Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Jean Valjean - Victor Hugo

Giăng Vangiăng là một thanh niên nghèo khỏe mạnh sống cùng người em gái đã góa chồng đang nuôi bảy đứa con nhỏ sống rất cơ cực. Anh không có vợ con, chỉ chuyên tâm đi làm thuê qua ngày để nuôi các cháu. Vì khỏe mạnh nên những ngày ban đầu cuộc sống vẫn đủ ăn, nhưng càng về sau công việc càng ít đi, tiền làm thuê không đủ, các cháu anh đã phải nhịn đói mấy ngày. Trước hoàn cảnh đó, Giăng Vangiăng đã đến tiệm bánh mỳ ăn cắp một miếng bánh mỳ nhỏ đem về cho các cháu ăn nhưng không thành công và anh bị bắt, người ta đã tuyên án anh 5 năm tù giam vì tội ăn cắp. Ở trong tù anh tìm cách trốn thoát nhiều lần nhưng đều không thành công, lại bị gia hạn thêm năm tù nên tổng cộng số năm anh ở trong tù là 19 năm. Tại đây anh đã nuôi dưỡng ý chí thù hận đối với cuộc đời. Mãn hạn tù khi đã hơn bốn chục tuổi, anh đi đến đâu cũng gặp sự khinh ghét, xua đuổi của mọi người. Có người đàn bà tốt bụng đã chỉ cho anh đến ngôi nhà của đức Giám mục Myriel để xin ăn ngủ. Tại nhà của đức Giám mục Myriel, anh được đối xử rất tốt như một con người bình thường, chứ không phải như một người bị người ta xua đuổi khi mang giấy thông hành màu vàng. Tuy nhiên, sự thù hận cuộc đời đã nung nấu trong tù của Giăng Vangiăng đã thôi thúc anh ăn cắp bộ đồ bằng bạc của nhà Giám mục Myriel. Anh bị những người lính bắt lại vì có dấu hiệu khả nghi và đem giải đến chỗ nhà Giám mục Myriel, nhưng Giám mục Myriel bảo rằng đó là các đồ vật ông ta cho anh và yêu cầu họ thả Giăng Van Giăng ra, bảo anh từ nay phải trở thành người lương thiện và đối xử tốt với mọi người. Sau đó, Giăng Vangiăng đi qua thị trấn Môngtơrơi, anh đã cứu sống con của ông thị trưởng và phát hiện ra cách làm huyền theo phương pháp mới có thể tiết kiệm giá thành nguyên liệu, anh mở một xưởng làm huyền, làm cho Môngtơrơi trở thành một thị trấn giàu có, giải quyết công ăn việc làm cho rất nhiều người. Từ những việc làm đó, anh được nhà nước cho làm thị trưởng của Môngtơrơi dưới cái tên ông Mađơlen, mọi người hay gọi là bác Mađơlen vì hay làm từ thiện và giúp đỡ mọi người. Lúc này ông gặp Phăngtin trong một hoàn cảnh bi đát và cứu sống cô, hứa sẽ đưa con gái về cho cô. Nhưng một biến cố đã xảy ra, chỉ vì để cứu một người điên tránh khỏi tù chung thân ông đã phải tiết lộ danh tính của mình, ông một lần nữa bị bắt lại, Phăngtin thì bị chết. Nhờ khỏe mạnh, ông một lần nữa chạy thoát khỏi án tù khổ sai, thực hiện lời hứa với Phăngtin để đi cứu bé Côdét lúc đó đang sống ở nhà gia đình Tênácđiê, để chạy trốn khỏi sự truy lùng của Javert, ông đã đưa Côdét vào sống trong một nhà tu kín không ai có thể vào được. Côdét gọi ông là cha. Vài năm sau, lúc này Côdét đã trở thành một cô thiếu nữ, cô đã gặp và yêu chàng thanh niên quý tộc đang sống nghèo khổ là Mariuýt. Giăng Van Giăng cảm thấy khó chịu vì điều này có thể khiến ông mất Côdét. Ông định đi ra nước ngoài để hai người không gặp nhau nữa. Lúc này cuộc cách mạng trong nhân dân đang nổ ra mạnh mẽ, Mariuýt đau đớn vì người yêu sắp phải đi xa, anh tham gia vào cách mạng với các đồng chí của mình. Anh gửi cho Côdét bức thư cuối cùng, nhờ chú bé Gavơrốt chuyển đi nhưng bức thư lại đến tay Giăng Vangiăng. Ông đã đến các chiến lũy để bảo vệ và cứu chữa cho Mariuýt và những người khởi nghĩa. Tại đây, nhóm khởi nghĩa đã bắt được viên thanh tra Giave nhưng Giăng Vangiăng không giết mà lại thả cho hắn ta tự do. Cuộc khởi nghĩa thất bại, mọi người đều bị giết chết, chỉ có Giăng Vangiăng là cứu sống được Mariuýt bằng đường cống ngầm khi anh đang bị thương rất nặng, Mariuýt không hề biết ai đã cứu mình. Ra khỏi đường cống ngầm dưới Paris, Giăng Vangiăng gặp lại viên thanh tra Giave, nhưng hắn không bắt ông mà cũng thả ông tự do, còn hắn thì tự tử vì đã không làm tròn trách nhiệm của một cảnh sát. Giăng Vangiăng đưa Mariuýt về nhà ông của anh, một quý tộc già rất yêu thương anh nhưng không muốn anh giống cha anh đi theo Napôlêông. Mấy tháng sau, Mariuýt khỏi bệnh và cưới Côdét, Giăng Van Giăng cho Côdét của hồi môn là số tiền rất lớn ông kiếm được khi còn làm thị trưởng. Những ngày cuối đời Giăng Vangiăng sống trong cảnh cô đơn, buồn tủi, chỉ được gặp Côdét rất ít bởi vì Mariuýt lúc này vẫn không biết ông là người cứu sống anh, anh vẫn nghi ngờ về số tiền của Giăng Vangiăng cho nên không dùng đến, và biết Giăng Van Giăng từng là một người tù khổ sai. Tuy nhiên, khi Tênácđiê nói ra toàn bộ sự thật thì Mariuýt lúc đó thấy hối hận, anh cùng vợ đi đến chỗ Giăng Vangiăng đang hấp hối. Ông không hề trách ai chỉ khuyên bảo hai vợ chồng yêu thương nhau, ông nhắm mắt trong hạnh phúc với hình ảnh ông Giám mục ở trên thiên đường tươi cười đón ông lên. *** Cuộc nổi dậy tai hại tháng sáu 1832 là cuộc chiến tranh đường phố lớn nhất trong lịch sử. Đó là một cuộc nổi dậy khác thường. Chiến lũy mọc lên khắp Paris. Cái thì chắn cửa ô Saint-Antoine, cái khác lại ngăn cản việc tiến đến gần ô Temple. Chiến lũy Saint-Antoine thật là khủng khiếp, nó cao tới bốn tầng và rộng bảy trăm pi-ê. Mười chín chiến lũy nhỏ trải ra theo chiều dài các đường phố, đằng sau chiến lũy mẹ đó. Trên chiến lũy này, một lá cờ đỏ to phần phật trước gió. Cách đó một phần tư dặm, bên kia con kênh, trên đường phố ngược lên mái dốc Belleville, chỗ đỉnh dốc, người ta nhìn thấy một bức thành lạ, cao tới tầng ba các nhà mặt phố. Bức thành đó được dựng bằng những viên đá lát. Nó thẳng thắn, đúng cách sắp theo dây dọi, lạnh lẽo vuông thành sắc cạnh. Người ta nhận thấy, từng quãng một, trên bề mặt màu xám của bức thành có những lỗ châu mai rất khó nhìn thấy, nó giống như những sợi chỉ đen. ánh nắng chói chang tháng sáu tràn ngập cái vật kinh khủng ấy. Đó là chiến lũy của ô Temple. ở đó, tám mươi người đã chống chọi lại cuộc công kích của mười nghìn vệ binh. Nó giữ được ba ngày, và chỉ một mình thủ lĩnh Barthélimy thoát khỏi cuộc tàn sát. Chiến lũy phố Chanvrerie thì chỉ là một phác họa, một phôi thai, so với hai tên khổng lồ mà chúng tôi vừa tả qua, nhưng, đương thời, nó thật đáng gờm. Jean Valjean vẫn ở chỗ cũ, bất động trên cột mốc. Gavroche đã chết như một anh hùng. Marius đã lượm xác đứa con của Paris và một viên đạn đã sượt qua trán chàng. Courfeyrac, một bạn chiến đấu, lấy khăn tay của mình băng đầu cho chàng. Tuy vậy, Marius chỉ có một ý nghĩ trong đầu: Cosette. Tình hình nghĩa quân ngày càng trở nên gay cấn. Người ta làm hết sức mình để củng cố chiến lũy. Đá lát được dùng để lấp kín đến tận nửa chiều cao của cửa sổ tầng hai và các cửa con tầng áp mái. Rồi người ta chặn cửa sổ phía dưới và để sẵn những gióng sắt để, đêm đến, ngáng bên trong cánh cửa quán rượu. Pháo đài thật hoàn chỉnh. Chiến lũy là thành, quán rượu là chòi canh. Công việc chuẩn bị pháo kích bao giờ cũng hơi chậm chạp, có phương pháp; sau đó là sấm sét. Sự chậm chạp đó cho phép Enjolras xem xét lại tất cả và hoàn thiện lại tất cả. Anh cảm thấy rằng tất cả những người như thế sẽ chết và cái chết của họ phải là một kiệt tác. Anh nói với Marius: - Chúng ta là hai người chỉ huy. Mình sẽ ra những lệnh cuối cùng ở bên trong pháo đài. Cậu ở lại bên ngoài mà quan sát. Marius lên vị trí quan sát trên đỉnh chiến lũy. Enjolras cho đóng đinh cánh cửa nhà bếp mà ta nhớ là nó được dùng làm trạm quân y. - Không được để nước bẩn bắn lên thương binh. Anh nói. Anh cho những chỉ thị cuối cùng trong căn phòng thấp, bằng một giọng ngắn gọn, nhưng rất mực điềm tĩnh, Feuilly lắng nghe và, thay mặt mọi người, trả lời: - ở tầng hai, phải có sẵn rìu để chặt cầu thang. Ta có không? - Có. - Feuilly nói. - Bao nhiêu cái? - Hai cái rìu và một cái búa. - Được đấy. Chúng ta gồm hai mươi sáu chiến sĩ còn vững vàng. Có bao nhiêu súng? - Ba mươi tư. - Dôi ra tám. Cứ giữ tám khẩu súng ấy, nạp đạn như những khẩu khác và cầm ở tay. Đai lưng đeo kiếm và súng ngắn. Hai mươi người ở chiến lũy. Sáu mai phục trên tầng áp mái và ở cửa sổ tầng hai để nổ súng vào bọn tấn công qua những lỗ châu mai. Mong rằng nơi đây không còn một người lao động nào là vô ích. Chốc nữa, khi trống đánh khai hỏa, hai mươi người ở dưới xông ngay lên chiến lũy. Những người tới đầu tiên sẽ là những người chiếm được chỗ tốt nhất. Cắt đặt xong, anh quay về phía Javert, và bảo hắn: - Ta không quên ngươi đâu. Rồi đặt một khẩu súng ngắn lên bàn, anh nói thêm:.- Người cuối cùng ra khỏi đây sẽ bắn vỡ đầu tên gián điệp này. - ở đây ư? - Một giọng hỏi. - Không, đừng để lẫn xác tên này với bọn ta. Ta có thể bước qua chiến lũy nhỏ trên ngõ Mondétour. Nó chỉ cao có bốn pi-ê. Tên này đã bị trói chặt. Ta sẽ dẫn hắn ra đấy mà xử. Lúc này, có ai đó thản nhiên hơn cả Enjolras: chính là Javert. Đến đây, Jean Valjean hiện ra. Ông đã đứng lẫn vào nhóm nghĩa quân. ông bước ra, và nói với Enjolras: - ông là người chỉ huy à? - Vâng. - Lúc nãy ông đã cảm ơn tôi. - Nhân danh nền Cộng hòa. Chiến lũy có hai cứu tinh, Marius Pommercy và ông. - ông có nghĩ rằng tôi xứng đáng được một phần thưởng không? - Tất nhiên rồi. - Thế thì tôi xin một phần thưởng. - Thưởng gì? - Tự tay tôi bắn vào đầu con người này. Javert ngẩng đầu lên, trông thấy Jean Valjean, liền làm một động tác khó nhận thấy, và nói: - Đúng đấy. Còn về Enjolras, anh đã bắt đầu nạp đạn khẩu các bin của mình. Anh đảo mắt nhìn xung quanh: - ông hãy nhận lấy tên mật thám. Quả vậy, Jean Valjean chiếm lấy Javert bằng cách ngồi lên đầu bàn. ông cầm lấy khẩu súng ngắn, và một tiếng lạch xạch nhỏ cho biết ông vừa nạp đạn. Gần như cùng lúc đó, người ta nghe thấy tiếng kèn vang lên. - Báo động! - Từ trên đỉnh chiến lũy, Marius kêu to. Javert cất tiếng cười, cái cười không thành tiếng rất riêng của hắn, và, vừa chằm chằm nhìn nghĩa quân, hắn vừa nói với họ: - Các người chẳng khỏe hơn ta là mấy. - Tất cả ra ngoài! - Enjolras kêu to. Nghĩa quân ồn ào lao ra, và, họ nghe được sau lưng, lời nói này của Javert: - Hẹn tý nữa nhé! ... Mời các bạn đón đọc Jean Valjean của tác giả Victor Hugo.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Frankenstein ở Baghdad
- John Schwartz, The New York Times Book Review “Suốt 200 năm từ khi Mary Shelley viết Frankenstein, con quái vật của bà đã tái xuất dưới vô vàn biến thể, song hiếm có biến thể nào trong số đó lại hoang dại hoặc đậm màu chính trị như con quái vật trong Frankenstein ở Baghdad của Ahmed Saadawi.” - Gregory Cowles, The New York Times “Mạnh mẽ… Siêu thực… Hài hước đen… Sử dụng một cách tài tình một nhân vật hung ác đầy kinh điển như Frankenstein trong một câu chuyện đặt ở thời hiện đại nhưng đầy chất ngụ ngôn.” - Chicago Tribune “Một thành tựu văn chương đáng kể, và, tiếc thay, đầy tính thời sự cấp thiết… Siêu thực, riết róng và thốn thấu… Kỳ lạ, tàn bạo, hài hước độc địa.” - Sarah Perry, The Guardian “Giở ra vì cốt chuyện hấp dẫn; đọc một lèo đến hết vì sự hài hước đen và cái nhìn choáng váng về bản chất con người.” - The Washington Post GIỚI THIỆU SÁCH: TÁC GIẢ: Ahmed Saadawi (sinh 1973‎) là một nhà văn, tác giả kịch bản và nhà làm phim tài liệu người Iraq. Ông đoạt Giải thưởng quốc tế Văn chương Ả-rập năm 2014 cho tiểu thuyết Frankenstein ở Baghdad. Ông hiện sinh sống và làm việc ở Baghdad. *** REVIEW “FRANKENSTEIN Ở BAGHDAD” – Ahmed Saadawi  December 17, 2022  No Comments Cuốn sách này của Ahmed Saadawi có một tựa đề đầy sức lôi cuốn và khơi dậy sự tò mò. Trong văn hóa đại chúng, “Frankenstein” của tác giả Mary Shelley vốn đã là cái tên khá nổi tiếng, mang tính biểu tượng về một con quái vật được tạo thành từ những bộ phận của các xác ch.ết. Ở đó, Mary Shelley cho chúng ta thấy nỗi đau của một con quái vật được đưa đến thế giới loài người, mong cầu tình thương nhưng nhận lại là sự hắt hủi, căm ghét, sợ hãi bởi hình dạng xấu xí và đáng sợ. Nhưng đó lại là câu chuyện riêng của con quái vật được sản sinh ra tại một đất nước thuộc châu Âu. Vậy nên bạn sẽ bất ngờ nếu “chạm trán” một “Frankenstein” trên đường phố Baghdad – thủ đô của Iraq, là một đất nước châu Á với cái tên khiến ta hay liên tưởng đến sự bất ổn về chính trị và quân sự. Sử dụng hình tượng “Frankenstein”, liệu thông qua đó Ahmed Saadawi muốn truyền tải điều gì trong tác phẩm này? “Frankenstein ở Baghdad” lấy bối cảnh tại thủ đô của Iraq vào năm 2003, đó là thời kỳ mà đất nước này diễn ra xung đột chính trị gay gắt giữa nhiều bên như chính phủ Iraq liên minh với quân đội Hoa Kỳ để chống lại dân quân Hồi giáo Shiite và Sunni. Đầu thế kỷ 21, khi mà phần đông các quốc gia trên thế giới đang được sống trong hòa bình, hợp tác cùng phát triển thì tại một số quốc gia, vùng lãnh thổ (như Iraq) vẫn đang ầm ĩ tiếng b.om đ.ạn. Nếu bạn có một trái tim nhạy cảm, bạn sẽ phải thổn thức rằng vì đâu trong cùng một thời đại, có những người được sống những ngày tháng yên bình, thì lại có những người luôn phải sợ hãi khi tính mạng của họ bị đe dọa mỗi ngày. Và chắc chắn không ai có thể cảm nhận nỗi đau một cách chân thực nhất bằng những người trong cuộc, là người dân, những nạn nhân của những cuộc chiến phi nghĩa. Ahmed Saadawi – vừa là nhà văn vừa là đứa con của mảnh đất Baghdad, đã viết ra cuốn tiểu thuyết mà nó sẽ mang đến cho độc giả trên khắp thế giới cái nhìn rõ nét, đầy đau đớn về số phận con người và vùng đất nơi đây. Để thực hiện sứ mệnh của mình một cách hiệu quả, rõ ràng Ahmed Saadawi phải viết nên được một câu chuyện thật ấn tượng, với những chi tiết hư cấu hấp dẫn lôi cuốn được người đọc và làm sao để từ đó phản ánh thực tế một cách sinh động, khơi dậy được sự thấu hiểu và đồng cảm. Với mình thì Ahmed Saadawi đã làm được điều đó. Nó xóa tan trong mình nghi ngại rằng đề tài này cùng văn chương của một nhà văn Iraq sẽ khiến mình khó mà nuốt trôi. Như đã nhắc ở phần đầu, việc sử dụng lại một hình tượng khá nổi tiếng trong văn hóa đại chúng như “Frankenstein” không khiến cho cuốn tiểu thuyết trở thành một tác phẩm vay mượn hình tượng một cách nhạt nhòa, mà ngược lại Ahmed Saadawi đã biến nó trở thành thứ giúp ông truyền tải trọn vẹn nhất thông điệp của mình. Không khó để bắt gặp những hình ảnh, những yếu tố bạo lực trong tác phẩm. Nó xuất hiện nhan nhản từ đầu đến cuối: những vụ đánh b.om t.ự s.át, tr.a t.ấn, gi.ết người, hà.nh qu.yết,… Baghdad hiện lên trong mắt chúng ta như một nơi cực kỳ bạo lực và cực kỳ nguy hiểm. Trong hoàn cảnh đó, biểu tượng của tác phẩm xuất hiện một cách thần kỳ và đầy mong đợi, sự xuất hiện của một vị cứu tinh. “Frankenstein ở Baghdad”, “Kẻ Không Tên”, “Vô Danh” hay “Daniel” là những cái tên mà người ta gọi hắn. Hắn là tác phẩm của Hadi – một gã buôn đồ cũ với cái thói ba xạo. Thế nhưng lần này Hadi không nói xạo: quả thực đã có một Frankenstein do hắn tạo nên bằng cách ghép những bộ phận cơ thể còn sót lại của những người ch.ết trong các vụ bạo lực ở Baghdad, và bằng một cách nào đó nó có linh hồn và sống dậy. Nguồn gốc cơ thể của hắn đã đưa hắn đến một sứ mệnh, đó là trả thù cho những nạn nhân đã ch.ết và góp phần tạo nên cơ thể đó. Đến đây, có thể thấy “Frankenstein” này đã không còn giống như phiên bản của Mary Shelley mà chúng ta đã từng biết. Không ai có thể biết rõ ràng về hắn, cũng như không ai có thể khẳng định được rằng hắn có tồn tại hay không? Dẫu sự thật là như thế nào, thì mình tin ít nhất hắn có tồn tại như một biểu tượng. Hắn chính là “Baghdad”! Vâng, cuốn tiểu thuyết này thành công không phải vì nó chọn một vấn đề gây nhức nhối đó là chiến tranh ở Iraq, mà với mình đó là bởi tác giả đã quá tài tình khi dùng câu chuyện đầy yếu tố hư cấu để phản ánh góc nhìn của người trong cuộc về cái thực tế đang diễn qua. Ahmed Saadawi đã nhào nặn nên nhân vật “Frankenstein ở Baghdad” bằng tất cả những gì ông thấy, cảm nhận và khao khát ở Baghdad. Như nhân vật “thằng khùng” trong tác phẩm đã nhận định, “Vô Danh” chính là một “công dân Iraq đích thực đầu tiên”. Điều này đã làm cho mình vỡ lẽ ra lý do vì sao tác giả lại mượn hình tượng “Frankenstein” cho nhân vật của mình. Vì được ghép nối từ nhiều bộ phận khác nhau của nhiều nạn nhân, trong đó có nhiều loại người, tầng lớp, tôn giáo, sắc tộc khác nhau nên rõ ràng cơ thể của “Vô Danh” chính là một cơ thể chung mang tính đại diện cho con người Iraq. Do đó có thể nói hành trình đòi lại công lý của “Vô Danh” cũng chính là tiếng lòng đầy phẫn uất của người dân Iraq đang kêu gào vì nỗi đau mà những cuộc chiến tranh giành quyền lực phi nghĩa đã mang lại cho họ. Thế nhưng càng theo dõi hành trình của “Vô Danh”, ta lại càng nhận ra có cái gì đó không đúng. Khi mà hành động trả thù của hắn ngày càng tàn bạo, vượt quá giới hạn, đôi khi lại bất chấp đúng sai để rồi tự bao biện cho bản thân mình. Chi tiết này đã làm nổi bật lên một thông điệp khác mà Ahmed Saadawi muốn truyền tải đến mọi người: bạo lực chỉ nối tiếp và sản sinh ra bạo lực, ta dùng bạo lực để thực thi công lý nhưng hóa ra chỉ đang gây thêm sự chia rẽ và nỗi đau. Đó không phải là thứ Baghdad đang cần và không phải là thứ sẽ cứu rỗi được Baghdad. Nếu đọc xong tác phẩm và chiêm nghiệm lại, ta sẽ thấy Ahmed Saadawi thật tuyệt vời. Rõ ràng câu chuyện về một con quái vật được tạo ra để trả thù lại cái ác bằng những cách tàn bạo nhất (và luôn thành công) nghe thật thõa mãn và hấp dẫn có đúng không? Nhưng rồi Ahmed Saadawi lại dẫn ta về với chân lý, khiến ta nhận ra rằng hóa ra từ đầu chúng ta đang đi sai đường mất rồi. Nhìn nhận lại toàn tác phẩm, bên cạnh một số điểm mạnh khác như xây dựng nhân vật tốt, cách triển khai và kể chuyện đầy hấp dẫn, gãy gọn… mình vẫn ấn tượng nhất với cách hình tượng hóa thông điệp tác phẩm của Ahmed Saadawi. Đó chính là lý do vì sao mình dành gần như toàn bộ nội dung bài viết này để viết về nó. Không phải là những lời nói tuyên truyền sáo rỗng, càng không phải chỉ là những lập luận tố cáo tội ác đơn thuần, Ahmed Saadawi đã bắt tất cả mọi người phải nhìn nhận lại một cách đúng đắn về thực tế và số phận của Baghdad. Bạn sẽ bị cuốn hút bởi câu chuyện về con quái vật “Frankenstein” đột nhiên xuất hiện ở Baghdad, nhưng dần bạn sẽ hiểu ra và không còn quá quan tâm đến chuyện liệu con quái vật này có tồn tại thật không. Ahmed Saadawi đã cho mình thấy sức mạnh của văn chương, một phương tiện để con người phản ánh và chống chọi lại thực tế khắc nghiệt. Đây xứng đáng là một tác phẩm cần được đọc nếu bạn muốn tìm hiểu về đất nước Iraq và những bất ổn nơi đây. Với mình, “Frankenstein ở Baghdad” vừa là một tác phẩm hay và đủ hấp dẫn để giải trí, đồng thời cũng tràn đầy những thông điệp nhân văn và ý nghĩa để ta chiêm nghiệm về cuộc sống. Review của độc giả Phát Nguyễn – Nhã Nam reading club Mời các bạn mượn đọc sách Frankenstein ở Baghdad của tác giả Ahmed Saadawi & Tất An (dịch).
Bích Ngọc
Càng lúc càng hoang mang về sứ mệnh thật sự của Hồng Ngọc trong Vòng tròn Thập nhị, Gwendolyn Shepherd sành điệu ở thế kỷ 21 đã hơn một lần liều lĩnh độc hành về quá khứ để gặp gỡ ông ngoại trẻ tuổi. Những manh mối hé dần chân tướng một âm mưu bí mật, khiến Gwen và những người ủng hộ cực kỳ bận rộn, kể cả Xemerius, dù nó không phải là người mà là một con quỷ đá vô hình tinh ranh. Và Gwen, với những nghĩ ngờ vực xoắn vặn trong não, vẫn tiếp tục song hành cùng Gideon đẹp trai chết người hồi khứ về các vũ hội huy hoàng thế kỷ 19, rồi ghen tuông, rồi cãi vã, vướng vào cuộc truy sát mất mạng. Cô có hồi sinh… hay không hồi sinh? Từ nút thắt thót tim này sẽ dẫn đến một hồi kết vô cùng kỳ lạ… Bích ngọc đã khép lại Timeless! Tất cả các bà mẹ đều say mê Kerstin Gier, giờ thì con gái họ cũng vậy... *** REVIEW TIMELESS CỦA KERSTIN GIER: Đọc kha khá rồi cơ mà đây là lần đầu tiên viết review, chắc tại lâu rồi mới có một bộ truyện mang lại cảm giác thỏa mãn như thế. Vì truyện khá hài hước nên mình sẽ viết theo kiểu free style, ngôn ngữ chắt lọc cảm giác không phù hợp lắm, có lẽ nên để dành cho Em sẽ đến cùng cơn mưa hoặc Nếu gặp người ấy cho tôi gửi lời chào. Tại sao mình lại biết bộ này? Đơn giản vì dạo hiệu sách và thấy bìa của nó quá đẹp! Mình lúc nào cũng thích bìa sách của Nhã Nam, từ bố cục, màu sắc, hình ảnh đều cho độc giả cảm giác mỗi cuốn sách của họ đều được đầu tư vô cùng kĩ lưỡng và hơn nữa là cái tên rất bắt tai: Hồng ngọc, Lam ngọc, Bích ngọc. Về nhà tò mò tìm và thử đọc cuốn đầu tiên: Hồng ngọc và không thể cưỡng lại phải mua ngay 2 cuốn sau! Đọc truyện mình khá là kén chọn, từ nội dung đến cách sử dụng câu từ, ý nghĩa của từng con chữ mình đều chú ý và thật tốt là khi đọc bộ này mình không phải nhíu mày một cái nào cả! (vì thế nên ngôn tình trung quốc chỉ đọc được một vài quyển vì cảm giác tác giả không đặt tâm vào ngôn ngữ). Đây là một bộ xuyên không mang yếu tố huyền bí, không phải đập đầu cái là xuyên không mà cái chi tiết xuyên không ở đây vô cùng rõ ràng, logic và thú vị (do gene) và nhân vật có thể xuyên không nhiều lần trong ngày với khoảng thời gian giới hạn. Các sự kiện trong quá khứ và hiện tại đan xen với nhau nhưng lại không hề rối rắm mà lại là lời giải thích cho nhau, hợp lý và tách biệt. Những bí ẩn được dần dần gợi mở làm độc giả hết ồ lại à nhưng không hề cảm thấy khó hiểu. Tình tiết truyện khá là nhanh, không gây buồn ngủ, mình chỉ thấy mối tình của 2 nhân vật (vô cùng romantic nhé) trong 2 tuần để đạt được tới mức yêu để không thể sống thiếu nhau thì hơi bị...nhanh quá, mình những hy vọng tác giả sẽ có thêm một chi tiết kiểu như Kim cương và Hồng ngọc yêu nhau là định mệnh (giống "duyên ngầm" của jacob và reneesme ý) cơ mà không có nhưng vì họ quá đáng yêu nên có thể tha thứ được. Nhân vậy nữ chính, Gwendolyn - viên Hồng ngọc cô gái này khá là cá tính, cái cách cô suy nghĩ khi biết mình mang gene vượt thời gian, khi sắp chết, khi thất tình, khi biết mình bất tử, có khóc lóc, có sợ hãi nhưng lại vô cùng hài hước và đáng yêu: " và ai biết được liệu cái bản đồ kia có chính xác không? Gỉa sử nó được vẽ bởi một tên ngố như marley thì sao? Trong trường hợp đó Gideon và tôi có thể sẽ được đào lên vào năm 2250, khi đã trở thành 2 bộ xương nắm tay nhau. Ồ, không, tôi quên mất, chỉ có Gideon hóa thành bộ xương, còn tôi, sống nhăn và khỏe mạnh, sẽ bấu lấy bộ xương của hắn, và viễn cảnh này cũng chẳng tươi đẹp lắm." Và người đồng hành với cô, bạn trai cô - Viên kim cương, Gideon de Villiers không chỉ khiến Gwenny tan chảy mà còn làm xiêu vẹo mình tin là hầu như tất cả các độc giả nữ, đẹp trai, kiến thức rộng, học vấn cao, đánh nhau giỏi, dũng cảm, si tình, nói chung tôi cảm giác Gier đã xây dựng nhân vật này vô cùng hoàn hảo nhưng lại rất gần gũi. Mình thích nhất đoạn, anh ta tự đánh vào phiên bản quá khứ của mình rồi chửi rủa như thể đó là một tên đần độn thực sự hay lúc anh ta tiêm phòng đậu mùa cho james - một nhân vật trong quá khứ, sau khi thành ma thì là bạn của gwen. "Tôi thề đó là lần cuối cùng tôi tiêm vắc xin cho người khác, đám bệnh nhân thật vô ơn!" Nhưng có lẽ, tan chảy vẫn là khi anh ta vừa khóc vừa ôm cái xác của gwen và nói "anh yêu em, đừng rời bỏ anh" Lãng mạn, hài hước, kịch tính là điều mình vô cùng thích ở cặp đôi này. Nhân vật thứ 3 trong tuyến chính diện cũng là nhân vật mà mình thích nhất là con quỷ đá Xemerius, tác giả miêu tả nó có thân thể mèo, cái cánh dơi và đuôi vẩy rồng, mình thì tưởng tượng nó phải cute cỡ như Keberos của clamp vậy. Mỗi lần nó cất lời hay nó hành động đều sẽ khiến người ta cười chảy cả nước mắt, cách nó bình luận, cách nó chê bai, cách nó kể chuyện khiến người ta phải đọc đi đọc lại cái đoạn đó. Qủy gì mà lại mê đọc ngôn tình nhưng suốt ngày giả bộ nôn ọe mỗi khi bắt gặp Gideon và Gwen hôn nhau. Và hãy nghe nó bình luận khi biết gwenny bất tử: "Gỉa sử một tấm bê tông 8 tấn rơi vào cậu, cậu có phải sống 1 cuộc đời bẹp rúm như một cái tem không?" Thấy chưa? thế thì ai có thể không yêu nó cơ chứ? Nhân vật cuối cùng mình muốn nhắc đến là nhân vật phản diện duy nhất của cả bộ truyện, bá tước Saint German, điều thú vị là nhân vật này có thật trong lịch sử nhé, mọi người có thể search google sẽ thấy rất nhiều bí ẩn hay ho xung quanh cuộc đời được cho là bất tử của người đàn ông này. Mình thì gặp ông ấy lần đầu trong series “Bí mật Nicholas Flamel bất tử”, khi đó vẫn là một siêu sao đáng yêu, chồng của Joan arc (chị này cũng có thật luôn) và bậc thầy của lửa. Thế mà chả hiểu sao đã nhảy sang đây để lập âm mưu giết Gweny tội nghiệp rồi. Còn về cách tác giả xây dựng nhân vật này thì cũng giống các nhân vật phản diện nói chung, không có gì đáng kể ( ngoài lề một chút, nhân vật phản diện mình yêu thích nhất là Loki, mà hình như ai cũng yêu anh ý thì phải). Để xem nào, kết thúc chuyện thì không thể viên mãn hơn, phải nói là VERY HAPPY ENDING, nhưng thôi không nói vào đây nữa vì sẽ ảnh hưởng đến những bạn có ý định đọc.  Với những ai thích sự lãng mạn, hài hước lại cộng thêm chút bí ẩn, hồi hộp thì đây đích thị là định mệnh của đời bạn. Còn với cái đứa thể loại nào cũng chơi như mình thì sau khi đọc Dan Brown thì bộ này đúng là giúp ổn định tinh thần nhiều lắm . *** Mở đầu Belgravia, London, Ngày 3 tháng Bảy, 1912   “Vết sẹo sẽ rất xấu xí,” Bác sĩ nói mà không ngẩng đầu lên. Paul cười nhăn nhó. “Ừm, dù sao cũng đỡ hơn bị chặt chân chặt tay như quý bà Lo Lắng Thái Quá đã dự đoán.” “Hay nhỉ!” Lucy gắt lên với Paul. “Em không lo lắng thái quá, và còn anh… ngài Đầu Rỗng Vô Tâm, đừng đùa cợt! Anh biết vết thương có thể nhiễm trùng nhanh đến mức nào, và đến lúc ấy thì anh giữ được tính mạng ở thời này là may đấy. Không có kháng sinh, còn bác sĩ thì ngu ngốc và vô dụng.” “Ồ, cảm ơn nhiều nhé,” Bác sĩ đáp, và bôi một thứ thuốc nâu nhờ nhờ lên vết thương vừa khâu xong. Xót như điên, Paul khó khăn lắm mới ghìm được mình không nhăn mặt. Anh chỉ hy vọng sẽ không để dây vết máu trên chiếc tràng kỷ thanh nhã của quý bà Tilney. “Dù sao thì họ cũng không làm khác được.” Lucy gắng điều chỉnh giọng nói cho thân thiện hơn. Cô thậm chí còn cố mỉm cười. Một nụ cười khá u uất, cho dù cô đã cố gắng. “Tôi tin chắc ông đang làm hết khả năng của mình,” Cô nói với ông bác sĩ. “Bác sĩ Harrison là người giỏi nhất đấy,” Quý bà Tilney cam đoan. “Và là người duy nhất có thể nhờ được,” Paul lẩm bẩm. Đột nhiên, anh thấy mệt rũ. Chắc chắn trong thứ nước ngòn ngọt mà ông bác sĩ cho anh uống có thuốc an thần. “Là người kín mồm kín miệng nhất thì đúng hơn,” Bác sĩ Harrison nói. Ông áp một dải băng trắng như tuyết lên tay Paul. “Và thực tình, tôi không tưởng tượng nổi việc chữa trị một vết thương do đâm chém có thể khác đi nhiều trong tám mươi năm tới.” Lucy hít sâu một hơi, và Paul lập tức đoán được sắp xảy ra chuyện gì. Một lọn tóc từ búi tóc trên đỉnh đầu cô roi xuống, cô hung hăng vén nó ra sau tai. “À thì, nhìn chung thì có lẽ là không, nhưng nếu vi khuẩn… òm, là cái lũ sinh vật đơn bào mà…” “Thôi nào, Luce!” Paul ngắt lời cô. “Bác sĩ Harrison biết rất rõ vi khuẩn là gì!” Vết thương vẫn xót kinh khủng, và Paul lại quá mệt, đến nỗi anh chỉ muốn nhắm mắt lại mà ngủ thiếp đi. Nhưng như vậy sẽ khiến Lucy càng thêm lo. Mặc dù ánh mắt cô đang long lên tức giận, anh biết đằng sau đó ẩn giấu nỗi bất an, và, tệ hơn nữa, là nỗi sợ. Vì cô, anh không được để lộ tình trạng tồi tệ hay cảm giác tuyệt vọng của bản thân. Vì vậy, anh nói tiếp: “Dẫu sao chúng ta cũng đang không ở thời Trung cổ; mà ở thế kỷ 20. Đây là thời kỳ của những tiến bộ mở đường trong y học. Máy điện tâm đồ đã thành tin cũ, và mấy năm vừa rồi, người ta đã tìm ra nguyên nhân và cách chữa trị bệnh giang mai.” “Ồ, có ai đó đã để tâm trong giờ thần bí học như một cậu bé ngoan thế nhỉ!” Lucy trông như sắp nổ tung ngay tại chỗ. “Thật là thú vị!” Bác sĩ Harrison góp thêm. “Và năm ngoái cái cô người Pháp Marie Curie mới được trao giải Nobel Hóa học.” “Bà ta phát minh ra cái gì? Bom nguyên tử à?” “Lucy, đôi khi em ngốc thật đấy. Marie Curie tìm ra cách chiết xuất radi…” “Ôi, anh làm ơn im đi!” Lucy khoanh tay lại và bực tức lườm Paul. “Anh có thể giữ các bài giảng đó lại cho mình! Anh! Có! Thể! Đã! Chết! Cho nên anh làm ơn có thể nói cho em biết làm sao em có thể đảo ngược cái thảm họa phía trước chúng ta mà không có anh không?” Giọng cô đột nhiên run lên. “Hay làm sao để em có thể sống tiếp mà không có anh?” “Anh xin lỗi, Công chúa.” Cô không hề biết anh hối lỗi đến mức nào. “Hừ!” Lucy nói. “Anh không cần phải làm cái vẻ mặt chó cún thương tâm đó đâu.” “Cứ nghĩ về những thứ có thể xảy ra chẳng ích gì cả, con gái à,” Quý bà Tilney lắc đầu nói trong khi giúp bác sĩ Harrison cất dụng cụ vào túi. “Mọi thứ sẽ ổn thôi. Paul hơi xui xẻo, nhưng cũng vẫn còn may chán.” “Vâng, phải rồi đấy ạ, đúng ra chuyện này còn có thể tệ hơn nhiều, nhưng thế đâu có nghĩa là mọi thứ đều ổn!” Lucy kêu lên. “Chẳng có gì ổn cả, chẳng có gì cả!” Mắt cô ầng ậng nước, khiến trái tim Paul muốn tan vỡ. “Chúng ta đã ở đây gần ba tháng và vẫn chưa thực hiện được chút gì theo kế hoạch, chỉ toàn làm ngược lại, khiến vấn đề tồi tệ hơn! Mãi rồi mới có được mớ giấy tờ chết tiệt đó, thế rồi Paul lại cho đi mất!” “Có lẽ anh đã hơi vội vã.” Paul thả đầu roi xuống gối. “Nhưng lúc đó, anh nghĩ như thế là đúng.” Bởi vì lúc đó, anh thấy cái chết gần kính khủng.Cây kiếm của huân tước Alastair đã có thể dễ dàng kết liễu đời anh. Tuy nhiên, anh không thể để Lucy biết được. “Nếu chúng ta có Gideon bên cạnh, vẫn sẽ còn một cơ hội nữa. Ngay khi đọc được mớ giấy tờ đó, cậu ta sẽ hiểu được hai ta đang làm gì và tại sao.” Hoặc là cứ hy vọng thế đi, anh nghĩ. “Nhưng chính chúng ta cũng không biết trong mớ giấy đó có thứ gì. Chúng có thể là mật mã, hoặc là… ôi, anh còn không biết anh vừa đưa cho Gideon cái gì,” Lucy nói. “Ai mà biết huân tước Alastair đã nhét cho anh cái gì, hóa đơn cũ, thư tình, một xấp giấy trắng…” Paul có nghĩ đến việc này từ trước, nhưng chuyện đã rồi. “Đôi lúc em cần phải có niềm tin rằng mọi thứ rồi sẽ ổn cả,” Anh thì thào, ước sao có thể áp dụng điều đó cho chính mình. Việc anh có thể đã đưa cho Gideon những giấy tờ vô dụng đã đủ tệ; nhưng lại còn khả năng thằng bé sẽ đem chúng thẳng tới cho bá tước Saint Germain. Nếu vậy, họ đã ném đi quân át chủ bài duy nhất. Nhưng Gideon nói cậu ta yêu Gwendolyn, và cái cách cậu ta nói cũng khá… thuyết phục. “Cậu ta đã hứa,” Paul cố cất tiếng, nhưng lại chỉ có thể thì thầm khe khẽ. Đằng nào đó cũng sẽ chỉ là nói dối. Anh không có thời gian nghe Gideon trả lời. “Thật đúng là ngu mới muốn câu kết với Liên minh Firenze,” Anh nghe Lucy nói. Mắt anh đã nhắm nghiền. Dù nó là gì đi nữa, thì thứ bác sĩ Harrison cho anh uống phát tác rất nhanh. “Và vâng, em biết, em biết,” Lucy tiếp tục. “Đáng lẽ chúng ta nên tự xử lý vấn đề.” “Nhưng con không phải kẻ sát nhân, con gái à,” Quý bà Tilney nói. “Tự tay giết người với kiếm một người khác làm việc đó thì có khác gì nhau đâu cơ chứ?” Lucy thở dài nói, mặc quý bà Tilney dữ dội phản đối (“Con gái, đừng nói những lời như vậy! Con không bắt ai giết người cả, con chỉ để lộ ra chút thông tin mà thôi!”), đột nhiên, dường như không ai có thể an ủi cô. “Chúng ta đã làm sai hết những gì có thể làm sai, Paul à. Trong suốt ba tháng trời chúng ta chỉ toàn lãng phí thời gian cũng như tiền của Margaret, và chúng ta đã làm liên lụy quá nhiều người.” “Đấy là tiền của huân tước Tilney,” Quý bà Tilney sửa lại, “và con sẽ kinh ngạc khi biết ông ấy thường vung tiền vào cái gì. Đua ngựa với vũ nữ vẫn còn là nhẹ. Ông ấy thậm chí sẽ không để ý thấy một khoản nho nhỏ mà ta đã trích ra để phục vụ cho mục đích của chúng ta. Và nếu có để ý, ta tin rằng ông ấy sẽ đủ lịch sự để không nói gì.” “Về phần mình, tôi không hề hối tiếc vì đã bị lôi kéo,” Bác sĩ Harrison an ủi họ, tươi cười. “Tôi đang bắt đầu thấy cuộc sống khá nhàm chán. Mà không phải ngày nào trong tuần anh cũng được gặp những nhà du hành từ tương lai đến, lại còn biết nhiều về nghề nghiệp của anh hơn cả bản thân anh. Và nói nhỏ giữa chúng ta nhé, cái thái độ tự cao tự đại của mấy quý ông Villiers và Pinkerton-Smythe trong Đội Cận vệ ở đây đủ để khiến bất cứ ai cũng cảm thấy muốn âm thầm nổi loạn.” “Thật đúng vậy,” Quý bà Tilney nói. “Lão Jonathan de Villiers ngạo mạn ấy còn đe dọa sẽ nhốt chặt vợ ở nhà nếu cô ta không thôi đồng cảm với đám đang đấu tranh giành quyền bầu cử cho phụ nữ.” Bà bắt chước một giọng nam cau có. “Tôi băn khoăn không biết sẽ xảy ra điều gì tiếp theo? Quyền bầu cử cho chó chăng?” “À, thì ra đó là lý do khiến bà dọa tát ông ta,” Bác sĩ Harrison nói. “Đó quả là một bữa tiệc trà mà tôi thấy không nhàm chán!” “Cũng không hẳn là vậy. Tôi chỉ nói tôi không thể đảm bảo điều mà bàn tay phải của tôi muốn làm nếu ông ta cứ tiếp tục bình phẩm đại loại như vậy.” “Nếu ông ta cứ tiếp tục nói năng nhảm nhí… đó là nguyên văn lời bà,” Bác sĩ Harrison chỉnh lại. “Tôi vẫn nhớ bởi vì đã rất ấn tượng.” Quý bà Tilney cười lớn và đưa tay cho ông bác sĩ. “Tôi sẽ tiễn ngài ra cửa, bác sĩ Harrison.” Paul gắng sức mở mắt và nhỏm dậy để cảm ơn bác sĩ nhưng không làm nổi. “Mmph… ảm… ơ…,” Anh cố lúng búng. “Có quái quỷ gì trong thứ nước ông đưa anh ấy vậy, bác sĩ?” Lucy gọi với theo bác sĩ Harrison. Ông bác sĩ ra đến cửa lại quay vào. “Chỉ là vài giọt rượu thuốc có pha thuốc phiện y tế thôi. Hoàn toàn vô hại!” Nhưng Paul đã không thể nghe thấy tiếng rít giận dữ của Lucy. Mời các bạn mượn đọc sách Bích Ngọc của tác giả Kerstin Gier & Hồ Kiều Lan (dịch).
Trạm Dừng Chân Nơi Nhà Ga Tuổi Trẻ
"Trạm dừng chân nơi nhà ga tuổi trẻ" - Asai Ryo (tên tiếng Nhật: Nanimono) đã oanh tạc Nhật Bản như thế nào??? - Được tái bản nhiều lần, có hàng loạt các phiên bản khác nhau (như hình đấy các bạn, mà đó vẫn chưa phải là hết đâu :))) - Phim điện ảnh của cuốn sách cũng càn quét khắp các cụm rạp, gây xúc động mạnh tại xứ sở Phù Tang!!! *** Review Trạm dừng chân nơi nhà ga tuổi trẻ – Asai Ryo Ai trong chúng ta rồi cũng đều phải bước qua những năm tháng vô tư, hồn nhiên để đến với cánh cửa mới mang tên “trưởng thành”. Đó là chặng đường mà mỗi người đều nếm trải sự chênh vênh ở cái ngưỡng không còn trẻ mà cũng chẳng trưởng thành, không lạc lối nhưng cũng chẳng thể tìm cho mình một ngã rẽ riêng. Tôi đến với những trang sách của Asai Ryo vào một ngày Hà Nội mới chớm vào thu và khi chính bản thân mình cũng đang ở cái ngưỡng của sự trưởng thành. Đối với tôi, “ Trạm dừng chân nơi nhà ga tuổi trẻ ” là một điều gì đó hết sức đặc biệt. Cuốn sách ấy vừa giống như một lời thủ thỉ, tâm tình lại vừa như bức thông điệp truyền cho con người ta những bài học đầy ý nghĩa. “Tuổi trẻ của chúng ta luôn có một giai đoạn, mà lúc đó, chúng ta hoài nghi về chính bản thân mình. Không biết làm gì, không biết đi đâu, càng không biết mình là ai”. Đó chính là tuổi trẻ của những nhân vật mà nhà văn Asai Ryo đã xây dựng trong cuốn sách của mình. Đầu tiên có lẽ phải nhắc đến Takuto – cậu thanh niên ít nói, rụt rè, ngay đến cả lời tỏ tình với người con gái mình yêu cũng không dám nói. Bỏ qua những cơ hội bày tỏ để rồi đến cuối cùng anh và cô gái mình yêu lại trở nên xa cách mãi mãi. Mizuki thì luôn khiến người ta cảm thấy cô nàng đang tự thu mình vào một thế giới riêng mà khó ai có thể bước vào được. Tự ti vì gia cảnh, nghĩ rằng mình không thể nào sánh được với bạn bè, Mizuki tự xa lánh, tách biệt với thế giới xung quanh. Mizuki vui tươi, yêu đời bỗng trở thành một cô nàng chi li, tính toán trong các mối quan hệ. Tận sâu trong trái tim, cô không mong có ai đó sẽ mang đến hạnh phúc cho mình vì chẳng ai muốn dành trọn tình cảm cho một người chỉ biết nghĩ đến bản thân. Còn với Takayoshi – cậu quý tử luôn sống ỷ lại vào cha mẹ, cậu không muốn phải bỏ công sức để làm bất cứ điều gì. Được lớn lên trong căn nhà ấm áp, được chăm sóc tỉ mỉ trong từng bữa ăn,… tất cả khiến cậu thanh niên này trở nên lười biếng và phụ thuộc vào cái lồng yêu thương do cha mẹ tạo ra. Cuối cùng nhân vật mà có lẽ được nhiều người thích nhất là Kotoro – chàng trai với cá tính âm nhạc khác biệt mà mỗi lần lên sân khấu luôn nhận về “những ánh đèn flash của máy chụp hình chớp nhoáng sáng lòa sân khấu”. Đam mê là vậy, nhưng rồi đến khi hồi chuông cuối cùng của thời học sinh vang lên cũng là lúc Kotoro chia tay ban nhạc. Anh bạn phải vụt chạy đi tìm kiếm công việc làm ổn định thay vì cứ mải mê khao khát với ước mơ “rẻ tiền” ấy. Bốn con người với bốn câu chuyện riêng đã được ngòi bút của nhà văn Asai Ryo khéo léo sắp xếp để họ cùng gặp nhau ở một điểm hẹn mới trong cuộc đời. Công cuộc tìm kiếm việc làm của bốn cô cậu sinh viên được miêu tả sống động, chân thực theo đúng với tính cách, tâm lý của mỗi người. Để rồi, khi lướt qua câu chuyện của các nhân vật, có đôi lúc chúng ta lại tìm thấy hình ảnh của chính mình trong đó. Từng trang viết của nhà văn đều phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội, trong đó có cả những chông chênh của tuổi trẻ trong hành trình tìm kiếm bản thân. Thu mình trong lớp vỏ tự ti như Mizuki hay sống mãi với nỗi ân hận muộn màng như Takuto? Chọn lựa một hướng đi mới như Kotoro hay cứ mãi để cuộc đời phụ thuộc vào cha mẹ như Takayoshi? Câu hỏi đặt ra cho các nhân vật nhưng dường như bất cứ độc giả nào khi cầm trên tay cuốn sách cũng đang tự đi tìm câu trả lời cho chính bản thân mình. Khi còn bé ai cũng nhìn cuộc sống qua những lăng kính ngây thơ và hồn nhiên nhất. Cứ nghĩ rằng khi lớn lên rồi tự bản thân mình sẽ làm nên điều tuyệt diệu. Thế nhưng như Asai Ryo đã viết: “Cuộc sống chẳng khi nào là dễ dàng cả. Nếu đang cảm thấy dễ dàng, thì chắc chắn có người đang thay ta gánh chịu phần không dễ dàng ấy rồi”. Ai rồi cũng sẽ trưởng thành và sự trưởng thành đó chưa bao giờ là dễ dàng. Cạm bẫy, lừa lọc, vô cảm và thực dụng, tất cả khiến con người ta dường như trở nên yếu đuối hơn thế nhưng tuổi trẻ của ai chẳng cô đơn, mệt mỏi, thậm chí là bế tắc. Tất cả rồi sẽ bước qua như thế nào? Ngòi bút của Asai Ryo quả thực tài năng khi từng hơi thở, từng con chữ, từng mảnh ghép số phận trong cuộc hành trình tìm kiếm bản thân của những người trẻ đang lạc lối ấy đều được nhà văn góp nhặt và đưa vào câu chuyện của mình. Và có lẽ điều làm tôi thích nhất ở “ Trạm dừng chân nơi nhà ga tuổi trẻ ” chính là ở cảm xúc tự nhiên, chân thành mà tác giả mang đến. Không cần phải phê phán, chê bai, cuốn sách vẫn chạm đến trái tim người đọc bởi những điều đơn thuần nhất. “Khi nỗ lực, người ta không để ý họ làm vì ai, làm vì điều gì. Nỗ lực không phải là lăn lóc trên Internet hay mạng xã hội. Mà nó đang ở ngay đây, trong chuyến tàu sắp sửa vào ga với máy sưởi chạy quá đà, giữa một ngày tháng Hai rét buốt”. Với ý nghĩa nhân văn sâu sắc về những bài học đường đời đầu tiên giành cho tuổi trẻ, tác phẩm của Asai Ryo đã đoạt giải thưởng văn học danh giá nhất Nhật Bản – Naoki lần thứ 148 và chuyển thể thành bộ phim ăn khách Namimono. Cuốn sách đến từ xứ sở hoa anh đào đã trở thành hành trang quý giá trên mỗi chặng đường cho những ai đang và sẽ đi qua những năm tháng thanh xuân rực rỡ. Cảm ơn tác giả, cảm ơn vì những giá trị chân thành mà nhà văn mang đến cho các thế hệ bạn đọc! About The Author Thư Lê Thị *** Trạm dừng chân nơi nhà ga tuổi trẻ của Asai Ryo là một cuốn tiểu thuyết gây được tiếng vang lớn ở xứ sở hoa anh đào. Tác phẩm đoạt giải Naoki và đã được chuyển thể thành bộ phim điện ảnh ăn khách Nanimono (Tiếng Anh: Somebody - Ai đó) đang “oanh tạc” thị trường phim Nhật Bản. Ở Việt Nam, bản Việt ngữ cuốn sách được Nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành năm 2018. Có nhiều điều gợi lên cho chúng ta từ cuốn sách. Trong kí ức hay hiện tại, với một người đọc đã mang trong mình ít nhiều trải nghiệm, chúng ta thấy hiện về một hành trình đã đi qua, với những thăng trầm, buồn vui của tuổi trẻ, của thanh xuân say mê, sôi nổi đầy hi vọng, chán chường, tuyệt vọng cùng những lựa chọn chủ động và bị động. Có thể, ngay lúc này, chúng ta chợt nhớ đến một Đứa con đi hoang nay đã trở về của Andre Gide, Rừng Nauy của Murakami Haruki, Ở quán cà phê tuổi trẻ lạc lối của Patrick Mondiano… Cũng có thể, chúng ta nhớ đến những ngày trí thức tuổi trẻ với đầy hoài bão, khát vọng trong những truyện ngắn ám ảnh của Nam Cao, Thạch Lam, Nhất Linh, Khái Hưng hay những câu thơ giục giã đam mê của Xuân Diệu. Cũng có thể, chúng ta nhớ về Lưu Quang Vũ với những câu thơ của tuổi trẻ trong một thành phố chật chội, u buồn. Gần hơn nữa, chúng ta nhớ đến Những thiếu thời lơ lửng của Hạnh Nguyên, Tuổi thanh xuân đôi chuyến tàu đi lạccủa Lương Đình Khoa, Mộ phần tuổi trẻ của Hoàng Trọng Khang, Tôi ngồi đây chờ cơn bão tới của Nguyễn Hải Nhật Huy, những ám ảnh buồn bã trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Đinh Phương… Kí ức đan dệt trong nỗi hoài niệm về tháng ngày thanh xuân đã đi qua khiến cho cuốn sách Trạm dừng chân nơi nhà ga tuổi trẻ của Asai Ryo vừa giống như một trải nghiệm trực tiếp, vừa như một nguyên cớ, một vẫy gọi trở về. Chúng ta sẽ nói gì về cuốn sách này khi ngay ở đó, dường như thấp thoáng hình bóng của mình những ngày chưa xa? Tuổi trẻ, những lựa chọn để trưởng thành, cái ngưỡng mà bất cứ ai cũng phải đối mặt chính là ý niệm xuyên suốt của cuốn tiểu thuyết. Qua các nhân vật Takuto, Kotaro, Mizuki, Rika, Sawa, Takayosi,… một thế giới của người trẻ được tái hiện, chân thực và ám ảnh. Họ, những sinh viên đại học và nỗi băn khoăn trước những lựa chọn để dấn thân vào đời. Sự chua chát khởi đầu cuốn tiểu thuyết một cách lạnh lùng bằng những gặp gỡ, những chia rời, ngăn cách, sự bị động của con người trước xã hội, sự dối trá mà họ bắt buộc phải chấp nhận để bước vào cánh cửa trưởng thành. Tìm việc, đó là câu chuyện trung tâm, nhưng từ đó, mọi vận động nông sâu, rõ rệt hay mơ hồ của đời sống những người trẻ tuổi được hé lộ. Bản ES (Một dạng hồ sơ tuyển dụng) đã chứng thực cho những điều gian dối, khi các cô cậu sinh viên cố gắng trả lời một cách không trung thực về khả năng, điểm mạnh, điểm yếu của mình. Chuẩn bị những dối trá, nghĩ, nói và làm những điều dối trá đến một lúc nào đó người ta không còn xem đó là dối trá nữa. Cái xã hội mà những người trẻ sắp dấn thân vào đã dung dưỡng cho thái độ, lựa chọn ấy. Và, trưởng thành là gì nếu không phải là một trạng thái bị hoài nghi trước bao điều dối trá. Trạm dừng chân nơi nhà ga tuổi trẻ quả thực đã gợi lên cho chúng ta những ưu tư không hề nông nổi. Tuổi trẻ, học tập, tình yêu, việc làm, sự trưởng thành, những mất mát, nhân cách, cách sống, sự thích nghi, năng lực, kinh nghiệm, lời nói và hiện hữu, sự trống rỗng, mất niềm tin, nỗ lực khẳng định bản thân, sự lựa chọn, sự từ bỏ, hoài nghi và xác tín, bám giữ hay buông xuôi,… chừng ấy có phải là quá nhiều luận đề cho một cuốn tiểu thuyết? Không, đây không phải tiểu thuyết luận đề, mà là một mô tả thật gần, thật trung thực những diễn biến của đời sống giới trẻ, trong trạng thái nguyên bản nhất. Chỉ có đối thoại và những suy tư, rất ít những trường đoạn trữ tình, miêu tả - vốn là đặc sản của tiểu thuyết lãng mạn. Bên cạnh đó, cuốn sách này, thông qua những suy tư và do dự, thông qua những lựa chọn của tuổi trẻ, chúng ta nhận ra đời sống đang hiện diện thế nào. Cuộc sống của các nhân vật trong cuốn tiểu thuyết chất vấn lại lối sống của thế hệ, của những bao trùm giăng mắc mà họ đang vướng phải. Họ nghi ngờ rằng, có thể, với những gì đang diễn ra, họ thiếu đi phần con người, chỉ rập khuôn như máy móc. Thời đại công nghệ đẩy tuổi trẻ vào những lựa chọn bị động. Việc tham gia vào các mạng xã hội như Facebook, Twiter hay đắm chìm trong Internet đã lấy hết thời gian sống của tuổi trẻ. Họ buộc phải diễn tả mình thật ngắn gọn, bằng những từ khóa, bằng những kí tự giới hạn, họ phải đánh bóng mình bằng những status “chất lừ” trong khi có thể sự thực họ nhạt nhẽo, rỗng tuếch và vô cảm. Một khi, phải lựa chọn những ngôn từ ít ỏi để diễn đạt mình, tuổi trẻ thời công nghệ buộc phải loại bỏ đi nhiều từ ngữ khác. Mà, những từ ngữ bị loại bỏ, xem ra mới là những từ quan trọng làm nên sự hiện diện đích thực của con người. Thế có nghĩa là gì? Những ngôn từ quan trọng thực chất đã bị chôn vùi, đồng nghĩa với một bản thể, một thế hệ có thể đã bị đánh mất, bị lãng quên mặc dù vẫn hiện diện hàng ngày trong đời sống. Trạm dừng chân nơi nhà ga tuổi trẻ xác thực một thảm trạng về tính không trùng khít, không vừa vặn của những mảnh ghép tuổi trẻ. Những mảnh ghép không khít cứ bị ấn bừa vào nhau để rồi bung vỡ ở chính trung tâm của nó. Internet, facebook, Twiter… giống như những liều thuốc an thần, là chiếc đệm lười, là vỏ ốc để tuổi trẻ trú ngụ, ấn náu và trốn tránh. Họ - những người trẻ tuổi sẽ trở thành - trưởng thành như thế nào trong một thế giới đầy bị động như vậy? Cuốn tiểu thuyết của Asai Ryo đã mang đến cho người đọc, nhất là giới trẻ những suy tư thực chất, gần gũi với chính họ. Nhưng, không hề khuyên bảo hay dạy dỗ, cuốn sách như một người bạn, một “lời thủ thỉ, tâm tình” mà chạm đến những giật mình sâu kín của thế hệ. Và, sau tất thảy những điều bị động, bất ổn cuốn ta đi, một xác tín được thức tỉnh chính là: Ta chỉ có thể trở thành chính mình. Đó là một thông điệp quan trọng từ cuốn sách rất cần cho tuổi trẻ này. NGUYỄN THANH TÂM   Mời các bạn mượn đọc sách Trạm Dừng Chân Nơi Nhà Ga Tuổi Trẻ của tác giả Asai Ryo.
Rebecca Ở Trang Trại Suối Nắng
Tuyệt vời, ấm áp và đáng đọc" - Mark Twain Cô bé Rebecca 11 tuổi thông minh, nhanh miệng, vui tính và hồn nhiên được mẹ gửi đến ở với hai người dì ở thị trấn Riverboro. Giờ thì cô bé phải bắt đầu làm quen với một cuộc sống mới, trường học, bạn bè, những người hàng xóm mới. Và trên hết là bà dì khó tính lúc nào cũng tìm cách soi lỗi của Rebecca. Liệu những bộ quần áo đẹp và trường học có đáng để cô bé mơ mộng giàu tưởng tượng ấy phải hi sinh, hay sẽ khiến cô bé tìm cách quay trở về Trang Trại Suối Nắng? Rebecca Ở Trang Trại Suối Nắng là cuốn tiểu thuyết thiếu nhi kinh điển sẽ đưa các em vào cuộc khám phá trải nghiệm tuyệt vời về con người và vùng quê nước Mỹ thế kỷ XIX. Đây thực sự là một tác phẩm hấp dẫn và có sức lôi cuốn mạnh mẽ, được nhiều tầng lớp độc giả yêu thích từ nhiều thập kỷ qua. ***   Review Sách "Rebecca Ở Trang Trại Suối Nắng": Tác Phẩm Thiếu Nhi Kinh Điển Và Còn Hơn Thế Nữa Gấp sách lại, tôi thấy tim mình đang đập rất nhanh, đến nỗi đang viết đây mà tay tôi vẫn run lẩy bẩy...   Tôi không thích nói về văn phong về ý nghĩa về trẻ em về giá trị về này kia, tôi chỉ muốn nói về Adam Ladd – “chú Aladdin” của Rebecca, phân tích anh đến tận cùng, thêu dệt nên tất cả những gì tôi có thể thêu dệt về anh, vì đây chính là nhân vật khiến tôi đổ gục ngay từ giây phút đầu xuất hiện. (Tôi sẽ gọi ông chú 34 tuổi này là “anh”, theo như dịch giả gọi, và vì tâm hồn anh phù hợp với nhân xưng ấy). Thật ra là, lúc đọc lời nhà văn Jack London gửi cho Kate Douglas Wiggin: “Tại sao cô bé không phải là con gái tôi? Tại sao người mua ba trăm bánh xà phòng kia không phải tôi? Tại sao, ôi, tại sao chứ?” – tôi cứ ngỡ “người mua ba trăm bánh xà phòng” hẳn phải là một ông bác phúc hậu, kiểu như sẽ là cha đỡ đầu gì đó của Rebecca chứ? Ai mà ngờ được đó lại là một “ông chú” trẻ tuổi ưa nhìn, người mà từ lần đầu xuất hiện đã lập tức trở thành tia nắng sưởi ấm cho cuộc đời Rebecca (hai người gặp nhau lần đầu khi Rebecca 12 tuổi, Adam 29 tuổi).    Lúc đầu, chẳng hiểu sao cái tên chương báo hiệu sự xuất hiện của Adam khiến tôi rất chán – “Chú Aladdin”, như thể tác giả đang giả vờ úp mở rằng một ông chú tốt bụng sắp sửa xuất hiện. Tôi nghĩ, nếu là một ông chú tốt bụng thì chỉ cần bác Cobb là đủ rồi, chả cần thêm. Nhưng thật may, và thật tuyệt, là tôi đã lầm, vì ông chú này không chỉ tốt bụng, mà còn cực kỳ thú vị (và trẻ, và đẹp trai, và giàu có, wow!). Và rồi khi ông chú hào phóng quyết định mua hẳn ba trăm bánh xà phòng (khiến Rebecca kinh ngạc đến nỗi ngã ngửa khỏi hiên, rơi tõm vào lùm cây), tôi đã quyết định, mình thích ông chú này. Cái sự “mua ba trăm bánh xà phòng” nói hào phóng thì cũng hào phóng đấy, nhưng theo lẽ thường, chắc phải lý giải theo kiểu bà bác Miranda của Rebecca (nhân vật khắc nghiệt nhất truyện) thì tôi thấy hợp lý hơn:  "Ba trăm bánh xà phòng!” bà Miranda thốt lên.  “Chao, thật đúng là có một cái loại mùa vụ chưa bao giờ thất thu ở Riverboro này!”“Mùa gì đấy ạ?” cô Lydia lịch sự hỏi. “Mùa ngu.”  (Ha ha ha, đây là đoạn tôi thích nhất truyện. Bác Miranda khắc nghiệt của chúng ta chửi người còn hay hơn hát). Nhưng ba trăm bánh xà phòng ấy chính là cơ duyên cho sự quen biết của Adam và Rebecca. Lần đầu gặp gỡ, anh vì đôi mắt lanh lợi kia mà vung tay mua ba trăm bánh xà phòng (rồi để chất đống trong nhà kho chưa biết xài tới bao giờ), chỉ bởi cô bé bán những bánh xà phòng ấy – Rebecca, là cô bé “đặc biệt và có sức thu hút nhất” mà anh từng thấy. Theo thời gian, anh chứng kiến cô bé ấy từng bước trưởng thành bằng ánh nhìn tán dương và trân trọng, nâng đỡ quan tâm cô theo một cách thật cẩn thận và tinh tế. Ví như, chỉ để “hợp lý hóa” món quà của mình và không gây nên thị phi không đáng có gì ảnh hưởng đến cô bé, vào những dịp mà không ai có thể nói ra nói vào (như Giáng Sinh chẳng hạn), anh tỉ mỉ chọn từng món quà cho cô nhưng luôn không quên tặng một món tương tự cho Emma Jane, bạn thân của Rebecca. Dù cô bé bạn thân nọ anh hầu như không nhớ được tên. Lại ví như, khi gia đình Rebecca gặp khó khăn, anh không trực tiếp ra mặt giúp đỡ, mà ý nhị tổ chức một cuộc thi viết luận với giải thưởng cao. Anh nghĩ thế này:  Bạch Tuyết – Hoa Hồng cần giúp đỡ, mình chẳng có cách nào giúp cô bé mà không gây điều tiếng cả, nên cô bé phải tự đạt được nó, cô gái nhỏ tội nghiệp! Không biết tiền bạc của mình có phải luôn trở nên vô dụng mỗi khi mình cần đến hay không nữa!. Và than ôi, tim tôi đập thình thịch khi đọc những dòng ấy. Cái cách anh muốn giúp nhưng luôn tìm lý do thật đường hoàng để giúp, cách anh trăn trở để sao cho mọi sự quan tâm của mình phải thật tự nhiên và thường tình. Sau lưng, anh không ngại nài nỉ cô giáo Maxwell hãy dùng tài lực của anh để hỗ trợ Rebecca, nhưng trước mặt Rebecca, anh luôn là một ông chú vui vẻ tốt bụng, chưa từng để cô phải khó xử vì điều gì. Có lẽ, thật ra, ngay từ đầu, ông chú chỉ đơn giản là yêu thích cô bé ấy, vì đứa trẻ này đáng yêu quá. Nhưng rồi, theo từng bước chân của cô bé, tận mắt chứng kiến đứa trẻ ấy ngày một trưởng thành và hoàn thiện, thấy viên ngọc ấy ngày một tỏa sáng rạng rỡ, có người nam nào lại giữ lòng được mà không rung động? Adam, có thể lúc nào anh cũng đủ chín chắn để tạo ra hoàn cảnh hợp lý cho mỗi sự quan tâm đối với Rebecca, nhưng một lúc nào đó, một giây nào đó, khi hình ảnh đôi mắt biết cười ấy chợt hiện ra và choán hết tâm trí anh, liệu anh có còn đủ lý trí như vậy không? Sự thật là không. Khi anh mua chiếc ô hồng sặc sỡ và gửi khẩn cho cô bé của anh mà “chẳng chút mảy may băn khoăn”, anh đã để trái tim mình đánh gục lý trí. (Dĩ nhiên một tiếng sau anh đã vội tỉnh táo lại và mua thêm một chiếc ô xanh tặng cho Emma Jane, người bạn của Rebecca, lý do thì bên trên tôi đã đề cập rồi đấy). Ôi! Yêu chết một Adam dễ thương như vậy. Tôi chẳng biết ý định của tác giả là gì, làm sao lại để nhân vật nam yêu thích của tôi hơn cô gái yêu thích của anh đến 17 tuổi chứ (17 tuổi – đúng gấp đôi số tuổi của Rebecca ở cuối truyện, hic). Nhưng tác giả đã xây dựng nên một Adam 34 tuổi mà không phải 54 tuổi, và tình cảm anh dành cho Rebecca là có thật. Dù rằng Rebecca của chúng ta từ đầu đến cuối vẫn ngây thơ như cô bé bán xà phòng ngày nào, ngưỡng mộ và kính trọng anh, đặt anh ở một vị trí rất quan trọng trong tim, nhưng mà yêu thì… thật lòng tôi cũng chẳng biết cái ngày Rebecca nhìn Adam với một ánh mắt khác có bao giờ đến hay không. Điều này dằn vặt tôi dữ lắm, và hẳn cũng đã và sẽ dằn vặt Adam không ít lần. Nhưng tôi vẫn có quyền hi vọng chứ. Tôi sẽ hi vọng vào tương lai của họ theo cách đẹp đẽ nhất mà tôi có thể thêu dệt nên. Vì tác giả đã cho chúng ta cơ hội cơ mà (nói đơn giản là tác giả chả kết thúc đành đoạn gì cả). Ừm, nói cho xôm nhưng tóm lại – Adam Ladd là nhân vật cực kỳ yêu thích của tôi trong truyện này, còn sự yêu thích của anh với Rebecca, mà có lẽ cũng là mọi người đọc dành cho Rebecca, thì hẳn là: “Tôi mừng là đã được gặp cô bé; tự hào vì quen biết cô thiếu nữ, và mong chờ được gặp người phụ nữ tương lai!” *** hiếc xe ngựa chở khách cũ kỹ lóc xóc chạy trên con đường bụi mù từ Maplewood đi Riverboro. Mới giữa tháng Năm mà trời oi nóng như đang giữa mùa hè. Bác Jeremiah Cobb chiếu cố cho lũ ngựa hết mức có thể, song vẫn không quên mình đang đi đưa thư. Đồi còn nhiều. Bác thả lỏng đôi dây cương trong tay, uể oải ngả lưng trên ghế và duỗi một chân gác lên miếng chắn bùn xe cho thoải mái. Chiếc mũ vành đã sờn kéo sụp hẳn xuống che mắt, bác bỏm bẻm nhai một miếng thuốc lá bên má trái. Trên xe có một hành khách - một người nhỏ bé tóc đen mặc váy trúc bâu bóng màu vàng nhạt. Cô bé người mảnh mai quá và ngồi thẳng đừ đến nỗi liên tục bị trượt từ chỗ này sang chỗ khác trên chiếc ghế nệm da, mặc dù cô đã gắng hết sức lấy chân tì sao cho mình ngồi đúng giữa ghế và hai tay mang găng vải bám chặt hai bên để giữ thăng bằng. Cứ lúc nào bánh xe thụt xuống rãnh sâu hơn bình thường, hay bất thình lình nảy xóc lên vì vấp phải hòn đá, là cô bé dù chẳng muốn vẫn cứ bị nảy lên một cái, rồi rơi xuống, thế là lại phải chỉnh lại chiếc mũ rơm nho nhỏ trông rõ buồn cười, rồi nhặt cái dù bé xinh màu hồng lên hoặc đặt lại cho nó ngay ngắn, một việc dường như là nhiệm vụ chính của cô - trừ phi chúng ta tính cả chiếc ví đính hạt cườm, mà cứ chốc chốc, khi điều kiện đường sá cho phép, cô lại dòm vào, và hài lòng ra mặt khi những thứ quý báu trong ấy không mất hay rơi đi tẹo nào. Bác Cobb chẳng biết tí gì về những phiền hà của việc đi lại ấy, bởi công việc của bác là đưa người ta đến nơi họ cần, chứ không nhất thiết phải làm cho họ đi đường được thoải mái. Thậm chí bác còn quên béng sự tồn tại của vị khách bé nhỏ không có gì đáng chú ý này. Khi bác chuẩn bị rời bưu điện ở Maplewood sớm hôm ấy, một thiếu phụ bước từ xe ngựa chở hàng xuống, tới chỗ bác hỏi có phải đây là xe đi Riverboro, và bác có phải bác Cobb hay không. Khi bác trả lời rằng phải, thiếu phụ liền gật đầu với một cô bé đang háo hức đợi câu trả lời, và cô chạy ngay tới chỗ bà như thể sợ bị muộn mất dù chỉ là một tích tắc. Cô bé áng chừng mười, mười một tuổi, nhưng cho dù đã trải qua bao nhiêu mùa hè thì cô vẫn có vẻ nhỏ hơn so với tuổi của mình. Mẹ cô bé giúp con leo lên xe, đặt bên cạnh con một cái bọc và một bó hoa tử đinh hương, quan sát việc chằng buộc cái rương cũ ở phía sau, và cuối cùng tỉ mẩn đếm từng đồng bạc để trả lộ phí. “Tôi nhờ bác đưa cháu đến chỗ mấy chị tôi ở Riverboro,” thiếu phụ nói. “Bác có biết Mirandy và Jane Sawyer không? Họ sống ở ngôi nhà gạch ấy.” Lạy Chúa phù hộ, bác biết họ rõ như thể bác đã sinh ra họ ấy chứ! “Là thế này, con bé sẽ đến đó, và hai chị ấy đang đợi cháu nó. Xin bác để mắt đến cháu nhé! Cháu nó mà thấy có thể ra ngoài bắt chuyện với người lạ hay rủ người ta đi cùng là nó làm ngay đấy ạ. Tạm biệt con, Rebecca; gắng đừng gây chuyện đấy, và phải ngồi yên, như thế thì khi đến nơi con mới chỉnh tề xinh đẹp được. Mà đừng có làm phiền bác Cobb nhé. Bác thấy đấy, nó đang háo hức lắm. Mẹ con tôi đi tàu từ Temperance đến đây từ hôm qua, nghỉ đêm ở nhà bà chị họ tôi và sáng nay mới đánh xe từ nhà chị ấy đến đây - những tám dặm đấy.” “Tạm biệt mẹ, mẹ đừng lo lắng; mẹ biết mà, có phải con chưa đi xa bao giờ đâu cơ chứ.” Thiếu phụ khẽ cười nhạo một tiếng và nói với bác Cobb giọng thanh minh, “Nó mới đến Wareham ngủ lại một đêm; chẳng đáng để mà tự hào là đi xa được!” “Thế là đi xa chứ còn gì nữa mẹ,” cô bé nói giọng hào hứng và bướng bỉnh. “Rời trang trại này, chuẩn bị bữa trưa cho vào giỏ này, đi xe ngựa một lúc và đi tàu hỏa chạy bằng hơi nước nữa này, mình còn mang cả váy ngủ nữa.” “Có nói thì cũng đừng nói cho cả làng nghe thế chứ,” người mẹ lên tiếng, cắt ngang dòng hồi tưởng của nhà du hành giàu kinh nghiệm. “Mẹ chẳng dặn con rồi,” thiếu phụ thì thầm, với nỗ lực thiết quân luật cuối cùng, “không được nhắc đến váy ngủ và tất dài và… những thứ tương tự, bằng giọng ông ổng lên thế, nhất là khi có đàn ông con trai xung quanh.” “Con biết, mẹ, con biết mà, và con sẽ không như thế nữa đâu. Con chỉ muốn nói là…” - đến đây bác Cobb tặc lưỡi một tiếng, quất cương, và đôi ngựa khoan thai bắt đầu công việc hằng ngày của mình - “Con chỉ muốn nói rằng đi xa là khi…” - lúc này chiếc xe ngựa đã bắt đầu đi rồi nên Rebecca phải thò đầu ra ngoài cửa sổ để nói cho hết câu -“Đi xa là khi mà mình mang theo váy ngủ!” Mời các bạn mượn đọc sách Rebecca Ở Trang Trại Suối Nắng của tác giả Kate Douglas Wiggin & Phạm Minh Điệp (dịch).