6 tháng 2 năm 1997 tại Paris, Pháp (nhằm ngày 29 tết). Ông đã xuất bản năm mươi tác phẩm văn chương. Năm 1975, bị coi như "một trong mười nhà văn nguy hiểm nhất của Việt Nam", chế độ mới cấm ông viết lách và bắt giam không xét xử suốt sáu năm qua các nhà tù và trại tập trung. Ông được tự do nhờ Amnesty International và Pen Club International can thiệp. Vượt biển sang Pháp, ông viết lại và cho xuất bản gần hai mươi tác phẩm, trong đó Un Russe à Saigon và La colline de Fanta do nhà Belfond xuất bản. Báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình Pháp viết nhiều, nói nhiều về ông. Sử gia Piere Chaunu, giáo sư đại học Sorbonne, nhà văn lừng danh coi Duyên Anh là "nhà thơ lớn, vinh quang của quốc gia". Chưa một người Việt Nam nào tạo nổi sự vinh dự cho dân tộc ở tư thế lưu vong như Duyên Anh. Tự tin vào tài năng và sự phấn đấu của chính mình, ông đã bước lên mọi nghịch cảnh, bước qua mọi oan khiên để giành một chỗ đứng trên vũ trụ văn học quốc tế như một tiểu thuyết gia đầy đủ tư cách.   Tác Phẩm Đã Xuất Bản Hoa Thiên Lý (Tập truyện ngắn 1963) Thằng Vũ (Truyện dài 1963) Điệu Ru Nước Mắt (Truyện dài 1963) Giấc Mơ Một Loài Cỏ - Luật Hè Phố 1 (Truyện dài 1965) Con Suối Ở Miền Đông - Luật Hè Phố 2 (Truyện dài 1965) Dzũng Đakao (Truyện dài 1965) Chương Còm (Truyện dài 1965) Dấu Chân Sỏi Đá (Truyện dài 1966) Sa Mac Tuổi Trẻ (Truyện dài 1966) Kẻ Bị Xóa Trong Sổ Bụi Đời (Tập truyện ngắn 1966) Ảo Vọng Tuổi Trẻ (Truyện dài 1967) Cỏ Non (Tập truyện ngắn 1967) Gấu Rừng (Truyện dài 1967) Mây Mùa Thu (Truyện dài 1967) Ngày Xưa Còn Bé (Truyện dài 1967) Trần Thị Diễm Châu - Châu Kool (Truyện dài 1967) Vết Thù Hằng Trên Lưng Con Ngựa Hoang (Truyện dài 1967) Năng Nợ Giang Hồ (Truyện dài 1967) Bồn Lừa (Truyện dài 1967) Chính Trị Giao Chỉ (Thương Sinh, Phóng sự 1967) Đầm Giao Chỉ (Thương Sinh & Gã Thâm, Phóng sự 1967) Rồi Hết Chiến Tranh (Truyện dài 1968) Ánh Mắt Trông Theo (Truyện dài 1968) Thằng Côn (Truyện dài 1968) Trường Củ (Truyện dài 1968) Thơ Văn Búp Bê (Tập truyện ngắn 1968) Tuyển Truyện Tuổi Thơ (Tập truyện ngắn 1968) Đi Tàu Suốt (Thương Sinh, Phóng sự 1968) Yêu Tiền (Thương Sinh & Gã Thâm, Phóng sự 196?) Ánh Lửa Đêm Tù (Tập truyện ngắn 1969) Cầu Mơ (Truyện dài 1969) Mơ Thành Người Quang Trung (Truyện dài 1969) Tuổi Mười Ba (Truyện dài 1969) Mặt Trời Nhỏ (Truyện dài 1969) Tuyển Truyện Duyên Anh (Tập truyện ngắn 1970) Nhà Tôi (Truyện dài 1970) Lứa Tuổi Thích Ô Mai (Truyện dài 1970) Đàn Bà (Truyện dài 1970) Tên Một Loài Hoa Quê Hương (Truyện dài 1970) Giặc Ôkê (Truyện dài 1971) Hưng Mập Phiêu Lưu (Truyện dài 1971) Ngựa Chứng Trong Sân Trường (Truyện dài 1971) Nước Mắt Lưng Tròng (Truyện dài 1971) Áo Tiểu Thư (Truyện dài 1971) Con Thúy (Truyện dài 1972) Phượng Vĩ (Truyện dài 1972) Thằng Khoa (Truyện dài 1972) Về Yêu Hoa Cúc (Truyện dài 1972) Thư Tình Trên Cát (Truyện dài 1972) Bò Sửa Gặm Cỏ Cháy (Tâm bút 1972) Hạ Ơi (Truyện dài 1973) Đêm Thánh Vô Cùng (Tập truyện ngắn 1973) Cám Ơn Em Đã Yêu Anh (Truyện dài 1974) Hôn Em Kỷ Niệm (Truyện dài 1974) Cây Leo Hạnh Phúc (Truyện dài 1974) Tháng Giêng Ngon Như Một Cặp Môi Gần (Tập truyện ngắn 1975) Đồi Fanta (Truyện dài 1982) Sỏi Đá Ngậm Ngùi (Truyện dài 1985) Một Người Tên Là Trần Văn Bá (Truyện dài 1985) Bầy Sư Tử Lãng Mạng (Truyện dài 1986) Một Người Nga ở Sài Gòn (Truyện dài 1986) Thơ Tù (Thơ 1987) Nhánh Cỏ Mộng Mơ (Truyện dài 1987) Quán Trọ Trước Cổng Thiên Đường (Truyện dài 1987) Nhà Tù (Hồi ký 1987) Trại Tập Trung (Hồi ký 1987) Sài Gòn Ngày Dài Nhất (Hồi ký 1988) Nhìn Lại Những Bến Bờ (Hồi ký 1989) Em, Tôi, Sàigòn và Paris (Thơ 1989) Ngược Giòng Chữ Nghĩa (Tâm bút 1991) Ca Dao Quyện Lấy Miếng Ngon Dân Tộc: Nấu Nướng Dân Gian (Tâm bút 1995) Về Với Ca Dao (Tâm bút 1995) Vỡ Lòng Ca Dao (Tâm bút 1995) Những Đứa Trẻ Con Mỹ Hẩm Hiu (Truyện dài 1995) Hồn Say Phấn Lạ (Truyện dài 1996) Tuổi Bướm Sầu (Truyện dài chưa xuất bản) *** Đứa bé vẫn không chịu ăn uống gì. Ly sữa trước mặt nó đã nguội và đóng váng. Nó ngồi xếp chân vòng tròn, đầu tóc rũ rượi, nước mắt nhễ nhãi, mũi chạy xuống miệng. Trông nó giống hệt con búp bê cũ kỹ, bị vất vào xó nhà. Hàng hóa của Du chột đấy. Món hàng đáng giá trăm ngàn. Du chột bắt cóc đứa bé tự chiều hôm qua. Nó đã nhắm con mồi ngót hai tuần lễ. Đứa bé con gái năm tuổi, con một thương gia, học lớp mẫu giáo trường Măng Non. Du chột kết thân với gã đầy tớ, ngày hai buổi đưa, rước đứa bé đi học, về học. Nó cho đứa bé nhiều kẹo bánh nên đứa bé mến nó lắm, Du chột thay chân gã đầy tớ của ông thương gia, dắt đứa bé vô lớp, chào hỏi cô giáo. Rồi cũng chính nó, giờ tan học, xuất hiện sớm nhất, dẫn đưa bé ra khỏi cổng, giao cho gã đầy tớ. Các cô giáo quen mặt Du chột. Gã đầy tớ tin ở lòng tốt, tin ở tình bạn của Du chột, không nghi ngờ điều gì. Vả lại, gã thiếu trí khôn để nghi ngờ. Thuốc lá, cà phê, phở đã làm gã coi Du chột như thứ “mòng” trời run rủi cho gã gặp mà hưởng thụ. Con đường ngắn dần và hết chông gai. Du chột tới trường sớm nửa tiếng, xin phép cô giáo cho đứa bé về đi ăn giỗ. Cô giáo vui vẻ trao đứa bé trong tay Du chột. Nó gọi tắc xi, dẫn đứa bé vào sào huyệt của nó. Du chột đã “chơi” một “vố” thật nhẹ nhàng, bay bướm. Nó qua mặt tất cả. Bọn đàn em phục Du chột sát đất. Chỉ tiếng đồng hồ sau, ông thương gia đã biết tin con mình bị bắt cóc qua máy điện thoại. Du chột, từ một phòng điện thoại công cộng, đặt giá chuộc đúng trăm ngàn. Lối dọa của nó đã cổ điển. “Nếu báo cảnh sát, nó sẽ thủ tiêu đứa bé”. Nó hẹn sẽ “thảo luận” lại. Du chột thừa kinh nghiệm bắt cóc rồi. Vụ này là vụ thứ bảy. Khi những sòng bạc của nó bị “băng” khác trên chân hơn “băng” của nó “xâm lăng” và tước đoạt quyền thu thuế canh gác, Du chột kẹt tiền bạc. Nó nghĩ cách làm tiền khác tức là bắt cóc trẻ con đòi tiền chuộc. Du chột nghiên cứu kỹ lưỡng, vẽ chương trình, kế hoạch tỉ mỉ trước giờ hành động. Trái hẳn với đường lối bắt cóc con nít bán rẻ cho bọn buôn người. Du Chột phải điều tra xem gia đình con mồi của nó có thương con cái không, thương tới mức độ nào. Bố mẹ càng thương con chừng nào, Du chột càng chắc ăn chừng ấy. Nó sẽ lãnh tiền chuộc ngon lành, cảnh sát không hề hay sự tình. Và Du chột đã thành công cả sáu vụ. Đứa bé bỗng lại khóc thét lên. Nhưng cái hầm chứa đồ sa thải của hãng thầu quá rộng, qua kín, tiếng khóc của nó không thoát ra được. Tên gác dan trông coi kho của hãng là đàn em thân tín của Du chột. Ai dám ngờ dưới hầm chứa đồ cũ là nơi giữ con mồi của “băng” Du chột? Tên canh con mồi nằm dài trên chiếc ghế bố nhà binh, gối đầu lên chồng tiểu thuyết kiếp hiệp, tắt vội cái máy thu thanh bỏ túi, ngồi dậy, ngó đứa bé chằm chằm. Mời các bạn đón đọc Vết Thù Hằn Trên Lưng Ngựa Hoang của tác giả Duyên Anh.
Cây Vĩ Cầm Ave Maria
Cô bé 14 tuổi Asuka bắt gặp một cây vĩ cầm phát ra âm thanh kì lạ ở cửa hàng nhạc cụ. Đó là đồ vật của Hannah, cô bé người Do Thái từng là thành viên dàn nhạc ở Trại tập trung Auschwitz. Dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt đến thế nào, Hannah vẫn luôn nghĩ tới bạn bè và không bao giờ quên lòng nhiệt thành dành cho âm nhạc. Tình cảm của Hannah chạm tới cả trái tim của cô bé Nhật Bản Asuka… Một câu chuyện cảm động sinh ra từ một cây vĩ cầm đã kinh qua ngọn lửa chiến tranh, bị vận mệnh bất hạnh trêu đùa.  “Âm nhạc cứu rỗi chúng ta khỏi trái tim tà ác. Chỉ cần tận hưởng âm nhạc một cách đơn thuần, chúng ta có thể vượt qua mọi rào cản ngôn ngữ, quốc gia, thậm chí là cả chiến tranh nữa.”  *** 'Cây vĩ cầm Ave Maria' - tiểu thuyết về cô bé thoát chết trong Thế chiến. Sách của tác giả Nhật là bản hòa tấu giàu cung bậc cảm xúc, khắc họa tình người, tình yêu âm nhạc trước cuộc sống khốc liệt. Một nghệ sĩ dương cầm tưởng chừng đã lọt vào cửa tử khi bị tên lính Đức phát hiện ẩn náu trong những tòa nhà đổ nát. Cuối cùng, anh bất ngờ thoát chết khi chơi một nhạc khúc trên cây dương cầm bị bỏ quên. Dù trong phút tử sinh, bản nhạc vẫn nhẹ nhàng và thanh khiết, lay động tâm hồn tên lính. Đó là một trong những cảnh kinh điển của phim The Pianist, tác phẩm điện ảnh nổi bật về Thế chiến thứ hai. Một phân cảnh nhỏ đủ để thấy sức mạnh không lời nhưng mãnh liệt của những giai âm đánh thức phần "người" trong mỗi chúng ta. Cùng lấy đề tài âm nhạc trong thời kỳ Thế chiến thứ hai khốc liệt và u tối trong lịch sử nhân loại, sách Cây vĩ cầm Ave Maria là bản hòa tấu giàu cung bậc cảm xúc, khắc họa rõ nét tình người và tình yêu âm nhạc khi người ta đối mặt với cái chết. 300 trang truyện có lối kể gần gũi, giàu tính nhân văn. Câu chuyện khởi nguồn từ cây vĩ cầm đỏ mang tên Ave Maria do cô bé Nhật Bản Asuka được cho mượn trong cửa hàng bán nhạc cụ. Để tìm lại nguồn vui, động lực tập luyện violin nghiêm túc, Asuka và chủ cửa hàng nhạc cụ quyết định tới gặp Paul Kanzas, chỉ huy dàn nhạc người Ba Lan, cũng là nhạc công có cơ duyên quen được người chủ trước đó của cây đàn - cô bé Hannah. Ngẫu nhiên Hannah cũng 14 tuổi, bằng đúng tuổi Asuka. Qua lời kể của ông Kanzas, độc giả lùi lại thời quá khứ để lắng nghe số phận đặc biệt của "thiên thần nhỏ" Hanna. Dù lọt vào chốn địa ngục trần gian; cả gia đình từ ông, bà, cha, mẹ, em trai đều bị phát xít tàn sát, sống trong sợ hãi nơm nớp hàng ngày ở Trại tập trung Auschwitz, cô bé vươn lên mạnh mẽ nhờ vào tình yêu vô bờ và thuần khiết với âm nhạc. Cây vĩ cầm Ave Maria không né tránh những sự thật đau lòng của hiện thực, mà khắc họa chúng tiết chế nhưng đầy đủ. Đó là khi chị gái của Hannah dù khuyết tật vẫn bị quân Gestapo bắn chết, là lúc ông em và cả em trai Andrew chưa đầy 5 tuổi bị đưa vào phòng hơi ngạt, là hình ảnh những người lao động bị đem ra làm trò tiêu khiển cho lính Đức để rồi cuối cùng không thoát khỏi thảm cảnh bị trừng phạt... Suốt tác phẩm, âm nhạc vẫn nổi lên như một "nhân vật chính", cho độc giả quyền tin vào một "Das Beste Leben" (Cuộc sống tuyệt vời - cụm từ được khắc trên thân đàn). Liệu âm nhạc có đủ sức mạnh để giúp con người vượt trên mọi nghịch cảnh? Đó là câu hỏi khiến người đọc phải trăn trở xuyên suốt tác phẩm. Ở đây, những bản nhạc không lời, được thể hiện qua cây violin và cả nhiều nhạc cụ khác đôi khi đã phải "đứng chông chênh" trên "bờ vực phán xét". Có những lúc, âm nhạc vang lên trong hoàn cảnh đầy đau đớn, xót xa. Khi cả nhà Hannah bị bắt đến Trại tập trung, em nghe thấy bản Tiếng Xuân. Điều khiến sau này em vẫn còn bị ám ảnh mãi, ngay cả khi hòa bình lập lại. Âm nhạc thậm chí từng bị coi là đóng vai trò "ru ngủ" những người lao động và dàn nhạc trong trại tập trung bị cho là những kẻ bợ đỡ quân Gestapo để mưu cầu sự sống. Thậm chí, có những bản hành khúc được chơi trong khi quân Đức thảm sát người Do Thái, tưởng chừng đã trở thành một "vết sẹo tinh thần" mãi mãi trong tâm trí cô bé 14 tuổi. Khi được trở về với cuộc sống bình thường, em đã trốn tránh thực tại, phải trị liệu tâm lý nhiều lần vì không dám nghe chúng. Nhưng cuối cùng, âm nhạc vẫn thể hiện được sứ mệnh của nó. Từ đầu đến cuối, âm nhạc là sợi dây kết nối con người, thậm chí là những người thuộc về hai phe đối lập, mở ra cánh cửa tưởng chừng xây bằng đá và đã đóng mãi mãi như trái tim của những tên lính Đức Quốc xã. Âm nhạc là "chìa khóa" cho ngục tù theo cả nghĩa đen, và nghĩa bóng: Ngục tù tâm hồn, giúp cho Hannah và những người trong dàn nhạc của em vươn lên mãnh liệt trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Đúng như những gì nhân vật của tác phẩm đã khẳng định: "Âm nhạc sẽ cứu rỗi con người khỏi trái tim tà ác. Chỉ cần tận hưởng âm nhạc một cách đơn thuần, chúng ta có thể vượt qua mọi rào cản ngôn ngữ, quốc gia, thậm chí là cả chiến tranh nữa". Tác phẩm của nhà văn nữ Kagawa Yoshiko đã tiếp cận những trang đau thương nhất của lịch sử nhân loại bằng cách thức giàu cảm xúc và nhân văn. Sách truyền thông điệp về tình yêu giữa con người với nhau và với âm nhạc, từ đó "đánh thức" động lực tìm hiểu về lịch sử, niềm đam mê với âm nhạc của thế hệ trẻ. Ấn phẩm của nhà văn nữ Kagawa Yoshiko đã đoạt giải vàng Huân Chương Sakura, giải thưởng thường niên của Hiệp hội thư viện trường học Nhật Bản. Năm 2014, sách được chọn làm đề tài cho cuộc thi viết cảm tưởng về các tác phẩm văn học dành cho thanh thiếu niên Nhật Bản. Tô Lệ Trân *** [REVIEW SÁCH] Tiểu thuyết: CÂY VĨ CẦM AVE MARIA (Yoshiko Kagawa) By LiLybook Hôm trước có rất nhiều bạn hỏi xin review nên hôm nay mình xin phép review cuốn Cây vĩ cầm của Ave Maria ạ. Theo cảm nhận của mình thì cuốn sách này cũng giống như một bản nhạc hòa tấu, có khúc dạo đầu, có khúc trung gian và có khúc vĩ thanh. Đôi lúc “bản nhạc” êm ái du dương, lúc lại cao trào mãnh liệt, lại có lúc trầm bổng diệu kỳ. Xem xong review các bạn thích thì mua, hong thích thì cũng mua luôn nha, đáng đọc lắm đó, à còn nữa xem xong review các bạn nhớ rate cho mình 5 sao nghen, mình cảm ơn các bạn rất nhiều Đối tượng đọc Phù hợp với mọi lứa tuổi và mọi mục đích ^^ (ngoài các bạn yêu sách ra thì cũng có các bạn đọc sách, truyện để giết thời gian đúng không nè) Mình khuyến khích các bà mẹ nên mua cho con mình đọc vì cuốn sách này mang tư tưởng nhân văn cao đẹp, giúp nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ, dạy chúng các phân biệt thiện ác và đúng sai, biết tuyên dương và noi gương cái thiện, lấy cái thiện làm kim chỉ nam trong cuộc sống, biết lên án và loại bỏ cái ác, cái xấu, yêu hòa bình, yêu đất nước quê hương mình. Tóm tắt nội dung sách “Bản Ave Maria cô chơi tại sao lại khác biệt như thế…?” “Vì bản nhạc này đang rửa trôi tội ác tày trời của chúng ta.” “Ờ… Có lẽ là vậy đó…” Câu chuyện bắt đầu từ cô bé Asuka 14 tuổi, dù được học violin từ nhỏ nhưng Asuka luôn thờ ơ với tương lai của mình, hầu như chẳng có một chút động lực nào khiến cô bé ao ước được làm một thứ gì đó. Chuyện là như vậy cho đến khi định mệnh khiến Asuka gặp được cây vĩ cầm Ave Maria và tình cờ được biết về quá khứ của nó. Chủ nhân cũ của cây vĩ cầm này là Hannah, một thiên tài âm nhạc, một trái tim quả cảm đã từng sống sót qua ngọn lửa của chiến tranh. Đó là vào một ngày mùa đông năm 1933, Đảng đứng đầu Nghị viện Đức lúc bấy giờ là Đảng Quốc Xã đã bổ nhiệm người lãnh đạo Đảng – Hitler lên làm Thủ tướng Đức. Từ ngày đó, cánh cửa địa ngục như mở ra, không chỉ người Do Thái mà cả người Ba Lan, Liên Xô cũng đều phải trải qua một thời kỳ đau thương của lịch sử. Hitler cho rằng người Do Thái là nguyên nhân khiến Đức thất bại trong chiến tranh thế giới thứ nhất. Chính vì vậy, “cuộc thảm sát” người Do Thái diễn ra. Gia đình Hannah cũng trở thành nạn nhân của chính trị và bị bắt tới Trại tập trung Auschwits. Tại đây, nhờ tài năng âm nhạc của mình, Hannah được xếp vào dàn nhạc mà không phải lao động khổ sai. Em và dàn nhạc bị quân đội Đức bắt chơi nhạc ở gần các lò thiêu sống để nhấn chìm đi những tiếng thét đau đớn của người lao động vô tội, để che dấu đi tội ác man rợ của chúng. Nhờ sức sống mãnh liệt, can trường, cô bé may mắn được nhìn thấy tự do một lần nữa, nhưng gia đình em thì không thể. Những gì đã xảy ra có lẽ đã trở thành nỗi ám ảnh to lớn trong tâm hồn Hannah. Tại sao nên đọc… Đề tài chiến tranh luôn là đề tài lấy được nhiều cảm tình và nước mắt của độc giả. Mặc dù câu chuyện về Hannah và cây vĩ cầm chỉ là những phần hư cấu giả tưởng của tác giả nhưng những sự kiện lịch sử vẫn luôn là sự thật. Giá mà tác giả khắc họa mạnh mẽ và lên án rõ rệt hơn nữa những tội ác mà phát xít Đức đã gây ra thì tác phẩm chắc chắn sẽ thật sự tuyệt vời. Cuốn sách khiến ta biết về những hậu quả tàn khốc của chiến tranh, những người đã ngã xuống, và cách thế giới đã vận hành như thế nào, để chúng ta biết trân trọng hòa bình của hiện tại. Nhắm mắt lại, bạn có nghe thấy tiếng gào thét của những con người vô tội bị đưa vào làm vật thí nghiệm, của những người lao động khi bị ném vào lò hỏa thiêu hay những tiếng khóc ai oán của sự chia ly… chúng hòa vào những cột khói, len lỏi trong từng giai điệu của bản nhạc, đau thương mà thảm khốc. Hình ảnh Hannah ngồi chơi bản Ave Maria lần cuối cùng giữa cánh đồng hoa anh túc đang nở rộ sau khi Trại tập trung được giải phóng, gương mặt em nở một nụ cười mãn nguyện đã khắc sâu vào tâm trí của mình. Ổn rồi, Hannah bé nhỏ. Trái tim em chẳng còn bất kỳ hận thù hay đớn đau nào nữa… Em đã hoàn thành sứ mệnh của mình Đánh giá của độc giả Theo cá nhân mình thì đây là một tác phẩm rất đáng để đọc, nó mang ý nghĩa và tư tưởng nhân văn cao cả, một khát vọng, sức sống tìm tàng và tâm hồn cao đẹp, nghệ sĩ của nhân vật chính, rất thích hợp cho các bé nhỏ đọc nhất là các bé đang ở độ tuổi phát triển tâm hồn (từ lớp 3 trở đi) để từ đó hình thành nên lòng nhân ái, tình thương người và nhận thức thiện ác ở các bé, ngoài ra còn giảm việc các bé mãi mê chơi game, thay vì chơi game thì việc đọc sách tốt hơn nhiều Mời các bạn đón đọc Cây Vĩ Cầm Ave Maria của tác giả Kagawa Yoshiko & Nguyễn Hồng Vân (dịch).