Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Ký Ức Lạc Ngân Hà

Editor: Tiểu Lục Đây là một tác phẩm ngôn tình được viết theo một phong cách hoàn toàn mới lạ sự kết hợp giữa ngôn tình lại khoác lên lớp áo khoa học viễn tưởng, nếm thử một lần. Sự kết hợp giữa một cô gái mang gen thuần chủng cùng với một chàng trai mang gen dị chủng. Tại ngã rẽ của tiến hóa, ai mới là quân cờ? Ai mới là kẻ đánh cắp cuộc sống của người khác? "Em yêu anh, là anh sao?" "Là tốt, là xấu; là thiện, là ác; là thực, là giả; là toàn bộ cộng lại chính là anh! em đều yêu, đều muốn có!" "Tôi yêu em, bằng tim, bằng máu, bằng cơ thể, bằng sinh mạng! Bằng im lặng, bằng nước mắt! Bằng duy nhất, bằng tận cùng! Bằng linh hồn phiêu bạt, bằng cái chết vĩnh hằng!" *** Tôi là ai? Tôi từ đâu đến? Tôi muốn đi đâu? Có người nói, ba câu hỏi mà triết học sự sống cuối cùng đã tự đặt ra này, từ công nguyên thiên niên kỷ của địa cầu cổ xưa đến tinh vân thiên niên kỷ của thời đại hành tinh, vẫn chưa có đáp án. Nếu chỉ dựa trên ý nghĩa chính xác của câu chữ, thì một người bình thường vẫn có thể thoải mái trả lời được ba câu hỏi này, nhưng, đối với một người mặc áo tù nhân, đứng trước vành móng ngựa của tòa án, một tội phạm quân sự như tôi đây, thì không có cách nào trả lời. Bảy ngày trước, trong một bụi cây héo úa thưa thớt lá, tôi tỉnh lại. Tôi mặc một cái váy dài bẩn thỉu, đứng trên cánh đồng hoang vu, ngơ ngác nhìn ra xa, trong đầu trống rỗng, không nghĩ được điều gì. Tôi không biết mình là ai, không biết mình từ đâu đến, càng không biết mình muốn đi đâu. "Này ——" "Có ai không ——" Tôi cố gắng kêu to hết lần này đến lần khác, nhưng ngoại trừ tiếng gió xào xạc thổi qua lùm cây, thì không còn bất kỳ âm thanh nào, giống như trên thế giới này chỉ còn lại một mình tôi. Tôi chọn bừa một phương hướng, ngơ ngác lo sợ đi về phía trước, hy vọng có thể thấy ai đó. Nhưng tôi đi đúng ba ngày ba đêm, vẫn không gặp được một người. Tôi vừa mệt vừa đói, sợ hãi nối tiếp tuyệt vọng, đột nhiên, tôi nhìn thấy ở cách đó không xa, trên sườn núi có một cây táo, thân cây khô héo, cành lá úa vàng, nhưng lại trổ ra nhưng quả táo căng tròn. Tôi lảo đảo đi tới, hái táo xuống, ăn ngấu nghiến. Ăn được nửa quả táo, trên đầu bỗng nhiên truyền đến tiếng nổ rền vang. Theo tiếng nổ nhìn lại, tôi thấy một chiếc phi thuyền đang lơ lửng giữa không trung, có vài tên lính áo giáp vũ trang đầy đủ đang chĩa súng về phía tôi. Trong miệng đang cắn nửa quả táo, trên tay đang cầm một quả táo khác, tôi liền giơ tay lên. Bởi vì tội trộm gene di truyền, tôi bị nhốt vào tù. Nghe nói, cây táo kia là giống táo có nguồn gốc từ địa cầu cổ xưa, gien cực kỳ quý hiếm. Đế quốc Ar (A Nhĩ) đã cố ý mô phỏng môi trường sinh thái giống với địa cầu cổ xưa, biến vệ tinh G9737 thành nơi nghiên cứu gene di truyền, là trọng địa nghiên cứu khoa học của quốc gia, dĩ nhiên canh phòng cực kỳ nghiêm ngặt. Xét thấy "Tang chứng vật chứng rành rành", tôi chỉ có thể nhận tội. Nếu chỉ mang tội trộm gene di truyền, thì hình phạt đại khái chỉ hơn một trăm năm, so với tuổi thọ trung bình của con người lúc bấy giờ là 300 năm, thì cũng chưa được tính là hình phạt quá nghiêm trọng. Nhưng, tôi lại là người không có thân phận. Công dân Đế Quốc Ar khi vừa sinh ra sẽ được tầm soát gene di truyền, sau khi tầm soát mỗi người sẽ được cấp một mã số, mã số này được ghi trên một thẻ chip, thẻ chip này có thể gắn với da thịt, cũng có thể được cài đặt vào thiết bị điện tử cá nhân (0.1) luôn mang theo bên mình. Học tập, làm việc, sinh hoạt, thậm chí di dân sang hành tinh khác, đều phải có thẻ chip chứng minh thân phận này, trên người của tôi lại chẳng có thứ gì có thể chứng minh thân phận. (0.1) Thiết bị điện tử cá nhân (nguyên văn terminal): thiết bị đầu cuối, chức năng như một máy tính có thể làm bất cứ việc gì từ kết nối, cung cấp thông tin, liên lạc v.v..., mình tạm dịch như vậy để dễ hiểu. Toà án ra quyết định buộc tôi đi tầm soát gene di truyền, để tìm cho ra thân phận của tôi. Cuối cùng, máy tính quốc gia cho ra kết quả là: Không tìm thấy người này. Một kẻ không tồn tại ở đất nước Ar, lại đột nhiên xuất hiện bên trong khu vực cấm địa quân sự, chính là trung tâm nghiên cứu khoa học quan trọng của quốc gia, giải thích hợp lý là gì? Thân phận của tôi từ một người không biết là công dân của nước nào liền biến thành một gián điệp nguy hiểm dùng thủ đoạn bí mật lẻn vào cấm địa nghiên cứu. Tội danh trộm gene di truyền liền biến thành tội danh gây nguy hại an toàn quốc gia. "... Căn cứ vào tội trạng, bổn tòa tuyên án, đối với tội đột nhập vào khu căn cứ bí mật quốc gia G9737 của người nữ vô danh này sẽ chấp hành theo hình phạt thứ 777, không kích động tâm lý sợ hãi, không khiến phát sinh bệnh lý, kết thúc sự sống đặc thù..." Tôi phản ứng trong chớp mắt, mới hiểu được kết quả của bản tuyên án, chính là "Tử hình êm ái". Dựa vào sự thật trước mắt, đây rõ ràng là vụ xét xử nhân đạo, đầy tính công bằng và hợp lý, nhưng một kẻ sắp bị đưa đi tử hình như tôi, lại cảm thấy vô cùng oan ức. —————— Quản ngục áp giải tôi đến một căn phòng, không phải là nhà tù tôi đã ngồi mấy ngày nay. Căn phòng có màu vàng nhạt, bốn phía đặt mấy chậu cây xanh, chính giữa là một cái bàn ăn nhỏ, trên bàn bày biện nhiều loại thức ăn nóng hổi, trông cực kỳ ấm áp. Một người đàn ông cao ráo mặc bộ y phục quân y màu trắng, lịch sự đưa tay, tỏ ý mời: "Xin chào, tôi là Bác sĩ Mục (Dr Mu), đây là bữa tối chuẩn bị cho cô, hy vọng cô thích." Tôi không nói tiếng nào, vội ngồi vào bàn, vùi đầu cố sức ăn. Nhạt nhẽo vô vị, tôi căn bản không biết được mùi vị của thức ăn. Nghĩ đến mười mấy tiếng nữa, mình phải chịu hình phạt "Tử hình êm ái", mà hiện tại ngay cả bản thân là ai cũng không biết, tôi không khỏi cảm thấy uất ức, hai hàng nước mắt không kiềm được tuôn rơi. Bác sĩ Mục đi đến, ngồi xuống phía đối diện với tôi. Trong lòng quá mức khó chịu, tôi nhịn không được nói hết ra: "Tôi thật tình là vì quá đói, chỉ muốn ăn hai quả táo, vốn không biết nó quý hiếm như vậy." "Cô biết đó là cây táo, mà không biết nó quý hiếm sao?" Bác sĩ Mục nhếch miệng mang ý cười giễu cợt. Tôi lau nước mắt, không biết phải trả lời thế nào. Suốt mấy ngày xét xử, tôi mới biết quả táo tôi đã ăn vốn không có bán trên thị trường, hiện tại chỉ có loại táo nhân tạo, mà cây của nó có hình dạng khác hoàn toàn với cây táo cổ. Theo ý nghĩa nào đó mà nói, loại táo tôi ăn trộm là một loại sinh vật cổ, nếu không phải là người nghiên cứu cổ sinh vật học thì căn bản không có khả năng nhận biết. Bác sĩ Mục nghiêng người về phía trước, ánh mắc sáng quắc nhìn tôi chằm chằm, "Cô là ai, làm sao có thể lẻn được vào khu căn cứ, mục đích là gì, tôi không quan tâm, tôi đến là muốn cùng cô làm một cuộc trao đổi." Tôi hoang mang hỏi: "Anh là ai?" Hắn mỉm cười, chậm rãi nói: "Bác sĩ Mục, phụ trách nhiệm vụ tử hình cô, bảo đảm toàn bộ quá trình không gây kích thích tâm lý sợ hãi, hay phát sinh bất kỳ bệnh lý nào cho cô." Tôi không khỏi rùng mình một cái, hỏi: "Trao đổi thế nào?" "Tôi giữ mạng cho cô, cô thay bạn gái tôi lấy vị hôn phu của cô ấy." Vị hôn phu của bạn gái hắn, không phải là hắn hay sao? Hắn muốn tôi lấy hắn? Tôi khiếp sợ nhìn Bác sĩ Mục, Bác sĩ Mục khó chịu khẽ nhíu mày. Tôi liền phản ứng kịp, vị hôn phu cũng chưa chắc là bạn trai! Đây không phải là tiết mục điển hình "Bạn gái đã kết hôn, nhưng tân lang không phải là tôi" (0.2) hay sao? (0.2) Một bài hát. "Được! Tôi đồng ý!" từ chỗ chết có được hy vọng, tôi rất sợ hắn đổi ý, nên đồng ý ngay. Bác sĩ Mục nói: "Cô không cần biết một chút gì đó rồi mới quyết định à?" Tôi khổ sở nói: "Tôi có lựa chọn sao? Một bên là đi chết, một bên chỉ là lập gia đình, mặc kệ kẻ tôi sắp lấy là cực kỳ xấu xí, hay vô cùng tàn bạo, ít ra tôi có thể giữ được mạng sống." Bác sĩ Mục phong độ đứng lên, đưa tay. Tôi lễ phép cầm tay hắn, bắt tay, "Hợp tác vui vẻ!" Vừa muốn rút tay lại, Bác sĩ Mục đã dùng lực nắm chặt tay tôi. "Nếu cô dám lừa tôi, tôi sẽ khiến cho cô chết không phải là êm ái nữa." Hắn ánh mắt sắc bén, ngữ khí đe dọa, gần như bóp gãy bàn tay tôi. Tôi cố chịu đau, nỗ lực tỏ thái độ chân thành nhất có thể nhìn hắn, "Cái gọi là hợp tác vui vẻ chính là anh tuân thủ luật chơi, tôi cũng sẽ tuân thủ luật chơi." Bác sĩ Mục sắc mặt hòa nhã trở lại, nhẹ nhàng cầm tay tôi, nói: "Hợp tác vui vẻ!" —————— Sau khi cả đêm đọc xong tài liệu của Bác sĩ Mục để lại, rốt cuộc tôi cũng hiểu rõ tình thế mình sắp phải đối mặt. Bạn gái của Bác sĩ Mục tên Lạc Lan (Lorrain), nàng là công chúa của hoàng thất Anh Tiên (Perseus) thuộc đế quốc Ar. Mấy tháng trước, trong cuộc chiến tranh giành nguồn năng lượng giữa các hành tinh, đế quốc Ar bị bại trận dưới tay liên bang Odin (Áo Đinh), nên đề nghị ngừng chiến. Liên bang Odin đồng ý ngừng chiến, đồng thời cũng đồng ý nhường một hành tinh giàu năng lượng cho đế quốc Ar, với điều kiện Ar phải gả công chúa cho một trong những công tước của liên bang Odin. Đế quốc Ar đã không còn khả năng tái chiến, chỉ có thể chấp nhận "đề nghị hợp lý" chính là "Liên bang và đế quốc hảo hữu trong thời gian tới." Liên bang Odin do bảy khu tự trị cùng với khu hành chính trung ương lập thành nước cộng hòa liên bang, tuy lịch sử kiến quốc chưa được bao lâu, nhưng cũng có uy danh hiển hách về sức mạnh quân đội, kết duyên với đế quốc Ar có bề dày lịch sử lâu đời, cũng coi như là môn đăng hộ đối. Thế nhưng, trong dải ngân hà này, liên bang Odin tồn tại rất đặc thù, toàn bộ ngân hà không ai dám tin tưởng cuộc kết duyên này thật sự là vì "Liên bang và đế quốc hữu hảo trong thời gian tới." Loài người trên địa cầu cổ xưa thời bấy giờ đã nghiên cứu được gene di truyền, sớm đã tạo ra được các loài thực vật mang gene tạp giao, có thể thu hoạch được sản lượng nhiều hơn, chất lượng tốt hơn. Dần dần, nghiên cứu gene thực vật bắt đầu chuyển sang động vật, thậm chí cả con người, nhưng do đụng phải vấn đề về pháp luật và đạo đức, nên việc nghiên cứu cực kỳ hạn chế. Theo thời gian, môi trường sống của địa cầu càng chuyển biến xấu, nguồn năng lượng cạn kiệt, loài người không thể không di cư đến các hành tinh khác. Trong thời khắc sinh tử tồn vong, nghiên cứu gene di truyền được tạo cơ hội mở rộng phạm vi, loài người có thể có được khí lực cường tráng hơn, sức khỏe dồi dào hơn, cơ hội sinh tồn nhiều hơn, gene của bản thân coi như đã được cải tạo triệt để. Ở thời đại địa cầu cổ xưa, phổ biến nhất là trang điểm làm đẹp; còn ở thời đại các hành tinh này, phổ biến nhất chính là cải tạo gene di truyền. Loài người lúc mới bắt đầu có chút nửa tin nửa ngờ nhưng càng về sau càng chấp nhận rộng rãi, các loại cơ cấu tu sửa gene cũng nhân cơ hội đó mà sinh sôi, khuyến khích mọi người chỉnh sửa gene từ lúc vừa sinh ra, có thể có được khuôn mặt đẹp, sức khỏe tốt, năng lượng dồi dào, thậm chí sống thọ hơn. Theo thời gian thoi đưa, các loại gene tu sửa giao tạp trộn lẫn, đời đầu sinh ra đời sau, đời sau sinh ra đời sau nữa, vấn đề tiềm tàng bên trong gene dần dần hiện rõ, loài người phát hiện gene được chỉnh sửa càng tăng cơ hội sinh tồn bao nhiêu, thì song song đó cũng sẽ càng mang lại sự hủy hoại bấy nhiêu —— tính ổn định của gene trở nên kém hơn, một người thân thể cường tráng, khỏe mạnh, không bệnh không đau đột nhiên bởi vì gene hỗn tạp mà sinh bệnh kỳ lạ; tỷ lệ giới tính giảm sút, sinh sản đời sau càng trở nên khó khăn. Loài người bắt đầu hoài niệm gene tự nhiên thuần khiết xưa kia, nên chính phủ các tinh quốc bắt đầu tiết chế nghiêm khắc, ban hành pháp lệnh, cấm giải phẫu chỉnh sửa gene di truyền. Bởi vì đã dung hợp những loại gene khác thường nên có những người có được những sức mạnh dị thường, bọn họ bị gọi là "Người mang gien dị chủng", và ngày càng bị kỳ thị nghiêm trọng. Nhất là những tộc người có hình dáng bên ngoài khác với người bình thường, bị khinh miệt là "Dị chủng", bọn họ căn bản không được loài người đối xử tốt, chỉ có thể được làm những công việc nguy hiểm nhất, hèn hạ nhất. Hơn 600 năm trước, một nhóm người không thể chịu được cái gọi là "Dị chủng", nên đã đứng lên phản kháng, bọn họ tuyên bố độc lập, thành lập chính phủ và quân đội của riêng mình, đó chính là khu hành chính trung ương liên bang Odin. Sau này, cuộc chiến phản kháng giữa các hành tinh trở thành xu thế, hơn 200 năm chiến tranh hỗn loạn, lại có thêm bảy đội quân dị chủng lớn nữa ra đời. Bởi vì đều là "dị chủng", lợi ích căn bản như nhau, nên khu hành chính liên bang đệ nhất đảm nhận chấp chính, cử ra một tuyệt thế kinh tài, gọi là Chấp Chính Quan, thủ lĩnh của bảy đội quân phản kháng tuyên thệ phục tùng chỉ huy thống nhất của Chấp Chính Quan, bảy khu tự trị cùng với khu hành chính trung ương tập hợp lại thành liên bang Odin, từ đó một đất nước "dị chủng" lớn mạnh ra đời. Trong hơn một trăm tinh quốc lớn nhỏ thuộc vũ trụ này, liên bang Odin thần bí, cường thế, không chỉ ảnh hưởng đến vận mệnh của toàn bộ các tinh quốc còn lại, mà còn ảnh hưởng tới thái độ đối đãi với các "Dị chủng", để bọn họ chí ít cũng duy trì được sự tôn trọng bên ngoài. Ngược lại, đế quốc Ar là một đất nước có bề dày lịch sử lâu đời, huyết mạch hoàng thất Anh Tiên bắt nguồn từ tộc người Đông phương trên địa cầu cổ xưa, trong giai đoạn thật dài khai thác các hành tinh, bởi vì bảo thủ và kiêu ngạo, nên bọn họ may mắn bảo tồn được gene di truyền thuần khiết. Bởi vì khan hiếm loại gene "thuần chủng tự nhiên, không ô nhiễm" này, nên toàn bộ các hành tinh đều hoan nghênh hôn phối với họ. Căn cứ vào phân tích của các chuyên gia thuộc đế quốc Ar, liên bang Odin "cầu hôn" với công chúa Ar, dĩ nhiên không phải là anh hùng muốn lấy mỹ nhân, mà hoàn toàn là vì gene của công chúa, bọn họ muốn thông qua nghiên cứu gene của công chúa để tu bổ lại gene của chính mình. Cho dù là gì, thì một phụ nữ người bình thường cũng không bao giờ muốn lấy "dị chủng", đừng nói chi đến chuyện phải làm vật thí nghiệm cho bọn quái nhân đó mổ xẻ, nhóm công chúa đế quốc Ar đã nghĩ hết mọi cách trốn tránh, có điều, công chúa Lạc Lan dịu dàng nết na kia chẳng may bị chọn trúng. Một công chúa bất hạnh nhưng lại quá may mắn chính là có được một người đàn ông tốt, nguyện vì nàng đánh đổi tất cả, bày mưu tính kế, giúp nàng thoát khỏi bất hạnh, mà tôi... cũng coi như có được chút phước đức của nàng! Dù gì đi nữa, thì làm một gốc cây táo được chăm sóc nghiên cứu, còn hơn là bị tử hình nhân đạo! —————— Sáng sớm, gác ngục đưa tôi đến phòng hành hình. Các bác sĩ mang khẩu trang bảo hộ, mặc y phục trắng, tất cả đã sẵn sàng, đang chờ đợi tôi. Tôi nhìn các loại dụng cụ hành hình bằng kim loại lạnh lẽo lóe sáng, trong lòng tràn ngập lo lắng sợ hãi. Dưới nhiều cặp mắt nhìn chăm chú như vậy, Bác sĩ Mục có cách cứu tôi sao? Gác ngục ra ý bảo tôi nằm lên giường hành hình. Cái chết ở ngay trước mắt, nhưng tôi còn nhiều thứ chưa hiểu rõ, cũng không thể cam lòng... Tôi cầu khẩn nhìn về phía Bác sĩ Mục, nằm xuống đây rồi, rốt cuộc là kết thúc, hay được tái sinh? Khẩu trang bảo hộ lạnh như băng che giấu khuôn mặt của hắn, cũng che đi nét mặt của hắn, thời khắc này, hắn giống như tử thần trong truyền thuyết gặt lấy sinh mạng của con người không chút lưu tình. "Nhờ cô phối hợp giúp, như vậy mọi người mới có thể hợp tác vui vẻ." Bác sĩ Mục nói còn cố tình nhấn mạnh bốn chữ "Hợp tác vui vẻ". Tôi từ từ trấn tĩnh lại, nằm thẳng người trên giường, nhìn chằm chằm lên nóc nhà có màu xanh da trời. Nghe nói, người sắp chết sẽ nhớ đến những chuyện của bản thân lúc còn sống, đối với tôi, trí nhớ của cả đời tôi chỉ vỏn vẹn có bảy ngày, trong lúc đang chờ đợi cái chết, trong đầu tôi vẫn vang lên tiếng chất vấn của quan tòa. "Cô là ai?" "Làm sao cô có thể lẻn vào được căn cứ G9737?" "Cô có đồng phạm không?" "..." Sau khi sau gáy có cảm giác đau giống như bị muỗi đốt, tôi hoàn toàn mất đi ý thức. ————·————·———— Mở mắt bừng tỉnh một lần nữa, tôi đã là công chúa Lạc Lan, đang ở trên phi thuyền đi đến liên bang Odin, Bác sĩ Mục là bác sĩ quân y theo hộ tống. Nghe nói, bởi vì công chúa Lạc Lan quá sợ hãi phải xuất giá, nàng đã dùng cách ấu trĩ nhất chính là tự hủy dung nhan của mình để phản kháng, hoàng đế Ar liền sai người đánh nàng ngất xỉu, sau đó trực tiếp đưa nàng lên phi thuyền. Dù sao đường đi vẫn còn xa, trước khi đến liên bang Odin, các bác sĩ sẽ chữa trị gương mặt cho nàng. Hiện tại, giải phẫu thẫm mỹ có thể làm cho tôi biến thành công chúa Lạc Lan một cách dễ dàng, nhưng Bác sĩ Mục không thích tôi và người yêu của hắn có cùng gương mặt, nên để tôi giữ lại gương mặt của mình. Bên ngoài thì tuyên bố Lạc Lan bởi vì quá đau khổ nên đã quyết tâm thay đổi khuôn mặt, phẫu thuật thẩm mỹ thành gương mặt giống như của tôi hiện giờ. Có thể thoải mái dùng gương mặt của mình giả mạo công chúa, tôi rất vui mừng. Dù sao, tôi cũng đã mất đi trí nhớ, mất luôn thân phận, bề ngoài này chính là cái duy nhất liên hệ với tôi của trước kia. "Công chúa Lạc Lan bây giờ ở đâu?" Tôi tò mò hỏi. Bác sĩ Mục nhìn tôi chằm chằm tỏ ý cảnh cáo, "Cô chính là công chúa Lạc Lan, còn chuyện... cô ấy là ai, không phải là vấn đề cô quan tâm." Tôi là công chúa Lạc Lan, tôi là công chúa Lạc Lan... Tôi im lặng tự thôi miên chính mình. Đột nhiên, tôi nghĩ đến một chuyện. Công chúa Lạc Lan có bộ gene tự nhiên thuần khiết hiếm gặp, tôi lại là người không rõ lai lịch, chỉ cần làm một cuộc kiểm tra gene đơn giản sẽ phát hiện ra ngay. Mọi người đều biết liên bang Odin bởi vì bộ gene của công chúa mới đi cầu hôn nàng, cho dù tôi có nghĩ ra tất cả biện pháp kéo dài thời gian, cũng không thể kéo dài được lâu. Tôi cẩn thận hỏi: "Liên bang Odin chính là muốn nghiên cứu bộ gene của công chúa, nếu bọn họ phát hiện tôi là kẻ giả mạo, sẽ xử lý tôi thế nào?" "Gene của cô là thuần chủng, hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của bọn họ." Bác sĩ Mục ánh mắt kỳ quái, dường như cũng thật buồn bực, "Chỉ cần cô không làm gì sai, sẽ không ai nghi ngờ, nếu bọn họ cố ý kiểm tra xem cô và hoàng thất có quan hệ huyết thống hay không, thì cô vĩnh viễn vẫn là công chúa Lạc Lan." Tôi khiếp sợ nhìn hắn, hoàn toàn không ngờ bộ gene của mình cũng là gene thuần chủng, vô cùng hiếm gặp. "Nhìn qua cô thật sự hoàn toàn chẳng có chút hiểu biết gì về mình." Bác sĩ Mục cười tự giễu, "Nếu không phải gene của cô đặc biệt, tôi làm sao mạo hiểm cứu cô?" Đúng vậy! Nếu không phải gene của tôi đặc biệt, Bác sĩ Mục căn bản không nhất định phải chọn tôi, với thủ đoạn của hắn. Muốn tìm một cô gái giả mạo công chúa dễ như trở bàn tay. Bác sĩ Mục nói: "Tôi đã giữ được mạng sống cho cô." Tôi trịnh trọng bước về phía hắn hành lễ, "Cám ơn anh, ân nhân cứu mạng, tôi sẽ thực hiện đúng lời hứa của mình." ————— Tôi mang tâm trạng không tốt, trốn suốt ở trong phòng, mỗi ngày chỉ đồng ý gặp bác sĩ Mục. Nhờ sự giúp đỡ của hắn, tôi bắt đầu học trở thành một công chúa. May mắn sao Lạc Lan là một công chúa có địa vị thấp. Lúc nàng bảy tuổi, cha nàng đã qua đời, mẹ nàng cũng mất do bệnh truyền nhiễm khi nàng mới trưởng thành, hoàng đế đương thời vốn là hoàng thúc của nàng nhưng đối với nàng không chút quan tâm, nàng cũng rất ít khi xuất đầu lộ diện, chỉ thích cuộc sống lặng lẽ làm bạn với sách, ngoại trừ những tỳ nữ thân cận hầu hạ nàng, thì người ngoài ấn tượng đối với nàng cũng mơ mơ hồ hồ. Bởi vì hành động kháng hôn quá ngây thơ của Lạc Lan, hoàng đế thúc thúc sợ nàng lại làm loạn gây xấu mặt, nên không cho các tỳ nữ thân cận cùng nàng lên phi thuyền, những người hộ tống hiện thời hoàn toàn là người xa lạ, căn bản không thật sự quan tâm tới nàng. Bác sĩ Mục nói: "Chỉ cần biểu hiện của cô không thái quá, sẽ không bị phát hiện. Cho dù có người để ý đến lời nói và hành động của cô không giống với trước kia, thì cũng có thể lấy cớ vì quá kích động, dẫn đến tính tình thay đổi, tạm thời che giấu." Tôi khiêm tốn lắng nghe, tỏ vẻ hiểu được. Một tháng sau, quá trình học của tôi được bác sĩ Mục chấp nhận, xem như thành công trở thành công chúa. Bác sĩ Mục không còn đốc thúc tôi học tập nữa, thời gian rảnh rỗi của tôi đột nhiên tăng lên. Tôi cảm thấy nên nhân cơ hội này suy nghĩ nghiêm túc việc làm thế nào để đối phó với vận mệnh tương lai, nhưng trí nhớ thì trống rỗng, cái gì cũng không nghĩ ra được. Trước mắt tôi hiện lên một màn hình ảo chứa các tư liệu của liên bang Odin, tôi vô thức vẽ lên vô số dấu "?" Mỗi người đều dựa vào trí nhớ và kinh nghiệm, mới có thể đưa ra được hướng đi cho tương lai —— Tìm kiếm những gì mình thích, trốn tránh những thứ mình ghét; đến gần ấm áp, xa rời tổn thương. Nhưng tôi là một người không có trí nhớ, cũng chẳng có tình cảm. Tôi không biết mình thích gì, cũng chẳng biết mình ghét gì; không biết mình yêu ai, cũng chẳng biết ai yêu mình. Một kẻ không có quá khứ, vậy làm sao lựa chọn con đường tương lai? Đang miên man suy nghĩ, đột nhiên có tiếng còi báo động vang lên, thuyền trưởng lập tức thông báo với mọi người: "Chúng ta bị hải tặc (0.3) tấn công, chuẩn bị chiến đấu! Các nhân viên không phụ trách chiến đấu lưu ý giữ bình tĩnh, ngồi đúng vị trí của mình bên trong khoan thuyền, đeo dây an toàn cẩn thận, đừng nên đi lại." (0.3) Nguyên Tinh tặc: là nhóm cướp chuyên cướp các phi thuyền đi lại trong vũ trụ, tương tự như hải tặc Hải tặc? Gặp chuyện không may sao? Tôi vừa suy nghĩ, vừa rất nhanh ngồi vào ghế, thắt đai an toàn thật cẩn thận. Phi thuyền vẫn đi tới vững vàng, không có một chút xóc nảy, xem ra chỉ là cuộc chiến đấu nhỏ. Một giờ sau, cửa khoang thuyền mở ra, tướng quân có quân hàm cao nhất trên phi thuyền Joseph (Ước Sắt) tướng quân đi đến, "Công chúa!" Tôi cởi bỏ đai an toàn, đứng lên, lễ phép chào hỏi: "Tướng quân." Tướng Joseph vẻ mặt nghiêm trang nói: "Hải tặc đã chạy thoát, nhưng bác sĩ Mục của đội chữa thương trong lúc đang cứu người, không may gặp nạn." "Những người khác thế nào?" "Những người khác đều an toàn." Sau khi Joseph tướng quân cúi chào hành lễ xong, liền vội vàng rời khỏi. Tôi đứng im lặng một lúc lâu. Bác sĩ Mục đã dẫn theo công chúa Lạc Lan rời khỏi đây, hắn biết rõ cho dù là ở đế quốc Ar hay là ở liên bang Odin, thì cũng có rất nhiều ánh mắt dòm ngó, địa điểm biến mất tốt nhất chính là con đường trung gian giữa hai bên, nơi cả hai đều có thế lực yếu. Từ nay về sau, vũ trụ lại có thêm một cặp đôi yêu đương ngọt ngào, mà tôi... Là Lạc Lan công chúa. Ánh mắt của tôi hướng ra ngoài cửa sổ. Trong biển vũ trụ này, có hàng nhìn hàng vạn ngôi sao đang lấp lánh. Tôi không biết tinh cầu nào mình đã đi qua, cũng không biết tinh cầu nào mình sẽ đi tới. Nhưng, một ngày kia, tôi hy vọng mình có thể giống như công chúa và bác sĩ Mục, cho dù là biển vũ trụ bao la, cho dù là hàng nghìn hàng vạn sao trời, vẫn có thể biết được rõ hướng đi của mình. Mời các bạn đón đọc Ký Ức Lạc Ngân Hà của tác giả Đồng Hoa.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Pachinko (Tiểu Thuyết)
TÁC PHẨM VÀO CHUNG KHẢO NATIONAL BOOK AWARD 2017 MỘT TRONG MƯỜI CUỐN SÁCH XUẤT SẮC NĂM 2017 DO THE NEW YORK TIMES BÌNH CHỌN Tiểu thuyết mê hoặc và cuốn hút này xoay quanh 4 thế hệ của một gia đình người đánh cá ở một ngôi làng gần thành phố cảng Busan, Hàn Quốc, bắt đầu từ năm 1910, khi Nhật Bản thôn tính Nam Hàn. Đứa con trai duy nhất còn sống sót của họ - Hoonie - bẩm sinh bị hở vòm miệng và vẹo chân, rốt cuộc cũng lấy được vợ - con gái út của một tá điền mất đất. Để che giấu sự xấu hổ khi đứa con gái mới tuổi thanh thiếu niên của Hoonie, Sunja, trót mang thai với một doanh nhân đã có gia đình, Baek Isak - một vị mục sư tốt bụng đã cưới cô và đưa cô đến sống ở Osaka. Sau khi ông này mất, Sunja đã kiên cường làm việc chăm chỉ để nuôi sống gia đình trong những năm chiến tranh khốc liệt. Con trai lớn của bà đỗ Đại học Waseda. Con trai út phát đạt nhờ mở hàng chơi pachinko, nơi các con bạc dùng các cỗ máy chơi một trò tương tự pinball. Thế nhưng tương lai của họ lại bị những bí mật và sự bội phản trong quá khứ phủ lên một bóng đen u ám… Pachinko là một câu chuyện về tình yêu, sự hy sinh, tham vọng và lòng trung thành. Từ các chợ đường phố nhộn nhịp đến các trường đại học tốt nhất Nhật Bản, các nhân vật phức tạp và nhiệt huyết của Min Jin Lee - những phụ nữ mạnh mẽ, bướng bỉnh, những người con trai tận tụy, những người cha bị lung lay bởi cuộc khủng hoảng luân lý - tồn tại và phát triển chống lại sự thờ ơ vòng cung của lịch sử. NHẬN XÉT VỀ TÁC PHẨM “Trong tác phẩm hoành tráng đầy ám ảnh này, không câu chuyện nào là phụ và chỉ để lướt qua. Lee đã cho chúng ta thấy rằng, đằng sau vẻ ngoài của những con người rất khác nhau là vô số ham muốn, hy vọng và những nỗi niềm riêng tư, chỉ cần chúng ta có đủ kiên nhẫn và từ bi để nhìn ngắm và lắng nghe.” _The New York Times Book Review “Thật đáng kinh ngạc. Bóng dáng bút pháp của Dickens và Tolstoy đã được áp dụng cho câu chuyện về một gia đình người Hàn sống ở Nhật trong thế kỷ 20.” _Gary Shteyngart, tác giả ăn khách nhất theo The New York Times “Pachinko đã đưa Lee lên hàng những tiểu thuyết gia tài giỏi nhất của chúng ta.” _Junot Díaz, nhà văn đoạt giải Pulitzer 2008 ______ Trích dẫn “Hãy chi tiêu những gì con cần nhưng hãy bỏ dù chỉ vài đồng xu vào một cái lọ và quên rằng mình có nó. Một người phụ nữ lúc nào cũng nên dành dụm chút ít. Hãy chăm sóc chồng con thật chu đáo. Nếu không, người đàn bà khác sẽ làm việc đó. Hãy đối xử với gia đình nhà chồng bằng sự kính trọng. Hãy nghe lời họ. Nếu con phạm sai lầm, thì họ sẽ nguyền rủa gia đình ta. Hãy nghĩ đến người cha tốt bụng của con, người luôn làm điều tốt nhất cho mẹ con ta.” *** "Pachinko" lấy bối cảnh thuộc thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng Hàn Quốc và bắt đầu Thế chiến thứ 2. Trong không gian ấy, quyển tiểu thuyết xoay quanh 4 thế hệ một gia đình Hàn Quốc. Một người dân chài lớn tuổi cùng vợ mở nhà trọ ở ngôi làng gần thành phố cảng Busan. Hai ông bà sinh được ba người con trai nhưng chỉ có một đứa con sống sót – đứa yếu đuối nhất và bị dị tật bẩm sinh - Hoonie. Thật may, cậu con trai cũng lấy được vợ, nhưng hai ông bà mất sau ngày con trai cưới 3 năm. Số phận gia đình Hoonie cũng chẳng khá gì hơn, lần lượt sinh được 4 đứa con thì chỉ duy đứa con thứ 4 sống sót – đó là Sunja.  Khi Sunja lớn trạc tuổi thiếu niên thì cô trót mang thai với một doanh nhân tình cờ ghé qua làng chài Yeongdo, Busan. Khi ông ta bỏ đi, một vị mục sư tốt bụng đã cưới cô và đưa cô đến sống ở Osaka. Sau khi chồng mất, Sunja đã cố gắng để nuôi sống gia đình trong những năm chiến tranh khốc liệt. Mọi thứ tưởng như được đền đáp, con trai lớn của Sunja đỗ Đại học Waseda, con trai út làm ăn thuận lợi nhờ mở hàng chơi pachinko – một trò chơi rất phổ biến tại Nhật. Tuy nhiên, tương lai của họ lại bị phủ lên bởi bóng đen u ám và những bí mật của quá khứ. Pachinko là một trong 10 cuốn sách xuất sắc nhất năm 2017 do The New York Times bình chọn. Bình luận về tác phẩm này, The New York Times Book Review viết: “Trong tác phẩm hoành tráng đầy ám ảnh này, không câu chuyện nào là phụ và chỉ để lướt qua. Lee đã cho chúng ta thấy rằng, đằng sau vẻ ngoài của những con người rất khác nhau là vô số ham muốn, hy vọng và những nỗi niềm riêng tư, chỉ cần chúng ta có đủ kiên nhẫn và từ bi để nhìn ngắm và lắng nghe”. Trong khi đó, Gary Shteyngart, tác giả ăn khách nhất theo The New York Times, nhận xét: “Thật đáng kinh ngạc. Bóng dáng bút pháp của Dickens và Tolstoy đã được áp dụng cho câu chuyện về một gia đình người Hàn sống ở Nhật trong thế kỷ 20.” Min Jin Lee sinh năm 1968 tại Seoul. Là nhà văn đương đại người Mỹ gốc Hàn; nổi tiếng với những tiểu thuyết chủ đề di dân. Năm 7 tuổi, Min Jin Lee cùng gia đình di cư sang Mỹ. Cô học lịch sử tại Đại học Yale và luật tại Đại học Georgetown; làm luật sư tại New York vài năm trước khi bắt đầu sự nghiệp văn chương. Min Jin Lee từng ở Nhật trong bốn năm. Hiện cô đang sống và viết tại New York. *** TIỂU THUYẾT PACHINKO CỦA MIN JIN LEE ĐƯỢC OBAMA KHUYÊN ĐỌC Cựu tổng thống Mỹ Barack Obama vừa chia sẻ trên trang cá nhân về những cuốn sách yêu thích gần đây của ông, một trong số đó chính là tiểu thuyết Pachinko của nhà văn gốc Hàn Min Jin Lee. "Đây là một cuốn sách vô cùng hấp dẫn mà tôi được một bạn nhân viên trẻ gợi ý đọc - một cuốn tiểu thuyết lịch sử về trải nghiệm nhập cư của người Hàn Quốc ở Nhật Bản thời chiến. Min Jin Lee thu hút bạn đọc ngay từ dòng đầu tiên: “Lịch sử đã làm chúng ta thất vọng, nhưng không sao.” - “History has failed us, but no matter.” Tựa sách được đặt theo tên của trò chơi pinball phổ biến tại Nhật Bản, một trò chơi may rủi nơi người chơi có thể điều chỉnh tốc độ và hướng đi của quả bóng, nhưng một khi bóng đã được phát đi thì kết quả sẽ được quyết định bởi một mê cung các chướng ngại vật. Tương tự như bản chất của trò chơi này, tiểu thuyết của Min Jin Lee đưa chúng ta qua bốn thế hệ của một gia đình cùng với hành trình tìm kiếm căn cước và thành công của mỗi nhân vật. Pachinko là một câu chuyện mạnh mẽ về sự bền bỉ và lòng trắc ẩn." *** Lấy hình ảnh chiếc máy trò chơi may rủi pachinko của Nhật Bản làm biểu tượng, nữ tác giả người Mỹ gốc Hàn Min Jin Lee đã viết lên thiên tiểu thuyết "Pachinko" kể về lịch sử của một gia đình Hàn Quốc sống lưu vong trên đất Nhật. Câu chuyện bắt đầu ở một làng chài duyên hải Hàn Quốc năm 1910, nơi người dân sống một cuộc đời lầm lũi, đói nghèo dưới ách cai trị lúc bấy giờ của đế quốc Nhật. Cô bé Sunja sinh ra trong gia đình có người cha bị dị tật bẩm sinh, sớm qua đời, bỏ lại cô cùng bà mẹ góa điều hành một nhà trọ tồi tàn. Trong một cuộc gặp gỡ định mệnh, cô phải lòng một người đàn ông giàu có, từ đây số phận của cô hoàn toàn thay đổi… Những nhân vật trong tiểu thuyết này cũng giống như viên bi trong trò pachinko, phó mặc số phận mình cho may rủi, bị ném đi khắp bàn, hay bị đánh tơi tả bởi những thanh chắn mà không tự làm chủ được vận mệnh. Đối với họ, cuộc đời là một chiếc máy pachinko khổng lồ, còn họ chỉ là những đồng xu hay viên bi trong cỗ máy đời ấy. Cô bé Sunja không muốn chấp nhận cuộc sống giàu sang nhưng mang thân vợ lẽ, dấn thân vào dòng đời đầy gian truân, chấp nhận xa lìa tổ quốc, chịu biết bao khổ nạn. Ở "Pachinko", ta có thể bắt gặp những con người đê tiện, cơ hội, ăn hôi trên xương máu đồng bào hay táng tận lương tâm nhưng đồng thời ta cũng thấy những con người độ lượng và bao dung, đối xử với nhau bằng tình thương, chan hòa và bác ái. Min Jin Lee sinh năm 1968 ở Seoul, di cư sang Mỹ cùng gia đình năm lên 7. Trưởng thành trong một xã hội được xem là văn minh hiện đại nhưng đầy rẫy những mâu thuẫn về sắc tộc, cô bé da vàng Min Jin Lee hiểu thế nào là thân phận lưu vong. Trong ấn bản tiếng Việt (dịch giả: Nguyễn Bích Lan; Phanbook và NXB Phụ nữ, quý IV, 2018), độc giả được chứng kiến Sunja từ một thiếu nữ côi cút biến thành một lão bà con đàn cháu đống hay Noa từ lúc còn là một bào thai trong bụng Sunja cho đến khi thành ông bố 4 con, tiểu thuyết "Pachinko" ôm gần như trọn vẹn cả thế kỷ XX của một gia đình Hàn trên đất Nhật. Tài năng của Min Jin Lee được ghi nhận khi "Pachinko" lọt vào vòng chung khảo giải National Book Award và được tờ The New York Times bầu chọn là một trong mười cuốn sách xuất sắc nhất năm 2017. Mời các bạn đón đọc Pachinko (Tiểu Thuyết) của tác giả Min Jin Lee & Nguyễn Bích Lan (dịch).
Khi Loài Vật Lên Ngôi
Đây thực chất là một cuốn tiểu thuyết khôn ngoan, dí dỏm về bản chất man rợ của con người, và sa giông chỉ là một công cụ để biểu đạt cái ẩn dụ sâu sa ấy. Thuyền trưởng người Hà Lan, Đại úy Van Toch, trong một cuộc đi săn tìm ngọc trai, đã phát hiện ra những con sa giông khổng lồ, chỉ có thể được tìm thấy trên một hòn đảo gần Sumatra. Những người bản địa gọi chúng là “tapa”, hoặc "quỷ biển". Những con sa giông muốn ăn hàu nhưng chúng không thể tách vỏ được. Van Toch muốn ngọc trai nhưng rất khó khăn trong việc lặn sâu để bắt được hàu. Ngoài ra các loài động vật ăn thịt lớn như cá mập luôn là mối đe dọa với sa giông. Và chính từ đó, Van Toch đã nghĩ ra một phi vụ làm ăn, có thể xem là mấu chốt của mọi vấn đề. Vị thuyền trưởng bắt đầu cung cấp cho những con sa giông dao để chúng có thể tách hàu, và đâm cá mập. Hơn nữa, kế hoạch nhân rộng sa giông sang những vùng khác cũng bắt đầu được lan rộng. Thuyền trưởng Van Toch tìm thấy một người đầu tư tài chính, và bắt đầu từ đó những con sa giông được rao bán trên thế giới. Sa giông không chỉ thu gom ngọc trai và san hô, chúng con được thuê để làm tất cả những công việc dưới nước như xây đập, thủy điện, đê điều, kéo dài đường bờ biển... Khi Van Toch chết, công ty mang tên Salamander Syndicate đã được thành lập, và bắt đầu khai thác sa giông giống như một lực lượng lao động giá rẻ. Hàng tỷ con sa giông đã lan rộng đến tất cả các bờ biển và các quốc gia. Cuối cùng, con người và sa giông đã đi đến xung đột, để tranh giành địa bàn, tranh giành sự sống, và quyền lực. Karel Capek chính xác là một bậc thầy của thể loại hài hước đen. Ông đã biến tất cả mọi thứ âm mưu xấu xa thành một câu chuyện mang lại niềm vui thú vị. Ông chế giễu cách thủy thủ nguyền rủa sa giông, châm biếm sự thông minh, chợ đen, các doanh nhân, chủ nghĩa tư bản, Ki Tô giáo, nhà sưu tập, rượu, xu hướng và lý thuyết trong giáo dục, khai thác, một nhất thời, thời trang, chú thích, thói tham lam, đạo đức giả, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa Phát xít, những người cố gắng để tiếp tục chương trình nghị sự của của chính họ. Ông chế giễu ô nhiễm, phân biệt chủng tộc, tôn giáo, thói tự cao tự đại, ngụy biện, chiến tranh, những người giàu có, những câu lạc bộ phụ nữ, và đặc biệt là khoa học, những nghiên cứu, hội nghị, khám phá tranh luận dài dòng về loài sa giông.... đã khiến câu chuyện trở thành một bức tranh châm biến lý thú, vạch trần đầy đủ bộ mặt của xã hội, với một thứ văn chương sâu cay, hài hước, và thông minh. Cuốn sách được xuất bản lần đầu vào năm 1936, “khi nó vẫn còn có thể cười vào Adolph Hitler”. Trong cuốn sách có nhiều đoạn thú vị về nước Đức. Ví dụ chi tiết  người Đức quyết định rằng con sa giông của họ là cấp trên, nhạt màu, đi bộ nhiều hơn xây dựng, và có những đặc tính vượt trội hơn hẳn sa giông ở nơi khác. Với thái độ khinh bỉ, họ mô tả những con sa giông Địa Trung Hải thoái hóa, còi cọc cả về thể chất và đạo đức, xem chúng là các con sa giông man rợ nhiệt đới, và hoàn toàn là loài sa giông cấp dưới. Khi loài vật lên ngôi hài hước, châm biếm, bất ngờ, súc tích. Với cách giới thiệu nhân vật mới, phong cách tự sự mở, trong hầu hết các chương, chỉ với một không khí châm biếm. Câu chuyện sa giông cũng có thể được xem là một câu chuyện ngụ ngôn cho những kinh nghiệm của nhiều dân tộc bị áp bức và những nạn nhân của chủ nghĩa thực dân, luôn bị yếu thế, nhưng cũng luôn có ý thức nỗ lực để được văn minh, để trở thành thành viên của xã hội da trắng châu Âu, chiếm đoạt các nghi lễ văn hóa, và tất nhiên là chế độ nô lệ. Đây là một cuốn sách, trong đó có đám đông, và cần được đọc bởi đám đông. Không có nhân vật chính trong Khi loài vật lên ngôi, thay vào đó câu chuyện được trình bày như một bài học lịch sử lâu dài mang tính giải trí. Người kể chuyện trích từ bài báo khoa học, các cuộc phỏng vấn, và những bài báo được sưu tập bởi ông Povondra. Povondra là một nhân vật khá xuyên suốt, và thú vị trong cuốn sách. Ban đầu ông cảm thấy rất tự hào rằng mình là một người có tác động to lớn quan trọng đến sự phát triển của lịch sử văn minh loài người, nhưng rồi đến cuối đời, lại chết trong nỗi ám ảnh tội lỗi về sự xuất hiện của sa giông tại dòng sông nơi quê hương mình. Capek tự hỏi mình: "Này anh, anh không thấy hối tiếc cho loài người hay sao?"  Ông tự đáp:" Lạy Chúa, hãy để tôi yên! Tôi biết làm sao bây giờ?" “Tôi nói cho anh biết: ngay cả lúc này, khi một phần năm châu Âu đã chìm dưới nước, anh có biết ai vẫn ngày đêm làm việc như điên cuồng trong các phòng thí nghiệm để cố sáng chế ra những máy móc và vật liệu phá hủy cho hiệu quả hơn không? Anh có biết ai vẫn cho sa giông vay tiền, ai đang tài trợ cho sự tận diệt thế giới này, cho trận Tân Đại Hồng Thủy hay không?” Capek hẳn có tiếc, nhưng đó là tiến trình phát triển tự nhiên của loài người. Các ông nhà văn chẳng bao giờ có thể can thiệp vào điều đó. Đây không phải là suy đoán về những gì trong tương lai, mà là tấm gương phản chiếu cái đang tồn tại và chúng ta đang sống chung với nó. Khi loài vật lên ngôi dành được rất nhiều lời khen ngợi của những tác giả nổi tiếng. Nhà văn Milan Kundera từng nói “Khi loài vật lên ngôi sẽ không bao giờ rơi vào quên lãng… Čapek có lẽ là nhà văn châu Âu đầu tiên có những tác phẩm hình dung trước được viễn cảnh khủng khiếp của thế giới toàn trị.” Cuốn sách này còn là cảm hứng cho vô số tác phẩm lừng danh được xuất bản sau, có thể liệt kê ra như: 1984 hay Trại súc vật của George Orwell; hay The Sirens of Titan, Harrison Bergeron của Kurt Vonnegut… và ngay cả ý tưởng sinh sản đơn tính của khủng long trong Công viên kỷ Jurassic… Čapek được đề cử giải Nobel Văn học bảy lần, nhưng ông không bao giờ giành chiến thắng. Tuy nhiên, một số giải thưởng lại mang tên ông, như giải Karel Čapek, được trao tặng hàng năm bởi Czech PEN Club cho tác phẩm văn học góp phần củng cố và duy trì các giá trị dân chủ và nhân văn trong xã hội.  Ông cũng là một nhân vật chủ chốt trong việc tạo ra các PEN Club Tiệp Khắc là một phần của Văn Bút Quốc tế.  Phong Linh - Zing.vn *** Tôi thường được hỏi, điều gì đã thôi thúc tôi viết “Khi loài vật lên ngôi”, và tại sao tôi lại chọn loài động vật lưỡng cư để làm hình tượng cho cái gọi là tiểu thuyết viễn tưởng của mình về sự diệt vong của nền văn minh loài người. Thành thực mà nói, ban đầu tôi không hề có ý định viết tiểu thuyết viễn tưởng. Tôi cũng không có mối quan tâm yêu thích nào đặc biệt đối với hình thức viễn tưởng; trước khi bắt đầu viết về những con vật lưỡng cư này, thậm chí trong đầu tôi là một tiểu thuyết hoàn toàn khác. Tôi nghĩ ra hình mẫu một người tốt, hơi giống với người cha quá cố của tôi, một bác sĩ tỉnh lẻ với các bệnh nhân; đó phải là một bài ca về ngành y, và phần nào đó về bệnh lý xã hội. Tôi đã khá hứng thú với ý tưởng đã nghiền ngẫm trong đầu tuần này qua tháng khác, nhưng lại không tài nào thấu cảm hoàn toàn. Tôi hoài nghi, liệu nhân vật bác sĩ tốt bụng có thể làm gì trong cái thế giới hỗn loạn này, như bấy lâu nay. Vâng, ông ấy có thể chữa lành vết thương cho mọi người, nhưng hầu như không liên can gì đến sự bất lực và nỗi đau mà thế giới chúng ta đang chịu đựng. Tôi nghĩ về người bác sĩ tốt bụng, nhưng cả thế giới này lại đang quay cuồng với khủng hoảng kinh tế, bành trướng dân tộc và ngòi nổ chiễn tranh. Tôi không thể nào hóa thân vào nhân vật bác sĩ của mình, bởi tôi - cho dù không ai đòi hỏi điều này ở các nhà văn - vẫn luôn trăn trở một điều: Cái gì đang đe dọa thế giới loài người? Sự thật hiển nhiên là tôi không thể xoay chuyển được hiểm họa của văn minh nhân loại, nhưng ít nhất tôi không thể ngồi nhìn và không thể thôi nghĩ đến điều đó. Mùa xuân năm ngoái, thời kỳ mà kinh tế thế giới xấu đi và chính trị còn tồi tệ hơn, tôi có lần đã viết câu này: “Bạn không được phép nghĩ rằng, sự phát triển đang bùng nổ trong cuộc sống của chúng ta là cơ hội phát triển duy nhất trên hành tinh này”. Và đây rồi. Câu này là nguyên nhân khiến tôi viết “Khi loài vật lên ngôi”. Điều này luôn đúng: Chúng ta không thể loại trừ khả năng là, trong những điều kiện phù hợp, một loài sinh vật khác con người cũng có thể trở thành cái nôi của sự phát triển văn minh. Nếu xét theo con người với nền văn minh và văn hóa của mình, trong suốt lịch sử phát triển từ một loài linh trưởng, từ các bộ lạc nguyên thủy, ta có thể mường tượng một nguồn năng lượng tiến hóa tương tự có thể chi phối quá trình phát triển của các loài động vật khác. Không thể loại trừ khả năng là, trong những điều kiện sống nhất định, ong hay kiến có thể trở thành những giống loài thượng đẳng, năng lực văn minh của chúng không thua gì chúng ta. Cũng không thể loại trừ khả năng này ở các sinh vật khác. Trong những điều kiện sinh học thuận lợi, một nền văn minh khác có thể xuất hiện, không thấp kém hơn nền văn minh của chúng ta, kể cả dưới sâu thẳm đại dương. Đấy là ý tưởng ban đầu; và ý tưởng thứ hai: Giả sử một loài động vật khác con người đạt được cái trình độ mà chúng ta gọi là nền văn minh, thì bạn nghĩ gì? Chúng cũng làm những điều vô nghĩa như loài người? Cũng châm ngòi các cuộc chiến tranh? Cũng gây ra các thảm họa lịch sử? Và chúng ta nhìn nhận thế nào về chủ nghĩa đế quốc của loài bò sát, chủ nghĩa dân tộc của loài mối, về sự bành trướng kinh tế của chim hải âu hay cá mòi? Chúng ta sẽ nói gì khi một loài động vật khác con người, với tri thức và số đông áp đảo, tuyên bố rằng chỉ có chúng mới có quyên ngự trị cả thế giới và thống soái muôn loài? Khi so sánh với lịch sử loài người, và với những gì nóng bỏng nhất vừa xảy ra, tôi buộc phải ngồi vào bàn mà viết “Khi loài vật lên ngôi”. Giới phê bình liệt nó vào tiểu thuyết viễn tưởng. Tôi phản đối từ này. Đây không phải là viễn tưởng, mà là hiện thực. Đây không phải là suy đoán về những gì trong tương lai, mà là tấm gương phản chiếu cái đang tồn tại và chúng ta đang sống chung với nó. Đây không phải truyện hoang đường, thứ mà tôi có thể cho không và còn tặng thêm bất cứ lúc nào, bao nhiêu tùy thích và cho bất cứ ai. Đây chính là hiện thực. Biết làm sao được, nhưng văn chương nếu không quan tâm đến thực tại và những gì thực sự xảy ra trên thế giới, nếu không có những phản ứng mạnh mẽ mà chỉ là ngôn từ và ý nghĩ sáo rỗng, thì đó không phải văn chương của tôi. Thế đấy, tôi viết về những con vật lưỡng cư vì tôi nghĩ đến loài người, tôi đã chọn một loài vật giống con sa giông làm hình tượng, không phải vì tôi thích hay không thích nó hơn những sản phẩm khác của Tạo Hóa, mà vì chuyện dấu tích của loài sa giông khổng lồ tiền sử ở Phân kỷ Đệ tam đã từng bị lầm tưởng là hóa thạch của tổ tiên loài người; do đó trong tất cả các loài vật, sa giông có vị trí lịch sử đặc biệt để có thể bước lên khán đài như là hình ảnh của chúng ta. Và nếu như có một cái cớ để có thể miêu tả những việc liên quan đến con người mà tác giả buộc lòng phải hóa thân vào những con sa giông thì đây là một trải nghiệm hơi lạnh lẽo, nhưng rốt cuộc nó cũng quyến rũ và kinh hoàng như khi hóa thân làm Nhân loại. KAREL ČAPEK (1936) Mời các bạn đón đọc Khi Loài Vật Lên Ngôi của tác giả Karel Čapek & Đăng Thư (dịch).
Đêm Núm Sen
  “Ba giờ đêm, dưới phố, lại lào xào một cuộc hành binh dài dặc, về làng… Tôi tỉnh giấc. Sứa nằm thiêm thiếp bên vai tôi. Tôi nghe tiếng Sứa thở. Tôi vuốt nhẹ, dọc cái lưng trần. Vuốt nhẹ. Tôi nhớ cặp đùi. Khi nãy, nó giãy. Nó giãy cuống quýt. Tôi đưa tay vuốt. Sứa vẫn thiêm thiếp. Tôi vuốt. Căn buồng đỏ mênh mông. Tôi vuốt sự ngây thơ rơm rớm. Con nai nằm nghiêng đùi hơi co. Tôi vuốt… Dưới phố, những ki lô mét hành quân… Tôi vuốt. Sứa tỉnh dậy. Sứa thẹn. Sứa co người lại. Tôi vuốt. Con nai ngây thơ của tôi ơi! Tôi vuốt con nai bị thương của tôi. Rơm rớm… Rơm rớm…” Khi kiến Gầy phải lòng một cô gái vú vểnh, và sục sạo đến tận nhà của cô nàng, tức biệt thự Đá Đỏ, để tìm hiểu và tỏ tình, anh chàng không sao ngờ được cuộc chinh phục của mình lại có thể gian nan đến thế và nhất là, có thể bị chia cắt đến như vậy. Bởi cuộc chiến. Tình yêu của kiến Gầy, như của bao nhiêu người-kiến kiến-người khác, đã bị chiến tranh tràn qua, như một cơn hồng thủy. Đêm núm sen, hơn cả một cuộc phiêu lưu vào một thế giới giả tưởng, nơi mà cuộc sống cá nhân, bị nghiền nát và cuốn đi bởi chiến tranh, bởi đời sống tập thể, trước hết, là một cuộc trình diễn ngôn ngữ của một tác giả mà từ vựng là của thi ca và cảm xúc là của thi sĩ. Ai có thể tả những phấp phỏng, thẹn thùng, nhớ nhung, đay khổ, say đắm như Trần Dần? Ai có thể tả đêm núm sen phập phồng cảm xúc và sexy như Trần Dần? Với Đêm núm sen, sự viết của Trần Dần một lần nữa khẳng định rằng tiếng Việt đẹp thế nào và vì sao ông vẫn là một thành lũy vời vợ Chẳng phải vậy ư, khi những trang bản thảo ố vàng, tìm được đường trở lại sau hơn nửa thế kỷ bị cất giấu, bị gián nhấm và thất lạc, vẫn tỏa nguyên một “quyền lực man mác” lên chúng ta hôm nay. *** Tác giả Trần Dần lựa chọn hình thức ngụ ngôn để viết Đêm núm sen, thay vì chọn bối cảnh thực như Những ngã tư những cột đèn. Hình thức ngụ ngôn khiến cho tiểu thuyết xa rời quy chiếu có tính hiện thực, tạo ra một không gian có tính ước lệ, biểu tượng. Câu chuyện làng Mận, cuộc chiến ở đây gần như là phản chiếu của rất nhiều cuộc chiến, của rất nhiều thân phận con người. Nhà văn Trần Dần thường vượt qua cái khung một thể loại văn chương ở nhiều điểm. Với Đêm núm sen, Dương Tường gọi là một ngụ ngôn đen, giống như những ngụ ngôn đen của Gunter Grass thể hiện gương mặt bị lãng quên của lịch sử. Tác phẩm là một ngụ ngôn đen kể chuyện con vật, nhưng câu chuyện đi rất xa so với tác phẩm đồng thoại. Ở đây, loài kiến không chỉ gợi ra ý niệm nhỏ bé, mà nó sống theo bầy. Khi nhìn kiến, ta chỉ có thể nhìn nó khi cúi thật thấp. Quan hệ của loài kiến là mối quan hệ giữa cá nhân và bầy đàn, mà cá nhân thường bị đẩy ra bên lề lịch sử. Tác phẩm được viết với nhịp độ nhanh, mạnh, gấp gáp, mang hơi thở trên từng bề mặt câu chữ. Tác giả Trần Dần trong những nhật ký có nói ý chiến tranh không cho phép người ta nghĩ được nhiều. Trong cuộc chiến, mọi thứ diễn ra quá nhanh, tất cả câu chuyện dù lớn lao hay nhỏ bé, chiến tranh không làm cho người ta nghĩ. Đêm núm sen dưới lớp vỏ nhanh, gấp gáp, các sự kiện liên tục diễn ra, các nhân vật liên tục xuất hiện, nhưng trong cái cách hối hả đó là sự suy nghĩ thật chậm, thật sâu vào chiến tranh. Tất cả những câu đối thoại ngắn gọn, những nhịp đi gấp gáp trong sách được nhà văn tính toán kỹ lưỡng để người đọc buộc phải suy nghĩ. Nhà phê bình văn học Mai Anh Tuấn thừa nhận “Tôi không đủ sức để đuổi theo hết ý tưởng của Trần Dần. Cuốn sách này làm cho ta ngỡ ngàng về tính hiện đại. Đọc nó, cho tôi những cặp tri nhận khác nhau: chiến đấu – lao động, tình yêu – sự thù oán, đau khổ – hèn nhát, mộng tưởng – tuyệt vọng…" Những cặp cảm giác mà Mai Anh Tuấn nêu ra trong sách không chỉ đúng với con người ở một thời đại, mà đúng với chúng ta ở thời đại ngày hôm nay. Chính vì thế, độc giả hôm nay khi chạm đến cặp cảm giác đó có vẫn có thể tìm được tiếng nói chung ở tác phẩm. Và cũng vì thế, mà tác phẩm dẫu được viết ra từ hơn nửa thế kỷ trước, tới nay vẫn phù hợp và mới mẻ.  *** TRẦN DẦN sinh ngày 23.8.1926 trong một gia đình khá giả tại phố Năng Tĩnh, thành phố Nam Định. Ông học trung học tại Hà Nội, đậu tú tài Pháp và bắt đầu làm thơ. Năm 1946, Trần Dần lập nhóm thi sĩ tượng trưng cùng Trần Mai Châu, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Địch, Vũ Hoàng Chương... Cũng trong năm này, tạp chí Dạ Đài ra số 1, đăng bản tuyên ngôn của phái Tượng trưng do Trần Dần chấp bút. Năm 1954, Trần Dần viết Người người lớp lớp, cuốn tiểu thuyết duy nhất của văn học Việt Nam thời kỳ đó về Điện Biên Phủ. Sau đó Trần Dần viết Nhất định thắng (thơ, 1955); Đi! Đây Việt Bắc (trường ca, 1957), Cổng tỉnh (thơ, 1960); Đêm núm sen (tiểu thuyết, 1961), Jờ Joạcx (thơ, 1963), Mùa sạch (thơ, 1964) Những ngã tư và những cột đèn (tiểu thuyết, 1964)... Năm 1976, Trần Dần và Dương Tường thử nghiệm Thơ thị giác. Năm 1980, Trần Dần viết bộ tam 36 thở dài - Tư Mã dâng sao, năm 1987 viết Thơ mini... Trần Dần mất ngày 17 tháng 1 năm 1997 tại Hà Nội. Năm 2007, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật. Một số tác phẩm khác của Trần Dần được Nhã Nam xuất bản: — Trần Dần thơ — Đi! Đây Việt Bắc — Những ngã tư và những cột đèn   *** "Mỗi lần đứt tay... lại đau một lần.” Mỗi lần đau, lại một lần thấy có "nhiều im-lặng biết nói”, cùng “nhiều câu nói không-nói-gì”. Đấy là những nỗi đau lặp lại. Đấy là thân phận của một nhân vật kiến, của nhiều nhân vật kiến của cả loài kiến. Đấy là ngôn từ, chẳng thể chỉ dành riêng cho một người, cho nhiều người hoặc cho cả loài người. Đêm núm sen là cuốn sách như thế về một xã hội côn trùng khép mình trong lịch sử của chính nó, một xã hội có thừa đau thương đến nỗi chỉ có thể an bình mà chịu kiếp cô lập, bởi vì mọi lối ra bên ngoài lại chính là những lối vào của nguy hiểm và chiến tranh. Một xã hội mà ở đấy lũ kiến yêu thích giả buồn để mua vui, để sau đó lại “không nên đùa với cái buồn”. Đêm núm sen là cuốn tiểu thuyết về một cộng đồng nhân loại mà ở đấy có “sáng tác tập thể”, có “những tác giả nặc danh của chiến thắng”, có “quá nhiều nước mắt”, có những bữa tiệc mà mỗi lần “đi dự tiệc, cứ phải ngâm thơ”, có diễn thuyết, có những thở dài vì “ai có thể cãi được với tin đồn?” Đêm núm sen cũng là một bài trí sân khấu khổng lồ để đưa khán giả vào những “ki lô mét nhớ”, vào “những ngã tư, cột điện lằng nhằng”, vào phố Bồ Đào, phố Gầm Cầu, phố Xu Xê, phố Hoa Mười Giờ, đại lộ Mùa Thu, chẳng hề tồn tại ở bất cứ nơi nào... rồi vào những phố Hy Lạp, những xóm La Tinh... rồi tới phố Hàng Gà và phòng tuyến Chèm là những địa danh có thật ở Hà Nội. Nhưng trên hết, Đêm núm sen chính là tình yêu, là cuộc đi tìm tình yêu. Và bởi vì tình yêu mà lũ kiến có thể hóa thân thành người hoặc ngược lại con người sẵn sàng mang kiếp của kiến. Nhưng thực ra kiếp người hay kiếp côn trùng, đâu có khác gì nhau. Những loại chủng này bao giờ cũng lủng củng yêu thương, ngay cả khi chiến tranh ập đến, ngay cả khi chúng bị cuốn vào đau thương và mất mát. Cái còn lại chỉ là tình yêu. Và quan niệm về tình yêu thì làm sao thay được. Đấy là khi anh kiến Gầy thổ lộ lời yêu với nàng kiến: “Sứa có tin là tôi yêu Sứa thế này, tức là tôi chỉ yêu độc có mình tôi thôi không?” Đấy cũng là lúc mà kiến Gầy trong những khổ sở vì tình yêu, bất chợt quên cả tổ tiên và nguồn gốc mà than thở, rằng ở nơi mà lũ kiến đang sống “mỗi người là một tiểu thuyết”. Ngôn từ này của anh kiến Gầy, kéo dài trong những độc thoại cùng đối thoại, có đôi chút ngây ngô cụt lủn và kém văn học của loài kiến, có không ít nhạy cảm và phức tạp của loài người, để không thể không nhắc tới chàng trai trẻ của Cổng tỉnh năm 1960, và Trần Dần trong những bài thơ lẻ 1963. Chàng trai tỉnh lẻ, nhà thơ, và anh kiến, cả ba chia nhau cùng những từ vựng, cùng một tình yêu phố phường, cùng một cảm thụ một cảm xúc thẩm mỹ. Chính vì vậy mà đâu đó trong suốt chiều dài lời kể chuyện vụng dại của kiến, thể nào cũng lấp lánh những ngôn từ thô tục mà chỉ Trần Dần mới chắp lại được thành thơ. Viết năm 1961, Đêm núm sen cũng như nhiều tác phẩm khác của cùng tác giả, phải đợi nhiều thập niên mới đến được với công chúng. “Có cần kể nữa không?” câu hỏi chẳng biết trả lời ra sao của anh kiến Gầy, khi mà 56 năm đã qua kể từ khi Trần Dần hoàn thành bản thảo, khi mà Đêm núm sen đã được gấp rút biên soạn trong những ngày đầu năm 2017. Vào đúng lúc mà 20 năm về trước nhà thơ đã vội vã ra đi. Một lần cho mãi mãi. 1 TRẦN TRỌNG VŨ   Mời các bạn đón đọc Đêm Núm Sen của tác giả Trần Dần.
Một Mùa Đông Ở Stockholm
Đã bao giờ trong cuộc sống này, chúng ta muốn bật ra một câu hỏi tan nát cõi lòng rằng, vì sao chúng ta không được yêu thương như tình yêu chúng ta đã cho đi? Có thể là câu hỏi ấu trĩ, ích kỷ, trẻ con, nông cạn, quá xấu hổ để thốt ra nhưng có lẽ nó thật sự tan nát cõi lòng khi buộc phải vang lên. Trong Một mùa đông ở Stockholm, Agneta Pleijel có đưa ra một trích đoạn: “NÀNG CÔNG CHÚA bị giam trên chòi cao, nàng công chúa trên quả núi thủy tinh của mình, bị vua cha yểm bùa. Không một kẻ cầu hôn nào tìm ra lời giải cho câu đố, không một ai trong số bọn họ đưa nổi con ngựa của mình tới đỉnh những thành vách trơn nhẫy. Đó là điều mà câu chuyện kể khẳng định. Nhưng có phải nàng công chúa đã bị vua cha yểm bùa hay không? Chị không nghĩ như vậy. Cha chị là một con người tốt bụng và hiểu biết lẽ phải.” Một câu chuyện cổ quen thuộc. Rapunzel? Cha? Hay là mẹ? Có lời yểm bùa nào cản ngăn hạnh phúc? Hay là chính chúng ta? Khi gấp lại trang cuối cùng của Một mùa đông ở Stockholm, tôi chợt nhận ra trong cơn xao động dữ dội của lòng mình, tôi không những không rơi nước mắt mà còn mỉm cười. Tôi đã muốn kể ngay lập tức về quyển sách này cho một số người thân quen, báo cho họ biết sự tồn tại của câu chuyện trên trang giấy, những dòng chữ bộc bạch chân thành mà một phụ nữ khác đã viết nên: một vài người chị, một vài người em gái và có lẽ cả một vài người bạn gái nữa. Bởi vì họ – tất cả những người phụ nữ dịu dàng ấy – đã bị nghiền vụn trước một thế giới mà tình yêu thương giống như “thế giới bơi trong đàn cá y như đàn cá bơi trong đại dương”. Một cuốn sách tràn đầy tính nữ. Tính nữ chảy tràn như cách Agneta Pleijei viết về nước tuyết tan tù đọng dưới những bước chân lữ khách của một mùa đông vùng cực bắc lạnh giá. Tinh khiết nhưng lần hồi bị vấy bẩn, bị khuấy lên dữ dội và tung toé nhưng chậm rãi lắng lại trong sự tĩnh lặng soi bóng bầu trời. Những người phụ nữ đã vỡ tan thành từng mảnh từ thẳm sâu đáy lòng nhưng cũng như một trò chơi xếp hình nếu nhìn quá gần hay quá xa đều không thể dễ dàng nhận ra những khớp nối hay mép viền. Mà chúng thì luôn tồn tại. Một mùa đông ở Stockholm cũng là một tác phẩm có cấu trúc phân mảnh như vậy. Cuốn này là những mảnh vỡ, giống như pha lê, như bụi lân tinh, như những cánh hoa hồng rơi rụng, như những bông tuyết trắng rất mềm rất nhẹ. Tác phẩm đa dạng đến nỗi dưới con mắt nghiên cứu người ta có thể khảo sát nó từ nhiều góc độ phê bình khác nhau, từ phân tâm với những giấc mơ tràn đầy hình ảnh, tái dựng huyền thoại với các biểu tượng kinh điển, những câu chuyện cổ tích, v.v… đến phê bình nữ quyền với quá nhiều những thăm dò tinh tế vào địa hạt của mối quan hệ về giới. Một quyển sách mỏng giống như cánh cửa nhỏ mở vào một thế giới nội tâm trùng điệp, như chiếc hang thỏ đã dẫn bước Alice đến với Wonderland. Nhưng từ một cách tiếp cận gần gũi hơn, đây là lời tự thuật của nhân vật nữ chính – một nhà trí thức, một giáo sư thành đạt ở độ tuổi trung niên – người đã ly hôn hai lần và có mối quan hệ tình ái với một người đàn ông đã có vợ. Cô kể về tất cả những gì cô có thể kể, dường như không theo một trật tự nào ngoài sự phức tạp ngẫu nhiên của hồi ức. Chính từ các dữ kiện và sự ngẫu nhiên sắc sảo ấy, Một mùa đông ở Stockholm vì vậy không chỉ là câu chuyện tuyến tính giả lập về một đời người. Nó chính là bản vẽ về nội hàm bên trong toà thành của một người phụ nữ. Hay nói cách khác, nó chính là chân dung đa chiều của một người nữ. Chúng ta sẽ không chỉ thấy Agneta Pleijei tạo nên một bức tranh sống động từ câu chữ. Thay vào đó, bà đổ xuống trang giấy một làn nước lấp lánh, uốn lượn và mềm mại như cực quang Bắc cực. Làn nước ấy vừa sâu hun hút, vừa dịu dàng, ngây thơ lại có lúc hoang dại, bén nhọn, kiến tạo nên sự sống và cũng hàm chứa sức mạnh hủy hoại chính bản thân mình. Thật hiếm có một cuốn sách nào có thể đem đến nhiều sự chia sẻ chân thành đến vậy dành cho phái nữ với những đối thoại thẳng thắn về mối quan hệ trong gia đình, về cách tìm kiếm tình yêu thương. Sự thật cay đắng nhưng sự thật cần được nói ra, để hiểu với nhau rằng, chẳng có ai đơn độc. Cũng chẳng ai là có lỗi. “MỘT TRUYỆN CỔ TÍCH Một đứa trẻ khi mới ra đời là một cái bánh xe quay tít. Khi mọi người chất lên nó những gánh nặng, đứa bé trở thành một con lạc đà. Nó đi vào sa mạc. Ở đó nó gặp sự giận dữ của nó: đó là con sư tử. Lạc đà và sư tử giao chiến với nhau. Lạc đà chiến thắng. Đúng lúc ấy, nó bị biến trở lại thành đứa bé. Và đứa bé trở thành một cái bánh xe, xoay tròn lăn đi, tự do, trong thế giới.” Tôi đã tự hỏi, nếu con sư tử chiến thắng thì sao? Nhưng rồi tôi đã hiểu, chiến thắng đi kèm thất bại và thất bại cũng quan trọng như chiến thắng vậy, bởi vì đó chính là kết quả. Cuộc sống này quan trọng chính vì nó sẽ có và cần có điểm kết thúc. Chúng ta, là những con lạc đà, khuân trên lưng nỗi đau của tình thương, một món nợ truyền đời, chạy qua chạy lại trên sa mạc, đánh nhau với sư tử, “dọn cho mọi người thịt của chính mình để cho họ ăn chán ăn chê”. Nhưng “nỗi đau là cá thể”. Và rốt cuộc thì, người ta phải học cách thua trước cuộc đời để được tự do. Chiễm Phong (c) ReadingCafe.wordpress.com *** Nguyên Nguyên's review Dec 09, 2016 Một quyển nhật ký, chính xác là vậy. Tôi vẫn chưa định hình hoàn toàn cảm xúc của mình sau khi đọc về cuộc đời người phụ nữ ấy.  Những câu chữ nhẹ nhàng, lơ lửng, trôi đi nhanh chóng như 1 dòng nước uốn lượn, quanh co có khi rối tung ở 1 chỗ, tưởng như phập, lụa đứt. Một mùa đông u ám ở Stockholm, cùng với 1 nỗi lòng cũng đầy rẫy những vết nứt tưởng chừng chẳng bao giờ có thể lấp lại. "Một đứa trẻ khi mới ra đời là một cái bánh xe quay tít. Khi mọi người chất lên nó những gánh nặng, đứa bé trở thành một con lạc đà. Nó đi vào sa mạc. Ở đó nó gặp sự giận dữ của nó: đó là con sư tử. Lạc đà và sư tử giao chiến với nhau. Lạc đà chiến thắng. Đúng lúc ấy, nó bị biến trở lại thành đứa bé. Và đứa bé trở thành một cái bánh xe, xoay tròn lăn đi, tự do, trong thế giới.” Đứa trẻ ấy bị đè lên vai với cảm xúc của quá nhiều người, oằn mình chịu đựng làm sao cho vừa lòng tất cả. Một gia đình tan vỡ, những vết nứt sâu không thấy đáy. Mà họ, lại đổ nỗi đau ấy lên 1 đứa bé quá đỗi tinh linh. Một đứa bé mang trong mình tình thương vô tận, để rồi nó cứ đi phân phát chỉ hi vọng cũng nhận lấy 1 chút gì đó yêu thương. Nhưng cuối cùng nhận lại, là sự phản bội, khinh thường, giận dữ, xấu xa.  Tôi lúc trước, vẫn luôn sợ hãi cái cảm giác mình cho đi quá nhiều nhưng người khác lại không thật lòng với mình. Đó là 1 sự đáng sợ, sợ hãi lòng tin bị vùi dập, sợ hãi không vừa lòng, sợ bản thân mình là 1 cái gì đó sai trái. ừ, chị ấy cũng vậy, cũng phải chịu sự đè nén tâm hồn như vậy. Tôi cứ nghĩ cái kết sẽ khác. Nhưng không, kết rẽ theo chiều hướng bất ngờ. Nhưng mà nghĩ lại, chính như thế mới đúng, tự do lòng, tự do thân thể, mới là hạnh phúc đích thực. *** Cái tên ấy nghe thật khác lạ ở miệng anh: êm ái hơn, nhẵn nhụi hơn. Lưỡi anh trượt qua những phụ âm chướng ngại, quyện các nguyên âm lại với nhau, trơn tuột như gió lùa qua các cây hạt dẻ. Sau này, khi còn một mình, chị thử lặp lại cách anh đọc tên thành phố đó mà không được. Cả cái tên lẫn thành phố làm chị sợ: SARAJEVO Xe buýt ở Stockholm phô ra ghê sợ hình ảnh những đàn ông đàn bà trong cảnh cùng quẫn, những đứa trẻ với ánh mắt tố cáo, và bên dưới là một tài khoản ngân hàng viết bằng những con số lớn, đen sẫm: đó là lời kêu gọi cứu trợ. Hai người đi sang bên kia đường; anh đưa tay che mặt. Anh bảo không thể tưởng tượng được là những hình ảnh nói lên sự khủng khiếp của nạn đói trong thế giới thứ ba kia lại là đến từ chính nước anh. Anh đã nói như vậy: “Đất nước tôi”. Tháng Mười một, tuyết trên hè tan ra bẩn thỉu, xe buýt làm bắn nước lên gấu quần, lên giày khách qua đường. Hai người đi đến chân ngôi nhà nơi anh vẫn ngồi viết, nằm trong khu Vasastan, mé thành phố mà chị rất ít khi lui tới. Gian phòng lạnh lẽo. Mùi khói thuốc phảng phất, lửng lơ, đọng lại. Bên cạnh ghế là một lò sưởi điện. Trên bàn, một chiếc máy xử lý văn bản anh mượn của ai đó, một máy in và một máy fax kiểu cổ. Trên gờ cửa sổ, một chiếc máy cát-xét nhỏ và tiếng đàn viôlôngxen. Nhạc Bach qua tiếng đàn Pablo Casals. Những cát-xét này anh mang từ nhà đến: tôi cần nghe thứ nhạc này khi suy nghĩ. Dải giấy từ chiếc máy in chạy ra. Anh đi lại trong phòng, tay đút túi, vẻ bồn chồn, chị cảm thấy thế. Vậy là chị đã khá hiểu anh để có thể cảm thấy nỗi lo âu đó. STOCKHOLM THÁNG MƯỜI MỘT: Một thành phố bắc cực trôi giạt, bầu trời xám nâu, những ngôi nhà nghiêng ngả từ từ lún xuống và mất hút dưới mặt đất. Một vầng đỏ lựng loé lên nhoáng một cái trong cái hẽm giữa mầu đen của mặt đất và mầu đen của bầu trời. Ánh đèn nê-ông nhợt nhạt bên kia cửa kính xe buýt như những lời kêu cứu bi ai. Stockholm tháng Mười một thật khó tả, một tấm khăn liệm quắng vào mùa đông. I HAVE BEEN CALLING FOR MORE THAN ANHOUR…[1] Điện thoại chắc đã đổ chuông lâu rồi chị mới nghe thấy và chạy vội đến trả lời, vấp cả vào dây cắm của chiếc máy hút bụi, rồi vào mấy thùng bìa, chồng sách, đôi ván trượt tuyết, gậy hốc-cây, những quả bóng đá, chồng đĩa hát, túi quần áo, đống báo, tất cả những thứ lỉnh kỉnh chị đã lôi ra từ trong tủ, mắc áo, ngăn kéo. Chị rủa to. Bên ngoài, trời đen kịt. Nhưng căn phòng tràn ngập ánh sáng. Thế lại tốt. Rất sáng, các ngọn đèn đều được bật lên hết. Thoạt tiên, chị không nhận ra ai gọi. Một giọng lạ. BUT IT’S ME! [2] Chị lấy chân đẩy một thùng bìa sang một bên, lấy ra từ đống lộn xộn một chiếc ghế đẩu rồi ngồi xuống. Nhận được một cuộc điện thoại của ai đó sau bao nhiêu năm trời không gặp mặt. Ai đó mà ta không còn nghĩ được nghe lại tiếng nói trên cõi đời này. Đúng thế, chị đã nói chuyện điện thoại lâu, dễ đến một tiếng đồng hồ. Sau đấy, chị cho chạy máy hút bụi. Anh làm gì ở Stockholm, anh đã nhập cư rồi ư? Anh giễu cợt sự bối rối của chị. Không đâu, anh không nhập cư vào đây. Mấy gã kiểm tra hộ chiếu đã rất cảnh giác khi anh đặt chân tới Thụy Điển, họ đã xem xét giấy tờ của anh rất kỹ và hỏi anh rất nhiều. Trong khi anh nói, chị thấy gương mặt anh hiện lên dần dần, như một bức ảnh hiện dần lên trong khay thuốc hiện hình: đôi mắt trong, có lẽ là mầu xám, chị không nhớ nữa, vành môi sắc nét, khóe miệng nhục cảm hoặc giễu cợt; chị đã sống qua một đêm với người đàn ông này, lâu lắm rồi. Từ bao nhiêu năm nay rồi? Mười một năm, anh nói thế. PHI TRƯỜNG SKOPJE. Có ai đó, một trong những người chủ trì hội nghị, đã đưa chị ra đấy, hôn lên má chị và trao cho chị một món quà kỷ niệm: một chiếc lọ gốm nhỏ quai khum khum. Qua cửa kiểm soát hộ chiếu xong, chị dựa lưng vào tường nhìn những hành khách khác, khuỷu tay tì lên lan can sắt chạy xung quanh phòng đợi. Nóng ngột ngạt. Nhiều người lao động nhập cư trở lại sau một chuyến về thăm quê hương; hành lý gồm nào là túi xách, thùng bìa, một số ngồi bệt xuống đất, ghế nào cũng có người ngồi cả rồi. Bên kia những tấm kính bụi bậm, có thể thấy cây cối khô cằn, kiệt quệ vì nóng, rễ cây khẳng khiu. Skopje đấy: chị còn nhớ những bài báo đăng sau ngày động đất năm 1963, hình ảnh những đống gạch đổ nát, những con người vô gia cư, những xác chết. Thành phố bị tàn phá trong vài giây đồng hồ. Giờ đây, người ta đã xây dựng lại rồi. Hiện đại, với những khu chung cư rẻ tiền sơn trắng kiểu trại lính. Chị đến từ Struga, nơi diễn ra hội nghị: một khách sạn rộng mênh mông; các nhà thơ từ khắp thế giới đến ngâm thơ vào ban tối, giữa quầng sáng của những ngọn đèn rọi, trên một chiếc cầu bắc ngang giữa sông. Người dân trong vùng, đàn ông lẫn đàn bà, đến nghe thơ, nằm ngồi ngoài bãi cỏ trên bờ sông cao trong đêm tối. Chị cũng vậy, ngồi trên một mảnh báo gấp lại, hai tay bó lấy gối, nghe được cả tiếng nước róc rách, để mặc cho ý nghĩ lang thang và thử nghe hiểu mấy từ tiếng nước ngoài trong lúc lời dịch song song vang lên trong loa phóng thanh. MƯỜI MỘT NĂM TRƯỚC. Tuy mọi người có hơi bị mê muội vì cái nóng và rượu vang, người ta vẫn nói chuyện không ngớt xung quanh những chiếc bàn gỗ dưới những vòm cây lớn; tiếng nói cứ rì rào, bay lên trời. Những ngôn ngữ thiểu số là những cái túi ký ức của nhân loại, một vị giáo sư ở Ljublijana đã nói vậy khi so sánh một cách bóng bẩy với đặc điểm địa lý của nơi họ đang ở, cách hồ Ohrid không xa, một trong những vùng trũng nhất thế giới, dấu vết của biển Egée từ thế mioxen muộn, với những chi lưu ngầm trong lòng đất và hệ động vật biển duy nhất của nó: một cái nôi cho những mô hình tiếp hợp nguyên thủy của tự nhiên. Một hôm, cảm thấy cần yên tĩnh, chị đã trốn đi và một mình đi xe ô tô đến tận Ohrid, một thành phố đẹp mà chị nghĩ có lẽ chị sẽ muốn trở lại sau này; những bậc thang dốc đứng bằng đá, những ngôi nhà trắng nhỏ xíu nằm giữa những bụi cây nhỏ tỏa hương từ những bông hoa đỏ và trắng, và ở mé dưới rất xa là mặt hồ xanh thẳm lặng như tờ. Chị đã đến thăm một bảo tàng sàn nhà đen xỉn, trên tường trang trí đầy tranh và tượng thánh: những con mắt u tối với cái nhìn soi mói, bàn tay giơ lên trong một động tác tiêu biểu, ngón giữa và ngón cái chạm vào nhau; có một con bướm vàng bay lạc vào giữa những bức tranh, ở mảnh sân có những chiếc bàn trống trơ, trước một bục biểu diễn bỏ không, chị đã uống một ly rượu vang trắng. Trời ngả về chiều, bóng đổ dài. Vài ba đứa trẻ chơi đá bóng, gió nhè nhẹ thổi, thật dễ chịu. ... Mời các bạn đón đọc Một Mùa Đông Ở Stockholm của tác giả Agneta Pleijel & Hoàng Cường (dịch).