Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Cơn Lốc Núi

Xuân Nguyên (1931-2006) là một cái tên quen thuộc đối với người dân Yên Bái. Ông là một trong số những hội viên đầu tiên tham gia sáng lập Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Yên Bái. Cuộc đời Xuân Nguyên gắn bó với sự hình thành, phát triển của báo chí và văn nghệ Cách mạng ở tỉnh miền núi, biên giới Lao Cai qua hai chặng đường chống Pháp và chống Mỹ gian khổ, ác liệt, sau đó là tỉnh Hoàng Liên Sơn – Yên Bái. Ông đã sớm có tác phẩm được đăng trên báo Văn nghệ - một tờ báo có uy tín lúc bấy giờ với hai truyện ngắn viết về đồng bào các dân tộc năm 1968 – 1969 là: Hai ông già chăn dê và Mùa hoa Đi-O-Khang. Hầu hết các tác phẩm của Xuân Nguyên đều viết về đồng bào các dân tộc ở miền núi Lào Cai – Yên Bái như tập truyện ngắn Hoa đào tháng chín (1975), Người mẹ suối Lũng Pô (1980), Đêm mưa giông (1983), tiểu thuyết Cơn mưa giông (1995), Hạnh phúc chẳng ngọt ngào (2007). Ông là người từng trải, giàu vốn sống, am hiểu phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc Tây Bắc, ông luôn có ý thức học hỏi ngôn ngữ các dân tộc, nhất là dân tộc Mông. Vì vậy, văn phong của ông gần gũi, giản dị, có sự kết hợp hài hòa giữa lối nói của người Kinh và lời ăn tiếng nói của các dân tộc vùng cao một cách nhuần nhuyễn. Điều này thể hiện ở trong các truyện ngắn như Giàng Tủa, Chiếc vòng bạc... Nhiều truyện của Xuân Nguyên thường là sự đan cài giữa quá khứ và hiện tại làm nổi lên hình ảnh cuộc sống tối tăm, cơ cực của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao dưới chế độ cũ, quá trình vùng lên chiến đấu của đồng bào dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộc đấu tranh gian khổ không kém phần quyết liệt để từ bỏ những hủ tục, tập quán lạc hậu do chế độ cũ để lại, trong các tác phẩm Rừng ma, Hoa đào tháng chín... Đặc biệt, tiểu thuyết Cơn lốc núi đề cập đến nội dung tiễu phỉ, một vấn đề nhạy cảm, hấp dẫn nhưng cũng không hề dễ viết. ***  Lại đến phiên chợ. Hồ Thầu rộn rịch tiếng vó ngựa từ lúc gà gáy. Còn tối đất, tiếng nhạc ngựa đã rung loong coong trên đường mòn.          Sau một đêm thao thức chờ trời sáng, lúc này Vàng Khúa Ly đã trở dậy. Cô ra máng nước ở đầu bếp vã nước rửa mặt. Nước lạnh làm tan hẳn cơn ngái ngủ. Cô rút chiếc khăn chàm còn mới treo trên cái móc bằng mắt tre vấn lên đầu. Sau đó Khua Ly lấy chiếc áo xáo-khỏa và cái quần mới đã gói từ đêm trước để sẵn ở đầu giường bỏ vào mã làn cùng với những thứ hàng mang đi chợ bán.          - Bắt con gà mái vàng béo nhất mang đi mà đổi muối. - Tiếng mẹ cô từ trong buồng nói vọng ra.          - Vâng. - Vàng Khúa Ly đáp.          - Nhớ mà về sớm. Dạo này lính Phăng Ky[1]hay ra chợ cướp gà và trêu con gái đấy ! Bọn con trai các bản cũng hay đi “cướp vợ”, nhớ rủ bạn đi cho đông... Đừng nhẹ dạ tin người buôn ở chợ.          Khúa Ly sửa soạn đi chợ trong tiếng dặn ân cần của mẹ.          Con ngựa buộc ở hiên nhà nghe tiếng hí của những con ngựa đi qua cửa cũng gõ móng cong cóc lên các tảng đá lát chuồng. Ngựa vẫn nhai ngô rau ráu, thỉnh thoảng lại thở phì phì trước cơn gió lạnh.          Vàng Khúa Ly vác cái thồ đã buộc mã làn kềnh càng đặt lên lưng ngựa. Có tiếng gọi :          - Khúa Ly, đi chợ thôi !          - Chị Seo Mỷ đấy à, em đi đây.          Khúa Ly chào mẹ rồi cởi sợi dây thừng bằng móc dắt ngựa ra sân. Cô nhẹ nhàng nhảy lên ngồi giữa hai cái mã làn, hai chân vắt về một bên, rồi giật cương cho ngựa chạy xuống đường.          Con ngựa đã chồn vó suốt đêm, giờ đây mặc sức nện vó trên nền đường đá. Chùm nhạc rung reng theo tiếng vó ngựa.          Trời còn tối mò nhưng Khúa Ly đã nhận ra Seo Mỷ đúng đợi ở giữa đường qua tiếng thở phì phì của con ngựa. Hai con ngựa hí dài chào nhau.          - Đi có sớm quá không ?          - Không sớm đâu. Đến chợ thì ông mặt trời cũng lên quá đỉnh Ngũ Chỉ Sơn rồi. - Seo Mỷ trả lời Khúa Ly.          - Em mới đi chợ lần đầu nên sợ lắm.          - Khúa Ly nói dối chị rồi, có lần chị đã gặp Khúa Ly ở chợ đấy.          - Lần ấy em đi theo bố mẹ. Lần này bố mẹ bảo con gái lớn rồi phải đi chợ một mình cho biết mua bán, cho con trai các bản xem mặt. - Khúa Ly bỗng thấy mặt nóng bừng, may mà trời còn tối nên Seo Mỷ không thấy.         Tiếng vó ngựa nện trên đường núi đá giòn tan xen vào trong câu chuyện của hai cô. Họ say sưa ngắm cảnh bình minh đang đến.         Thoạt đầu bầu trời đằng đông chuyển từ màu đen sang màu xanh nhạt. Rồi trên cái nền xanh cẩm thạch ấy lấp lánh những vẩy mây màu sáng bạc. Phút chốc các vẩy mây màu sáng bạc được ánh bình minh dát vàng rực rỡ. Sau cùng là màu hồng phơn phớt rồi đỏ hồng như mặt người say rượu. Gió núi lành lạnh đưa những tảng mây trắng xốp trôi bồng bềnh trên các đỉnh núi nhọn hoắt.         Con đường xuyên qua những đám nương, ruộng bậc thang trồng toàn anh túc. Anh túc đang độ trổ hoa trông như một tấm vải trắng mênh mông trùm khắp các sườn núi. Những bông hoa anh túc ở ven bờ quệt vào cái mã làn đung đưa, nghiêng ngả.         - Năm nay anh túc lại được mùa. Từ nay đến hết tháng không gặp mưa đá thì nhựa anh túc mùa này để đâu cho hết. - Seo Mỷ nói với Khúa Ly.         Khúa Ly bổng buông tiếng thở dài :         - Cứ nghĩ đến nhựa anh túc em lại lo đến héo cả ruột.         - Sao thế ?         - Lý trưởng Giàng Páo bắt bố em năm nay nộp hai mươi nén nhựa anh túc đủ mười tuổi[2].         - Sao nhiều thế ?         - Nó bảo “Phăng Ky” năm nay lấy nhiều để đưa sang Tầu. Chẳng biết ông trời có cho thu không ?         - Ông trời có cho thu thì đám ruộng ấy cũng không đủ hai mươi nén nhựa kể cả tốt lẫn xấu, chứ đừng nói đến hai mươi nén nhựa toàn loại mười tuổi. Nó cũng là người Mông sao nó không thương người Mông ta nhỉ ?         - Bố em nói, con hổ ở đâu cũng muốn ăn thịt lợn, quan ở đâu cũng muốn ăn của dân. Nó còn muốn cướp cả ruộng trồng anh túc của nhà em đấy.         - Ruộng nương nhà Giàng Páo thiếu gì. Năm nào cũng bắt dân đi làm ruộng nương không công cho nhà nó còn chưa đủ hay sao ?         - Nó bảo ruộng nhà em ở giữa ruộng nhà nó. Bao nhiêu phân bón của nó trôi cả vào ruộng nhà em. Vì thế nó đang bắt bố em đổi đám ruộng ấy lấy đám ruộng ven rừng đá của nó.         - Bố Khúa Ly trả lời ra sao ?         - Bố em không chịu. Giàng Páo cho Giàng Seo Tính đến nói xa nói gần rằng : Là tôi muốn lợi cho ông nên nói mãi quan mới bằng lòng. Ông còn tiếc gì cái cảnh “chung ngựa với nhà quan”, phần thiệt bao giờ chẳng đến mình.            - Giàng Seo Tính là người “nhà trong” của Giàng Páo, nó là em họ của Giàng Páo. Nó vừa là con chó săn vừa là cái đầu của Giàng Páo đấy !            - Bố em cũng biết vậy, nhưng đổi lấy đám ruộng ven rừng đá thì sống làm sao được. Ruộng ấy không trồng được anh túc.            - Cả hai con đường đều cụt cả - Seo Mỷ cất tiếng thở dài thông cảm với Khúa Ly.            Hai người đã đến khu rừng già. Những thân cây cao lớn vươn những cành sần sùi đủ các loài tầm gửi và phong lan buông rủ. Hương phong lan phảng phất ngầy ngậy. Các loài chim rừng ríu rít chào ánh sáng ban mai. Píu ! Píu ! Píu !... tiếng hót của bày họa mi bỗng vút lên lảnh lót, vượt lên hàng trăm thứ âm thanh của thế giới động vật có cánh. Một bầy chim “hoàng tử” dáng thanh mảnh, mang bộ lông đủ năm màu lướt nhẹ nhàng như những con thoi chuyền từ cây này sang cây khác.            - Khúa Ly xem kìa, các “hoàng tử” cũng bắt đầu đi dự hội rồi đấy. - Seo Mỷ chỉ vào bầy chim “hoàng tử” nói đùa với Khúa Ly - Không biết con chim nào sẽ được chọn là “công chúa” nhỉ ?            - Em chịu.            - Nếu chị là những con chim “hoàng tử” thì chị sẽ chọn Khúa Ly làm chim “công chúa” đấy. - Seo Mỷ nói rồi cất tiếng cười giòn.          - Chị Seo Mỷ lại trêu em rồi ! - Khúa Ly thấy mặt nóng ran.          Vượt qua rừng già họ đi vào khu rùng sa mu xanh thắm. Những cây sa mu già trên trăm tuổi thẳng vút, trầm tĩnh tấu bản nhạc đều đều vô tận. Lẫn trong tiếng vi vút của ngàn sa mu là tiếng khèn của những chàng trai Mông đi chợ.        ... Vườn có hoa, ong mới về đậu,[3]            Vì có em, anh mới đến đây.            Nơi có hoa, ong mới về kêu            Thấy bóng em, anh mới về hát            ……             Núi cao sinh cây gì ?             Núi cao sinh cây sa mu.             Đồi thấp sinh cây trúc             Anh với em như sa mu với trúc             Em đi khởi lòng anh nhớ khôn nguôi...          Tiếng khèn lúc trầm trầm thủ thỉ, lúc vút lên như tiếng họa mi trong rặng sa mu. Tiếng khèn cứ như quấn quít lấy vó ngựa của Khúa Ly và Seo Mỷ :          ... Cô em hỡi,             Hoa gì nở thắm tươi ?             Hoa đào mùa xuân nỏ thắm tươi             Em có lòng yêu anh,             Xin hẹn chợ này ta gặp nhau một buổi.             Hoa gì nở chi chít ?             Hoa đào mùa xuân nở chi chít             Em có lòng mến anh,             Xin hẹn chợ này ta gặp nhau một ngày...         Không bảo nhau nhưng cả Khúa Ly và Seo Mỷ cùng sửa lại hai vạt áo xáo-khoả che kín bộ ngực. Khúa Ly cất tiếng hỏi Seo Mỷ :         - Anh Sùng Sử có đi chợ không ?         - Có, nhưng đi sau. Còn bắt con lợn mang đi chợ.         - Tưởng mùa này anh chị cưới nhau.         Seo Mỷ buông tiếng thở dài :         - Ông chú không chịu.         - Ông Hảng A Dềnh ấy à ? Sao ông ấy lại không chịu ?         - Ông ấy bảo con ngựa đắt tiền mới là con ngựa quý. Vì thế ông khăng khăng đòi lấy đủ một trăm đồng bạc trắng. Lợn, rượu thì Sùng Sử còn lo được, chứ bạc trắng thì lấy đâu ra. Mấy lần chị nói xin giảm cho Sùng Sử đều bị ông mắng lấn đi : “Mày đừng như con ngựa động đực, vừa thấy hơi ngựa đực đã cong đuôi chạy theo. Thằng Sùng Sử không đủ bạc trắng thì khối đứa có đủ. Chừng nào tao còn sống thì tao còn làm đúng lời bố mày dặn trước khi nhắm mắt”. Có lúc thương Sùng Sử quá chị đã bảo Sùng Sử rủ bạn “cướp”[4] chị chạy đi thật xa, nhưng Sùng Sử không chịu : “Làm thế còn mặt mũi nào nhìn dân bản, thà chịu phận nghèo, cô đơn còn hơn là mang tiếng xấu”.           - Ôi, cuộc đời sao lắm nỗi éo le ? - Khúa Ly chép miệng thở dài.           Câu chuyện của họ đến đây ngắt quãng. Trước mắt hai cô cái đồn “Phăng Ky” đã hiện ra rõ mồn một với những bức tường đá xám xịt bao quanh. Ngay dưới chân đồn, trên con đường dẫn vào chợ một đám vợ lính đứng đón đường mua hàng của những người đi chợ.           - Tả cố mải lá dảng ?[5]           - Mày bán cho tao đi.           - Kỷ tố sền ?[6]           - Tao có tiền trắng, mày bán đi, hay muốn đổi muối, diêm, thuốc lào ? Thứ nào tao cũng có tất, cứ mang vào đây. Mời các bạn đón đọc Cơn Lốc Núi của tác giả Xuân Nguyên.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Con Chó Mùa Xuân
Patrick Modiano là Nhà văn Pháp với hơn 30 tác phẩm bao gồm tiểu thuyết, kịch bản phim,... các tác phẩm của ông đã được dịch 36 thứ tiếng trên thế giới, đạt nhiều giải thưởng danh tiếng, phải kể đến giải Nobel Văn học năm 2014. "Lối viết văn của Modiano rất dễ đọc. Các tác phẩm của ông trông có vẻ đơn giản bởi vì nó tinh tế, thẳng thắn, đơn giản và rõ ràng. Bạn mở sách đọc một trang, và sẽ nhận ra ngay là sách của ông ta, rất thẳng thắn, câu văn ngắn gọn, không cầu kỳ - nhưng nó rất là tinh vi trong cách đơn giản của nó."_ Bí thư thường trực của học viện Nobel Peter Englund Con chó mùa xuân là một trong bộ ba tiểu thuyết được phanbook phát hành vào năm nay. Vẫn với lối viết đơn giản mà tinh tế, Patick Modiano đã dần người đọc vào một hành trình lạ lùng khi hai con đường ngược nhau, cắt nhau nơi ký ức. Như một tất định của đời sống, có tồn tại rồi sẽ có lãng quên, cuối cùng thì không gì có thể níu kéo được hiện hữu thuộc về quá khứ, và tất cả được chứa đựng trong lặng im vĩnh viễn. Để từ đó người đọc có thể thấy được văn chương của Patick Modiano là văn chương của ký ức, bất định tương lai. *** Kho đựng nỗi đau (tựa gốc: Remise de peine, viết năm 1988), Hoa của phế tích (tựa gốc: Fleurs de ruine, 1991), Con chó mùa xuân (tựa gốc: Chien de printemps, 1993) được nhà văn Patrick Modiano (giải Nobel Văn học, 2014) hoàn thành trong ba mốc thời gian khác nhau, nhưng mang đầy đủ những nét đặc thù của không khí, phong cách văn chương ông. Kho đựng nỗi đau lần đầu tiên bức chân dung thời thơ ấu của chú bé Patrick cùng em trai sống trong căn hộ của những diễn viên xiếc ở vùng ngoại vi Paris. Hoa của phế tích là cuộc lần theo manh mối về một vụ tự sát với lý do bí hiểm của đôi vợ chồng kỹ sư trẻ tuổi vào một ngày tháng 3 năm 1933. Còn Con chó mùa xuân là cuộc dò tìm của một người viết tiểu thuyết trẻ tuổi với nỗ lực phục dựng bản tiểu sử của Jasen - một nhiếp ảnh gia sống và ghi chép về Paris nhưng căn cước cá nhân lại nhiều điểm mù bởi dư chấn của thời Đức tạm chiếm… Ba cuốn tiểu thuyết này là dẫn chứng xuất sắc, thuyết phục cho điều mà Patrick Modiano viết trong diễn từ nhận giải Nobel Văn học vào năm 2014: “Người ta có thể lạc lối hoặc biến mất trong một đô thị. Người ta thậm chí có thể thay đổi căn cước và sống một đời khác. Người ta có thể lao mình vào một cuộc điều tra rất dài lâu để tìm lại những dấu vết của một ai đó, và lúc khởi đầu chỉ có một hoặc hai địa chỉ trong một khu phố đã mất biệt. Chỉ dấu ngắn ngủi đôi khi hiện lên trên những phiếu tra cứu luôn luôn tìm được một âm hưởng trong tôi: Nơi cư trú cuối cùng được biết.” Trong lần ấn hành ba tiểu thuyết này, Phanbook cũng phát hành hộp giấy đựng sách Patrick Modiano với thiết kế đẹp, trang nhã dành cho độc giả sưu tầm đủ ba tác phẩm. *** VỀ NHÀ VĂN PATRICK MODIANO Patrick Modiano là nhà văn người Pháp, sinh năm 1945. Ông đạt giải Nobel văn học năm 2014. Nhiều tác phẩm của Modiano đã được in tại Việt Nam. Ba tác phẩm của Patrick Modiano do Phanbook ấn hành: Kho đựng nỗi đau, Hoa của phế tích, Con chó mùa xuân, đều do Hoàng Lam Vân dịch. *** Tôi quen với Francis Jansen cái năm tôi mười chín tuổi, vào mùa xuân 1964, và ngày hôm nay tôi muốn kể một ít điều mà tôi biết về ông. Lúc đó là sáng sớm, tại một quán cà phê trên quảng trường Denfert-Rochereau. Tôi đang ở đó với một cô bạn gái cùng tuổi, và Jansen ngồi bàn đối diện với bàn chúng tôi. Ông vừa mỉm cười vừa quan sát chúng tôi. Rồi ông rút từ cái túi đặt trên băng ghế bọc moleskine, bên cạnh ông, một cái máy ảnh Rolleiflex. Tôi gần như không nhận ra là ông đã chĩa ống kính về phía chúng tôi, vì các động tác của ông vừa mau lẹ lại vừa rất thong dong. Như vậy, ông dùng một chiếc Rolleiflex, nhưng tôi sẽ không thể nói rõ các loại giấy cùng phương pháp in tráng mà Jansen sử dụng để có được thứ ánh sáng vốn dĩ tắm đẫm mọi bức ảnh ông chụp. Buổi sáng cái ngày chúng tôi gặp nhau, tôi còn nhớ mình đã hỏi ông, vì lịch sự, theo ông đâu là loại máy ảnh tốt nhất, ông đã nhún vai và bảo với tôi rằng xét cho tới cùng ông thích nhất mấy cái máy ảnh bằng nhựa màu đen mà người ta mua được ở các cửa hàng đồ chơi, chúng phụt nước ra khi ta ấn nút. Ông mời chúng tôi một tách cà phê và đề nghị chúng tôi tiếp tục làm mẫu cho ông chụp nhưng lần này là ngoài phố. Một tờ tạp chí Mỹ đã giao cho ông việc minh họa một phóng sự về tuổi trẻ tại Paris, và thế là ông đã chọn chúng tôi: Vậy thì đơn giản hơn, hẳn lại mau chóng hơn và kể cả nếu bên Mỹ họ không hài lòng thì cũng chẳng có gì quan trọng. Ông muốn trút bỏ cho xong cái công việc thuần tính cách kiếm ăn đó. Ra khỏi quán cà phê, chúng tôi bước đi trong nắng, và tôi nghe thấy ông nói, với chút âm sắc nước ngoài: - Mùa xuân chó chết[1]. Một suy tư mà ông sẽ còn hay lặp lại, cái mùa năm ấy. Ông bảo chúng tôi ngồi xuống một ghế băng, sau đó ông cho chúng tôi đứng trước một bức tường lổ đổ bóng hàng cây, trên đại lộ Denfert-Rochereau. Tôi đã giữ một trong số những bức ảnh ấy. Chúng tôi, cô bạn và tôi, ngồi trên ghế băng. Tôi có cảm giác đó là những người khác chứ không phải chúng tôi, do chỗ thời gian đã trôi qua hoặc do những gì Jansen nhìn thấy trong ống kính của ông, mà vào thời ấy chúng tôi sẽ chỉ có thể nhìn được nếu đứng trước một tấm gương: Hai đứa thiếu niên vô danh và lạc lối tại Paris. * * * Chúng tôi đi theo ông về xưởng của ông ngay gần đó, trên phố Froidevaux. Tôi cảm thấy ông e sợ nếu lại phải ở một mình. Xưởng nằm dưới tầng trệt một tòa nhà, có thể đi vào đó qua một cánh cửa mở thẳng ra phố. Một căn phòng rộng tường trắng ở cuối có cầu thang nhỏ dẫn lên gác lửng. Một cái giường chiếm toàn bộ không gian của tầng lửng ấy. Căn phòng chỉ có một trường kỷ màu ghi cùng hai phô tơi đồng màu. Bên cạnh lò sưởi gạch là ba cái va li da màu hạt dẻ chồng đống lên nhau. Các bức tường trống trơn. Chỉ có hai bức ảnh. Bức lớn hơn, chụp một phụ nữ, một người tên là Colette Laurent như sau đó tôi sẽ biết. Trên bức còn lại, hai người đàn ông - một là Jansen, hồi còn trẻ - ngồi cạnh nhau, trong một cái bồn tắm vỡ hoác, giữa đống đổ nát. Mặc cho nỗi rụt rè, tôi đã không sao tự ngăn mình hỏi Jansen giải thích, ông đáp đó là ông, cùng Robert Capa bạn ông, ở Berlin, hồi tháng Tám năm 1945. Trước cuộc gặp ấy, cái tên của Jansen vẫn còn xa lạ với tôi. Nhưng tôi biết Robert Capa là ai vì đã xem những bức ảnh của ông chụp chiến tranh Tây Ban Nha và đọc một bài báo về cái chết của ông bên Đông Dương. Nhiều năm đã trôi qua. Thay vì làm rối mù hình ảnh Capa và Jansen, chúng lại có hiệu ứng ngược hẳn lại: Hình ảnh ấy rõ nét trong ký ức tôi hơn nhiều so với nó từng, vào mùa xuân đó. Trên bức ảnh, Jansen hiện ra như một dạng thế thân của Capa, hay đúng hơn là một đứa em trai mà Capa thấu nhận để bảo trợ. Capa, với mái tóc rất nâu, ánh mắt màu đen, điếu thuốc lá ngậm trễ nơi khóe miệng, tỏa ra lòng quả cảm và niềm vui sống bao nhiêu, thì Jansen, tóc vàng, gầy gò, cặp mắt nhạt màu, nụ cười rụt rè và sầu muộn, có vẻ không được thoải mái bấy nhiêu. Và cánh tay Capa, đặt lên vai Jansen, không chỉ tỏ ý thân tình. Hẳn người ta có thể nói ông đang đỡ lấy bạn. Chúng tôi ngồi ở ghế phô tơi và Jansen mời chúng tôi uống whisky, ông đi vào góc phòng và mở cánh cửa dẫn sang căn bếp cũ mà ông đã cải tạo thành phòng tôi. Rồi ông quay trở lại: - Tôi rất tiếc, hết whisky mất rồi. Người ông hơi đờ ra, hai chân bắt chéo, dịch sát ra tận đầu cái trường kỷ, như thể ông chỉ là người ghé thăm nơi này. Chúng tôi, cô bạn tôi và tôi, không phá vỡ sự im lặng. Căn phòng rất sáng với những bức tường trắng của nó. Hai cái phô tơi cùng trường kỷ đặt quá xa nhau, thành thử ta có cảm giác về sự trống rỗng. Hẳn người ta có thể nghĩ rằng Jansen đã không còn sống ở nơi này nữa. Ba cái va li, mà lớp da bên ngoài phản chiếu ánh nắng, gợi về một cuộc khởi hành sắp sửa. - Nếu các bạn thích, ông nói, tôi sẽ cho các bạn xem ảnh chừng nào rửa xong. Tôi đã viết số điện thoại của ông lên một bao thuốc lá. Vả lại, tên ông có trong danh bạ Bottin, ông nói thêm với chúng tôi. Jansen, số 9 phố Froidevaux, Danton 75-21. Mời các bạn đón đọc Con Chó Mùa Xuân của tác giả Patrick Modiano & Hoàng Lam Vân (dịch).
Đời Tỷ Phú - Pierre Rey
Cuốn tiểu thuyết này được dịch ra từ nguyên bản tiếng Pháp Lão Hy Lạp (Le Grec) của Piere Rey, một nhà báo, nhà văn Pháp. Với sự sắc sảo của một nhà báo lão luyện cùng nghệ thuật của một nhà văn biết nắm bắt những chi tiết tinh tế, tiêu biểu trong suy nghĩ, tâm trạng, ngôn ngữ của các loại nhân vật, tác giả đã miêu tả rất hiệu quả về thế giới tư bản tỷ phú siêu quốc gia, cả trong làm ăn kinh tế, chính trị cũng như trong đời tư và lối sống. Cuốn sách đề cập đến những thủ đoạn làm giàu, cạnh tranh tàn nhẫn, lừa gạt, lật lọng giữa bọn tư sản tỷ phú cho dù đấy là anh em ruột thịt, hay là chàng rể và mẹ vợ... Bạn sẽ ngạc nhiên và căm phẫn trước vô số lối sống ăn chơi hoang phí, ngông cuồng, thác loạn, bên cạnh sự bủn xỉn, keo kiệt đến mức bệnh hoạn giữa những con người đó. Không chỉ có vậy, Đời Tỷ Phú còn phơi bày rất nhiều góc cạnh của các mối quan hệ cha mẹ, con cái, chồng vợ, anh chị em, đối thủ, chủ tớ... trong giới tư bản tỷ phú, triệu phú với những mặt đồng nhất mà đối nghịch, lịch sự mà thô bạo, trật tự mà hỗn loạn, nề nếp mà điên đảo... *** Những tảng đá bằng phẳng trọc lốc, trắng toát như xương người, những tảng đá chồng chất lên nhau. Trời xanh đến chóng mặt, và dưới chân bờ biển thẳng đứng cao hai trăm mét, lóa mắt. Đó đây, từng mảng ánh sáng chói chang không chịu nổi, nơi mà biển cưỡng lại sức thiêu đốt của mặt trời, phản chiếu những tia nắng bằng cường lực tập trung của kính hiển vi và sự mãnh liệt của sức nổ. Chiếc xe Rolls Royce đậu trên khoảng bằng của một mỏm núi treo lơ lửng giữa không trung, lạc lõng trong cái quang cảnh nhức nhối vì sự vận động bị ngưng lại và thời gian tan thành chất lỏng. Phải nóng đến trên bốn mươi độ. Ườn ra trên đệm xe, Niki sởn gai ốc, hạ bớt cường độ máy điều hòa không khí. Quen tay, anh ta gài lại khuy áo vareuse màu sắt xám, trên ve áo cổ đính huy hiệu “S.S”. Hai chữ viết tắt ấy đã là đầu đề trêu chọc anh ta của những tay lái xe khác. Họ đùa giỡn trách anh ta sao lại đi đeo loại huy hiệu ấy. Anh ta thừa biết phần lớn bọn kia ghen tị anh. Vì bọn đầy tớ, cũng như chó, thường đánh giá lẫn nhau qua giá trị của chủ chúng. Còn như khách qua đường, trong các thành phố, khi ngoái cổ lại nhìn, thì họ bị ấn tượng quá nhanh do sự sang trọng của cái xe nên chẳng tỏ ra được một ý nào khác ngoài sự thán phục quỵ lụy. Điều này làm Niki khinh miệt họ nặng nề thêm. Bên ngoài xe nóng đến độ nổ lép bép, nóng đến độ trở nên hữu hình, cái sức nóng đem lại cho khung cảnh bại liệt bị ánh sáng nuốt chửng này những sắc độ dịu đi bởi những rung rinh màu nâu nhạt và xám. Niki nghĩ trước khi S.S tới, không biết còn đủ thời gian hút thêm một điếu thuốc nữa không. Chủ anh ta hút nhiều thuốc, nhưng chỉ cho phép có mùi khói xì gà Havanes, cho rằng hương vị da bọc đệm xe Rolls Royce không hợp với mùi khói tầm thường của thuốc sợi vàng. Anh ta đang đưa tay lên túi áo bỗng ngừng lại. Mắt anh ta chạm vào mặt đồng hồ: Đúng ngọ. Đã hai lần, anh ta thử đi vài bước ra bên ngoài, nhưng anh ta đành vội vã bỏ cuộc, choáng váng bởi sức nặng của cái nóng đè trĩu lên hai vai. Anh ta tự hỏi không hiểu sao một xứ nghèo đến thế này mà lại sinh ra một con người giàu đến như thế. ... Mời các bạn đón đọc Đời Tỷ Phú của tác giả Pierre Rey.
Nắng Tháng Tám - William Faulkner
Bạn sẽ phải đánh đổi một khoảng thời gian kha khá, để được ngấm vào mình một kiệt tác văn chương tuyệt đẹp như "Nắng tháng 8". Nó kể về phần tăm tối nhất của con người và sự nhẹ nhõm, thân thương của niềm tin.  Tổng cộng, người đọc có lẽ sẽ mất ít nhất khoảng 20 giờ cho tác phẩm này, với gần 700 trang chi chít những gạch chân và nếp gấp trang đánh dấu. Có quá nhiều những suy tưởng xuất sắc, những biện giải và mô tả diễn biến tâm lý nhân vật rất kì tài. Vậy là không chỉ tốn thời gian, mà còn phải động não không ngừng nghỉ khi đọc sách.  Có rất nhiều tuyến nhân vật đan xen, không rõ ai chính/phụ. Lena Grove - một cô gái bị lừa dối (mà không biết), bụng mang dạ chửa đi tìm người yêu; Joe Christmas - một người lai gốc da màu (nhưng trông bề ngoài như người da trắng) bị lạc mất cội rễ trong một xã hội thù địch với người da đen.   Mục sư Hightower - một người đã thất vọng hoàn toàn với xã hội đương thời và thu mình lại đến mức gần như triệt tiêu năng lượng sống và hy vọng. Byron Bunch - người thợ bào bình dị, được mô tả là "không ai thèm ngoái lại nhìn đến lần thứ hai" - nhưng vụt trở thành người anh hùng, dám hành động, dám quả quyết và dám hy sinh sau khi tìm thấy tình yêu với Lena Grove. Mục sư Hightower là một nhân vật đối lập với Byron Bunch - dù hai người là bạn. Qua thời gian, sức sống và năng lượng của họ đã chuyển hóa và nghịch đảo. Một người có thời trai trẻ sôi nổi, nhiệt tình, nhưng rồi tắt dần như đốm lửa vì sự đòi hỏi tàn khốc của xã hội. Một người im lặng, bình dị suốt 30 năm trời, để rồi chợt tìm ra ánh sáng khi thấy được tình yêu. Nhưng quả thực Faulkner rất ít khi viết một tác phẩm theo chủ nghĩa anh hùng. "Nắng tháng 8" lại càng không phải tiểu thuyết anh hùng - dù nhân vật có lúc bừng sáng hay lịm tắt. Ông là nhà văn của những người bình dị nhất, những người mà ta nhìn bề ngoài thì không hiểu họ. Ta không biết ẩn sau cái vẻ bề ngoài của họ là cả 7 phần của tảng băng trôi - bí ẩn, nhiều khúc ngoặt. Faulkner thương xót con người, nhưng ông cũng dám vạch trần 7 phần chìm đó. Chúng đã tác động mạnh mẽ và hầu như làm biến đổi con người sơ khởi.  Chính vì thế nên nhân vật Lena Grove đẹp và rất được yêu thích. Trong sự biến đổi của hoàn cảnh, trong sự đòi hỏi và tàn khốc của xã hội (bị người yêu lừa dối, bị người nhà ghét bỏ, bị người xa lạ dè bỉu) cô gái ấy giữ được sự bình tâm và giản dị đến kinh ngạc. Không một người nào có thể tác động tiêu cực được đến cô. Ngay cả việc bụng mang dạ chửa cũng không khiến cô lùi bước mà sẵn sàng đi bộ trên những con đường dài hàng trăm dặm khi không tìm được xe ngựa đi nhờ.  "Tui sẽ không ngạc nhiên chút nào nếu thấy cổ xoay sở giỏi. Người ta có làm hết sức để bỏ rơi cổ thì cũng chẳng sao, cổ chỉ việc bắt đầu lại từ cái chỗ mà họ đã bỏ rơi cổ" - một người lái xe ngựa dọc đường kể về Lena Grove như thế.  Không có phần nào là dễ dãi trong văn của Faulker. Ông không đưa cái phần dễ dãi cho độc giả, mà đưa ra cái phần khó nhằn nhất - những suy nghĩ, lo lắng của người khác, sự tinh tế của cảm xúc và tâm lý, những biến chuyển nội tâm và tranh đấu nội tâm. Những dòng chữ chạm vào phần sâu kín nhất của tâm lý đã bộc lộ một nhà văn điềm đạm với óc quan sát tỉ mỉ, kỹ lưỡng và sâu sắc, không ngại các chi tiết nhỏ. Bây giờ người ta hầu như không còn hành văn theo kiểu đó nữa. Mọi thứ đều chóng vánh hơn, hào nhoáng hơn, dễ nhận biết hơn và có mục đích. Chúng phải hiển hiện và lồ lộ - chứ không thâm trầm, tinh tế theo kiểu Faulkner. "Nắng tháng 8" của Faulkner viết ra không phải để cho người khác đọc một cách ơ hờ, thoải mái. Nó là một cuộc thử thách, muốn độc giả trải nghiệm một cái gì đó rất riêng tư, rất thầm kín như tiếng thì thầm nức nở của nhân vật. Là phần tăm tối nhất của con người. Họ bị giằng néo trong một thế giới mà việc tồn tại nghĩa là nhận lãnh trách nhiệm và không thể thoát ra khỏi nó. Chỉ khi họ dám đương đầu, họ mới được tự do.  *** LENA GROVE bụng mang dạ chửa đi từ Alabama đến Jefferson trong gần một tháng trời để tìm ngưòi đàn ông đã hứa hẹn với nàng là Lucas Burch, bố của thai nhi. JOE CHRISTMAS, một ngưòi không rõ sắc chủng, có thể là nửa trắng nửa đen, nhiều lần thừa nhận mình là da đen một cách quyết liệt, ngạo mạn và cay đắng, tự tay cắt cổ người tình da trắng là Joanna Burden. GAIL HIGHTOWER, một mục sư bị phế bỏ, có nguời vợ ngoại tình tự tử, sông ẩn mình xa lánh nhân gian trừ ngưòi bạn thân là Byron Bunch, một nguồi thợ độc thân ở xưởng bào. Ba cuộc đời ấy đi theo những hướng khác biệt, nhưng trải qua mười một ngày đầy biến động của tháng Tám ở Jefferson thuộc Mississippi, dường như đời sống họ tương chiếu nhau tạo nên cái nhất quán đầy uy lực và bất ngờ của Truyện. Đúng ngày Lena đến Jefferson, đứng trên đồi nàng nhìn thấy khói bốc lên từ một ngôi nhà đang cháy. Đó là nhà của Joanna Burden một cô gái phương Bắc mà gia đình đã đến Jefferson từ lâu, hay giúp đỡ người da đen nhưng vẫn xem da đen là thấp kém bị Chúa bỏ rơi. Cô vừa bị người tình sát hại, đầu hầu như lìa khỏi cổ. Một thanh niên tự xưng là Joe Brown (chẳng ai khác hơn là Lucas Burch mà Lena đi tìm) đòi tiền thưởng một ngàn đô la khi tố giác kẻ giết người là bạn thân của mình, Joe Christmas, cùng làm chung xưởng bào. Joanna chứa chấp, nuôi dưỡng và quan hệ chăn gối với Christmas lâu nay. Cô buộc hắn theo đạo, buộc hắn cầu nguyện (bằng súng chỉa thẳng vào hắn) khiến hắn cuồng nộ giết cô. Lena gặp một chàng trai ở xưởng bào là Byron Bunch, người hết lòng giúp nàng ở lại Jefferson. Anh đưa nàng đến ở trong túp lều của Joe Brown và Joe Christmas trước đây và giấu không cho cô biết gì về chuyện Joe Brown (tức Lucas Burch). Xưa kia, Christmas là một đứa bé mồ côi và ở trại cô nhi vẫn bị chế nhạo là “mọi đen”, rồi trở thành con nuôi trong một gia đình thuộc Trưởng lão phái Tin lành. Tuy mẹ nuôi tử tế nhưng cha nuôi lại cuồng tín. Lớn lên, Christmas dùng một chiếc ghế ở vũ hội làng đập chết cha nuôi rồi bỏ trốn. Christmas đến Jefferson ba năm trước khi chết vào năm ba mươi tuổi. Bị bắt nhưng bất ngờ đào thoát, chạy vào nhà mục sư Hightower. Trước những người truy đuổi, mục sư tìm cách bênh vực hắn, kể cả nói dối rằng hắn ở bên ông khi xảy ra án mạng. Nhưng Christmas bị tên đại úy cuồng tín Percy Grimm hành hình một cách man rợ. Mục sư Hightower thì chìm “trong ánh sáng tháng tám còn nấn ná trên trời” và ông mơ màng nhìn thấy “một vầng hào quang đầy những khuôn mặt người”. Trước đó, chính mục sư là ngưòi đã đỡ đẻ cho Lena vì Byron không tìm kịp bác sĩ. Qua những hành động cuối đời, dường như mục sư cố thoát khỏi cái bóng tối đã cầm giữ ông trong đau khổ, ám ảnh và cô độc bấy lâu nay. Ba tuần sau, Lena lại lên đường, bế con nhỏ trong tay, đi tìm Burch có lẽ bây giờ đã cao chạy xa bay. Byron đi theo nàng, đi bên nàng mà hy vọng. ... Câu chuyện của Lena, bước đi trầm tĩnh của nàng, cái bóng thương yêu của nàng làm nổi bật cuộc nổi loạn tuyệt vọng của Christmas và nỗi đớn đau thầm lặng của Hightower. Người ta có thể nhìn thấy câu chuyện của Joe Christmas có phần phỏng nhại đời Jesus Christ trong Tân ước: một phần tên họ, bị kẻ thân tín bán đứng, tuổi trẻ lang thang, cuộc hành hình, tuổi chết, xã hội đầy tội lỗi... Một ít tương đồng đầy mỉa mai. Joe Christmas không phải là đấng cứu thế mà chỉ là “vật tế thần” (chữ của H. Lass). Cái ánh sáng đầu thu ở Mississippi như ảo ảnh, như sương đọng, như huyền thoại. Cái ánh sáng tháng tám đó cũng là phưong ngữ chỉ trạng thái hoài thai. Đó là ánh sáng của sinh nở, sáng tạo. Bóng một người nữ mang thai đi trên con đường vô định. Nắng Tháng Tám là vầng hào quang mang đầy những gương mặt người. Mời các bạn đón đọc Nắng Tháng Tám của tác giả William Faulkner.
Khi Tôi Nằm Chết - William Faulkner
HÀNH TRÌNH DƯỚI BÓNG CỦA CÁI CHẾT   Nhà văn mang nhiều tố chất “Mỹ” nhất trong văn học Mỹ có lẽ là William Faulkner (1897-1962). Ông là một trong những cây bút hàng đầu của văn học thế giới, chiếm giải Nobel năm 1949.   Sáng tạo của Faulkner gây ảnh hưởng sâu rộng lên văn chương châu Mỹ La tinh, Pháp, Nga... nếu không muốn nói là toàn cầu.   Ông ra đời ngày 25 tháng 9 năm 1897 ở bang Mississippi.   Mississippi của miền Nam đi vào tác phẩm của ông, được hư cấu thành Yoknapatawpha, một trong những lãnh địa văn chương sống động nhất, u ẩn nhất từng được tạo dựng.   Yoknapatawpha. Đó là một lãnh địa huyền thoại nằm giữa những đồi cát và dòng sông đáy đen. Nó xuất hiện trong hầu hết tiểu thuyết và truyện ngắn của Faulkner, đặc biệt trong tứ đại Kỳ thư.   Tất cả tiểu thuyết ấy đều thể hiện một thế giới bi thảm, đầy bóng tối cay đắng và tội lỗi, đầy đoạn trường, những tan nát của thiên nhiên và xã hội. Nhưng cũng đầy nghị lực và lòng bao dung.   Tất cả tiểu thuyết ấy đều được dựng theo một nghệ thuật tự sự tân kỳ, biểu hiện hơn là kể, xóa nhòa thời gian, khơi gợi tiềm thức, độc thoại nội tâm, đa bội giọng điệu, đa bội điểm nhìn... Do vậy, Khi tôi nằm chết không có người kể chuyện bao quát. Chỉ nghe những độc thoại nội tâm qua chừng 60 phiến đoạn với 15 nhân vật trên những cấp độ ý thức khác nhau.   ***   Có thể nói Khi tôi nằm chết là lịch sử nội tâm của gia đình Bundren, bắt đầu bằng cuộc hấp hối của bà Addie, rồi cuộc hành trình đầy phiêu lưu qua nước lũ và lửa thiêu trên những con đường uẩn khúc của Yoknapatawpha để đưa xác bà về nghĩa trang gia đình ở Jefferson thể theo di ngôn người chết.   Tác phẩm miêu tả cuộc hành trình thể lý diễn ra trên đường cũng như cuộc hành trình tâm lý diễn ra trong hồn, quay cuồng giữa bóng tối và ánh sáng mà các vai diễn là bà Addie, ông Anse cùng các con trai Cash, Darl, Jewel, Vardaman và cô con gái duy nhất là Dewey Dell.   Trong khi nằm hấp hối, bà Addie buộc chồng là Anse hứa đưa xác mình về Jefferson chôn cất. Để báo thù chồng về cuộc sống chung bất hạnh. Và bà đã từng cắm sừng chồng.   Cuộc hành trình đưa đám ấy phải trải qua bốn mươi dặm đường. Mỗi người đưa đám trong gia đình đều có tâm tư và ý nguyện riêng. Đến Jefferson là thực hiện ý người chết mà cũng là thực hiện những niềm riêng ấy.   Anse toan tính sẽ làm bộ răng giả nhằm lấy lại phong độ của mình. Ông và bà Addie đồng sàng dị mộng. Và không chỉ là răng giả...   Cash là trưởng nam, người đóng quan tài cho mẹ. Anh bị gãy chân khi vượt dòng sông lũ. Cam chịu đau đớn, anh nằm trên nắp quan tài cho đến cuối cuộc hành trình với ống chân bó ximăng!   Darl là người con thứ, rất nhạy cảm. Anh biết cuộc hành trình này là vô lý và tai họa, có thể làm tan rã gia đình. Nên anh nổi lửa định hỏa thiêu xác mẹ và chấm dứt chuyến đi. Thất bại, Darl bị đưa vào viện tâm thần vì Anse sợ phải gánh lấy trách nhiệm.   Jewel là con ngoại hôn của bà Addie. Tình nhân của bà là mục sư Whitfield. Jewel luôn liều mình cứu quan tài của mẹ qua những cơn nước lửa...   Vardaman là con trai út. Cậu được hứa hẹn sẽ có chuối ăn và đồ chơi tàu hỏa khi nào đến nơi. Cậu đục quan tài cho mẹ thở và tin mẹ là một con cá. Dù rất ngây thơ, cậu cũng cảm thấy đau khổ vì những mất mát gia đình.   Dewey Dell là cô con gái bất hạnh của gia đình. Cô chỉ mong tới được Jefferson để mua thuốc phá thai với số tiền mà người tình đã cho. Cô đồng cảm với Darl và phản đối dữ dội chuyện người ta bắt Darl vào viện tâm thần.   Cuối cùng, cuộc hành trình cũng kết thúc. Xác bà Addie nặng mùi cũng được chôn cất ở Jefferson.   Nhưng hầu như chỉ có một mình ông Anse là thỏa mãn, hăng hái giới thiệu người vợ mới trước những đứa con tan nát tâm hồn. “Đây là bà Bundren”, ông nói ở cuối tác phẩm.   ***   Con đường mà gia đình Bundren dấn bước dưới bóng của cái chết là hình ảnh thu nhỏ của Đường Đời. Con người bước đi trong cái bóng của đời sống và cái chết. Qua bi và hài. Qua nước và lửa. Qua mê và tỉnh. Qua dục vọng và đớn đau. Qua hợp và tan. Qua ước ao và thất vọng. Qua ngôn từ và hành động. Qua phi lý và nhân quả. Qua bất nhân và tình người. Qua hèn mọn và cao cả...   “Cuộc đời thúc ta như con ong huyền bí”, theo nhà thơ Emily Dickinson.   Và cái chết cũng thúc ta như con ong huyền bí, chứ gì?   Là một tiểu thuyết ngắn, Khi tôi nằm chết vẫn đạt đến tầm mức một kiệt tác lớn lao, sâu thẳm, dung hợp được những tố chất tương phản trong đời sống và văn chương với một nghệ thuật hư cấu đầy cách tân, táo bạo của một bậc thầy ngôn ngữ. *** Về tác giả: William Faulkner (1897-1962) là một tiểu thuyết gia người Mỹ. Đoạt Giải Nobel Văn học năm 1949, hai giải Pulitzer năm 1955 và 1963, ông là một trong những nhà văn quan trọng nhất thế kỷ 20. Những sáng tác của Faulkner gây ảnh hưởng sâu rộng lên văn chương châu Mỹ La tinh, Pháp, Nga... nếu không muốn nói là toàn cầu. Nhắc tới ông, không thể không kể đến tứ đại kỳ thư nổi tiếng: -    Âm thanh và cuồng nộ (The Sound and the Fury -1924) -    Khi tôi nằm chết (As I lay Dying - 1930) -    Nắng tháng Tám (Light in August -1932) -    Absalom, Absalom! (1936) Mời các bạn đón đọc Khi Tôi Nằm Chết của tác giả William Faulkner.