Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Chạm Tay Vào Hạnh Phúc

Chạm Tay Vào Hạnh Phúc viết về một câu chuyện cổ tích thời hiện đại, để ta thấy rằng ở đâu đó, theo một cách nào đó, hạnh phúc vẫn luôn hiện hữu, chờ ta với tay chạm vào nó. Bị vợ bỏ ở tuổi năm mươi, Paul phải làm quen trở lại với cuộc sống độc thân, mà việc đầu tiên là tự đi siêu thị. Và ở đó, ông đã gặp Julie, để rồi cả cuộc đời ông và cuộc đời cô đều rẽ sang một hướng khác... *** Tết đến thì mình làm gì? Tranh thủ vài khoảnh khắc được xả hơi sau khi thực hiện chiến dịch dọn dẹp nhà cửa bở hơi tai. Đầu năm 2020, mình đã hoàn thành quyển tiểu thuyết tình cảm của nữ nhà văn Pháp – Agnes Ledig với tựa đề “Chạm tay vào hạnh phúc”. Đây là quyển sách mình mua được trong gian hàng xả kho của Nhã Nam mới đây với giá khá hời (56.000 – đã giảm 50% so với giá bìa). Mặc dù vậy, đây là quyển sách đã thu hút mình đọc liên tù tì 3 ngày. Vì sao ư? Vì đây là quyển sách có thể chạm đến trái tim của người đọc theo cái cách riêng của Ledig. Đúng như lời bình của Le Figaro, “Chạm tay vào hạnh phúc” không bị cái cảm giác giả tạo của những cuốn sách an ủi bằng cách tô hồng mọi thứ trước những ý nghĩa u ám của độc giả. Mà giống như một trải nghiệm sống thực sự …, khi bất hạnh không làm ta gục ngã. Quyển sách xoay quanh câu chuyện về một cô thu ngân tại siêu thị chỉ mới vừa chạm ngưỡng 20 đã phải mưu sinh vì đứa con thơ. Cuộc sống của cô mang một màu tăm tối khi từng ngày phải chiến đấu với những cái nhìn đầy miệt thị của khách hàng, sự vô cảm và tàn nhẫn của tên giám đốc luôn lấy cô ra để mua vui mỗi khi con thú trong hắn trỗi dậy. Và rồi, một ngày kia, cuộc sống cô chuyển sang bước ngoặt mới khi gặp gỡ vị cứu tinh cũng mang trong mình những vết sẹo của cuộc đời. Những con người mới với những mặt tối trong con người họ bước vào cuộc sống cô một cách bất ngờ và dần dần thay đổi con người cô, và cả chính họ. Thế nhưng, có lẽ thượng đế luôn thích trêu ngươi chúng ta, thích thử thách xem con người mạnh mẽ đến nhường nào khi bất hạnh ập xuống họ. Tất nhiên, con người luôn là những sinh vật mạnh mẽ, họ vượt qua được tất thảy dù rằng mang trên mình những vết sẹo mà năm tháng khó phai mờ được. Đến cùng, những người trong câu chuyện này đều tìm được hạnh phúc cho riêng mình và rằng họ xứng đáng được chạm tay vào hạnh phúc. Hãy thử một hương vị mới mà Ledig mang tới để làm ướt át một chút cuộc sống của bạn. Để qua đó, có thêm niềm tin về hạnh phúc trong cuộc sống này. Vũ Hàn Review *** Việc bạn yêu thương và bị cuốn hút bởi cuốn sách này cũng giống như đột nhiên muốn nghe và thấy ứa nước mắt trước những bài hát cũ của Richard Marx. Có những lúc tự nhiên như vậy, sự thành thật đến từ câu chữ, ý tứ, từ cảm xúc hơn là cốt truyện… khiến bạn lay động, giúp bạn nới lỏng bản thân và thành thật với chính mình, rằng u sầu là điều không tránh khỏi, rằng ai cũng từng có cái hố của riêng mình và phải gắng gượng ngoi lên bề mặt, rằng cứ đi, cứ tin, cứ yêu và thả lỏng đôi chút hoặc nhiều chút để được hàn gắn và hồi sinh, bởi "có những lúc cần nới lỏng dây cương để nỗi buồn phi nước đại", Agnes Ledig viết. Đọc Chạm tay vào hạnh phúc của Agnes Ledig, bạn phải thực sự kiên nhẫn. Bởi phần đầu của câu chuyện dễ khiến người đọc lầm tưởng với những cuốn truyện cổ tích kẹo ngọt. Julie, người mẹ đơn thân nghèo đang phải vật lộn với công việc thu ngân, được một ông khách già giàu có để mắt tới, mời cô và con trai ba tuổi cùng tham gia một kỳ nghỉ hè. Và cuộc đời cô thay đổi mãi mãi sau cái gật đầu đồng ý đó. Một đặc điểm của nỗi u sầu là dễ khiến bạn hay nghi ngờ. Người đọc mở đầu câu chuyện với nỗi u sầu của Julie và cảm thấy nghi ngờ với những gì mình đang đọc. Cũng giống như Julie nghi ngờ mục đích của ông già Paul giàu có quyết định chóng vánh đưa cô đến với kỳ nghỉ ba tuần ở biển. Ông già cần gì ở cô gái trẻ sau khi vợ bỏ đi? Và thưa Agnes, chị định thiết đãi độc giả chuyện gì khi lọ lem gặp hoàng tử quá sớm? Nhưng rồi câu chuyện dần dần được mở ra theo hướng không ngờ khi các nhân vật xuất hiện với quá khứ khổ đau và thực tại ngổn ngang, họ là Jerome đang chìm sâu trong nỗi đau mất vợ, là Caroline vụng về và thiếu tự tin, là Romain đơn độc, là Manon vui tươi nhưng vô hướng, là chính Paul luôn dằn vặt về cuộc hôn nhân 30 năm lạnh lẽo… Đám đông mà Agnes tạo nên là một tập hợp của những con người bị tổn thương, thu mình lại trong vạn vạn lớp vỏ hoặc quẩn quanh trong cái hố của chính mình mà chưa ý thức, hoặc ý thức nhưng bất lực về cách vượt thoát. Cho đến khi họ gặp nhau, được kết nối bằng niềm âu yếm, tình yêu và cả những nỗi đau mới toác miệng. Giống như cách nói của Julie, họ là những mảnh lego rời rạc, cố gắng cố kết và bám trụ, người yếu nhất dựa vào người mạnh nhất, và người mỏng manh nhất đôi khi lại là liều thuốc liền sẹo cho người ngỡ là rắn rỏi nhất. Sự mộc mạc của người phụ nữ nghiệp dư tập viết văn từ năm 2005, bằng thiên khiếu, tính nữ và cả những nỗi đau thực sự từ cuộc sống riêng đã giúp Agnes Ledig gọi tên được một điều vô hình trong cuốn sách của mình: Niềm âu yếm. Đó không hẳn là tình yêu, càng không phải là tình dục, niềm âu yếm là ngọn lửa nhỏ sưởi ấm và đánh thức khao khát được kết nối trong mỗi con người. Niềm âu yếm khiến các nhân vật, và cả người đọc nhận ra rằng vẫn có những điều dịu dàng đợi chờ mình ngoài kia, dù bên trong lớp vỏ này chất đầy những cay đắng. Đó là cái nắm tay và nụ cười bất ngờ Lulu dành cho Jerome, là cử chỉ Romain không nỡ gập lá thư dày nặng tình yêu thương của Julie bỏ vào túi mà khe khẽ để lên bàn, và đặc biệt là đêm đầy sao khi Jerome ôm Julie say ngủ giữa dập dềnh sóng biển. Bạn cần dụi đầu thật sâu vào lồng ngực ai đó, bạn cần một bàn tay ấm nóng chạm nhẹ và sưởi ấm làn da, hay khóc thành thật và không kìm nén để thoát khỏi khổ đau và bắt đầu chạm vào hạnh phúc… Đó là niềm âu yếm riêng mà Agnes Ledig gửi đến cho những người đọc kiên nhẫn của mình. Một cuốn sách tuyệt vời cho những kỳ nghỉ dài trước mắt. *** Julie ấy mà, cô đã quen với việc này lắm rồi. Cô đã có thể phản đối, mạo hiểm, mất việc làm, nhưng giữ được phẩm giá cho bản thân. Phẩm giá nào nhỉ? Cái thẻo đàn bà này đã đánh mất phẩm giá từ đời nảo đời nào rồi. Khi động chạm tới vấn đề sống còn, ta đành xếp xó những lý tưởng vĩ đại vẽ ra từ hồi còn là một cô bé. Và ta chịu đựng, câm lặng, để mặc người khác muốn nói gì thì nói, ta cam chịu. Vả lại, cô cần công việc này. Thực sự cần. Gã Chasson chó đẻ này biết thế. Gã giám đốc cục cằn có thể đuổi việc một nhân viên thu ngân chỉ vì tính nhầm mười euro. Đằng này những năm mươi euro! Tuy nhiên, Julie biết ai đã ăn cắp năm mươi euro đó, khi cô vừa quay lưng đi. Nhưng ai mà ưa những kẻ tố cáo đồng nghiệp. Chẳng ai ưa. Chuyện này sẽ khiến ta phải gánh lấy tiếng xấu cũng dai dẳng chẳng khác nào một con chấy bám trên tóc. Tránh voi chẳng xấu mặt nào. “Cô Lemaire ạ, tôi có thể đuổi việc cô ngay lập tức. Tuy nhiên, tôi biết hoàn cảnh của cô, tôi biết cô không thể hoàn trả số tiền được. Coi chừng đấy, tôi có thể yêu cầu cô tìm một giải pháp để sửa chữa những sai lầm cô mắc phải trong công việc thu ngân. Cô hiểu ý tôi muốn nói gì không? Nếu không, hãy hỏi vài đồng nghiệp nữ của cô, họ biết phải làm thế nào rồi đấy”, hắn văng những lời này vào mặt cô, mắt hắn nhìn cô chòng chọc không chút ngại ngùng, môi nở nụ cười nham hiểm. Đồ đểu! Tuy nhiên, hắn trông rất ra dáng. Chàng rể lý tưởng. Cao lớn, năng động, tươi cười, cằm vuông và tóc ngả hoa râm hai bên thái dương. Bàn tay lúc nào cũng đặt lên lưng người khác để trấn an, khích lệ. Luôn có một câu tử tế khi ghé qua chào nhân viên mỗi sáng thứ Hai. Một cô vợ thanh lịch và những đứa con lễ phép. Mẫu đàn ông xuất thân tầm thường đã đổ mồ hôi sôi nước mắt để leo dần lên, buộc người ta phải tôn trọng và ngưỡng mộ. Đấy là mặt lấp lánh của tấm huy chương. Thế rồi, khi lật nó lại, ta sẽ thấy có chó sói, thú săn mồi, gã đàn ông muốn phụ nữ quỳ mọp dưới chân để chứng tỏ mình là kẻ mạnh nhất. Vài phút sau, Julie rảo bước dọc hành lang dài nối liền phòng giám đốc với khu vực bán hàng. Giờ nghỉ của cô đã hết. Cô những muốn dành quãng thời gian đó cho việc khác chứ không phải dạng triệu tập này. Cô lấy ve ống tay áo quệt mạnh giọt nước mắt vương trên má. Một dấu hiệu yếu mềm đáng thương hại mà cô phải gạt đi tức khắc. Bởi vì Julie ấy mà, cô đã quen với việc này lắm rồi. Cô thuộc những người mà số phận chẳng mấy khi nương tay. Có những người như thế đấy… Paul Moissac dừng lại trước quầy pizza đông lạnh, hoài nghi. Ông chẳng gặp vấn đề gì khi chọn lốc bia đang cầm trên tay, nhưng còn vụ này! Có lẽ đây chính là lần đầu tiên ông đặt chân tới siêu thị. Hoặc ít nhất cũng là lần đầu tiên đi một mình. Vợ ông đã bỏ ông cách đây một tháng. Trước khi đi, trong mối hăm hở rộng lượng sau chót có lẽ sẽ để lại trong bà cảm giác thú vị vì đã hoàn thành nghĩa vụ, bà đã chất đầy đồ ăn vào tủ lạnh. Người phụ nữ hoàn hảo không chút tì vết, cho đến tận những chi tiết nhỏ nhặt nhất, sẽ không ai trách cứ bà về vụ ra đi đột ngột và chẳng hẹn ngày về này. Nhưng hôm nay, Paul không còn cách nào khác. Sụt mỗi tuần một ki lô có thể có lợi trong thời gian đầu nhưng lại có vẻ nghiêm trọng nếu vượt quá một ngưỡng nào đó. Chỉ nghĩ đến việc một mình ngồi vào bàn ăn trong nhà hàng cũng đã khiến ông nản chí đến độ mất cả cảm giác ngon miệng. Ở tuổi năm mươi mốt, có lẽ đã đến lúc cần biết tự xoay xở trong một cửa hàng thực phẩm. Cuối cùng ông quyết định chọn loại pizza đắt nhất. Chỉ còn thiếu mỗi chuyện ông ăn vớ vẩn cho qua bữa với cái cớ là vợ ông đã bỏ đi sau ba mươi năm chung sống. Khi phải lựa chọn, ông luôn chọn thứ đắt nhất, tin chắc rằng đó là một đảm bảo cho chất lượng. Khi đi ngang quầy “rau quả”, trong đầu ông chợt hiện ra một trong những câu vợ ông ưa thích nhất, thường được tuôn ra một cách máy móc, giống như mọi câu khác. “Năm lại rau quả mỗi ngày.” Bà chêm câu này vào giữa câu “Thuốc lá sẽ giết chết anh” và câu “Rượu không tốt cho sức khỏe của anh đâu.” Sao mà bà ấy có thể khiến người ta mệt mỏi đến thế! Dẫu sao ông cũng nhét vài quả táo vào túi ni long rồi tiến về dãy quầy thu ngân. Ông cầm ba món hàng trên tay, chờ đến khi tìm thấy chút chỗ trống trên băng chuyền để đặt xuống. Đằng trước ông, một bà hộ pháp vừa trút xuống cả một xe hàng toàn những thứ linh tinh. Lại một phụ nữ hẳn là cũng cơm chẳng lành canh chẳng ngọt với bạn đời. Ông nhanh chóng nhận ra rằng mình đã không chọn được quầy thu ngân vắng nhất để có thể rời thật nhanh khỏi cái hang ổ tiêu dùng này, nhưng cô nhân viên thu ngân lại xinh. Mặt khó đăm đăm, nhưng xinh xắn. Đặc quyền của nhan sắc: bù đắp cho tính nết khó chịu. Luôn là vậy. Ta lượng thứ mọi chuyện cho những phụ nữ xinh đẹp, thậm chí trước khi họ kịp mở miệng. Cô nhân viên thu ngân này chỉ thoáng nhìn bà khách khi trả lại tiền thừa, và tranh thủ dịp đó để gạt đi một giọt nước mắt không rõ từ đâu đang lăn trên má. Cằm không run, hơi thở không gấp gáp, đôi mắt không long lanh, không, một gương mặt thản nhiên nhưng giọt nước mắt đã tự tiện lọt ra ngoài để hít thở không khí trong lành. Đến lượt Paul. — Chào Julie! — Chúng ta biết nhau sao? cô vừa hỏi vừa ngước nhìn ông, vẻ ngạc nhiên. — Không, nhưng tên cô được viết trên thẻ nhân viên mà. Nếu không thì ta đeo thẻ có ghi tên để làm gì? — Để tố giác chúng tôi với trưởng quầy thu ngân nếu chúng tôi tính nhầm ba xu lẻ. Hiếm khi để chào hỏi lắm. — Tôi cũng có vài thói xấu, nhưng không có thói chỉ điểm. — Ông chưa cân táo rồi, cô nói bằng giọng đều đều chán chường. — Phải cân hả? — Đúng rồi! — Thế tôi phải làm gì bây giờ? — Hoặc ông đi cân chỗ táo này, hoặc ông bỏ lại không mua nữa. — Tôi sẽ đi cân, tôi làm nhanh thôi, Paul đáp, đoạn vớ lấy cái túi. Nhưng tại sao ông lại tha thiết muốn mua chỗ táo này đến thế?! — Cứ thong thả thôi, chuyện này sẽ chẳng thay đổi gì cuộc sống của tôi đâu! cô gái khẽ bình luận trong khi ông đã biến mất khỏi dòng người đang xếp hàng. Các khách hàng đứng sau ông bắt đầu sốt ruột. Julie tranh thủ quãng nghỉ này để thư giãn cái lưng đã khiến cô đau đớn suốt tuần nay. Người đàn ông quay lại, thở hổn hển, rồi đặt chỗ táo đã được cân trước mặt cô gái. — Ông chọn mã nho thay vì mã táo rồi! — Thật sao? — Nho Golden. Trên nhãn này ghi thế. Mà đây lại là táo Golden. — Có nghiêm trọng không? — Ông sẽ phải mua với giá cao hơn. Nếu ông muốn thì có thể quay lại đổi. Tiếng ồn ào trong hàng người đứng chờ bắt đầu to lên khiến ông từ bỏ ý định. — Không sao đâu, tôi trả tiền theo cái nhãn đó. Có lẽ vì thế mà táo sẽ ngon hơn! ông mỉm cười nói với cô. Julie cũng khẽ cười. Lâu lắm rồi không có người đàn ông nào tử tế với cô. Đừng nói là theo kiểu này! Tuy nhiên, ở tuổi hai mươi, Julie đã không còn quen với kiểu quan tâm này nữa rồi. Sự vô tư đã nhập hội với phẩm giá ở nghĩa trang của những ảo tưởng vô vọng. — Buổi tối xem bóng đá chăng? cô vừa hỏi vừa đưa biên lai cho ông. — Không, sao cô lại hỏi thế?! — Chẳng sao cả. Bia, pizza… — Buổi tối của đàn ông độc thân! — Đàn ông độc thân vẫn có thể xem bóng đá mà. Julie không thèm trả lời khách hàng kế tiếp đang cố gắng lôi cô ra làm nhân chứng, bà ta phẫn nộ vì có người lại không biết rằng rau quả thì phải cân trước khi thanh toán. Loại “lèo nhèo” mà thậm chí cô còn không nghe nữa. Bộ quy tắc ứng xử đã làm cô ngán ngẩm từ lâu rồi. Mỉm cười - Xin chào - Tạm biệt - Cảm ơn. Cô chỉ áp dụng khi biết người ta đang giám sát mình. Vụ táo tủng kia ít ra cũng cho phép cô ngơi ra vài phút và uống chút nước thảo dược trong chai mang theo, để cố gắng nuốt trôi vị đắng của công việc này. Mời các bạn đón đọc Chạm Tay Vào Hạnh Phúc của tác giả Agnès Ledig.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Độc Chiếm Hoa Khôi - Tam Ngôn Nhị Phách
"Tam ngôn", "Nhị phách" có nét mộc mạc của loại văn học thông tục song đọc rất hấp dẫn. Các tác phẩm ưu tú đều có cốt truyện hoàn chỉnh, tình tiết khúc chiết, chi tiết phong phú, khắc họa cá tính nhân vật rất rõ. Về thủ pháp nghệ thuật, hai bộ sách này rõ ràng là tinh tế hơn loại thoại bản nhiều, có thể thấy sự gọt giũa kỹ lưỡng khi miêu tả hoàn cảnh, động tác, đối thoại, chi tiết, đặc biệt là có chú ý miêu tả tâm lý. Nhiều chỗ miêu tả hoạt động tâm lý rất sinh động. Như chàng Tần Trọng trong "Độc chiếm hoa khôi", gặp người đẹp thấy mê mẩn tâm thần, thấy nàng thân ái, bụng cũng tự tin, song nghĩ thân phận mình lại thấy tự ti rất muốn cầu thân lại lo cầu chẳng được, cứ băn khoăn khắc khoải mãi, bao rối rắm phức tạp trong tận đáy lòng được khắc họa tường tận vừa hợp lý vừa hợp tình... Nghệ thuật miêu tả tâm lý là một bước tiến triển rất quan trọng, vì trước kia, các loại truyền kỳ, chí quái, các loại sử truyện, thoại bản thường chỉ chú trọng miêu tả ngôn hình bên ngoài, ít tả hoạt động tâm lý của các nhân vật. "Tam ngôn", "Nhị phách" đã mở ra một hướng khai thác mới cho nghệ thuật tiểu thuyết phát triển sau này. *** TỦ SÁCH TINH HOA VĂN HỌC Tinh hoa văn học của nhân loại nào cũng cần được khám phá và tái khám phá. Mỗi tác phẩm lớn là một xứ sở kỳ diệu và mỗi lần ta tìm đến là thực hiện một cuộc phiêu lưu hoan lạc. Dịch thuật, giới thiệu và biên khảo về những tác phẩm tinh hoa sẽ mở ra các lối cổng dẫn vào những cảnh tượng văn chương khác nhau, qua những không gian và thời gian vừa hiện thực vừa kỳ ảo. Khát vọng hiểu biết và vui thú trong đời là bản tính của con người ở mọi nơi và mọi thời. Các tác phẩm văn chương thật sự vĩ đại đều mang lại hai điều đó: vui thú và hiểu biết. Nhưng hiểu biết là niềm vui hiếm khi tự đến một cách dễ dãi. Cần đón đợi và hồi đáp. Mọi tác phẩm tinh hoa cần được đón đợi và hồi đáp trong niềm hân hoan có tên là “ĐỌC”. ĐỌC. Cầm sách lên và đọc. Trong sách có bạn hiền, có người đẹp, có mọi thứ. Do vậy, chúng tôi chủ trương TỦ SÁCH TINH HOA VĂN HỌC, xem đó như cửa ngõ của hiểu biết và niềm vui. CÓ NĂM CỬA: • Kiệt Tác: Mỗi Kiệt tác sẽ được dịch trọn vẹn và giới thiệu cả tác giả lẫn tác phẩm trong phối cảnh văn hóa những đặc điểm thiết yếu. • Tuyển: Tuyển chọn những tác phẩm ngắn của một tác giả, một nền văn học hay một chủ đề mang tính điển mẫu (thuộc vòng đời hay vòng mùa) • Kiến Thức: Những kiến thức mà người đọc hiện đại cần có: trào lưu văn học, các nền văn học, thể loại... được trình bày gọn nhẹ, dễ tiếp nhận. • Nghiên Cứu: Các công trình chuyên sâu về một vấn đề văn học, một tác giả thiên tài, lý luận phê bình... • Mới: Về các hiện tượng văn học mới xuất hiện của nước ngoài đang gây chú ý hoặc đoạt các giải thưởng lớn... Mong ước chúng tôi là TỦ SÁCH TINH HOA VĂN HỌC sẽ tiến bước bền vững và được đón nhận thân tình. Tủ sách được biên soạn và dịch thuật từ những nhà giáo, dịch giả và nhà nghiên cứu có uy tín và tâm huyết với văn chương. Mời các bạn đón đọc Độc Chiếm Hoa Khôi của tác giả Tam Ngôn Nhị Phách.
Ngự Lâm Pháo Thủ Toàn Tập - Alexandre Dumas
Ba chàng lính ngự lâm (tiếng Pháp: Les trois mousquetaires) là một tiểu thuyết của nhà văn người Pháp Alexandre Dumas cha, là cuốn đầu tiên của bộ ba tập truyện gồm: Ba Chàng Lính Ngự Lâm Hai Mươi Năm Sau Cái Chết Của Ba Người Lính Ngự Lâm eBook Ngự Lâm Pháo Thủ Toàn Tập này gồm trọn bộ ba cuốn trên. Bộ tiểu thuyết kể về những cuộc phiêu lưu của chàng lính ngự lâm d'Artagnan, từ lúc anh còn trẻ cho đến lúc già. "Ba người lính ngự lâm" là cuốn nổi tiếng nhất và cũng là hay nhất trong bộ ba, đã được dựng thành phim nhiều lần, cũng như phim truyền hình, phim hoạt hình Pháp, và hoạt hình Nhật Bản. *** Lời người làm ebook:   Hiện tại ebook và đọc online của bộ ba tác phẩm này trên tất cả các trang web đều sai nhiều (đều cop bản đánh máy bên Vnthuquan). Bản ebook này đã được sửa lại các sai sót dựa theo sách in, và điều khác sách in là các từ phiên âm đã được trả về theo nguyên tác. P/s: Trước đây tôi đã sửa cho 2 cuốn đầu, nhưng khi làm cuốn 3 tôi đã sửa thêm lỗi. Nếu ai đọc phát hiện sai sót, hãy thông báo, tôi sẽ sửa tiếp. - A Còng Văn Càng. • Đã sửa: - Thay thế toàn bộ từ phiên âm - Bổ sung các đoạn thiếu và gõ sai câu văn - Sửa lỗi chính tả - Sắp xếp lại các lời thoại lộn xộn - Chỉnh danh từ, địa danh, tước vị sai • Nguồn text: Vnthuquan • Ebook: @inno14  • Bìa: @inno14 & @Ngọc Sơn • Thay từ phiên âm: @V/C & @chichi.myluckycharm • Soát sửa & Biên tập: @V/C *** Dumas Davy De La Pailleterie (sau này là Alexandre Dumas) sinh năm 1802 tại Villers Cotterêts trong khu Aisne, ở Picardy, Pháp. Ông có hai chị gái là Marie Alexandrine (sinh năm 1794) và Louise Alexandrine (1796 - 1797). Cha mẹ ông là bà Marie Louise Élisabeth Labouret, con gái của một chủ nhà trọ và ông Thomas Alexandre Dumas. Ông Thomas Alexandre được sinh ra tại thuộc địa Saint Domingue của Pháp (nay là Haiti), là con lai ngoài giá thú của Hầu Tước Alexandre Antoine Davy De La Pailleterie, một quý tộc Pháp, Cao Ủy Trưởng về pháo binh trong khu thuộc địa với Marie Cessette Dumas, nữ nô lệ da đen có nguồn gốc từ Afro Caribbean. Không ai biết rõ bà được sinh ra tại Saint Domingue hay ở Châu Phi (dù thực tế bà đã có một tên họ bằng tiếng Pháp nên có lẽ bà là người thiểu số Creole) và cũng không biết rằng cội nguồn của bà là ở đâu. Được cha đem về Pháp và cậu bé Thomas đã sống tự do một cách hợp pháp tại đây, Thomas Alexandre Dumas Davy theo học một trường quân đội và gia nhập quân ngũ khi còn thiếu niên. Khi trưởng thành, Thomas Alexandre lấy tên của mẹ là Dumas làm họ sau khi cắt đứt quan hệ với cha. Dumas được thăng cấp tướng năm 31 tuổi, người lính đầu tiên có gốc gác Afro Antilles đạt được cấp bậc này trong hàng ngũ quân đội Pháp. Ông đã tham gia trong Chiến Tranh Cách Mạng Pháp. Ông trở thành Tổng Chỉ Huy Trưởng trong Quân Đội Pyrenees, người đàn ông da màu đầu tiên đạt được cấp bậc đó. Dù là một vị tướng dưới trướng của Napoléon Bonaparte trong các chiến dịch ở Ý và Ai Cập nhưng Thomas Dumas không còn được tín nhiệm vào năm 1800 nên đã yêu cầu nghỉ phép để quay về Pháp. Trên đường về, tàu của ông phải dừng lại ở Taranto thuộc Vương quốc Napoli, tại đây ông và những người khác bị giữ làm tù binh. Trong hai năm bị giam giữ, sức khỏe ông đã bị yếu đi. Tại thời điểm Alexandre Dumas được sinh ra, cha ông bị suy kiệt nặng nề. Ông Thomas qua đời vì ung thu năm 1806 khi Alexandre lên 4. Người mẹ góa phụ Marie Louise không đủ sức lo cho việc học hành của con trai nhưng Dumas tập đọc mọi thứ trong khả năng và còn tự học tiếng Tây Ban Nha. Những câu truyện kể của mẹ về lòng dũng cảm của người cha trong các trận đánh đã truyền cảm hứng cho trí tưởng tượng sinh động của cậu bé. Mặc dù trở nên nghèo túng, gia đình vẫn có danh tiếng lỗi lạc của người cha để lại và thứ hạng quý tộc để trợ giúp con cái thăng quan tiến chức. Năm 1822, sau khi triều Bourbon phục hưng, Alexandre Dumas 20 tuổi chuyển đến Paris. Ông đã có được một vị trí trong văn phòng thuộc Cung Điện Hoàng Gia của Công Tước Orléans - Louis Philippe. Ông lớn lên với sự chăm sóc và giáo dục của mẹ Dumas học hành chểnh mảng, khi học xong ông làm thư ký cho một phòng công chứng, và bắt đầu viết những vở kịch đầu tiên cùng với một người bạn, Tử Tước Adolphe Ribbing De Leuven. Nhưng những tác phẩm đầu tay đó thất bại. Năm 1823, nhờ viết chữ đẹp, ông được tới làm việc cho Công Tước Orléans với công việc giao gửi hàng ở Paris. Dumas tiếp tục viết kịch và cuối cùng cũng tìm được thành công với vở diễn Henri III và triều đình tại nhà hát Comédie Française, công diễn lần đầu ngày 10 tháng 2 năm 1829. Sự nghiệp văn chương của ông tiếp tục thành công, đặc biệt trong hai thể loại ông ưa thích: Kịch và tiểu thuyết lịch sử. Alexandre Dumas là một nhà văn có sức sáng tác mạnh mẽ. Ông để lại khoảng 250 tác phẩm, gồm 100 là tiểu thuyết, số còn lại là 91 vở kịch, rồi bút ký, phóng sự, hồi ký. Dumas có cả một đội ngũ cộng sự, đặc biệt là Auguste Maquet, người góp phần vào nhiều thành công của Dumas. Trong những tiểu thuyết của ông, nổi tiếng hơn cả là Ba Người Lính Ngự Lâm, còn được dịch Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ (Trois Mousquetaires) và Bá Tước Monte Cristo (Le Comte de Monte Cristo) năm 1844. Đương thời, Dumas bị chê trách là người ham ăn, ham chơi. Ông thường xuyên thết đãi thịnh soạn bạn bè, người thân, công chúng hâm mộ, với những bữa tiệc sang trọng khiến ngay cả Paris cũng loá mắt, trầm trồ. Ông còn để lại một công trình đặc biệt: Cuốn Đại Từ Điển Ăn Uống, mà ông muốn được hậu thế coi là đỉnh cao sự nghiệp văn chương của mình. Trong đời mình Dumas kiếm được 18 triệu franc vàng, song ông luôn luôn nợ nần, nhiều lần trốn nợ, thậm chí ra nước ngoài, những năm cuối đời, phải đến tá túc ở nhà con. Dumas nức tiếng là người thay nhân tình như thay áo. Quả thật, ông cưới vợ chỉ một lần, gia đình này tan vỡ rất nhanh. Ông dan díu với 25 người đàn bà, có nhiều con hoang, mỗi con của một mẹ. Chỉ 3 con được công khai, trong đó con trai, cũng tên Alexandre Dumas, thường được gọi Alexandre Dumas con, trở nên một nhà văn lừng danh. Con gái thứ hai thì cuộc đời lỡ làng, con gái út - mà mẹ cô trẻ hơn Dumas đến gần 40 tuổi - thì chết cô đơn năm 1936 ở một làng quê trong nghèo khổ và không được ai biết đến là con gái cưng của một trong những vĩ nhân của nước Pháp. Mãi gần đây, người ta mới vỡ lẽ rằng Dumas đến với nhiều phụ nữ là do thương họ. Ông đồng thời chu cấp tiền nong đầy đủ cho vài người. Alexandre Dumas Dumas là người hết sức quý trọng tình bạn. Trừ Balzac và Musset, các nhà văn cùng thời đều chơi với ông, thân nhất là Victor Hugo, người đã đánh giá chính xác vai trò của ông ngay khi ông qua đời. Hugo viết: “Trong thế kỷ này, không ai được dân chúng yêu mến sâu rộng và thắm thiết bằng Alexandre Dumas. Các thành công của ông đều tầm cỡ hơn thành công nói chung nhiều. Đó là những đại thắng lợi. Đó là những ngọn đèn pha”. Ông cũng là người đại lượng, năm 1831, do ghen tức với thành công của vở Antony của ông, Hugo cho người viết báo chê bai. Hai người giận nhau. Song năm 1834, ông chủ động giảng hòa. Để hoàn toàn chủ động trong hoạt động sân khấu, ông bỏ ra một món tiền lớn để xây dựng Nhà Hát Kịch Lịch Sử của riêng ông. Khán giả rất nồng nhiệt, song không bù đắp nổi chi phí bỏ ra, nên cuối cùng nhà hát đóng cửa. Từ năm 1848, ông đã ra tờ báo đầu tiên. Sau đó, ông còn ra nhiều tờ báo nữa. Nhưng do quản lý kém, bị kiểm duyệt gây khó dễ, các tờ báo ấy tồn tại không bền, và ngốn của ông rất nhiều công sức và tiền bạc. Ông cũng hai lần ứng cử vào Nghị Viện đều thất bại, ứng cử vào Hội Quốc Ước thì chỉ được 261 phiếu, trong khi các đối thủ được 220.000, rồi phải sang Bỉ lưu vong năm 1851, sau cuộc đảo chính của Napoléon III. Ông mất năm 1870 ở Puys, vùng Dieppe. Thi hài của ông được chuyển về Điện Panthéon năm 2002, bất chấp ý nguyện cuối đời của ông: “Trở về bóng đêm của tương lai cùng nơi tôi ra đời” (rentrer dans la nuit de l'avenir au même endroit que je suis sorti De La vie du passé), “nơi một nghĩa địa đẹp (Villers Cotterêts) trong mùi hoa của rào quanh...” (dans ce charmant cimetière qui a bien plus l'air d'un enclos de fleurs où faire jouer les enfants que d'un champ funèbre à faire coucher les cadavres) • Các Tác Phẩm Những Tội Ác Trứ Danh (1839 -1841); Ba Người Lính Ngự Lâm (1844); Hai Mươi Năm Sau (1845); Những Quận Chúa Nổi Loạn (1845); Bá Tước Monte Cristo (1845 - 1846); Hoàng Hậu Margot (1845); Kỵ Sĩ Nhà Đỏ (1845 - 1846); Tử Tước De Bragelonne (Cái chết Của Ba Người Lính Ngự Lâm, Mười Năm Sau Nữa - 1848); Hoa Tulip Đen (Bông Uất Kim Hương Đen - 1850) Mời các bạn đón đọc Ngự Lâm Pháo Thủ Toàn Tập của tác giả Alexandre Dumas.
Dạ Khúc: Năm Câu Chuyện Về Âm Nhạc Và Đêm Buông - Kazuo Ishiguro
Dạ khúc là một chuỗi năm truyện ngắn không liên quan về tình tiết, nhưng hợp lại thành tổng thể quanh một chủ đề chung: “âm nhạc và đêm buông”. Xuất hiện trong Dạ khúc là một dàn nhân vật toàn cầu với những câu chuyện đặt trong những bối cảnh khác nhau. Một nhạc công ghi ta quê Đông Âu chật vật tìm chỗ đứng ở quảng trường Venice. Một nhóm bạn bè đại học gặp lại nhau ở London khi tuổi trẻ đã gần cạn, nhớ lại thời sinh viên xa xôi giữa tình yêu âm nhạc và những say mê lý tưởng. Một nhạc sĩ trẻ trốn nền công nghiệp âm nhạc London về khu đồi Malvern của tuổi thơ mình, tình cờ gặp gỡ cặp vợ chồng nhạc công Thụy Sĩ. Một tay kèn saxo Mỹ tài cao nhưng phận thấp, đụng độ giới giao tế trong khách sạn ở Beverly Hills. Một nghệ sĩ cello Hungary ôm mộng thiên tài giữa lúc dùng tiếng đàn kiếm miếng ăn. Những con người thuộc những giai tầng xã hội rất khác, được kết nối với nhau, và với người đọc, bằng âm nhạc - thứ ngôn ngữ quốc tế chung cho mọi tâm hồn. Nhưng đó không phải thứ âm nhạc công cộng hoành tráng hay âm nhạc thính phòng sang trọng, mà là âm nhạc vào thời khắc lặng lẽ, chiêm nghiệm riêng tư. Trong mỗi câu chuyện có sự đụng chạm rất khẽ giữa hai thế giới: thế giới cá nhân nhỏ bé nhưng chân thực, nơi các ước vọng hoài bão còn ấp ủ, và thế giới của thành công, hào nhoáng, nơi các ước vọng đã thành hiện thực, nhưng cũng có quá nhiều điều có thể mất đi. Nỗi lưu luyến của mỗi nhân vật với thế giới thứ nhất, và khao khát nhưng e dè trước thế giới thứ hai, khiến ta nhớ lại bài hát của cô bé trong Mãi đừng xa tôi, và khiến mỗi câu chuyện đều nhuốm một vẻ buồn rầu dịu ngọt. Ishiguro từng theo đuổi âm nhạc thời trẻ, chơi nhạc đường phố trong ga điện ngầm ở Paris và gửi băng thu thử cho các hãng đĩa, khi đã thành nhà văn nổi tiếng, ông còn tham gia sáng tác cho một album nhạc jazz. Trong các tiểu thuyết của ông, âm nhạc vẫn thường xuất hiện làm bối cảnh phụ, hoặc một chi tiết quan trọng trong cốt truyện. Nay với Dạ khúc, Ishiguro được dịp khám phá trọn vẹn nỗi đam mê ngày trước, và ý nghĩa của nó trong đời sống của những con người hàng ngày mà mỗi độc giả đều có thể thấy mình trong đó. Về tác giả Kazuo Ishiguro Kazuo Ishiguro là một trong những nhà văn hàng đầu trong nền văn chương Anh đương đại. Sinh 8/11/1954 tại Nagasaki, gia đình ông chuyển tới Anh sống năm 1960, nơi ông lấy bằng cử nhân rồi thạc sĩ về sáng tác văn học. Năm 1982, Ishiguro chính thức nhập tịch Anh, cho ra đời tiểu thuyết đầu tay A Pale View of Hills, trở thành một cây bút trẻ sáng giá “ngang với Martin Amis, Salman Rushdie và Ian McEwan” (The Guardian). Hai cuốn sách đầu tiên của ông đều lấy bối cảnh ở Nhật, cuốn thứ hai, An Artist of the Floating World (1986), bắt đầu chuỗi giải thưởng dồn dập đổ xuống ông. Bốn trên sáu tiểu thuyết của Ishiguro đã được đề cử Booker, gần nhất là Never Let Me Go (2005, Nhã Nam ấn hành 2008 dưới tên Mãi đừng xa tôi) chỉ đứng sau cuốn Biển của John Banville. Cuốn sách được giải thực sự là The Remains of the Day (1989), được dựng thành phim năm 1993 có Anthony Hopkins và Emma Thompson đóng với 8 đề cử Oscar. Kazuo Ishiguro có viết truyện ngắn rải rác trên các báo, nhưng Dạ khúc là tập truyện ngắn đầu tiên của ông. Đây cũng là cuốn sách mới nhất ông xuất bản năm 2009.
Bị Thiêu Sống - Souad
Một cô gái quê sống ở ngôi làng hẻo lánh xứ Cisjordaine, Palestine, bị đánh đập dã man hàng chục năm, bị gia đình tẩm xăng đốt cháy vì không chồng có con. Tác phẩm 'Bị thiêu sống' là hồi ký rung động lòng người về tội ác với phụ nữ. Cuốn hồi ký khá đặc biệt, bởi nhân vật chính không muốn nêu tên thật, không tiết lộ nơi ở hiện tại vì mối lo sợ bị truy đuổi và trả thù. "Một nơi nào đó ở châu Âu" và cái tên giả Souad là hai điều riêng nhất của người phụ nữ trong cuốn sách mà độc giả có thể hình dung. Như phần lớn các cô gái sống ở vùng nông thôn hẻo lánh của Palestine, Souad chỉ được xem như là nô lệ trong gia đình. Cô cùng mẹ, các chị em gái phải làm việc quần quật từ sáng đến tối trên cánh đồng, trên vườn nhà, trong xó bếp, chuồng cừu... Chỉ cần cô gái nói chuyện với người đàn ông ngoài gia đình, cô ta sẽ bị kết tội là charmuta (con đĩ) và mang nỗi nhục suốt đời. Khi nhận thức được cuộc sống quanh mình, Souad biết, sinh ra là con gái, điều đó có nghĩa là suốt đời phải cúi đầu vâng lệnh, nghe theo mọi chỉ dẫn, sai khiến của cha, anh em trai và sau này là người chồng. Sống trong tuổi thơ khiếp hãi và bị ám ảnh về cái chết chỉ vì mình "không có cái ấy giữa hai chân", Souad từng chứng kiến mẹ ruột của mình, vì trót sinh quá nhiều con gái nên những lần vượt cạn sau phải giết ngay đứa con lọt lòng, để chúng không trải qua nỗi tủi hổ khi lớn lên. Đến độ tuổi vừa chín của người con gái, Souad không thể nào lấy được chồng chỉ vì người chị trước của cô chưa có ai ngỏ lời cầu hồn. Tuyệt vọng, cô tìm mọi cách quyến rũ một người đàn ông với mong mỏi anh ta giải thoát mình khỏi cuộc sống hiện tại. Nhưng kết quả cô gái mười bảy tuổi nhận được là: ba lần bị buộc làm tình trong sợ hãi, một bào thai, bị người tình bỏ rơi và sự trừng phạt "vì danh dự" của dòng tộc. Jacqueline, một nhân viên của tổ chức nhân đạo Surgir (Thụy Sĩ) vượt qua nhiều khó khăn, nguy hiểm để giải thoát cô gái bị chính gia đình tẩm xăng đốt cho kỳ chết. Souad được đưa ra khỏi Palestine và cô là một trong những nạn nhân ít ỏi còn giữ được mạng sống, dù phải từ bỏ quê hương vĩnh viễn. Bên cạnh sức hấp dẫn đặc biệt từ thực tế rùng mình áp đặt lên người phụ nữ, Bị thiêu sống còn thu hút độc giả qua giọng văn giản dị, truyền cảm. Những đoạn miêu tả nội tâm của nhân vật lẫn miêu tả phong tục, sinh hoạt, nét văn hóa riêng của một làng quê Ảrập rất sống động, giàu hình ảnh. Nhà văn Marie Thérèse Cuny, người cộng tác với nhân chứng Souad thực hiện cuốn Bị thiêu sống, nhận xét: "Souad là người phát ngôn cho tất cả phụ nữ trên toàn thế giới là nạn nhân của thứ luật hà khắc do đàn ông đặt ra. Cô chính là vị anh hùng. Tôi rất vinh hạnh là người chấp bút cho cô". *** Tôi là một đứa con gái, và là con gái thì phải bước nhanh, đầu lúc nào cũng phải cuối xuống đất như thể đang đếm bước. Mắt không được nhìn lên, không được liếc sang phải hay sang trái trên đừờng đi. Vì nếu lỡ để ánh mắt mình bắt gặp ánh mắt của một người đàn ông thì sẽ bị cả làng gọi là “charmuta[1]” Nếu để một chị hàng xóm đã có chồng, một cụ già hoặc bất cứ một người nào khác bắt gặp cô gái đi một mình trong hẻm nhỏ, không có mẹ hay chị đi kèm, không dắt cừu, không đội bó rơm hay sọt đựng quả vả thì cũng bị gọi là “charmuta”. Con gái phải có chồng mới được phép nhìn thẳng về phía trước, mới được phép bước vào hàng quán, mới được phép tự nhổ lông và đeo nữ nữ trang. Khi bước sang tuổi mười bốn mà chưa có chồng như mẹ tôi thì người con gái bắt đầu bị cả làng chế nhạo. Nhưng muốn được lấy chồng thì phải đợi đến lượt mình. Chị cả trong nhà lấy trước, sau đó mới tuần tự đến các cô em. Trong nhà bố tôi có quá nhiều con gái, bốn đứa lớn đều đến tuổi lấy chồng. Ngoài ra còn có hai đứa em gái cùng cha khác mẹ do bà vợ hai của cha tôi sinh ra. Chúng vẫn còn nhỏ. Đứa con trai duy nhất trong gia đình mà ai cũng yêu quí là thằng Assad đã chào đời trong vinh quang giữa bấy nhiêu đứa con gái, nó là đứa thứ tư trong nhà. Tôi là đứa thứ ba. Cha tôi (ông tên là Adnan) vẫn tỏ ý không bằng lòng với mẹ tôi (bà tên Leila) bởi bà đã sinh cho ông quá nhiều con gái. Ông cũng không ưa bà vợ hai Aicha, vì bà này đẻ toàn con gái. Noura, chị cả tôi lấy chồng muộn, lúc tôi khoảng mười lăm tuổi. Chị thứ Kainat thì chẳng được người đàn ông nào hỏi đến.Tôi có nghe nói có người gặp cha tôi để dạm hỏi tôi nhưng tôi còn phải đợi chị Kainat đi lấy chồng thì mới dám nghĩ đến chuyện cưới xin của mình. Nhưng chị Kainat có lẽ không có nhan sắc mấy hoặc giả chị làm việc gì cũng chậm chạp....Tôi không rõ tại sao chị không được ai hỏi đến nhưng nếu chị ế chồng và trở thành gái già thì chị sẽ bị cả làng chế giễu và tôi cũng sẽ bị như vậy. Từ ngày đầu óc tôi ghi nhớ được sự việc, tôi nhận ra mình chưa một lần được sung sướng, được chơi đùa. Sinh ra là con gái trong làng tôi là một điều bất hạnh. Niềm mơ ước tự do duy nhất là lấy chồng. Rời nhà cha mẹ đẻ để về nhà chồng và không bao giờ được phép quay lại dù có bị chồng đánh đập. Con gái có chồng mà trở về nhà cha mẹ là một điều sỉ nhục. Cũng không được phép xin một nhà nào khác che chở.Gia đình người con gái có nghĩa vụ đưa con gái trở lại nhà chồng. Chị cả tôi bị chồng đánh đập dám quay về thở than khóc lóc khiến cả nhà tôi mang nhục. Có được một tấm chồng là cái may của chị. Tôi vẫn mơ ước được như thế. Từ hôm nghe có người đến gặp cha tôi xin cưới tôi, tôi đâm ra vừa tò mò vừa bồn chồn. Tôi biết anh ấy chỉ cách nhà tôi ba bốn bước chân. Thỉnh thoảng khi lên sân thượng phơi quần áo tôi vẫn thoáng thấy anh. Tôi biết anh có một chiếc ôtô, mặc âu phục, tay lúc nào cũng xách cái cặp nhỏ đựng giáy tờ và anh làm việc ngoài thành phố, một công việc khá tốt vì anh không bao giờ ăn mặc như công nhân mà luôn luôn chỉnh tề, sang trọng. Tôi rất muốn được nhìn mặt anh rõ hơn nhưng lại sợ bị gia đình bắt gặp tôi đang ngóng anh. Vì thế, khi đi lấy rơm cho một con cừu ốm ở ngoài chuồng, tôi bước thật nhanh trên đường với hy vọng nhìn thấy anh gần hơn. Nhưng anh lại đỗ xe xa quá. Nhờ quan sát, tôi đại khái biết được mấy giờ anh đi làm. Bảy giờ sáng, tôi giả vờ lên sân thượng thu quần áo hay nhặt một quả vả chín hoặc giũ tấm chăn để được, trong một thoáng chốc không đầy một phút, nhìn thấy anh bứơc lên ôtô đi làm. Tôi phải thật nhanh để không ai chú ý. Tôi lên cầu thang, băng qua mấy gian phòng để ra tới sân thượng, vừa cầm một tấm thảm giũ mạnh vừa đưa mắt nhìn qua bức tường xi măng, liếc nhẹ sang phải. Từ xa nếu có ai trông thấy cũng không thể ngờ là tôi đang ngó xuống đường. Thỉnh thoảng tôi cũng có đủ thời gian nhìn thấy anh. Tôi đâm ra phải lòng anh cùng chiếc ôtô của anh! Đứng trên sân thượng, tôi tưởng tượng ra khối chuyện: tôi kết hôn với anh và như hôm nay, tôi nhìn theo chiếc ôtô cho đến khi khuất bóng nhưng đến chiều, khi mặt trời lặn, anh sẽ trở về từ nơi làm việc. Tôi sẽ cởi giày cho anh và tôi sẽ quì xuống lau chân cho anh như mẹ tôi vẫn thường làm cho cha tôi. Tôi sẽ pha trà mời anh, sẽ nhìn anh ngồi oai vệ như một ông vua phì phà chiếc tẩu dài ngay trước cửa nhà. Tôi sẽ là một phụ nữ có chồng! Và thậm chí tôi có thể trang điểm, dạo phố mua hàng, cùng chồng ngồi vào xe và lên thành phố. Tôi sẵn sàng chịu đựng mọi điều tệ hại nhất, miễn là khi nào thấy muốn, tôi được tự do một mình bước qua cánh cửa kia để đi mua bánh mì! Nhưng tôi sẽ không bao giờ là một “charmuta”. Tôi sẽ không nhìn những người đàn ông khác, tôi sẽ tiếp tục bước nhanh, giữ người thẳng, vẻ kiêu hãnh, nhưng không đếm bước, mắt vẫn nhìn xuống và cả làng không ai còn có thể nói xấu tôi bởi lẽ tôi đã có chồng. Câu chuyện kinh khủng của tôi bắt đầu ngay trên cái sân thượng ấy. Tôi đã nhiều tuổi hơn chị cả tôi nếu so với ngày chị ấy lấy chồng, và tôi đã hy vọng để rồi thất vọng. Dạo ấy tôi khoảng mưới tám tuổi hay hơn. Tôi cũng không biết nữa. Ký ức tôi đã tan thành mây khói ngay hôm hoả hình ập xuống đầu tôi. Chú thích [1] Charmuta (Tiếng Ả Rập): Đồ lăng loàn, con đĩ. ... Mời các bạn đón đọc Bị Thiêu Sống của tác giả Souad.