Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Những Đại Lộ Vành Đai

Người kể chuyện đi tìm cha. Công cuộc tìm kiếm này khiến ông lần ngược thời gian và một lần nữa sống lại, trong ảo giác, một thời kỳ có lẽ là khi nước Pháp bị chiếm đóng. Đó là khi ông sống trong một ngôi làng ở vùng Seine-et-Marne, ven rừng Fontainebleau, giữa những người xa lạ đến làng để nghỉ cuối tuần. Trong số họ có “bá tước” Marcheret - cựu lính lê dương bị bệnh sốt rét, Jean Muraille - chủ bút, cháu gái ông ta - một nữ diễn viên tóc vàng lúc nào cũng quấn kín người trong chiếc áo choàng lông thú… Cuối cùng, là cha của người kể chuyện, người tự xưng là “nam tước” Deyckecaire. Người kể chuyện xâm nhập cái giới ám muội ấy, với hy vọng tiếp cận cha mình. Chính xác thì ông là ai? Buôn lậu chợ đen? Một người Do Thái bị săn đuổi? Tại sao ông lại ở cùng với những người kia? Cho đến tận cuối câu chuyện, người kể chuyện sẽ đuổi theo người cha mờ mịt ấy. Đầy âu yếm. Như muốn hòa vào với cha mình và chịu trách nhiệm về một quá khứ biến động cũng chính là nơi ông xuất thân. Vài nét về tác giả: Patrick Modiano, sinh năm 1945 tại Pháp, có cha là người Ý gốc Do Thái, mẹ là nghệ sĩ người Bỉ. Patrick Modiano được coi là một trong những nhà văn tài năng nhất thế hệ của ông. Là nhà thám hiểm quá khứ, ông biết cách khơi gợi lên một cách vô củng chính xác và chi tiết bầu không khí của những địa điểm hay những thời đại đã qua, ví dụ như Paris thời bị Đức chiếm đóng. Ngoài tiểu thuyết, Patrick Modiano còn viết kịch bản, lời bài hát. Ông đã giành được rất nhiều giải thưởng danh giá, trong đó phải kể đến Giải Goncourt năm 1978 và Giải Nobel văn chương năm 2014. Những đại lộ vành đai được xuất bản tại Pháp năm 1972 và đã giành Giải thưởng lớn dành cho tiểu thuyết của Viện hàn lâm Pháp. Những tác phẩm của Patrick Modiano đã được Nhã Nam xuất bản: Phố những cửa hiệu u tối Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối Từ thăm thẳm lãng quên Để em khỏi lạc trong khu phố Quảng trường Ngôi sao Catherine cô bé đeo mắt kính Một gánh xiếc qua *** “Những đại lộ vành đai” lấy bối cảnh thời kỳ Pháp bị chiếm đóng với đầy những tan rã, đổ vỡ và thất lạc. Những đại lộ vành đai là tiểu thuyết thứ ba của Patrick Modiano, được xuất bản lần đầu tiên tại Pháp năm 1972, đoạt Giải thưởng lớn cho tiểu thuyết của Viện Hàn lâm Pháp. Những đại lộ vành đai là hành trình nhiều ẩn ức của người đàn ông Do Thái dưới danh tính giả định, Serge, tìm gặp cha mình sau gần một thập kỷ thất lạc.  Tác phẩm được viết bằng những câu ngắn, nhiều tính ẩn dụ, truyền cảm, đạt được hiệu quả cao trong việc đi sâu vào tâm thức của mỗi nhân vật. Truy tìm ký ức về cha Người kể chuyện đi tìm cha. Anh phát hiện cha mình đang sống giữa những kẻ đầy mờ ám. Ông ở ngôi làng vùng Seine-et-Marne, cạnh mé rừng Fontainebleau, trong những ngôi biệt thự bỏ hoang.  Người cha đó là ai? Kẻ buôn lậu? Một người Do Thái bị truy lùng? Tại sao ông sống cùng những kẻ đó? Người kể chuyện sẽ săn đuổi cho tới cùng người cha như một bóng ma đó. Hành vi thụ động của ông trong cuộc sống hiện tại giữa những gã lang thang, khiến anh bị sốc, đồng thời khinh bỉ, chán nản. Giữa hiện thực đầy bức bối ấy, chỉ có những kỷ niệm thời xa vắng, với những mảnh rời rạc, khiến anh cảm thấy mối liên kết với người cha của mình. Cuộc tìm kiếm cha cũng là cuộc truy vấn về thân phận con người trong xã hội đang sụp đổ, khi mọi thứ đẹp đẽ đang bị tàn phá bởi chiến tranh, bạo lực và sự bất nhân. Modiano viết về những điều đó bằng giọng văn u sầu, đẹp đẽ. Dòng chảy kể chuyện u buồn, tạc nên chân dung những kẻ lang thang bên rìa thành phố. Sống ẩn mình vào ban đêm trong những căn biệt thự ấy với rượu, thịt, đàn bà... như những “lễ hội của vô nghĩa”. Những thân phận vô danh tính trong lịch sử Patrick Modiano sinh ngày 30/7/1945 ở Paris, Pháp. Cha của ông là người suốt đời phiêu bạt và mẹ là diễn viên quanh năm lưu diễn. Cậu bé Patrick có tuổi thơ thiếu vắng tình phụ mẫu.  Cảm thức cô đơn với đầy những truy vấn về sự tồn tại của gia đình trở thành nỗi ám ảnh trong mỗi trang viết của Modiano. Ông dùng ngòi bút của mình, đi sâu từng ngóc ngách, lần mò những dấu vết còn sót lại để có thể dựng những bức chân dung thất lạc về con người.  Những con người không thể hiện hữu một cách cụ thể trong tâm trí ông. Nó chỉ có thể được chắp nối với những cái tên, âm thanh, hay món đồ vật cũ kỹ nào đó.  Từ Phố của những cửa hiệu u tối, Để em khỏi lạc trong khu phố, Từ thăm thẳm lãng quên, Modiano đều “đi tìm thời gian đã mất” bằng chút dư vị trong tâm thức của đô thị, của con người như thế. Cách Modiano tiếp cận những góc khuất u hoài ấy, khiến người đọc liên tưởng cuốn tiểu thuyết Villa triste (tạm dịch: Ngôi biệt thự buồn), được viết năm 1975 của ông.  Trong Ngôi biệt thự buồn, Yvonne và Victor giả vờ rằng mình đang sống quãng thời gian thanh thản. Cũng như cha của người kể chuyện, Deyckecaire và những kẻ đồng hành của ông, họ chỉ là những kẻ mất danh tính và bị đẩy ra ngoài rìa xã hội. Modiano luôn xử lý rất tốt khi tạo nên mối liên hệ giữa lịch sử gia đình và lịch sử thế giới thông qua hành trình truy tìm ký ức của mình. Những đại lộ vành đai trong nỗi ám ảnh gia đình, là cuốn tiểu thuyết nhiều riêng tư của Modiano. Nó có thể là mắt xích để người đọc đi vào ngóc ngách ký ức của tác giả. Nó cũng giống như cách Orhan Pamuk đi tìm tiếng nói của gia đình, của người cha trong Nàng tóc đỏ. Hai người đàn ông, hai nhà văn đoạt giải Nobel, đều mang trong mình những ẩn ức không thể chôn giấu về tuổi thơ mất mát. Văn chương thấm đẫm u buồn Tiểu thuyết của Patrick Modiano quyến rũ người đọc với chủ đề ký ức, được biểu đạt bằng ngôn ngữ văn chương mang đậm màu sắc u buồn, thơ mộng. Những đại lộ vành đai đề cập chủ đề về nỗi đau, sự bất hạnh, đồng thời phô bày nhiều xảo trá, tinh ranh của con người trong cuộc sinh tồn giữa thời kỳ chiếm đóng. Thế nhưng, Modiano đã phủ lên câu chuyện một lớp ngôn ngữ tinh tế. Người đọc cứ theo tầng tầng lớp lớp ngôn ngữ của ông mà cuốn mình vào thế giới sâu thẳm ấy, như đi trong giấc mộng.  Những hiện thực xấu xí, những khu phố đổ nát, những con người tha hóa ở hiện thực này, nhưng lẩn khuất đâu đó, trong ánh mắt mơ màng, trong cơn mơ giữa chiều, là một thời kỳ tươi đẹp đã qua.  Lối viết của Modiano khiến Những đại lộ vành đai mang đậm màu sắc siêu thực, có những khoảnh khắc người đọc không còn phân biệt được đâu là hiện tại, đâu là ký ức, đâu là hiện thực, đâu là giấc mơ... Ta không thể biết sẽ trượt chân vào đâu, như lời ông viết: “Sương mù chưa tan, vỉa hè trơn trượt. Càng lúc, tôi càng thấy mình dễ trượt chân”. Thế giới thăm thẳm của Modiano cần rất nhiều thời gian để tìm kiếm, nghiền ngẫm. Chính vì thế, văn chương của ông luôn quyến rũ, mỗi lần đọc đều thêm một lần bất ngờ và sâu sắc. Những đại lộ vành đai được xuất bản lần đầu tiên tại Việt Nam năm 1989 với bản chuyển ngữ của dịch giả Dương Tường, tên gọi Những đại lộ ngoại vi, NXB Văn học.  Sau khi Patrick Modiano đoạt giải Nobel văn học năm 2014, nhiều tác phẩm của ông đã được xuất bản tại Việt Nam như: Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối, Phố của những cửa hiệu u tối, Từ thăm thẳm lãng quên, Để em khỏi lạc trong khu phố... Năm 2020, cuốn sách Những đại lộ ngoại vi với bản chuyển ngữ của dịch giả Trương Xuân Huy, được giới thiệu đến bạn đọc trong diện mạo mới, dưới tên gọi Những đại lộ vành đai. *** Tôi vẫn nghĩ hồi ức chỉ như một cơn gió đầu mùa. Chóng đến. Mau đi. Khiến người ta vừa kịp nhận ra cái hoang vu ấy về ngang phố, về ngang đời nhau. Trong cuộc đời mỗi người sẽ có rất nhiều hồi ức như vậy, phân nửa muốn đào thoát, phân nửa muốn tìm lại như một trong những vết sẹo không thể xóa đi mà cả hiện tại lẫn tương lai đều không cách nào trả lại cho ta, mà người ta chỉ có được một lần trong đời. Và chẳng còn gì bàn cãi khi điều làm ta nhớ hơn cả lại là những hồi ức buồn. Nhưng… buồn bao nhiêu là đủ, phải mất mát nhường nào để khi đối diện với trang giấy trắng có thể thôi thúc ta viết ra như một sự giải thoát? Và nếu như… Viết về thời điểm ta còn chưa có mặt sẽ thế nào nhỉ, có phải là rất mơ hồ? Tuyệt nhiên không, thậm chí việc ngược về quá khứ, lật lại những trang lịch sử còn có thể hình dung rõ hơn những đường nét của hiện tại và tương lai. Đây chính là cái tài của Patrick Modiano, được thể hiện qua tác phẩm Những đại lộ vành đai (Nhà xuất bản Hà Nội).  Không phải mình Patrick Modiano viết về chiến tranh nhưng có một điều, trong trường hợp này thì thật kỳ lạ, ông sinh năm 1945 khi Thế chiến II vừa kết thúc, nhưng bằng một cách nào đó những hình ảnh nước Pháp bại trận năm ấy, chính là thời kỳ Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng (năm 1940-1944) đeo bám, ám ảnh ông triền miên, đó là một trong những trường đoạn, có thể cho là đau đớn nhất của cuộc đời mà từ lâu đã trở thành hồi ức, thành một phần máu thịt và cả linh hồn đã và luôn thường trực trong ông. Và biết đâu rằng đây là cách để Patrick Modiano “tìm lại thời gian đã mất” khi mang trong mình những ẩn ức không thể chôn giấu về tuổi thơ mất mát, sống trong một gia đình mà ở đó thiếu đi tình thương yêu, chăm sóc từ cha mẹ, tệ hơn cả đó còn là những vết thương lòng không cách nào lành lại được. Không cách nào bỏ đi được. Tôi nhớ ai đó từng nói “Thời gian là liều thuốc kỳ diệu, nó sẽ: Biến nỗi buồn thành bài học. Biến cô đơn thành thói quen, và biến nước mắt thành nụ cười mạnh mẽ”. Nhưng kỳ thực thời gian chẳng kỳ diệu đến thế, nó chỉ khiến mọi thứ trở nên rõ ràng hơn mà thôi. Cho đến khi đọc Modiano, bạn có thể sẽ nhận ra những điều kể trên đều hiện diện trong ba tác phẩm đầu tay của ông: Quảng trường Ngôi Sao, Tuần tra đêm, Những đại lộ vành đai hay còn được gọi là “Bộ ba về Thời kỳ chiếm đóng”.  Nói như Patrick Modiano thì “Con người bao giờ cũng tò mò muốn biết cội nguồn của mình”, dù có hiểu theo cách nào thì việc đi tìm những “cội nguồn” ấy trở thành nét chủ đạo ở các nhân vật của Modiano. Chúng ta đều công nhận với nhau rằng, hình tượng người mẹ trong văn học luôn là thứ tình cảm chân thật nhất, bạn có thể viết láo cho một đề tài nào đó, chứ viết về mẹ thì không. Và ở đâu, thời nào cũng tha thiết như nhau. Nhưng khi viết về cha sẽ thế nào nhỉ? Ở góc độ cá nhân, tôi nhớ ngay đến Franz Kafka và cha ông - Hermann trong một số truyện ngắn Hóa thân, hay Quentin Compson của Âm thanh và cuồng nộ và hơn cả là Kafka bên bờ biển đều là những mối quan hệ cha con phức tạp, bị ám ảnh, bị giày vò bởi người cha, bởi quá khứ và nguồn cội. Modiano với cảm thức cô đơn viết ra Những đại lộ vành đai gặp lại nỗi đau được sinh ra từ chính con người ông, về quá khứ bị “tước mất” mang tên: Gia đình, và ở đây là người cha khi chính trong một bài phỏng vấn nhiều năm về trước, ông phải thừa nhận rằng mình “đau khổ vì được ra đời” và bản thân như một “sản phẩm của một thời kỳ quái đản, khi những người lẽ ra không nên gặp nhau lại gặp và có con một cách tình cờ”. Nghe mà buồn thế. Nhưng bạn biết không, cũng chính bằng giọng văn u buồn ấy, thơ mộng ấy lại khiến văn ông đẹp hơn, lấp lánh dù ngay cả trong bóng đêm, tôi chắc chắc đấy. Thứ văn chương ấy dường như có một mạch ngầm chảy tràn qua các tác phẩm, đẹp ngay giữa những cái điêu tàn, đẹp cả trong đổ vỡ đau thương, mất mát nhưng lại chẳng khiến người đọc u uất mà chỉ nghiêm túc truy vấn về sự tồn tại của bản thân, ta là ai, ta đang ở đâu trong thế giới này hỗn mang này. Lật giở từng trang sách, vẫn là cái ám ảnh về nguồn cội ấy, ta gặp lại nhân vật lấy danh giả định của một tiểu thuyết gia trong Những đại lộ vành đai đi xuyên thời gian để tìm lại người cha của mình, anh ta xâm nhập cái thế giới ám muội ấy, với hy vọng tiếp cận được cha mình. Chính xác thì ông là ai? Buôn lậu chợ đen? Một người Do Thái bị săn đuổi? Hoặc bất cứ ai khác? Cho đến cuối cùng người cha vẫn là một dấu hỏi, cho đến cuối cùng anh thêm một lần xác định lại địa điểm và thời gian. Nhưng với nỗi đau đầy âu yếm, anh như muốn hòa vào với cha và chịu trách nhiệm về một quá khứ biến động cũng chính là nơi ông xuất thân. Ở đó, các nhân vật như những bóng ma trở về từ quá khứ, họ treo lơ lửng, tan biến trong các khu phố đổ nát của một Paris xưa cũ, tạc nên chân dung những kẻ lang thang: Mất danh tính. Đang sống mà lại không giống như thế, mỗi người như giấu trong mình một ý nghĩ mù mờ nào đó hoặc một quá khứ xa xăm, khó nắm bắt từ nhiều năm về trước, đến nỗi mà khi nhớ về những hồi ức ấy, thậm chí còn ngỡ nó không hề có thật, để rồi lại loay hoay đi tìm chính mình cả ở hiện tại và quá khứ, khiến bạn đọc nhiều khi không phân biệt được đây là quá khứ hay hiện tại, đây là kí ức hay giấc mơ…một thế giới thăm thẳm như vậy trong tâm trí Modiano, ta chẳng biết lúc nào sẽ trượt chân… Bạn biết đấy, đọc Patrick Modiano, nhớ một điều… phải tỉnh!   Mời các bạn đón đọc Những Đại Lộ Vành Đai của tác giả Patrick Modiano & Trương Xuân Huy (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Scaramouche - Kiếm Sĩ Không Trái Tim - Rafael Sabatini
“Người ta tự hỏi liệu còn người kể chuyện nào khác có thể khéo léo đến thế trong việc phủ kín các trang viết của mình với những âm mưu đối đầu với âm mưu, với hiểm nguy xen cài lãng mạn, trên một tấm phông nền đầy những màu sắc sống động, với lụa là và nhung phục, đao kiếm và trang sức.” Scaramouche - Kiếm sĩ không trái tim là câu chuyện về André-Louis Moreau. André-Louis Moreau chào đời mang theo khiếu hài hước cùng cảm giác thế giới thật điên rồ. Nhưng khi chứng kiến người bạn thân thiết bị Hầu tước de La Tour d’ Azyr sát hại, André-Louis cảm thấy mình buộc phải dấn thân vào sự điên rồ của thế giới để xác lập lại công lý và tạo cơ hội cho những tư tưởng của bạn mình tìm thấy tiếng nói của chúng trên đầu lưỡi anh. Từ một luật sư, anh trở thành một nhà diễn thuyết, một anh hề, một kiếm sĩ, rồi một chính trị gia. Ở mỗi ngã rẽ của đời mình, anh đều chạm mặt với Hầu tước một cách đầy bi kịch. Nhưng đợi anh ở cuối con đường gian truân ấy lại chẳng phải là công lý như anh hằng mong đợi mà là một sự thật tréo ngoe và buốt giá. Được viết bằng thứ văn chương phong phú, giàu hình ảnh, đầy những đối thoại sắc sảo, những quan sát tinh tế, cuốn tiểu thuyết ra đời từ năm 1921 này vẫn chưa bao giờ đánh mất đi sức hấp dẫn của nó. Ở nhiều nơi, nó đã được xếp vào hàng kinh điển. Một dấu son trong sự nghiệp chói sáng của Rafael Sabatini. *** Rafael Sabatini (1875 - 1950) là nhà văn chuyên viết truyện thám hiểm - lãng mạn và thu được nhiều thành công lớn. Ông đã nhận được giải Book Prize. Một số tác phẩm nổi tiếng của ông  là: Chim ó biển (1915), Cuộc đời chìm nổi của thuyền trưởng Blood (1922)... Ông xuất hiện trên bầu trời văn học cùng thời với rất nhiều tên tuổi rực sáng khác như A. Dumas, W. Scott, và là một trong những tác giả được mến mộ nhất thời ấy, với dòng tiểu thuyết hiệp sĩ, lãng mạn. Một số tác phẩm nổi tiếng của Rafael Sabatini: - Này chiến trận, này cuồng si - Chim ó biển (The sea hawk, 1915), - Cuộc đời chìm nổi của thuyền trưởng Blood (Captain Blood, 1922); - Scaramouche - Kiếm Sĩ Không Trái Tim (1921); - Tình Yêu Ra Trận - Bellarion the Fortunate (1926)...  Mời các bạn đón đọc Scaramouche - Kiếm Sĩ Không Trái Tim của tác giả Rafael Sabatini.
Một Đứa Trẻ Vừa Chạy Trốn Khỏi Tôi Tập 1 - Nguyễn Nga
Đó không phải là gia đình. Nơi mỗi ngày nhân vật "Tôi" cùng anh chị chạy trốn những cơn say rượu điên cuồng của cha. Thói bắt nạt "đàn anh" của những đứa trẻ ngày càng tàn nhẫn. Nhân vật “Tôi” đối mặt với đói, cô đơn, tổn thương và cái chết…khi cô bé chỉ mới 10 tuổi. *** Nguyễn Nga hiện là nhà văn, biên kịch, blogger sống và làm việc tại TP.HCM. Đọc những mẩu chuyện cực ngắn nhưng ý nghĩa, thú vị về tình yêu-hôn nhân-gia đình, cuộc sống trên instagram của cô ấy. INSTAGRAM:https://www.instagram.com/vietlach/ Đọc miễn phí truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim và bài viết chia sẻ kinh nghiệm viết cũng như hướng dẫn SEO sách, ebook tại blog cá nhân của cô ấy. BLOG:http://vietlachvn.com/ Lưu ý: Tất cả tác phẩm, bài viết của Nguyễn Nga tuy là miễn phí nhưng mong quý bạn đọc tôn trọng quyền tác giả. Chỉ sử dụng với mục đích cá nhân, việc chia sẻ lại nên ghi rõ nguồn của tác giả. Mời các bạn đón đọc Một Đứa Trẻ Vừa Chạy Trốn Khỏi Tôi Tập 1 của tác giả Nguyễn Nga.
35 Ki Lô Hy Vọng - Anna Gavalda
Grégoire ghét trường học, ghét đến nỗi mới lớp sáu, nó đã phải ở lại lớp đến hai lần. Thế nhưng nó lại có một biệt tài: chế tạo và sửa chữa những đồ lặt vặt. Nơi duy nhất mà nó thực sự thích, góc trú ẩn của nó, đó là căn lều nhỏ ở góc vườn của ông Léon, bởi ông là người duy nhất lắng nghe nó, hiểu nó, và chia sẻ niềm đam mê với nó. Tuy vậy khi Grégoire bị đuổi khỏi trường, ông Léon đã vô cùng tức giận. Lần này, ông từ chối an ủi thằng cháu nhỏ và cũng chẳng còn che chở cho nó nữa. Tình yêu của người ông ẩn giấu sau thái độ lạnh nhạt ấy giúp Grégoire dần hiểu ra đã đến lúc nó phải lớn lên và tự đi tìm con đường cho chính mình bằng lòng dũng cảm và niềm hy vọng... 35 ki lô hy vọng là cuốn sách thứ tư của Anna Gavalda sau Giá đâu đó có người đợi tôi, Bố đã từng yêu vàChỉ cần có nhau được xuất bản tại Việt Nam. Đây cũng là cuốn sách đầu tiên của bà dành cho các bạn trẻ. Một cuốn sách tâm tình và xúc động, ở đó vấn đề được đặt ra là học cách sống và tìm thấy vị trí của mình. Một cuốn sách tràn ngập tinh thần lạc quan, tình yêu và hy vọng - có lẽ không chỉ 35 ki lô! *** Anna Gavalda sinh ngày 9-12-1970 tại Boulogne-Billancourt. Cô đã theo học và nhận bằng cử nhân văn chương tại Đại học Sorbonne. Hiện nay cô đang làm ở tạp chí Elle. Ngoài ra Gavalda còn viết thời luận cho tạp chí Paris-Ile-de-France của Journal du Dimanche và giảng dạy tiếng Pháp… Anna Gavalda là một giáo viên người Pháp và tiểu thuyết gia từng đoạt giải thưởng. Được tạp chí Voici gọi là "hậu duệ xa xôi của Dorothy Parker", Anna Gavalda sinh ra ở một vùng ngoại ô thượng lưu của Paris. Sau “Giá đâu đó có người đợi tôi”, “Bố đã từng yêu”, “Chỉ cần có nhau”, “35 kilô hy vọng"… Anna Gavalda đã trở thành cái tên quen thuộc trên văn đàn Pháp với hơn 4 triệu bản sách bán ra. Mời các bạn đón đọc 35 Ki Lô Hy Vọng của tác giả Anna Gavalda.
Chim Én Liệng Trời Cao - Ma Văn Kháng
Trên văn đàn Việt Nam, có lẽ hiếm tác giả có sức viết dẻo dai, bền bỉ như nhà văn Ma Văn Kháng. Sau gần ba mươi tác phẩm ở nhiều thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, tản văn…; mới đây, ở tuổi ngoài 80, nhà văn Ma Văn Kháng cho ra mắt tiểu thuyết Chim én liệng trời cao - tác phẩm gần 400 trang sách phát triển từ truyện ngắn Chim én do ông khởi bút gần nửa thế kỷ trước. Bút danh Ma Văn Kháng khiến nhiều độc giả tưởng rằng đây là nhà văn miền núi, người dân tộc thiểu số, chứ ít ai nghĩ ông là nhà văn Hà Nội gốc, tên thật là Đinh Trọng Đoàn, sinh ra tại làng Kim Liên, quận Đống Đa, một ngôi làng cổ của Hà Nội. Ông từng là giáo viên dạy văn và hiệu trưởng một trường cấp ba tại tỉnh Lào Cai. Hơn 20 năm tuổi trẻ gắn bó với vùng đất này, dường như cuộc sống, văn hóa của người dân vùng núi rừng Tây Bắc đã trở nên máu thịt trong ông. Ông từng chia sẻ: “Linh giác đây là vùng đất, vùng thẩm mỹ đầy bí ẩn đã mê hoặc tôi ngay từ khi tôi vừa đặt chân lên mảnh đất Lào Cai, vùng địa đầu của Tổ quốc. Gọi linh giác có lẽ là chính xác vì lúc đó tôi 18 tuổi, vậy mà lại đinh ninh rằng ở vùng đất này, mình sẽ làm được cái gì đó để lập thân, lập nghiệp và có ích cho đời, thế có lạ không?”. Chim én liệng trời cao là khúc ca đẹp, hùng tráng về cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp của người dân vùng núi rừng Tây Bắc khoảng thời gian cuối những năm 40, đầu những năm 50 của thế kỷ trước. Bối cảnh câu chuyện diễn ra tại địa bàn Cam Đồng, một xã gồm bốn thôn người Tày và một thôn U Sung trên núi cao thuần người Dao. Cuộc chiến đấu đầy gian khổ, sự trưởng thành của người dân về tư tưởng và tinh thần đấu tranh cách mạng thể hiện xuyên suốt qua nhân vật Tiển. Từ một cậu bé ở bản quê Cam Đồng hằng ngày ngồi trên lưng trâu, ngắm “bầy chim én cất tiếng rộn vang trên bầu trời sớm mai”, thổi sáo trúc bài “Chim én liệng trời cao”, Tiển sớm gia nhập vào hàng ngũ những người làm cách mạng, trở thành chiến sĩ liên lạc và trưởng thành cùng sự phát triển của cách mạng trên mảnh đất quê hương. *** Ma Văn Kháng lao động văn chương như một người H'Mông trồng bắp trên núi, lặng lẽ, cần cù, kiên nghị. Không ồn ào to tiếng với ai. Nét mặt anh cũng có cái vẻ chất phác núi rừng, ít nói, ít tranh luận, nghe ai nói nhiều chỉ gật đầu, hơi như ngơ ngác nữa. Độc giả văn chương quen biết anh bằng tập Xa phủ (1969), tập truyện đầu tay, xinh xinh và đáng yêu như những chú thỏ non trong rừng rậm. Và sau đó thì đều đặn, năm in một tập, năm in hai tập, ở các Nhà xuất bản Văn học, Thanh niên, Phụ nữ, Công an nhân dân, Lao động và Kim đồng. Tính đến Đồng bạc trắng hoa xòe là ấn phẩm thứ mười một của anh trong vòng thập niên trở lại đây, thuần về miền núi. Văn học miêu tả dân tộc miền núi, nói nghiêm túc, mới chỉ có sau Cách mạng tháng Tám, trong kháng chiến Việt Bắc. Những tiểu thuyết đường rừng của Lan Khai trước kia (Tiếng gọi của rừng thẳm, Truyện đường rừng, Suối đàn), ít nhiều của Thế Lữ (Vàng và Máu, Một đêm trăng), chỉ là những truyện mượn rừng núi nhằm gây một cảm giác ly kỳ rùng rợn. Người đặt nét bút đầu tiên khai phá vùng núi cao trong văn học Việt Nam phải kể là Nam Cao với Ở rừng (1948). Đấy mới chỉ là những phác thảo trong những trang nhật ký duyên dáng của anh, nhưng bóng dáng người miền núi hiện ra đã thật là có tình và đáng yêu. Rồi Nam Cao mất, chưa kịp làm gì thêm cho miền núi nữa. Cùng sống với Nam Cao là Tô Hoài, có Núi Cứu quốc (1948). Vẫn chỉ là những nét phác thảo. Phải đến năm 1953, cái vùng đất biên cương núi non trùng điệp vòng phía Tây Bắc Tổ quốc mới lấp lánh trong văn học Việt Nam với Mường Giơn giải phóng và Vợ chồng A Phủ. Và sau nữa thì tiểu thuyết Miền tây (1967) khẳng định mảng văn học miền núi trong bức tranh toàn cảnh văn học cách mạng Việt Nam là không thể không chú ý được, là đã đóng chốt vào rồi. Nhà văn Tô Hoài với ngọn bút lão luyện và tài hoa, đã chấm phá bức tranh thủy mạc về người về cảnh miền núi chinh phục chúng ta từ nhiều năm nay. Con dế mèn phiêu lưu đã xòe cánh trên vùng Tây Bắc... một lời khen rất có duyên về anh, và chứng tỏ cái uy thế tuyệt đối của anh về địa bàn miền núi. Lúc ấy Ma Văn Kháng vẫn còn là cậu học trò cần cù học, đọc và lầm lũi như chú bé dân tộc theo mẹ đi chợ, đi theo con đường của Nam Cao, Tô Hoài khai phá. Tiếp bước cha anh... đấy là truyền thống dân tộc. Tác phẩm Đồng bạc trắng hoa xòe (tiểu thuyết, 1979 Vùng biên ải (tiểu thuyết, 1983) Người Thợ Mộc Và Tấm Ván Thiên Gặp Gỡ Ở La Pan Tẩn Chim Én Liệng Trời Cao Trăng non (tiểu thuyết 1984) Phép lạ thường ngày Thầy Thế đi chợ bán trứng Mưa mùa hạ (tiểu thuyết 1982) Mùa lá rụng trong vườn (tiểu thuyết, 1985) Võ sỹ lên đài Thanh minh trời trong sáng Hoa gạo đỏ Côi cút giữa cảnh đời (tiểu thuyết 1989) Đám cưới không giấy giá thú Đám cưới không có giấy giá thú (tiểu thuyết, 1989) Chó Bi, đời lưu lạc (tiểu thuyết 1992) Ngày đẹp trời (truyện ngắn 1986) Vệ sĩ của Quan Châu (truyện ngắn 1988) Giấy trắng (tiểu thuyết) Trái chín mùa thu (truyện ngắn 1988) Heo may gió lộng (truyện ngắn 1992) Trăng soi sân nhỏ (truyện ngắn 1994) Ngoại thành (truyện ngắn 1996) Truyện ngắn Ma Văn Kháng (tuyển tập 1996) Vòng quay cổ điển (truyện ngắn 1997) Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương (hồi ký 2009) Một mình một ngựa (Tiểu thuyết 2007) Một Chiều Dông Gió Một Nhan Sắc Đàn Bà Trốn Nợ Mời các bạn đón đọc Chim Én Liệng Trời Cao của tác giả Ma Văn Kháng.