Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Cuộc Đời Chìm Nổi của Thuyền Trưởng Blood

Cuộc đời ba chìm bảy nổi với nhiều bi kịch éo le của Peter Blood trên sóng nước Đại Tây Dương thế kỷ 17 đã được Rafael Sabatini (1875 – 1950) kể lại trong nhiều thiên truyện hấp dẫn. Một trong số những thiên truyện ấy là bộ tiểu thuyết lịch sử có tính phiêu lưu mà các bạn có trong tay.  Từ một thầy thuốc trị bệnh cứu người, số phận suýt đưa chàng lên giá treo cổ, sau đó lại đẩy chàng sang Barbados làm nô lệ, rồi buộc chàng làm cướp biển trái với ý muốn. Tuy vậy, chàng vẫn tâm niệm diệt trừ cái ác. Điểm tựa nhân ái trong lòng chàng là mối tình éo le với Arabella Bishop, cháu gái kẻ tử thù của nàng…  *** Nói đến R.Sabatini, người ta thường coi ông là chàng hiệp sĩ cuối cùng của thể loại tiểu thuyết "áo choàng và thanh kiếm". Lựa chọn cho mình làm đề tài sáng tác duy nhất một thể loại văn học đã đến buổi hoàng hôn, Sabatini hầu như bị che khuất bởi ánh hào quang của các bậc tiền bối như Dumas, Scott. Ngày nay có lẽ ít ai ngờ nổi ông là một trong những tác giả nổi tiếng và được hâm mộ nhất khi còn sinh thời, và những cuộc phiêu lưu do ngòi bút của ông viết ra không chỉ làm say mê bạn đọc mà còn gây cảm hứng rất lớn cho sự ra đời của hàng loạt phim điện ảnh về đề tài phiêu lưu cướp biển. Tên của Sabatini là một đảm bảo thành công về thương mại đến mức bất chấp nội dung khác hẳn, hai cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của ông "The Sea Hawk" và "The Black Swan" đã được đặt cho hai bộ phim khá nổi danh của Hollywood những năm 40. Ảnh hưởng của ông thậm chí còn kéo dài đến sau này, đến tận những năm 60. Tới mức khi bộ phim kiếm hiệp Pháp "Le capitan" được trình chiếu ở nước Anh, nhà phát hành đã công nhiên sửa tên phim thành "Captain Blood" để lôi khán giả đến rạp. Tuy thế, con đường đến với thành công của nhà văn mang trong mình hai dòng máu Italia và Anh này không hề dễ dàng. Ra đời năm 1875 tại Italy, con trai của hai ca sĩ opera, thậm chí hình như còn là con ngoài giá thú, số phận ngoài đời của ông cóp lẽ cũng là một lý do khiến sân khấu, các nghệ sĩ cũng như thân phận của những đứa con ngoài giá thú thường xuyên xuất hiện trong các câu chuyện của ông. Thời gian dài học trường nội trú ở Thụy Sĩ, những năm theo cha mẹ đến Bồ Đào Nha nơi hai người mở trường dạy thanh nhạc cuối cùng đã giúp Sabatini sử dụng thành thạo năm thứ tiếng và được tiếp xúc trực tiếp với con người, tập quán của nhiều nền văn hóa khác nhau. Nhưng ảnh hưởng sâu đậm nhất đến văn nghiệp của ông sau này có lẽ là thời gian sống cùng ông bà ngoại tại nước Anh. Có lẽ tình yêu từ tấm bé dành cho quê ngoại là một lý do khiến Sabatini tuyên bố "tất cả các câu chuyện hay nhất từ trước tới giờ đều viết bằng tiếng Anh" và chọn tiếng Anh làm ngôn ngữ sáng tác của mình. Năm 17 tuổi, cha của Rafael gửi chàng thanh niên tới nước Anh,nơi theo ông có nhiều cơ hội nhất để chàng trai lập nghiệp trong ngành thương mại. Thế nhưng Sabatini lại chọn nghề cầm bút. Bắt đầu từ những năm 90 của thế kỷ 19, Rafael bắt đầu thử sức mình, đầu tiên với nghề viết kịch - một thất bại hoàn toàn, sau đó ông chuyển sang viết truyện ngắn nhưng cũng chỉ thu được những thành công hạn chế. Bắt đầu từ năm 1902, năm Sabatini cho ra đời tiểu thuyết phiêu lưu đầu tiên của mình "Người tình của Yvonne", một cuốn sách chịu ảnh hưởng rất rõ của Dumas và tiểu thuyết Pháp, nhà văn dường như cuối cùng cũng đã tìm ra sở trường của mình. Ông sẽ tiếp tục trung thành với thể loại này tới cuối đời với tốc độ sáng tác đáng nể: hầu như một đầu sách mỗi năm trong thời kỳ sung sức. Thế nhưng những tiểu thuyết đầu tiên của Sabatini ra đời trong giai đoạn trước chiến tranh thế giới thứ nhất cũng chỉ thu hút được sự chú ý khá hạn chế của độc giả.  Có lẽ vào thời kỳ tốt đẹp (Belle époque - 1894-1913) ấy, tại các nước châu Âu, nước Anh hơn đâu hết, những tiểu thuyết thuộc địa pha lẫn màu sắc chinh phục "khai hóa văn minh" với những bí ẩn nửa thực nửa hư như của H.R.Haggard phù hợp với khẩu vị người đọc hơn. Cuộc tàn phá khủng khiếp 14 - 18 làm người phương Tây nhận ra một cách kinh hoàng mặt trái của khoa học kỹ thuật, và người ta tìm cách quên đi vết thương chiến tranh còn rỉ máu bằng cách quay lại với những thời quá khứ xa xưa mà lúc đó trở nên thơ mộng, lãng mạn hơn bao giờ hết. Trong hoàn cảnh đó, cuốn tiểu thuyết lấy bối cảnh cách mạng Tư sản Pháp "Scaramouche" (1921) trở thành một thành công quốc tế. Tên tuổi của Sabatini bắt đầu được biết đến rộng rãi, gần hai mươi năm sau khi ông bắt đầu cuốn tiểu thuyết đầu tiên của mình! Một năm sau, "Captain Blood" xuất hiện, được đón chào thậm chí còn nhiệt liệt hơn nữa. Chàng cướp biển kiêm thầy thuốc này đã được số phận lựa chọn để trở thành nhân vật được yêu thích nhất của Sabatini. Nói đến Sabatini bất cứ ai cũng nhớ ngay đến Blood, cũng như Doyle luôn đi liền với Sherlock Holmes vậy. Trong cơn nhiệt thành, một loạt tác phẩm trước đó của Sabatini cũng được tái bản lại, nhưng có lẽ chỉ có "The Sea Hawk", cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông về đề tài cướp biển được xuất bản lần đầu năm 1915 và chẳng được mấy ai để ý đến, là có được thành công ngang ngửa với "Captain Blood" và "Scaramouche".  Thậm chí với nhiều độc giả trung thành của ông, đây mới là tác phẩm "hay nhất" của Sabatini. Sau những trang giấy đến lượt màn bạc. Ngay từ thời kỳ phim câm, "The Sea Hawk" (1924) đã được đưa lên màn ảnh lớn. Nhưng thành công nhất trong số nhiều chuyển thể điện ảnh (với mức độ trung thành khá khác nhau so với nguyên tác) là bộ phim "Captain Blood" công chiếu năm 1935. Bộ phim đã lần đầu tiên đưa lên màn bạc bộ đôi Errol Flynn (Blood) và Olivia de Haviland (Arabela Bishop), một bộ đôi sau đó đã đi vào huyền thoại của Hollywood. Bên cạnh hàng chục tiểu thuyết phiêu lưu lấy bối cảnh lịch sử từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19 và địa điểm trải rộng khắp Tây Âu, Bắc Phi thậm chí cả châu Mỹ, Sabatini còn cho ra đời ba tập "Chuyện kể giải trí về những đêm lịch sử" kể lại những vụ án, những bí ẩn nổi tiếng trong lịch sử châu Âu. Bên cạnh những tập sách ít nhiều mang tính tiểu thuyết hóa này, hiển nhiên chịu nhiều ảnh hưởng từ "Những tội ác trứ danh" của Dumas, Sabatini còn là tác giả của một tập sách danh nhân " Những cuộc đời anh hùng", cùng hai cuốn tiểu sử "Cuộc đời của Cesare Borgia" và "Toquemada và Tôn giáo pháp đình Tây Ban Nha". *** Cử nhân y khoa Pitơ Blood vừa phì phèo tẩu thuốc vừa cúi xuống mấy chậu trúc quì đang đơm hoa trên bệ cửa phòng mình trông ra đường Oatơ ở thành Britgiơoatơ. Blood không nhận thấy những ánh mắt đầy vẻ chê trách đang dõi theo mình từ khung cửa sổ bên kia đường. Chàng mê mải chăm hoa và chỉ xao nhãng một chút khi dòng người lũ lượt tràn qua khu phố hẹp. Từ sáng đến giờ, dòng người ấy đã hai lần kéo qua những đường phố của thị trấn ra khu bãi trước lâu đài, nơi trước đó không lâu, Fơguxơn, cha tuyên uý của quận công, vừa đăng đàn thuyết giảng, nặng phần kêu gọi con chiên bạo loạn hơn là khuyên răn họ kính Chúa. Ðám người nhốn nháo ấy phần lớn là đàn ông, ai nấy đều giắt một nhánh cây tươi trên vành mũ và mang theo đủ thứ vũ khí linh tinh. Của đáng tội, cũng có vài người vác súng săn, số khác thậm chí còn có cả kiếm, nhưng nhiều người chỉ vũ trang bằng gậy gộc, còn phần lớn thì tha theo những cây lao to kệch, chữa lại từ những cái phảng hái cỏ, nom dữ tợn ra phết nhưng khó mà dùng để đánh nhau được. Trong đám quân ô hợp ấy có đủ cả: thợ dệt, thợ nấu bia, thợ mộc, thợ rèn, thợ đẽo đá, thợ nề, thợ giày và đại diện của những nghề nghiệp bình dị khác nữa. Thành Britgiơoatơ cũng như Taonơtơn, đã huy động hầu hết đàn ông của mình đi theo lá cờ của vị quận công con hoang. Ai còn cầm nổi vũ khí mà định lẩn tránh không tham gia cuộc dấy loạn, thì kể như người ấy đã tự mình đeo lấy tiếng là kẻ hèn nhát hoặc tín đồ Công giáo La Mã. Tuy vậy, Blood, một người chưa từng biết đến sự hèn nhát và cũng chỉ nhớ mình là người Công giáo La Mã lúc nào thấy cần mà thôi. Không chỉ cầm được vũ khí mà còn biết sử dụng nó rất thành thạo, nhưng trong buổi chiều tháng bảy ấm áp ấy chàng lại đang chăm chút mấy giò trúc quì và phì phèo tẩu thuốc với một vẻ phớt đời như thể xung quanh chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Ðã thế thỉnh thoảng chàng lại còn ném theo đám người hừng hực máu quyết chiến kia một câu thơ của Hôraxơ, nhà thơ mà chàng yêu thích: “Ði đâu, đi đâu, hỡi lũ người mất trí?”. Ðến đây chắc bạn đã bắt đầu đoán được tại sao Blood, một người mang trong mình dòng máu nhiệt tình, quả cảm của bà mẹ vốn xuất thân từ dòng họ những kẻ lang bạt hải hồ ở miền Xomơxetsiơ, mà lại có thể bình chân như vại giữa lúc cơn bạo loạn điên rồ đã lên đến cực điểm: tại sao cái tâm hồn đầy biến động, đã một lần vứt bỏ nghiệp đèn sách mà ông bố bắt ép kia, lại vẫn dửng dưng khi xung quanh đang nhộn nhạo lên như thế. Bây giờ thì bạn đã biết những người đang vội vã đi theo cái gọi là ngọn cờ tự do, sản phẩm thêu thùa của bàn tay các cô gái đồng trinh thành Taonơtơn và các cô môn đồ của tiểu thư Blâykơ và bà Maxgrôf trong các trường nội trú, được Blood liệt vào loại nào. Các cô gái hồn nhiên ấy đã xé đồ tơ lụa của mình, như trong các trường ca dân gian vẫn kể, để may lên những lá cờ cho quân đội của Mônmút. Câu thơ Hôraxơ mà Blood khinh bỉ ném theo đám người đang chạy trên phố đã tỏ rõ thái độ của chàng lúc ấy. Tất cả bọn họ dưới con mắt của Blood chỉ là một lũ ngu ngốc và điên rồ đang hối hả đi đón nhận cái chết dành cho mình. Số là Blood đã biết quá rõ về quận công Mônmút và mẹ y - một người đàn bà da ngăm ngăm xinh đẹp - nên chẳng thể tin được huyền thoại về sự hợp lẽ trong tham vọng của quận công đối với ngai vàng Anh quốc. Chàng đã đọc những bố cáo vô lý dán đầy rẫy ở Bitgiơoatơ, ở Taonơtơn và những nơi khác, rằng “.. khi đấng quân vương Sáclơ II của chúng ta băng hà, ngôi vua Anh quốc, Xcốtlen, Pháp và Ailen cùng tất cả các thuộc quốc và thuộc địa phải được truyền lại cho quận công xứ Mônmút là Giêmx vinh quang và cao quí, con trai và là người kế vị hợp pháp của đức tiên vương Saclơ II”. Bản bố cáo ấy đã làm chàng buồn cười, cũng như đoạn chua thêm ở dưới: “Quận công xứ Yooc là Giêmx đã ra lệnh đầu độc tiên vương và sau đó đã chiếm đoạt ngôi báu”. Thậm chí Blood không dám nói chắc trong hai tin ấy thì tin nào dối trá hơn. Một phần ba cuộc đời chàng đã sống ở Hà Lan, nơi trước đó ba mươi sáu năm gã Giêmx Mônmút bây giờ đang tự nhận rằng được đấng chí tôn lựa chọn làm vua Anh quốc, Xcôtlen vân vân và vân vân kia ra đời. Blood biết rõ cha mẹ thực sự của Mônmút. Quận công không những không phải là con trai hợp pháp của ông vua quá cố, là giọt máu của cuộc hôn nhân bí mật giữa ông ta với Liuxy Oantơx, mà chưa chắc đã là con ngoài giá thú của ông ta nữa kia. Những tham vọng ngông cuồng của y còn có thể đem lại cái gì khác ngoài bất hạnh và tàn phá? Làm sao có thể hy vọng rằng đất nước sẽ tin vào chuyện bịa đặt đó kia chứ? ấy thế mà một số nhân vật có thế lực của đảng Whig đã theo nhau dấy binh khởi loạn. - “Ði đâu, đi đâu, hỡi lũ người mất trí?” Blood giễu cợt thốt lên, nhưng liền ngay đó chàng lại thở dài. Như phần lớn những người biết suy nghĩ độc lập chàng không thể đồng tình với cuộc bạo động ấy. Biết suy nghĩ độc lập là do cuộc đời đã dạy chàng. Một người mềm lòng hơn, nếu có được những nhận thức và quan điểm của chàng, thì chắc chắn đã tìm thấy không ít lý do để đau lòng khi trông thấy đám đông những tín đồ Tin Lành cả tin và hăng máu đang lao đi như đàn cừu lao vào lò sát sinh kia. Họ được những bà mẹ, những người vợ, con cái, người tình tiễn đưa ra nơi tập trung - là khu bãi đằng trước lâu đài. Họ bước đi, lòng vững tin rằng vũ khí trong tay họ sẽ bảo vệ lẽ phải, tự do và đức tin. Cũng như tất cả mọi người ở Bitgiơoatơ, Blood đã biết rõ ý định của Mônmút sẽ mở trận đánh ngay trong đêm nay. Quận công sẽ thân chinh cầm đầu cuộc tập kích bất ngờ vào quân đội của nhà vua do Favơsem chỉ huy, đang hạ trại gần Xegiơmua. Blood hầu như tin chắc rằng lord Favơsem đã biết rõ ý đồ đối phương. Thậm chí cứ cho là dự đoán đó của Blood có sai lầm đi nữa thì chàng vẫn có đầy đủ cơ sở để tin chắc như vậy, bởi vì khó mà nghĩ rằng chủ tướng của quân sĩ triều đình lại không biết bổn phận của mình. Gõ tàn thuốc trong tẩu ra, Blood rời khỏi cửa sổ và định đóng cửa sổ lại, thì đúng lúc ấy chàng nhận thấy từ khuôn cửa sổ ngôi nhà bên kia đường những ánh mắt hằn học của chị em nhà Pit, những cô gái dễ thương đa sầu đa cảm, những người hâm mộ cuồng nhiệt nhất anh chàng Mônmút kẻng trai ở Bitgiơoatơ. Blood mỉm cười và gật đầu chào các cô gái mà chàng vẫn có quan hệ tốt, thậm chí có dạo chàng đã chữa bệnh cho một cô. Ðáp lại cử chỉ thân thiện của chàng là cái nhìn lạnh lùng và khinh thị. Nụ cười vụt tắt trên đôi môi mỏng của Blood, chàng đã hiểu ra nguyên nhân sự thù địch cứ ngày một lớn dần của chị em nhà bên ấy, từ lúc chàng Mônmút chuyên làm điên đầu những người đàn bà thuộc mọi lứa tuổi kia xuất hiện. Phải, chắc chắn chị em nhà Pit lên án thái độ của Blood. Họ cho rằng chàng trai khoẻ mạnh và dày dạn chiến trận này đáng ra có thể giúp ích cho sự nghiệp chính nghĩa, thế mà vào cái ngày quyết định như thế này, anh ta lại bàng quan đứng ngoài, bình thản hút tẩu và chăm hoa, khi tất cả mọi người đang náo nức đi theo vị hiệp sĩ bảo vệ nhà thờ Tin Lành, thậm chí sẵn sàng hiến dâng cho ngài cả cuộc đời mình, miễn sao ngài được ngự trên cái ngôi báu thuộc về ngài một cách hợp pháp ấy. Nếu có dịp thảo luận về vấn đề này với chị em nhà Pit, thì chàng sẽ bảo cho họ biết rằng sau khi đã lang bạt khắp gầm trời, đã trải qua nhiều cuộc phiêu lưu, bây giờ chàng muốn theo đuổi cái công việc mà chàng đã được học hành từ bé. Có thể chàng sẽ bảo họ rằng chàng là thầy thuốc chứ không phải chiến binh, là kẻ chữa cho người ta sống chứ không phải giết người ta chết. Tuy vậy, Blood đã biết trước họ sẽ trả lời chàng ra sao. Họ sẽ nói thẳng vào mặt chàng rằng, lúc này bất kỳ một người nào tự coi mình là đàn ông đều nhận thấy nghĩa vụ phải cầm vũ khí. Họ sẽ lấy cậu cháu Jêrêmy của họ - một thuỷ thủ, người cầm lái của một chiếc tàu buôn mà điều thật không may cho cậu ta là nó vừa bỏ neo ở vịnh Bitgiơoatơ - họ sẽ lấy Jêrêmy ra làm gương cho chàng. Họ sẽ bảo rằng Jêrêmy đã rời bỏ tay lái con tàu để cầm lấy khẩu súng trường bảo vệ sự nghiệp chính nghĩa. Nhưng Blood không phải là người thích tranh cãi. Như tôi đã nói ở trên, chàng là một người độc lập. Ðóng cửa sổ và buông rèm, chàng quay vào căn phòng ấm cúng đầy ánh nến, nơi bà chủ nhà, bà Baclâu, đã bày bàn xong. Quay sang bà, Blood nói lên thành tiếng suy nghĩ của mình: - Tôi đã để mất ân sủng của các cô gái ở nhà bên kia đường rồi. Giọng nói sang sảng dễ chịu của Blood pha lẫn những âm sắc cứng rắn lạnh lùng, ít nhiều đã dịu đi và trầm lắng xuống bởi lối phát âm Ailen, mà những năm dài lưu lạc nơi đất khách quê người vẫn không làm mất đi được. Toàn bộ tính cách dường như hiện rõ trong giọng nói của chàng, lúc dịu dàng lôi cuốn khi cần phải thuyết phục ai đó điều gì, lúc lại rắn rỏi đanh thép như mệnh lệnh cần buộc ai đó phục tùng. Vẻ ngoài của Blood cũng đặc biệt: cao dong dỏng, xương xương, nước da rám nắng như người Bôhêmiêng. Bên dưới cặp lông mày đen nhánh thẳng tắp là đôi mắt điềm tĩnh nhưng sắc sảo, trông xanh đến lạ lùng trên khuôn mặt ngăm ngăm. Cả ánh mắt, cả chiếc mũi thẳng đều hài hoà với cái miệng rắn rỏi cương nghị. Chàng mặc đồ đen phù hợp với nghề nghiệp của mình nhưng vẫn toát lên vẻ tao nhã, chứng tỏ óc thẩm mỹ lành mạnh của chàng. Tất cả cho thấy cái chất của Blood vẫn là một người tìm kiếm những chuyện phiêu lưu như xưa hơn là một thầy thuốc mực thước bây giờ. Chiếc áo camisole của chàng được may bằng da camelot mỏng thêu những dải chỉ bạc ở cổ tay, còn cổ áo lót những mảnh đăng ten Brabant xếp nếp. Bộ tóc giả mầu đen bồng bồng được uốn chải kỹ càng như tóc giả của bất kỳ một ông lớn nào ở Oaitơhôn. Nhìn kĩ Blood, bất giác ta phải tự hỏi: một con người như vậy liệu có ở lâu được cái xó yên tĩnh này, nơi sáu tháng trước cuộc đời đã tình cờ xô đẩy chàng đến hay không? Chàng có thể theo đuổi lâu dài cái nghề nhân đạo mà chàng đã được tiếp thụ ngay từ buổi đầu cuộc sống tự lập của mình hay không? Tuy nhiên, khi bạn đã được biết cuộc đời Blood, không chỉ quãng đời đã qua mà cả quãng đời sắp tới nữa, thì bạn sẽ tin - tất nhiên không phải dễ dàng - rằng nếu không có sự trớ trêu của số phận mà chàng sắp phải nếm trải ngay sau đây thì rất có thể chàng đã tiếp tục cuộc đời bình lặng trong một thị trấn yên lành miền Xomơxetsiơ này, hoàn toàn thoả mãn với địa vị khiêm nhường là thấy thuốc tỉnh lẻ của mình. Rất có thể là như thế… Blood là con trai của một thầy thuốc Ailen và một người đàn bà quê ở quận Xomơxetsiơ. Trong huyết quản của bà, như tôi đã nói ở trên, là dòng máu của những kẻ ngang dọc hải hồ không mệt mỏi và chắc điều đó đã giải thích cho cái khí chất ít nhiều xốc nổi sớm xuất hiện ở Pitơ. Những dấu hiệu đầu tiên của nó đã làm cha chàng, một người Ailen ôn hoà hiếm thấy, phải thực sự lo ngại. Ông đã định sẵn là trong việc chọn nghề, nhất thiết cậu bé phải theo nghiệp nhà. Và Blood, vốn sẵn năng khiếu lại thêm thói ham học nên đã làm ông bố vui lòng. Hai mươi tuổi đầu chàng đã đỗ cử nhân y khoa đại học Ðablin. Sau khi nhận được cái tin mừng ấy, cha chàng chỉ sống thêm ba tháng nữa (bà mẹ thì đã mất trước đó mấy năm) và thế là Pi-tơ, thừa hưởng vài trăm pound sterling của bố để lại, liền lên đường đi chu du thiên hạ để thoả chí bay nhảy của mình. Những hoàn cảnh thú vị đã đưa chàng đến đầu quân cho người Hà Lan, lúc này đang chiến tranh với nước Pháp, và tình yêu biển cả đã lôi kéo chàng vào hạm đội hải quân. Ðược đích thân de Ruyter lừng danh phong hàm sĩ quan, chàng đã tham dự trận thuỷ chiến trên Ðịa Trung Hải, trong lần viên đô đốc nổi tiếng kia tử trận. Quãng đời của Blood sau khi kí kết đình chiến Njimegen thì chúng tôi hầu như không hay biết gì hết. Tuy vậy, chúng tôi đã nghe nói Blood đã bị giam hai năm trong nhà tù Tây Ban Nha, nhưng vì sao chàng bị bắt vào nơi đấy thì chúng tôi không được rõ. Có lẽ chính vì thế mà vừa chân ướt chân ráo ra khỏi nhà tù, Blood đã tìm đến đầu quân cho người Pháp; và trong hàng ngũ quân đội Pháp, chàng đã tham dự các trận đánh trên lãnh thổ Hà Lan, lúc này đang bị quân Tây Ban Nha chiếm đóng. Cuối cùng năm ba mươi hai tuổi, khi đã thoả cái khát vọng phiêu lưu vẫn đeo đuổi mình, hơn nữa cảm thấy sức khoẻ có phần suy sụp sau lần bị thương không được kịp thời chạy chữa, đột nhiên chàng thấy nhớ quê hương da diết và thế là chàng xuống tàu thuỷ ở Năngtơ để trở về Ailen. Thế nhưng, trong chuyến đi này sức khoẻ của Blood giảm sút trông thấy và khi con tàu bị bão đánh dạt vào vịnh Bitgiơoatơ, chàng quyết định lên bờ vì hơn nữa, đây còn là quê ngoại của chàng. Thế là vào tháng giêng năm 1687 Blood đã đặt chân lên Bitgiơoatơ, trong túi vẫn chỉ có khoảng ngần ấy tiền như cách đây mười một năm, lúc chàng rời Ðablin đi chu du thiên hạ. Blood đã thấy thú cái nơi mà mình vừa trôi dạt đến. ở đây, sức khoẻ của chàng đã mau chóng bình phục. Sau rất nhiều cuộc phiêu lưu, mà một người khác khó lòng trải hết trong suốt cả cuộc đời, Pitơ quyết định buông neo bắt rễ ở thị trấn này và trở lại với nghề thầy thuốc mà chàng đã dứt bỏ để đổi lấy một món lợi chẳng đáng là bao. Ðó là bản tiểu sử tóm tắt của Blood, hay đúng hơn là một phần của nó, cái phần sẽ chấm dứt vào đêm nổ ra trận đánh ở Xegiơmua, nửa năm sau ngày chàng đặt chân lên Bitgiơoatơ. Cho rằng trận đánh sắp tới chẳng dính dáng gì tới mình - mà thực ra thì đúng là thế - và hoàn toàn dửng dưng trước niềm phấn khích đang bao trùm khắp Bitgiơoatơ đêm ấy, Blood đi nằm sớm. Chàng đã ngủ say, khi còn khá lâu mới đến mười một giờ, là giờ mà như các bạn đã biết, Mônmút dẫn đầu toán quân khởi loạn theo con đường đi Brixtôn, vòng qua đầm lầy đánh vu hồi vào đội quân binh triều đình đang đóng trại ở phía sau. Các bạn cũng biết rằng cái ưu thế về quân số của quân khởi loạn và chút ít lợi thế vì họ có khả năng đánh úp quân triều đình - lúc đó đang ngái ngủ - đã chẳng đem lại ích lợi gì do lỗi của kẻ cầm quân, và Mônmút đã thua trận ấy ngay từ trước khi bắt đầu giáp chiến. Trận chiến đấu nổ ra vào khoảng hai giờ đêm. Blood không nghe thấy tiếng pháo từ xa vọng lại. Mãi gần bốn giờ sáng, khi trời đã rạng xua tan sương mù trên bãi chiến trường ảm đạm, thì giấc ngủ yên lành của chàng mới bị phá ngang. Blood ngồi trên giường, cố dụi mắt cho tỉnh ngủ. Cửa nhà chàng bị đập mạnh, có người đang hét lên những tiếng gì đó đứt quãng. Tiếng ồn ào ấy đã làm Pi-tơ thức giấc. Ngỡ rằng người ta gọi mình đến thăm bệnh gấp cho một phụ sản nào đó, chàng khoác vội chiếc áo choàng mặc đêm, xỏ chân vào đôi dép và chạy ra khỏi phòng đến nỗi va phải bà Baclâu ở cầu thang. Cuống cuồng bởi tiếng ầm ĩ bà ta không còn hiểu đầu đuôi gì mà cứ đi lại lăng xăng. Blood nói cho bà yên lòng và đi xuống mở cửa. Ngoài đường, trong ánh bình minh vàng rực là một chàng trai mặc bộ quần áo rách toạc và bê bết bùn đất. Anh ta thở hổn hển, đôi mắt loang loáng kích động. Con ngựa đứng bên cạnh anh ta mình sủi đầy bọt. Chàng trai mở miệng, nhưng hơi thở đứt đoạn, không thốt lên nổi một lời. Blood nhận ra đó là anh chàng lái tàu trẻ tuổi Jêrêmy Pit, cậu cháu của các cô gái nhà đối diện. Cả phố bị những tiếng ầm ĩ của anh chàng thuỷ thủ đánh thức dậy: cửa sổ, cửa ra vào mở toang và từ trong đó lố nhố những người hàng xóm lo âu đang ngơ ngác ngó ra. - Bình tĩnh, bình tĩnh nào - Blood nói - Hấp tấp thì chẳng bao giờ được việc gì đâu. Nhưng đôi mắt anh chàng kia vẫn đầy vẻ sợ hãi, thậm chí kinh hoàng, và anh ta không để ý gì đến lời Blood nói. Vừa ho vừa thở hổn hển, rốt cuộc anh ta lên tiếng: - Huân tước Hinđoi bị trọng thương... lúc này đang ở trang trại Oglơthopơ... bên bờ sông... tôi đã đưa ngài về đó... ngài sai đi gọi ông. Ông đi nhanh lên... Nhanh lên mới được! Anh ta nhào đến, định lôi tuột Pi-tơ đi, bất kể lúc ấy chàng đang mặc áo choàng đêm và đi dép trong nhà. Nhưng Blood đã tránh được đôi tay đang vươn ra chực tóm lấy mình. - Tất nhiên tôi sẽ đi - chàng nói - nhưng không phải ăn mặc thế này. Blood rất áy náy, lord Hindoi đã đỡ đầu chàng suốt từ ngày chàng đến Bitgiơoatơ. Blood muốn bằng cách nào đó đáp lại lòng tốt của ngài đối với mình và chàng khổ tâm thấy dịp ấy đến trong một hoàn cảnh đáng buồn như vậy. Chàng biết rõ rằng nhà quí tộc trẻ tuổi kia là một trong những người ủng hộ Mônmút hăng hái nhất. - Tất nhiên tôi sẽ đi - Blood nhắc lại - nhưng trước hết để tôi thay quần áo và lấy theo những thứ cần thiết đã. - Thế thì không kịp mất. - Bình tĩnh nào, bình tĩnh nào. Ta sẽ đến nơi chóng hơn nếu không hấp tấp. Anh vào trong này đợi tôi đã, anh bạn trẻ. Pit khoát tay thoái thác. - Tôi sẽ chờ ở đây. Lạy chúa, xin ông hãy nhanh lên cho! Blood leo nhanh lên thang gác để thay áo quần và lấy túi thuốc. Về tình trạng bị thương của lord Hindoi chàng có thể hỏi trên đường dến trang trại Oglơthopơ. Vừa xỏ giầy Blood vừa nói chuyện với bà Báclâu, nhờ bà làm giúp mấy việc, nhân tiện dặn bà làm bữa trưa mà, than ôi, không bao giờ chàng được đụng đến nữa. Cuối cùng, khi chàng thầy thuốc và bà Baclâu đang càu nhàu như con gà ấp mất ổ bước xuống đường thì chàng trông thấy tay thuỷ thủ trẻ tuổi bị một đám đông dân phố xúm xít bu quanh, ai nấy đều hốt hoảng, quần áo còn chưa kịp mặc. Phần lớn là đàn bà mới vội vã chạy ra hóng tin trận đánh. Chẳng khó đoán Pit đã cho họ biết những tin tức gì, bởi vì cảnh yên tĩnh buổi sáng lập tức tràn ngập tiếng khóc và những lời than thở sầu não. Trông thấy bác sĩ đã ăn mặc gọn gàng với túi thuốc đeo dưới nách, Pit vội rời khỏi đám đông, cố gắng xua đi cơn mệt mỏi và gạt hai bà cô đang giọt ngắn giọt dài bám chặt lấy mình. Nắm lấy cương ngựa, anh ta nhảy phắt lên yên. - Ta đi thôi! - anh ta hét - ông ngồi lên phía sau tôi! Không nói một lời, Blood làm theo và Pit lập tức thúc ngựa. Ðám đông dãn ra, Blood ngồi trên mông con ngựa bị oằn xuống vì sức nặng của hai người. Ôm thắt lưng của người bạn đường, chàng bắt đầu chặng đời ba chìm bảy nổi của mình. Anh chàng Pit mà Blood chỉ coi là người đưa tin của một loạn quân bị thương, ngờ đâu lại là tín sứ của số mệnh. ... Mời các bạn đón đọc Cuộc Đời Chìm Nổi của Thuyền Trưởng Blood của tác giả Rafael Sabatini.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Giết Chỉ Huy Đội Kỵ Sĩ
“Có thể một ngày nào đó tôi sẽ vẽ được chân dung của thứ không có. Như một họa sĩ đã vẽ được bức tranh Giết chỉ huy đội kỵ sĩ. Nhưng để làm được vậy, tôi cần có thời gian. Tôi phải làm bạn với thời gian.” Rời khỏi người vợ đã đơn phương đòi ly hôn, “tôi” - chàng họa sĩ vẽ chân dung ba mươi sáu tuổi lang thang khắp nẻo đường rồi dừng chân tại một biệt thự nằm giữa khu rừng âm u trên đỉnh ngọn núi trông về phía biển, và sống tiếp tại đó trong nỗi cô đơn thăm thẳm. Không lâu sau, con cú đại bàng trên gác mái và tiếng chuông kỳ quái lúc đêm khuya đã khơi mào một chuỗi hiện tượng bí ẩn, dẫn dụ “tôi” bước vào chuyến phiêu lưu tâm linh huyền hoặc. Người đàn ông tóc bạc trắng xuất hiện từ bên kia thung lũng xanh biếc, ngôi miếu với căn hầm đá trong rừng, đĩa hát cũ, “Chỉ huy đội kỵ sĩ”… những chi tiết nửa thực nửa hư chậm rãi hiện hình trong bức tranh siêu thực u hoài, lạnh gáy của Murakami. *** Tác giả Haruki Murakami sinh ngày 12/1/1949 tại Kyoto, lớn lên ở thành phố Ashiya, tỉnh Hyogo nhưng phần lớn thời thanh xuân lại trải qua ở Tokyo. Murakami từng học về kịch tại đại học Waseda, Tokyo. Khi đang còn là sinh viên tại đại học Waseda, ông mở một quán nhạc Jazz có tên là Peter Cat và bắt đầu viết tiểu thuyết. Văn phong của ông chịu ảnh hưởng lớn từ văn học Mỹ, các tác phẩm của ông chủ yếu miêu tả cuộc sống và con người ở đô thị hiện đại. Nhà văn Haruki Murakami Sinh: 12 tháng 1, 1949 (tuổi 66), Fushimi-ku, Kyoto, Kyōto, Nhật Bản Vợ: Yoko Takahashi (kết hôn 1971) Giải thưởng: Giải Jerusalem, Giải Franz Kafka Đề cử: Giải văn học quốc tế Neustadt Nhiều tác phẩm của ông đã dịch ra tiếng Việt và được người đọc Việt Nam ưa thích, như: Lắng nghe gió hát Rừng Na Uy 1Q84 Biên niên ký Chim vặn dây cót Phía Nam biên giới phía Tây mặt trời Kafka bên bờ biển Người tình Sputnik Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới Cuộc săn cừu hoang Ngầm Nhảy nhảy nhảy Tôi nói gì khi nói về chạy bộ Kino Sau Cơn Động Đất Ngày Đẹp Trời Để Xem Kangaroo Những Người Đàn Ông Không Có Đàn Bà Tazaki Tsukuru Không Màu Và Những Năm Tháng Hành Hương Truyện Ngắn Murakami - Nghiên Cứu Và Phê Bình Giết Chỉ Huy Đội Kỵ Sĩ   *** "Giết chỉ huy đội kỵ sĩ" ra mắt bản tiếng Nhật năm 2017 và bản tiếng Anh năm 2018. Nhà xuất bản tại Nhật cho biết 1,3 triệu bản sách ra mắt trong lần in đầu. Tại Việt Nam, đơn vị phụ trách xuất bản đã tổ chức cuộc thi thiết kế bìa cho Giết chỉ huy đội kỵ sĩ của Murakami vào cuối năm 2020. Đến ngày 11/1, sách được phát hành. Cũng giống tại Nhật, cuốn sách gây được ấn tượng với bạn đọc Việt. Giết chỉ huy đội kỵ sĩ được giới thiệu là cuốn tiểu thuyết sở hữu nhiều chi tiết nửa thực nửa hư trong bức tranh siêu thực đầy u hoài, đậm chất Murakami, thứ đã "hớp hồn" bạn đọc trong nhiều tác phẩm như Xứ sở kỳ diệu tàn bạo và chốn tận cùng của thế giới hay 1Q84. Đối với Giết chỉ huy đội kỵ sĩ, mặc dù tác phẩm mang đậm phong cách đậm chất Murakami, lại vẫn đem đến nhiều sự mới mẻ. Điều này giúp cho người đọc có được những trải nghiệm mới ngay trong bầu không khí quen thuộc, hấp dẫn. Để nói về chất lượng của cuốn tiểu thuyết, có lẽ cần so sánh Giết chỉ huy đội kỵ sĩ với 1Q84, một trong những tác phẩm thành công nhất sự nghiệp của Haruki Murakami. Tại 1Q84, tác giả đưa người đọc tới một thế giới huyền bí, đan xen giữa thực và ảo. Không chỉ thế, tác phẩm còn được định hình bởi chiều sâu tâm lý, tình cảm của người phụ nữ, trái ngược với sự bạo lực hiển hiện trong truyện. Còn đối với Giết chỉ huy đội kỵ sĩ, có lẽ, cuốn sách còn cần được nhìn ở góc độ đa chiều hơn. Nhân vật "Tôi" đã phải trải qua nhiều thứ cảm xúc hỗn độn, khó tả. Mọi thứ bắt đầu từ việc cô vợ đơn phương đòi ly hôn, rồi những bước đi lạc lõng, cô đơn sau này. Tất cả được đẩy lên cao trào khi anh ta vô tình bước vào một chuyến phiêu lưu kỳ ảo. Nhân vật "Tôi" và hành trình tìm về hạnh phúc Đầu tiên, sự mới mẻ của tác phẩm đến từ hội họa - yếu tố cốt lõi xuyên suốt Giết chỉ huy đội kỵ sĩ. Thông qua nội tâm của nhân vật "Tôi", Murakami không giấu giếm sự khâm phục mà mình dành cho nghệ thuật hội họa cũng như văn chương và âm nhạc. Xây dựng nhân vật "Tôi" có cá tính, hoàn cảnh như vậy đồng nghĩa việc Murakami có cơ hội để tạo ra các chi tiết ẩn dụ, truyền tải triết lý của mình về hội họa một cách trôi chảy, mượt mà nhất. Tất nhiên, cuốn tiểu thuyết vẫn có những điểm quen thuộc giống với các tác phẩm trước của Murakami, ví dụ cách ông đưa vào cuốn sách các chi tiết như thú vui tự nấu ăn, âm nhạc, hay những đối thoại hài hước. Giết chỉ huy đội kỵ sĩ không chỉ tạo ra luồng gió mới đối với người hâm mộ Murakami mà tác phẩm còn xây dựng được chiều sâu trong nội tâm mỗi nhân vật. Ảnh: Midori. Bên cạnh đó, Giết chỉ huy đội kỵ sĩ cũng xuất hiện yếu tố thần thoại như trong Kafka bên bờ biển (câu chuyện về Oedipus) là ẩn dụ về dòng sông với người lái đò vô diện được lấy cảm hứng từ sông Styx dưới âm phủ và gã lái đò Charon. Giống với Rừng Na Uy, các tuyến nhân vật được gói trong mối quan hệ tay 3 như Watanabe Toru - Naoko - Kizuki hay Watanabe Toru - Midori - Naoko, thì Giết chỉ huy đội kỵ sĩ cũng được Murkami xây dựng và phân vai theo mối quan hệ ba người như thế. Duy có điều khác biệt ở đây là các mối quan hệ này đều được gắn liền bức họa quan trọng, ví dụ "Tôi" - họa sĩ Amada Tomihiko - bức Giết chỉ huy đội kỵ sĩ, Tôi - Menshiki - bức chân dung Menshiki... Vì thế, dù liên tục xuất hiện những tình tiết ẩn dụ, siêu thực hay một khái niệm khó hiểu nhưng độc giả vẫn có thể theo dõi mạch truyện một cách khá thuận lợi, không bị chồng chéo. Rồi tất cả ý tưởng và ẩn dụ xuất hiện trong truyện được xâu chuỗi, liên kết với nhau bằng luật nhân quả. Thậm chí, sự luân hồi phi thời gian đã đưa nhân vật "Tôi" đi qua tất cả không gian hư hư thực thực trong Giết chỉ huy đội kỵ sĩ. Qua cuộc hành trình ấy, nhân vật "Tôi" đã nhận ra rằng bất cứ ai cũng đều trải qua “ẩn dụ kép” mang tính chất hai mặt. Những sai lầm, nỗi đau và sự sợ hãi có thể còn đáng sợ hơn cả cái chết nhưng đồng thời trong chính những khoảnh khắc tiêu cực ấy, người ta vẫn có thể tìm thấy điều tốt đẹp. *** Haruki là tác giả quốc tế chứ không riêng gì của Nhật nữa, phong cách của ông như một tượng đài trên văn đàn, độc đáo riêng biệt. Hiếm có tác giả nào giữ được sức sáng tác đều tay và tốc độ ra sách nhanh như ông (và làm quái nào mà ổng vẫn chưa đoạt giải Pulitzer nhỉ)  Mối duyên độc giả - tác giả của mình và ông thì hơi bị gián đoạn và chỉ mới nối lại gần dây. Sự gián đoạn tính theo chục năm, thời mình đọc 1 lèo Rừng Nauy, Phía Nam Biên Giới Phía Tây Mặt Trời, Biên Niên Ký Chim Vặn Dây Cót - mà quả thực. bây giờ chỉ nhớ rõ nhất mỗi Rừng Nauy vì nhờ coi phim, 17 - 18 tuổi, thời trẩu tre nên thấy cái gì mà khó hiểu phức tạp là thích nhảy vô lắm, mà cái giá của việc đọc mà không cảm không hiểu là ù cạc và mất luôn sự hứng thú với tác giả suốt một thời gian dài, phải đến khi “già chát” như hiện tại thì mới đọc lại, mà cứ nhẩn nhơ tha thẩn mãi mới xong một cuốn, vì đâu còn quỹ thời gian dồi dào như xưa.  Nhưng thích, cuốn đầu tiền mình đọc lại của ông sau giai đoạn “nghỉ chơi dài hơi” là “Những người đàn ông không có đàn bà” (nghe đồn 1 truyện ngắn trong đó sắp được dựng thành phim 3 tiếng - đạo diễn chắc cũng không phải người thường mà có thể dựng 1 truyện ngắn của ổng chưa đầy 3 trang thành phim 3 tiếng). Lần đó đọc sách mà cảm giác bỡ ngỡ rụt rè đúng kiểu gặp lại 1 người bạn vong niên, thậm chí với đứa có tật đọc nhanh như mình mà lần đó có những trang phải giở lại, hoặc nghỉ 1 2 hôm rồi đọc tiếp.  Cuộc gặp gỡ tiếp theo cách đó cũng khá lâu là bộ tiểu thuyết cực nổi thời gian mới ra mắt, 1Q84mà mình cũng là đứa lỗi thời nên 10 năm sau khi sách ra mới tìm đọc. Sau lần đầu bỡ ngỡ thì lần 2 này Haruki đã khiến mình “té” vô tình yêu sách của ổng lần nữa, thiên thời địa lợi thì đúng hơn là “nhân hoà” vì mình nhịn lâu ơi là lâu mới đọc lại tiểu thuyết (sau 1 thời gian nỗ lực xoá nghèo kiến thức với các sách lĩnh vực khác thì trời ơi lúc đó 1Q84 đã tưới mát cánh đồng khô quéo trong mình bằng ngồn ngộn câu từ và một câu chuyện liêu trai phức tạp đúng phong cách của ông)  Và lần 3 là Giết chỉ huy đội kỵ sĩ (gớm mở bài lê thê vãi)  Tại sao mình chọn Giết chỉ huy đội kỵ sĩ chứ không phải 1Q84 để viết về, một phần vì mới đọc gần đây nên vẫn nhớ mang máng (ha ha), nhưng phần lớn là vì mình thích …Kỵ Sĩ hơn là ..84. Nếu ví cả 2 với ẩm thực thì 1Q84 là một bữa ăn đêm Phục Sinh cầu kì, đầy ắp các mỹ bị và món nào cũng được đầu bếp chăm chút với kỹ năng tuyệt đỉnh, bữa ăn kéo dài tận 3 tập (dày) (mà ổng hoàn thành chỉ trong vỏn vẹn 1 năm, khủng khiếp) thì Giết chỉ huy đội kỵ sĩ với mình như một bữa Brunch cuối tuần, ngon, chất lượng và đủ nhiều để lấp đầy bụng cho cả bửa sáng lẫn trưa, quan trọng là chữ “đủ”.  Sức hấp dẫn của Haruki mang đến cho mình trong ...Kỵ Sỹ thực ra cũng là những điều đã giúp ông nổi tiếng bấy lâu, bút lực dồi dào, trí tưởng tượng tuyệt vời, khả năng xây dựng nhân vật sống động và cực kì tỉ mỉ, nhưng điều mà ông làm mình phải ngả mũ trong tiểu thuyết mới nhất này là kiến thức và sự đầu tư ông đã bỏ ra để làm chất liệu cho sách - vốn sống dồi dào, sự thông tuệ cùa ông thể hiện rõ nét trong các nhân vật và tác phẩm của ông, dù là chính hay phụ hay thoáng qua, họ đều có một tư chất nghệ thuật nhất định, họ có gout nghe nhạc, họ đọc sách, họ theo đuổi thứ mà họ đang theo đuổi một cách nghiêm cẩn. Lần này với Chỉ huy đội kỵ sĩ, ông mang đến cho độc giả một lát cắt nghệ thuật mới, là hội hoạ, nhưng cũng như những gì mình từng biết về ông, hội hoạ chỉ là tấm giấy nền, trên tấm giấy ấy, ông vẽ nên câu chuyện của mình bằng những đường cọ sắc nét, táo bạo, và nhiều tầng lớp - và cũng giống như thưởng tranh, đôi khi thứ níu giữ khán giả là sự kết nối của họ với chính tác phẩm đó - với chính người nghệ sĩ hơn là những gì thể hiện trên bức tranh.  “- Nhưng làm thế nào mà cậu phát hiện được bức tranh này? Menshiki hỏi  - Phát hiện?  - Đương nhiên cậu là người vẽ bức tranh này. Cậu đã tự mình sáng tác. Nhưng đồng thời, xét theo một nghĩa khác thì cậu đã phát hiện ra bức tranh. Nghĩa là cậu đã tìm thấy và lấy ra được hình ảnh chôn giấu bên trong cậu. Chắc phải dùng từ khai quật mới đún. Cậu có nghĩ vậy không?  Nói vậy có lẽ cũn đúng, tôi thầm nghĩ. Tất nhiên là tự tôi đã vẽ bức tranh này theo ý mình. Tôi cũng là người chọn màu vẽ, là người dùng cọ, dao và ngón tay để tô màu. Nhưng nếu nhìn theo cách khác thì có lẽ tôi đã dùng Menshiki làm chất xúc tác để tìm và lấy ra thứ được chôn sâu bên trong con người tôi… Menshiki nói:  - Giống như một trận động đất xuất hiện dưới đáy biển sâu. Thay đổi lớn xảy ra ở thế giới vô hình, thế giới không có ánh mặt trời, nói cách khác là vùng vô thức bên trong. Thay đổi ấy lan truyền tới mặt đất, gây ra phản ứng liên hoàn, cuối cùng mới định hình trước mắt chúng ta…” Mình có đọc đâu đó không rõ (chắc là lúc search hình sách để chèn vô bài viết) rằng Giết chỉ huy đội kị sỹ không được đánh giá cao bởi đọc giả yêu thích Haruki, nhưng với mình, khi viết những dòng này, mình chợt nhớ đến 1 nhận xét của báo Thanh Niên về phim Đông Tà Tây Độc, rằng ”Đạo diễn Vương Gia Vệ mượn truyện kiếm hiệp Kim Dung để kể về tình yêu”, mình xin lấy ý tứ của câu này để nói về sách của Haruki, những cuộc phiêu lưu viễn tưởng trong sách của ông thực ra cũng chỉ để làm nền để ông kể về những con nguời cô đơn trên thế giới  này và cách họ kết nối với chính mình, và với thế giới quan xung quanh, một cách kì lạ, khó tin, huyễn hoặc đến vô lý. Như Aomame nắm chặt tay Tengo đi qua đường hầm thông lên đường cao tốc để trở về lại thế giới của họ trong 1Q84, và anh hoạ sĩ chui vào một thế giới sâu trong lòng đất để hoàn thành một nghĩa vụ anh không hiểu là gì nhưng anh tin bằng trực giác của mình và hành động, để rồi khi ra khỏi ở phía bên kia, tất cả đã khác trừ chính anh.  Đôi khi sự rời rạc và vô lý trong cách hành văn của ông lại chính là sự cố ý sắp đặt, vì mỗi con người sẽ có một cách khác nhau để tìm đến bản thể của mình. Liệu tương lai có thật sự là một bí ẩn, hay nó bắt đầu từ rất lâu trước hiện tại, có lẽ sự băn khoăn về sự vĩ mô của cuộc đời được truyền tải tài tình qua con chữ mới là điều khiến độc giả “ghiền” Haruki lâu và dài đến vậy, sự thoả mãn không nằm ở đáp án hay cái kết nào, màn nằm ở hành trình kì diệu nằm sau mỗi trang sách (và mỗi ngày). Tận hưởng và khám phá thôi.  Thực ra, mình vẫn bị “stuck” khi viết review về sách, có nên miêu tả về nhân vật không, có nên tóm tắt câu chuyện không, có nên điểm qua các tình tiết “key” trong sách không. Bởi sách (hoặc phim) nó khác với món ăn hay địa điểm, nó attach khá nhiều với cá nhân, sự cảm thụ, tính cách, gout, tâm trạng nữa…đều khiến mình phải chùng tay mỗi khi viết về sách hay phim, bởi thực sự các lăn tăn kể trên, với mình thì mình nghĩ “phải tự đọc hay xem thì mới nghiệm ra được”, nên stuck là chỗ đó, không biết viết gì thêm… Hy vọng đến những cuốn sau sẽ đỡ stuck hơn.  Mời các bạn đón đọc Giết Chỉ Huy Đội Kỵ Sĩ của tác giả Haruki Murakami & Mộc Miên (dịch).
Một Q Tám Tư
Nó là một mớ bùi nhùi, một chiếc khăn len được đan hai đầu, rồi vứt xó, rồi lại tiếp tục đan nhưng không hề có một chút hình thù gì của chiếc khăn len. Nhưng đến cuối cùng nó vẫn là một chiếc khăn len đặc biệt. 1Q84 – Q tức là Question, đúng vậy, question với cả những nhân vật trong truyện lẫn người đọc cho đến phút cuối cùng. Câu chuyện kể về 2 nhân vật, 2 môi trường sống, 2 lối sống hoàn toàn khác nhau nếu không muốn nói là trái ngược. Tôi chần chừ do dự đọc quyển sách này đã bao lâu, có lần mở ra đọc vài trang lại gấp vào và vứt xó. Rồi một ngày ngẫu nhiên tôi đột nhiên rút nó ra khỏi kệ sách và đọc ngấu nghiến. Cuốn đầu tiên, khi chưa nhập vào mạch truyện tôi đã phải nhai nó cả tuần liền. Tôi tự nhủ, “Ừ thì đoạn của Aomame cũng hấp dẫn đấy, nhưng rồi sau đó đoạn của Tengo cũng hấp dẫn không kém. Cuốn thứ 2 trong vòng 5 ngày và cuốn thứ 3 thì tôi như bị rơi vào một vòng xoáy. Chỉ trong vòng 2 ngày, tôi nghỉ làm 2 ngày là ngốn cái cuốn sách bìa màu tím ấy từ sáng đến tối, cả trong mơ tôi cũng mơ thấy Nhộng không khí, Fukaeri, và cái hình ảnh xám xịt mà Murakami phác hoạ nên. Thế giới song song? Khái niệm chắc hẳn tôi chưa bao giờ tưởng tượng đến. Nhưng khi đọc 1Q84 tôi như bị hút trọn vào thế giới ấy. Những tình tiết ly kì, không hẳn là trinh thám hay ma quỷ, nhưng nó cứ gợi lên cho tôi một nỗi sợ tiềm tàng. Sự huyền bí của Người Tí Hon, họ là những kẻ man rợ hay thế nào? Nó giống như nỗi sợ những con búp bê mỗi đêm tỉnh dậy của các bé gái phải không? Tuy vậy, trong câu chuyện vẫn còn nhiều lỗ hổng bởi vì có quá nhiều tình tiết xảy ra. Tôi rất hụt hẫng với đoạn kết, Tengo và Aomame đã gặp nhau nhưng sao vẫn thấy nó chưa phải một cái kết hoàn hảo tôi mong chờ? Hay bởi vì nó còn quá nhiều câu hỏi? Những con người ở thế giới có hai mặt trăng rồi sẽ ra sao? Fukaeri? Cô gái ấy là Mẫu thể hay Tử thể? Bà già trong biệt thự Cây liễu và Tamaru? Và cả những Người Tí Hon chui ra từ cái xác của Ushikawa? Tại sao phải giao hợp? Rất nhiều câu hỏi không được giải đáp đến nỗi tôi phải lên google để tìm xem có còn một bản kết nào khác nữa không. Và sự thất vọng lớn nữa là đoạn kết chỉ toàn những lời tự nhủ trong lòng của Aomame mà chẳng hề nhắc đến cảm xúc của Tengo là mấy. Kiểu như mình rất bất mãn với việc 2 người này gặp nhau là có cái kết như thế. Bởi vì trước đó mình đã quá mong chờ họ gặp nhau rồi sẽ thế nào, và nghĩ ra đủ mọi tình huống giả tưởng. Murakami rất tài giỏi trong cách dùng ngôn ngữ và lối kể chuyện cuốn hút nhưng về logic thì không có một chút logic nào cả. Có lẽ đó cũng là cái chính tạo nên sự huyền bí trong những cuốn sách của ông. Đến giờ tôi vẫn mù mờ về sự tồn tại của Người Tí Hon để làm gì? Nó có đại diện hay là sự ẩn dụ về Thiện – Ác trong mỗi con người hay không? Và tình yêu của Aomame và Tengo có thật sự như họ nghĩ? Bởi nếu ngoài đời thực sẽ chẳng ai có thể yêu lại một người đã quá khác xa người ấy của 20 năm trước. Lúc đầu có thể sẽ rất yêu nhưng rồi sau này họ có nhận ra mọi sự tưởng tượng của mình về đối phương đều không phải sự thực? Nếu vậy, tình yêu trong câu chuyện này có còn ý nghĩa gì nữa không? Tôi không biết, nhưng sau tất cả tôi vẫn nghĩ đây là một cuốn sách hay. Nó không hay ở phần kết, không hay nếu ta lôi nó ra thành những triết lý hay chủ đề cố định. Nó chỉ hay khi ta bước vào dòng chảy câu chuyện mà không phán xét đúng sai. Cũng giống như đời người, ông A, B, C nào đấy vừa chết hôm nọ, ừ thì cũng chia buồn đấy rồi thôi. Nhưng nếu ta trải qua từng giây phút cuộc đời họ chắc chắn nó cũng sống động không kém bất kỳ cuộc đời nào. Tác giả: Bà Năm Mời các bạn đón đọc Một Q Tám Tư của tác giả Haruki Murakami & Lục Hương (dịch).
Lược Sử Tương Lai
Homo sapiens có phải là một dạng sống siêu đẳng, hay chỉ là một tay đầu gấu địa phương? Làm thế nào con người lại tin rằng họ không chỉ đã kiểm soát thế giới, mà còn mang lại ý nghĩa cho nó? Công nghệ sinh học và trí thông minh nhân tạo đe doạ loài người ra sao? Sinh vật nào có thể kế thừa loài người, và tôn giáo mới nào sẽ được sản sinh? Với giọng kể cuốn hút và mới lạ, Harari sẽ dần gợi mở và trả lời những câu hỏi trê, nhờ phân tích chi tiết những luận điểm gây nhiều tranh cãi: chủ nghĩa nhân đạo là một dạng tôn giáo, thứ tôn giáo tôn thờ con người thay vì thần thánh; sinh vật là thuật toán… ông vẽ ra một viễn cảnh tương lai khi Sapiens thất thế và Dữ liệu giáo trở thành một hình mẫu. HOMO DEUS còn bàn sâu hơn về các năng lực mà con người đã tự trang bị để sinh tồn và tiến hoá thành một giống loài ngự trị trên trái đất, để rồi chính trong tiến trình hoàn thiện và nâng cấp các năng lực ấy chúng ta sẽ bị truất quyền kiểm soát bởi một sinh vật mới, mang tên Homo Deus.   Mời các bạn đón đọc Lược Sử Tương Lai của tác giả Yuval Noah Harari & Dương Ngọc Trà (dịch) & Lê Dọn Bạn (dịch).
Người Khổng Lồ Ngủ Quên
Ở nước Anh thời xa xưa, tại một ngôi làng người Briton nọ, một đôi vợ chồng già ngày qua ngày sống một cuộc đời mơ hồ, lãng đãng giữa làn sương mù không lúc nào khuất dạng. Ngày tháng nối đuôi nhau trôi đi dường như chẳng có gì đổi khác, nhưng cũng cơ hồ có rất nhiều biến động mà người ta không tài nào nhớ ra. Cho đến khi hai vợ chồng họ quyết định lên đường đi tìm người con trai nhiều năm nay không gặp. Chẳng ngờ, chờ đợi họ phía trước là một chuyến phiêu lưu kỳ lạ, cùng những con người kỳ lạ, đưa họ tới miền kỳ ức đã từ lâu bị chôn vùi.Người khổng lồ ngủ quên là một suy ngẫm u sầu nhưng thấm thía về sự lãng quên, tình yêu, cuộc sống, cùng cả chiến tranh và sự hận thù. Cuốn sách đánh dấu sự trở lại của Kazuo Ishiguro sau 10 năm vắng bóng, với một hướng đi hoàn toàn mới khi ông chọn thể loại giả tưởng huyền ảo để thuật lại những chiêm nghiệm hết sức thực tế về cuộc đời. *** “Một cuốn tiểu thuyết lạ thường khiến người ta ngưỡng mộ, tôn trọng và thưởng thức…Người khổng lồ ngủ quên làm được điều những cuốn sách quan trọng đã làm: nó đọng lại trong tâm trí độc giả rất lâu sau khi kết thúc, không chịu nhạt phai”. ———Nell Gaiman——- Một cuốn sách không dày nhưng nội dung nó lại chất chứa khổng lồ những chiêm nghiệm hết sức thực tế về cuộc đời.  Bất cứ ai khi cầm cuốn sách của nhà văn Kazuo Ishiguro đều phải lắng đọng, suy ngẫm về những điều xảy ra trong quá khứ và nhìn nhận thực tại với tinh thần vị tha, nhân đạo. Một bức tranh mang màu sắc của nước Anh thời xa xưa “Người khổng lồ ngủ quên” ra đời đã đánh dấu sự trở lại của Kazuo Ishiguro sau mười năm vắng vóng với một hướng đi hoàn toàn mới. Ông chọn một thể loại văn chương mà hiện nay chưa được xếp vào hàng chính thống, thậm chí còn không được giới hàn lâm đánh giá cao nhưng lại có tầm ảnh hưởng lớn đến tư duy của nhân loại đó là thể loại giả tưởng huyền ảo. Vì vậy từ đầu đến cuối trang sách độc giả luôn bị mê mẩn, cuốn hút trong từng câu chữ. Nó hiện lên sống động, giàu hình ảnh giống như ta đang xem bộ phim huyền thoại về một vùng đất có lãnh chúa. Nơi có những chàng hiệp sĩ chống lại con vật hung bạo như rồng, quỷ sứ… Cuốn tiểu thuyết kể về một chuyến phiêu lưu mạo hiểm, gian nan của đôi vợ chồng già sống trong một ngôi làng người Briton. Vùng đất họ đang sống đã bị hơi thở của rồng trên đỉnh núi cao tạo ra một làn sương mù khiến toàn bộ người dân nơi đây quên đi quá khứ. Ngày qua ngày, đôi vợ chồng già sống cuộc đời mơ hồ, lãng đãng giữa làn sương mù không lúc nào khuất dạng. Những ký ức trở về chỉ là các mảnh vụn nhỏ bé không đầu, không đuôi mà họ không tài nào nhớ ra. Cho đến khi, đôi vợ chồng già quyết định lên đường đi tìm người con trai nhiều năm không gặp. Nhưng ngờ đâu, chờ đợi họ phía trước là một hành trình kỳ lạ, gian nan và nguy hiểm cùng những con người kỳ lạ, đưa họ tìm được những ký ức bị lãng quên từ lâu. Kazuo Ishiguro đã khắc họa thành công hình ảnh u ám của những làng quê nghèo, một bức tranh xã hội với nhiều nhũng nhiễu. Nơi chỉ có những dặm đất hoang tiêu điều, rừng rậm, cây cối chằng chịt cùng những hòn đảo mù sương, bí ẩn. Người dân nghèo sống trong những túp lều tuềnh toàng hay những hầm ngầm tối tăm, lạnh buốt và không ánh sáng.  Họ phải đối mặt với những mối nguy hiểm rình rập đó là lũ quỷ ăn thịt người… Dù nghèo khó nhưng nơi đây từng xảy ra chiến tranh giữa người Briton với người Saxon để tranh giành quyền cai trị giữa các vua. Để rồi đến lớp trẻ đời sau nuôi trong mình sự hận thù “dù quá muộn để giải cứu thì vẫn đủ sớm để trả thù”. Sự mê tín, sợ hãi của những tu sĩ tại nhà thờ. Họ mang bộ mặt của những người lương thiện, nhưng bên trong lại là sự lừa dối và tàn nhẫn.  Khi tình yêu trở thành dấu chấm hỏi cho sự chung thủy Đối lập với sự chung thủy trong tình yêu đó chính là ngờ vực. Thoáng qua sẽ thấy đôi vợ chồng già Axl và Beatrice luôn xuất hiện với cử chỉ thân mật, sự săn sóc, quan tâm trên mọi dọc đường. Thứ tình cảm cao đẹp và rất đỗi bình dị, êm ái ấy như bản nhạc cổ điển Love Story.  Song, những ký ức bị lãng quên của họ là một vết thương lòng sâu thẳm, họ lo sợ khi màn sương tan đi thì thứ cảm xúc trong trái tim không còn nguyên vẹn; khi quá khứ trở về tình yêu biến thành thù hận. Trong quá khứ, họ đều phạm những sai lầm trong hôn nhân. Beatrice ngoại tình, còn Axl với tính tự cao tự đại của mình vẫn mong muốn được trả thù cho dù “Tôi nói năng và hành động như thể tha thứ cho bà ấy, nhưng suốt bao năm tháng qua, trái tim tôi vẫn dành riêng góc nhỏ cho khao khát được trả thù”. Với lối viết chậm rãi, Kazuo Ishiguro đã để cho các nhân vật của mình tự bộc lộ những suy nghĩ, lo lắng, trải qua những cảm xúc lẫn lỗn khi đứng giữa ranh giới giữa quá khứ và hiện tại; sự dằn vặt và lỗi lo sợ để họ nhận thấy được sự quan trọng của nhau. Dường như trong tình yêu còn phải chứa đựng cả sự bao dung và vị tha. Chiến tranh và hòa bình  Tác phẩm sử dụng nhiều chất liệu của thể loại văn học giả tưởng. Hình ảnh quỷ ăn thịt người hay rồng Querig và cả những hiệp sĩ cầm kiếm với dáng ngủ ngồi. Một chú rồng luôn bị săn đón bởi những hiệp sĩ dũng cảm. Chiến tranh với sự tàn nhẫn và chết chóc, vị vua chiến thắng vì muốn thực hiện ý đồ của mình và lo lắng sẽ có nhiều cuộc chiến khác xảy ra để trả thù đã quyết định cử hiệp sĩ Gawain lên núi để bảo về rồng Querig, lợi dụng hởi thở của nó để quên đi những kí ức đau thương, mất mát nhằm giữ gìn hòa bình. Tuy nhiên, Wistan – hiệp sĩ trẻ muốn đấu tranh vì công lý và báo thù lại tìm mọi cái cách để giết rồng Querig. Kazuo Ishiguro đã xây dựng một tình huống kịch tính để hai hiệp sĩ vào cuộc chiến để phân thắng bại. Tác giả để công lý và báo thù chiến thắng với cái chết của rồng Querig và hiệp sĩ Gawain. Nhưng chính trong hoàn cảnh đó Wistan – hiệp sĩ trẻ tuổi lại thấy trái tim mình run rẩy, yếu đuối.  Nhà văn đã thành công trong việc xây dựng hình ảnh hiệp sĩ dũng cảm, mạnh mẽ, quyết đoán nhưng ông cũng để nhân vật hiệp sĩ của mình có những giây phút yếu đuối nhìn nhận lại hành động mình đã gây ra. Rõ ràng, một cuốn sách hay bao giờ cũng để lại những giá trị tư tưởng nhất định. “Người khổng lồ ngủ quên” là tác phẩm đáng để bạn đọc suy ngẫm về tình yêu, cuộc sống, sự thù hận và cả lãng quên. Có quá nhiều câu hỏi được đặt ra cho chính bản thân mình và chính ta phải suy ngâm khi đọc xong tác phẩm. Sự khám phá, sáng tạo của nhà văn khi viết theo một thể loại mới khiến cho những người yêu thích văn học giả tưởng như được phiêu lưu cùng trang sách, lạc vào những miền đất thời xa xưa, nơi mọi thứ còn rất hoang sơ và trần trụi. Với lối kể chuyện nhịp nhàng không quá vội vã, văn phong viết chân phương, dễ hiểu nhưng ẩn giấu bên trong là những cảm xúc thầm kín, sâu sắc và những chiêm nghiệm về cuộc đời, Kazuo Ishiguro xứng đáng là nhà văn nổi tiếng thế giới với nhiều giải thưởng danh giá trong đó vinh dự nhất là giải Nobel Văn Chương 2017. *** Kazuo Ishiguro là một trong những nhà văn hàng đầu trong nền văn chương Anh đương đại. Sinh 8/11/1954 tại Nagasaki, gia đình ông chuyển tới Anh sống năm 1960, nơi ông lấy bằng cử nhân rồi thạc sĩ về sáng tác văn học. Năm 1982, Ishiguro chính thức nhập tịch Anh, cho ra đời tiểu thuyết đầu tay A Pale View of Hills, trở thành một cây bút trẻ sáng giá “ngang với Martin Amis, Salman Rushdie và Ian McEwan” (The Guardian). Hai cuốn sách đầu tiên của ông đều lấy bối cảnh ở Nhật, cuốn thứ hai, An Artist of the Floating World (1986), bắt đầu chuỗi giải thưởng dồn dập đổ xuống ông. Bốn trên sáu tiểu thuyết của Ishiguro đã được đề cử Booker, gần nhất là Never Let Me Go (2005, Nhã Nam ấn hành 2008 dưới tên Mãi đừng xa tôi) chỉ đứng sau cuốn Biển của John Banville. Cuốn sách được giải thực sự là The Remains of the Day (1989), được dựng thành phim năm 1993 có Anthony Hopkins và Emma Thompson đóng với 8 đề cử Oscar. Kazuo Ishiguro có viết truyện ngắn rải rác trên các báo, nhưng Dạ khúc là tập truyện ngắn đầu tiên của ông. Đây cũng là cuốn sách mới nhất ông xuất bản năm 2009. Mời các bạn đón đọc Người Khổng Lồ Ngủ Quên của tác giả Kazuo Ishiguro & Lan Young (dịch).