Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Người Truy Tìm Dấu Vết

Định vị vệ tinh hiển thị, một chiếc xe hơi biến mất khỏi khu trung tâm thành phố, lại có thể đi xuyên qua tất cả các vật cản bằng tốc độ của tàu cao tốc, lao thẳng đến đích? Nhóm tội phạm ngông cuồng gây án, nhưng chưa bao giờ bị máy quay camera giám sát được bố trí thiên la địa võng quay được, do may mắn hay là đằng sau có cao nhân chỉ điểm? Hệ thống phòng bị an toàn của thành phố này đang đối diện với sự khiêu chiến trước nay chưa từng có! Và cảnh sát sau khi phân tích phát hiện ra, mục đích của nhóm tội phạm chỉ là vì muốn làm cho vụ án càng gây rúng động? *** M ười năm trở lại đây, ngành dịch vụ thiết bị an ninh của Trung Quốc phát triển thần tốc, camera giám sát đã trở thành thiết bị tiêu chuẩn của các thành phố, việc sử dụng những kỹ thuật mới như theo dõi tín hiệu, giám sát qua mạng đã thay đổi triệt để cách phá án của cảnh sát. Lịch sử phòng chống tội phạm của công an Trung Quốc đã bước vào thời đại điều tra hình sự điện tử một cách toàn diện. Hàng Châu là kinh đô của ngành dịch vụ thiết bị an ninh Trung Quốc, mấy doanh nghiệp dịch vụ thiết bị an ninh lớn nhất trong nước đều có mặt tại đây. Thành phố này đứng đầu trong nước, cả về phần cứng thiết bị an ninh và trình độ điều tra điện tử của cảnh sát. Năm 2016, Hàng Châu đăng cai tổ chức Hội nghị thượng đỉnh G20 - sự kiện hội tụ đông đảo lãnh đạo các nước. Nhưng ngay trước khi tổ chức Hội nghị thượng đỉnh nửa năm, đã xảy ra mấy vụ án khiến công tác đảm bảo an ninh của thành phố như thể có cũng như không. Một nhóm tội phạm chuyên đột nhập vào nhà riêng liên tiếp gây án tại các khu chung cư cao cấp, nhưng mạng lưới camera giám sát dày đặc không hề ghi lại được bất cứ hình ảnh nào của bọn chúng. Một chiếc ô tô có lắp đặt định vị vệ tinh biến mất khỏi khu vực nội thành, cuối cùng xuất hiện ở một vùng ngoại ô cách xa hơn 10km. Camera giám sát dọc đường hoàn toàn không chụp được hành tung của chiếc xe, còn định vị vệ tinh hiển thị, chiếc xe đã phóng điên cuồng đến đích với tốc độ gần 300km/giờ. *** Tử Kim Trần là tác giả Trung Quốc chuyên viết truyện trinh thám. Năm 2012, Tử Kim Trần vinh dự đoạt hai giải thưởng “10  tác giả xuất sắc trong năm” và “10 tác phẩm xuất sắc nhất” của văn học Thiên Nhai, Trung Quốc. Tính đến nay, các tác phẩm của Tử Kim Trần đã xuất bản tại Việt Nam gồm có: Mưu sát Đứa trẻ hư Tội lỗi không chứng cứ (đã chuyển thể thành phim) Sự trả thù hoàn hảo Người phát ngôn của thần chết Đêm trường tăm tối Người truy tìm dấu vết ... Ngoại trừ Người phát ngôn của thần chết, các tác phẩm khác của Tử Kim Trần như Tội lỗi không chứng cứ, Đêm trường tăm tối, Đứa trẻ hư, Mưu sát hay Sự trả thù hoàn hảo, ông đều lấy nhân vật hung thủ làm trung tâm. Phần lớn tác phẩm, độc giả đều ít nhiều đồng cảm với kẻ gây ra tội ác. Người truy tìm dấu vết là tác phẩm thứ hai mà ông Tử quyết định ẩn danh hung thủ để độc giả phán đoán. Tất nhiên, câu chuyện này không thể nói là hấp dẫn như những tác phẩm trước đây, tuy nhiên chất lượng logic chuẩn xác thì khỏi bàn. Vẫn đẹp & chính xác như phong cách vốn có của ông. *** 8 giờ sáng, Thẩm Nghiêm ra khỏi nhà, lên ô tô, lái xe về phía thị trấn Lưu Hạ ở phía tây thành phố. Ô tô rời khỏi tuyến đường cao tốc vòng quanh thành phố, tiếp tục đi về phía trước dọc theo con đường Thiên Mục Sơn. Chiếc cầu trên cao vắt qua đường cao tốc sừng sững phía trên chặn đứng luồng chiếu của ánh sáng mặt trời, cả khoảng bóng râm đổ xuống, bao trùm cả con đường và xe cộ. . Thẩm Nghiêm hai tay giữ vô lăng, đeo kính râm, nét âu lo hiển hiện dưới cặp mắt kính tối màu. Trước đây anh ta từng làm việc tại công ty Đại Khang, đây là doanh nghiệp dịch vụ thiết bị an ninh lớn nhất Trung Quốc, là doanh nghiệp đã lên sàn cổ phiếu loại A, trị giá mấy trăm tỷ trên thị trường chứng khoán, anh ta là kỹ sư cao cấp chuyên nghiên cứu phát minh sản phẩm, sở hữu nhiều bản quyền phát minh. Bốn năm trước, anh ta từ bỏ mức thu nhập sáu trăm nghìn tệ một năm, mang theo số bản quyền phát minh để khởi nghiệp. Vì giấc mộng khởi nghiệp, Thẩm Nghiêm gần như dốc toàn bộ tài sản trong nhà vào đó, đồng thời kêu gọi cả vốn đầu tư mạo hiểm. Sau hai năm nghiên cứu, đã cho ra đời sản phẩm thành công, nhưng điều đó không có nghĩa là việc bán sản phẩm sẽ thuận lợi. Sản phẩm của anh ta chủ yếu phục vụ cho công tác phá án của cảnh sát, không phải là sản phẩm dân dụng, đơn đặt hàng hoàn toàn trông chờ vào việc mời thầu của chính quyền. Hàng Châu là kinh đô của ngành dịch vụ thiết bị an ninh Trung Quốc, những doanh nghiệp dịch vụ thiết bị an ninh lớn nhất trong nước như Đại Khang, Hải Hoa... đều có mặt ở đây, những gói thầu của chính quyền ở toàn bộ khu vực Hoa Đông gần như đều được phân chia cho mấy doanh nghiệp sừng sỏ này, những công ty nhỏ như công ty của anh ta tiến bước vô cùng khó khăn, Năm ngoái, mấy thành phố mời thầu, anh ta không hề giành được một đơn hàng nào, hiện tại tiền vốn của công ty đã ở mức báo động phá sản. Nếu mấy tháng này vẫn không có đơn đặt hàng, thì anh ta sẽ phải thể chấp số bản quyền phát minh của mình cho bên đầu tư, toàn bộ tâm huyết trong những năm vừa qua sẽ đều tan thành mây khói. Nhiệm vụ nước sôi lửa bỏng trước mắt, là có thêm một khoản tiền, chỉ cần sau đó có đơn đặt hàng, công ty sẽ cải tử hoàn sinh. Thế là, anh ta nghĩ đến bố vợ. Bố mẹ vợ anh ta đều là phần tử trí thức, từng đi du học vào thập niên tám mươi thế kỷ trước, sau này về nước thành lập công ty ngoại thương, những năm đã qua tích lũy được không ít. Anh ta hy vọng có thể vay được ba mươi triệu tệ từ bố vợ, để vượt qua giai đoạn khó khăn. Có điều, tình hình không hề lạc quan, dù thế nào, con rể cũng là người ngoài, trong nhà còn có một cậu em trai. Ngay từ đầu bố vợ đã không ủng hộ anh ta khởi nghiệp, ông nói rằng tính cách anh ta chỉ phù hợp với việc làm một kĩ sư làm công ăn lương. Hồi đầu năm khi biết công ty anh ta gặp khó khăn về tiền vốn, ông đã nói luôn là sớm vật lộn cho xong rồi quay về đi làm. Hơn nữa bố vợ đã từng thất bại trong việc đầu tư, mười năm trước khi khu đô thị mới Đại Giang Đông được đưa vào đầu tư phát triển, bố vợ đã mua một dãy ki ốt và một căn biệt thự độc lập. Không ngờ kế hoạch đầu tư phát triển của chính quyền mãi không thấy triển khai, cho đến nay khu vực đó vẫn để hoang. Thời đó việc in tiền của chính quyền không như bây giờ, đầu tư cả chục triệu là một khoản tiền khổng lồ. Từ đó trở đi, bố vợ vô cùng thận trọng trong chuyện đầu tư, huống hồ lại là đầu tư cho Công ty sắp phá sản của anh ta, Nhưng tình hình đi đến nước này, anh ta cũng chỉ còn cách dày mặt thử xem. Hôm nay anh ta đến gặp bố vợ một mình, theo như cách nói của Hà Mộng Phi vợ anh ta thì anh ta đến nói chuyện trước, nếu bị từ chối, hai vợ chồng cùng về một chuyến nữa, dù sao cũng có thêm một cơ hội, bố vợ cũng không đến mức thấy chết mà không cứu, thế nào cũng có khả năng cho vay một ít tiền. Thường buổi chiều bố vợ mới đến công ty, nên anh ta qua gặp buổi sáng, sẽ có thoải mái thời gian để thuyết phục ông. Thẩm Nghiêm đánh vô lăng, chiếc xe ra khỏi con đường chính, rẽ vào một con đường nhánh, chẳng mấy chốc tiến vào một khu biệt thự, đến trước một căn biệt thự riêng biệt, cánh cổng cảm ứng bluetooth nhận tín hiệu trên xe, tự động mở, một tòa nhà mang phong cách kiến trúc của Pháp xuất hiện trước mắt. Đây là một căn biệt thự có bốn tầng trên mặt đất và hai tầng hầm, tổng diện tích hơn 700 mét vuông, bên trong biệt thự có thang máy chuyên dụng, mấy năm gần đây rộ mốt lắp thang máy gia đình. Chiếc ô tô vòng ra phía sau căn nhà, xuống nhà để xe ở tầng 2 tầng hầm, Thẩm Nghiêm vừa ra khỏi xe, liền dừng bước Không thấy ô tô của bố vợ, không lẽ ông đã đi ra ngoài? Thẩm Nghiêm vẫn nuôi hy vọng, anh ta đi đến phía trước thang máy, lấy thẻ điều khiển cảm ứng, đưa qua thiết bị quẹt thẻ, bước vào thang máy, lên tầng 1, ra khỏi thang máy là phòng khách của căn biệt thự, lúc này, trong phòng khách cũng không có người, toàn bộ căn biệt thự tĩnh mịch như tờ. “Bố ơi... Mẹ ơi?” Thẩm Nghiêm hướng về phía lối lên cầu thang gọi to mấy tiếng, không hề có tiếng trả lời. Anh ta lấy điện thoại di động, gọi cho bố vợ, trong lúc chờ đợi, anh ta ôn lại trong đầu những lời đã chuẩn bị sẵn, nhưng còn chưa kịp lên tiếng thì đã nghe thấy tín hiệu báo điện thoại di động của bố vợ tắt máy, anh ta gọi lại lần nữa, kết quả vẫn thế. Thẩm Nghiêm không cam tâm, lại gọi đến công ty của bố vợ. Trợ lý của bố vợ nghe điện thoại, nói là hôm nay chưa thấy sếp của anh ta đến công ty Thẩm Nghiêm đành gọi cho mẹ vợ, định bảo với bà là anh ta đến nhà, không ngờ điện thoại di động của mẹ vợ cũng tắt máy. Xem ra hôm nay mất công đến mà không được gì, dũng khí và những lời chuẩn bị từ lâu đều vô ích, Thẩm Nghiêm đành ra về. Anh ta xuyên qua phòng khách, đi về phía thang máy, đi được vài bước bỗng dừng lại, trong lòng chợt dâng lên một cảm giác kì quặc. Anh ta dừng lại mấy giây rồi quay người như thể hiểu ra điều gì đó, quan sát phòng khách một lần nữa, rất nhanh chóng, anh ta đã hiểu ra vấn đề nằm ở đâu. Trên mặt bàn uống nước còn để một chiếc kính, đây là kính của bố vợ, bố vợ bị loạn thị, đeo kính quanh năm. Thẩm Nghiêm cau mày, liên tưởng đến căn hầm để xe trống không, nhà không thuê lái xe, bố vợ tự lái, một người luôn phải đeo kính khi lái xe ra ngoài, làm sao có thể quên kính được? Bố vợ không có ở công ty, hai chiếc điện thoại di động đều tắt máy, kính bỏ ở nhà, nhưng xe ô tô đã lái ra ngoài. Thẩm Nghiêm ngẩng đầu lên, đưa mắt nhìn thẳng về phía cầu thang, căn nhà mênh mông trống trải khiến anh ta có những dự cảm không lành, anh ta bước từng bước đi lên cầu thang. Khi đến căn phòng ngủ của bố mẹ vợ ở tầng 3, chỉ nhìn một giây, anh ta lập tức nhận ra là đã có chuyện. Một chiếc gối rơi trên sàn, ga trải giường xô lệch, cửa sổ mở toang, rèm cửa sổ đung đưa theo gió. Tiếp đó, anh ta đưa mắt nhìn sang chiếc bàn trang điểm, chiếc gạt tàn thuốc lá ở đó chặn trên một mảnh giấy bằng lòng bàn tay. Trong phòng chỉ huy đội Điều tra hình sự Công an thành phố, đại đội trưởng Lâm Kỳ liếc qua tấm ảnh trên bàn, trong ảnh là một mảnh giấy, có dòng chữ: “NO.5, người đang ở trong tay tôi, nếu báo cảnh sát sẽ giết ngay con tin.” Lâm Kỳ ngẩng đầu lên, hỏi cậu cảnh sát trẻ tuổi đứng phía đối diện: “Tình hình bây giờ là thế nào?” “12 giờ đêm hôm qua, qua camera giám sát ở cổng khu chung cư thấy một chiếc xe Mercedes của chủ một căn hộ đi ra, lúc lái xe, tên tội phạm bắt cóc đeo khẩu trang và đội mũ, không thể nhận diện được. Chúng em đã lấy dữ liệu GPS của chiếc xe từ hãng xe, phát hiện thấy chiếc xe đỗ ở một bãi đất trống cách đó 10 ki-lô-mét về phía bắc, đã tìm thấy chiếc xe, trong xe không có người, nhưng..." Cậu cảnh sát trẻ ngập ngừng. “Nói luôn xem nào!" Lâm Kỳ bực mình gầm lên. Cậu cảnh sát nuốt nước bọt, vì chính bản thân cậu cũng không tin nổi những lời tiếp theo: “GPS hiển thị, sau khi rời khỏi khu đô thị, chiếc ô tô phóng một mạch đến đích với tốc độ gần 300 ki-lô-mét một giờ.”. "300 ki-lô-mét một giờ? Tàu cao tốc à!” Lâm Kỳ cười nhạt một tiếng, giọng chắc nịch, “Ô tô có xịn đến mấy, đường trong thành phố, tốc độ cũng không thể lên đến 300 ki-lô-mét một giờ!”. Cậu cảnh sát lúng túng nói: “Hơn nữa, chiếc ô tô di chuyển theo đường thẳng.” “Thế thì sao?” Lâm Kỳ chưa kịp phản ứng. “Đường phố ngang dọc giao nhau, đi theo đường thẳng, có nghĩa là chiếc xe đã xuyên qua toàn bộ các công trình kiến trúc, phóng thẳng đến đích.”. “Chuyện này là không thể, dữ liệu GPS có vấn đề.” Lâm Kỳ kết luận chắc nịch, số liệu của máy vi tính bị sai cũng là chuyện thường xảy ra. Cũng giống như điện thoại di động chỉ đường, có lúc rõ ràng đang ở con phố này, nhưng lại bị định vị sang con phố khác. “Nhưng... hãng xe đã kiểm tra, số liệu không sai.” Lâm Kỳ không biết nói gì. Tội phạm bắt cóc lái ô tô với tốc độ của tàu cao tốc, xuyên qua mọi công trình kiến trúc phóng thẳng đến đích? Nếu chuyện này có thật, thì một đại đội trưởng quèn như anh ta không thể phá nổi vụ án này, người ngoài hành tinh bắt cóc người trái đất, tính chất của vụ án hẳn phải phi thẳng lên tổ chức Liên hợp quốc. Mời các bạn đón đọc Người Truy Tìm Dấu Vết của tác giả Tử Kim Trần.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Vụ Ám Sát Ông Roger Ackroyd - Agatha Christie
Ở làng King’s Abbot, vụ tự sát của bà góa Ferrars làm dấy lên đồn đoán rằng bà đã giết chồng, bị tống tiền và có quan hệ mờ ám với ông Roger Ackroyd, một người giàu có trong làng. Tối hôm sau, ông Ackroyd bị giết trong phòng làm việc trước khi phát hiện được ai là kẻ tống tiền người đàn bà góa. Thám tử lừng danh Hercule Poirot ra tay phá án, với sự trợ giúp của bác sĩ James Sheppard. Xuất bản lần đầu năm 1926, Vụ ám sát ông Roger Ackroyd nhanh chóng trở thành hiện tượng xuất bản và sau này được coi là tác phẩm kinh điển của dòng văn học trinh thám phổ thông, mở ra một kỷ nguyên mới cho văn chương thể loại này *** Cách đây không lâu Agatha Christie, nữ nhà văn Anh nổi tiếng, chuyên viết truyện trinh thám, đã qua đời, hưởng thọ trên chín mươi tuổi. Truyện đầu tay của bà xuất hiện năm 1920. Suốt trên sáu mươi năm cầm bút, bà đã viết hàng mấy trăm truyện về tiểu thuyết trinh thám. Nhiều nước trên thế giới đã dịch in tuyển tập của bà, hoặc dựng thành phim. Agatha Christie khác với một số khá đông các nhà văn viết truyện trinh thám phương Tây. Bà không lạm dụng những sự việc rắc rối bí ẩn hoặc bất ngờ để làm chốt dẫn truyện. Bà chú ý đi sâu vào tâm lý con người. Nhân vật các truyện của bà bao giờ cũng được đặt vào những tình huống tâm lý xã hội phức tạp. Câu chuyện phát triển theo sự diễn biến của tâm cảnh các nhân vật và được giải quyết qua cách nhìn nhận thấu đáo cơ sở tâm lý xã hội của những hành động phạm pháp. Ngôn từ các nhân vật trong các truyện của bà rất phong phú thể hiện được tính cách nguồn gốc xã hội của họ, từ giới thượng lưu đến bọn lưu manh đao búa, đồng thời vẫn giữ vẻ độc đáo, gọn gàng, chính xác của tiếng Anh hiện đại. Do đó, như nhà nữ phê bình người Mỹ Ruth Penison đã viết: "Những truyện của Agatha Christie đã phác họa cho các thế hệ mai sau một bức tranh sinh động và chính xác về xã hội nước Anh hiện tại mà bà am hiểu rất tường tận." *** Bà Ferrars chết vào đêm hôm thứ năm, giữa hai ngày 16 và 17 tháng 9. Người ta gọi tôi đến vào lúc 8 giờ sáng ngày thứ sáu, song tôi không thể làm gì hơn được nữa. Bà ta đã chết được mấy tiếng đồng hồ rồi. Vào khoảng 9 giờ hơn, tôi về đến nhà. Cửa đóng kín. Tôi lặng lẽ mở bằng chiếc chìa khóa riêng, treo áo và mũ ở phòng ngoài. Tôi đứng yên một lúc; một cảm giác nặng nề và lo lắng đè nặng lên tôi. Không biết cái gì sẽ xảy ra sau đây, chắc chắn là tôi không thể đoán được. Nhưng trong đầu tôi cứ quay cuồng một ý nghĩ rằng trong thời gian tới đây, sẽ có nhiều điều bất ngờ nữa xảy ra như cái chết của bà Ferrars. Như người ta thường nói: Những gì con người không hy vọng thì luôn luôn xảy đến. Trong bếp có tiếng cốc va chạm nhau lách cách và một giọng nói khô khan vọng ra, đó là giọng của chị gái tôi: Caroline. - Cậu đã về đấy à, James? Một câu hỏi vô nghĩa, nếu không phải là tôi thì còn là ai khác nữa cơ chứ? Tôi vẫn im lặng không muốn trả lời, chính bà chị tôi là nguyên nhân của sự im lặng này. Caroline là một người đàn bà rất thóc mách và thậm chí còn hơn thế nữa, nếu người ta đề cập đến một vấn đề hay câu chuyện nào đó ở ngoài cái nhà này, Caroline có thể tìm mọi cách để biết cho bằng được những câu chuyện không đâu ra đâu của thiên hạ, mặc dù bà ta vẫn chỉ ngồi ở nhà. Tôi không biết bà chị tôi làm việc đó như thế nào, chỉ biết là bà ấy làm được thôi. Đó cũng chính là nguyên nhân tại sao tôi phải câm miệng. Tất cả những điều tôi sắp phải kể cho Caroline nghe bây giờ, xung quanh cái chết của bà Ferrars, có thể là những điều mà toàn thị trấn này đã được biết cách đây một giờ đồng hồ rồi. Song, bà chị tôi lại luôn luôn muốn biết những cái gì mà những người khác không biết cơ, đó đâu phải là lỗi của tôi. Chồng bà Ferrars bị chết cách đây đã được hơn một năm. Mỗi khi nói về cái chết của ông Ferrars, Caroline vẫn hay khẳng định rằng: Ông Ferrars chết là do bị bà vợ đầu độc. Caroline khẳng định như vậy không dựa trên một chứng cứ hoặc lý lẽ nào và thường xuyên cãi lại khi tôi nói rằng ông Ferrars chết vì bệnh dạ dày quá nặng, thêm vào đó, ông ta còn có thói quen uống rượu mạnh nhiều một cách kinh khủng. Đây là một bằng chứng đúng đắn vì hậu quả của nó đối với bệnh này của ông Ferrars cũng giống như kết quả của một vụ đầu độc. Nhưng Caroline không bao giờ dựa trên cơ sở này để đánh giá lại về bà Ferrars cả, mà vẫn buộc tội bà ấy là một kẻ giết người. - Cậu chỉ cần quan sát kỹ là hiểu ngay bà ta là một người như thế nào - Caroline vẫn thường nói với tôi như vậy. Tôi vẫn do dự đứng ngoài phòng khách không muốn vào và đang suy nghĩ về tất cả những điều đó thì giọng nói gắt gỏng của bà chị tôi lại vọng ra: - Cậu đang làm gì ngoài ấy thế hả, James? Sao không vào đây mà ăn sáng đi? ... Mời các bạn đón đọc Vụ Ám Sát Ông Roger Ackroyd của tác giả Agatha Christie.
Con Mồi Táo Bạo - Erle Stanley Gardner
Mason bảo vệ một người dính vào cuộc chiến cổ phiếu, bị cáo buộc giết hại thư ký của đối thủ. *** Theo GUINNESS, quyển sách ghi các kỷ lực thế giới, Erle Stanley Gardner được ghi nhận là tác giả sách bán chạy nhất của mọi thời đại. - Erle Stanley Gardner có trên 150 tác phẩm trinh thám tin cậy, đáng giá và hợp thời đại. - Erle Stanley Gardner, người đã tạo nên nhân vặt truyền kỳ luật sư Perry Mason, cô thư ký tinh ý Della Street, và viên thám tử tài ba Paul Drake. - Erle Stanley Gardner, tác giả duy nhất có sách bán chạy hơn cả bốn tác giả nổi tiếng khác cộng lại gồm: Agathe Chistie, Harold Robbins, Barbara Cartland và Louis L’amour   *** Một số tác phẩm đã được xuất bản tại Việt Nam:   1. Móng vuốt bọc nhung (Đôi tất nhung) [Perry Mason #1 - The Case of the Velvet Claws] (1933) 2. Cháu gái người mộng du [Perry Mason #8 - The Case of the Sleepwalker's Niece] (1936) 3. Vị giám mục nói lắp [Perry Mason #9 - The Case of the Stuttering Bishop] (1936) 4. Kẻ hùn vốn [Perry Mason #17 - The Case of the Silent Partner] (1940) 5. Con vịt chết chìm (Mười tám năm sau) [Perry Mason #20 - The Case of the Drowning Duck (Le Canard Qui Se Noie)] (1942) 6. Cô gái có vết bầm trên mặt [Perry Mason #25 - The Case of the Black-Eyed Blonde (La Blonde au Coquard)] (1944) 7. Lá thư buộc tội [Perry Mason # 44 - The Case of the Runaway Corpse] (1954) 8. Viên đạn thứ hai [Perry Mason #45 - The Case of the Restless Redhead] (1954) 9. Con mồi táo bạo [Perry Mason #54 - The Case of the Daring Decoy] (1957) 10. Kẻ mạo danh [Perry Mason #64 - The Case of the Spurious Spinster] (1961) 11. Người đàn bà đáng ngờ [Perry Mason #69 - The Case of the Mischievous Doll] (1963) 12. Vụ Án Hoa Hậu Áo Tắm [The Case of the Queenly Contestant] 13. Kẻ Giết Người Đội Lốt [Perry Mason #40 - The Case of the Grinning Gorilla] (1952)   *** Jerry Conway lật tờ báo đến trang sáu. Cùng một đề tài như vậy cả tuần nay rồi. Đó là bài báo quảng cáo chiếm hết nửa trang với tựa đề: “HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG ỦY NHIỆM”. Bài báo được viết một cách khôn khéo với lời lẽ chứng tỏ bề ngoài đầy sự thực: Quý vị cổ đông của hãng “Tìm kiếm và khai thác dầu mỏ California - Texas” đã đầu tư cho hãng bởi vì quý vị muốn có lợi túc. Quý vị muốn có lợi tức để sử dụng cho chính quý vị, cho con cháu cũng như cho những người thừa kế. Nhưng quý vị đã nhận được gì? Ngoài sự hoàn toàn trông cậy vào may rủi, ông Giám đốc Jerry Conway đã làm được gì cho quý vị? Ông ta nói nào là phát triển, nào là xây dựng và nào là ông ta đang đặt một nền tảng vững chắc cho Công ty. Nhưng đó không phải là con đường của những chuyên viên thượng thặng bậc nhất lựa chọn. Các chuyên viên này đã nhận định rằng Jerry Conway chỉ đang đặt nền tảng trên bãi cát. Quý vị muốn có lợi tức, quý vị muốn có hành động. Quý vị muốn có lợi tức ngay bây giờ, năm tới hoặc trong năm tới nữa chứ không phải là mười hay hai mươi năm sau. Vậy xin quý vị hãy gửi phiếu ủy nhiệm cho Gifford Farrell. Gifford Farrell sẽ đảm nhận trọng trách giao phó và công việc sẽ phát triển tốt đẹp. Farrell chỉ bảo đảm bằng kết quả chứ không phải bằng lời hứa. Farrell chỉ bảo đảm bằng hành động chứ không phải tà tà, bằng quyết định chứ không phải bằng mơ hồ và bằng thành tích chứ không phải bằng hy vọng. Conway gấp tờ báo lại. Ông thấy rằng bài báo quảng cáo đó sẽ có kết quả và ông thấy mình bị tổn thương. Theo Hội đồng Cổ đông ủy nhiệm thì thật ra hoàn toàn do may mắn nên Công ty tìm kiếm và khai thác dầu mỏ California - Texas đã được nằm trong tổ hợp Turkey Ridge. Và do đó Jerry Conway đã tạo được một lợi tức lớn cho công ty và nâng giá trị của chứng khoán. Đúng ra thì Jerry Conway đã có dự trù đầu tư Công ty vào một tổ hợp khác cũng có tiềm lực mạnh tương đương với tổ hộp Turkey Ridge, nhưng lại không thành công. Gifford Farrell đã từng bị mất ảnh hưởng trong Công ty ngay từ đầu và đã bị Ban giám đốc cách chức, và bây giờ ông ta khởi sự lại cuộc chiến dành quyền ủy nhiệm. Ông ta quyết dành giật lấy quyền điều khiển Công ty từ tay Conway. Ai đã hậu thuẫn cho Farrell? Nguồn tài chính nào đã yểm trợ cho các quảng cáo trên báo chí? Conway rất muốn biết và cần phải biết để tìm cách đối phó. Kế hoạch đầu tư tổng quát chính yếu của Conway phải được thi hành một cách âm thầm. Giờ phút nào Conway để lộ ra kế hoạch, giờ phút đó coi như thất bại. Giá của các tài sản mà Conway hy vọng thu mua được sẽ tự động tăng vọt lên liền. Conway không thể giải thích trên báo chí được. Conway có ý định sẽ báo cáo trước đại hội đồng cổ đông và hy vọng rằng hầu hết các cổ đông lớn sẽ tham dự và sẵn sàng hậu thuẫn cho mình. Nhưng còn các cổ đông nhỏ hơn? Những cổ đông mà họ đầu tư đây một chút, kia một chút, những cổ đông mà họ chỉ muốn thấy hành động và lợi nhuận trước mắt? Liệu những người này sẽ đứng trong hàng ngũ Conway hay họ sẽ bỏ phiếu ủy nhiệm cho Farrell? Theo nghiên cứu các tài liệu cho biết, có khá nhiều các cổ đông nhỏ đã từng nắm được quyền điều khiển Công ty, với điều kiện là họ đoàn kết thành một khối. Nếu Farrell nắm được cái phiếu ủy nhiệm của họ có nghĩa là họ đã đoàn kết thành một khối. Tuy nhiên, nếu Gifford Farrell không thu thập được tối thiểu 60 phần trăm các cổ đông nhỏ này, và “nếu” Conway có khả năng nắm được các cổ đông lớn trong đại hội cổ đông thì mọi chuyện sẽ ổn thỏa. Tuy nhiên đó chỉ là hai chữ “Nếu” to tướng và hiện tại Jerry Conway chưa tìm được giải pháp. ... Mời các bạn đón đọc Perry Mason #54: Con Mồi Táo Bạo của tác giả Erle Stanley Gardner.
Tiền 3: Sòng Bạc - Paul Loup Sulitzer
Cimballi, chàng triệu phú 26 tuổi, góa vợ, một con trai, tốt bụng và ham chơi, một hôm bỗng điên rồ nảy ra ý định "tậu" một sòng bạc ở Mỹ để cuộc đời được có thêm phần vui vẻ, bởi vì cái sòng bạc này "...có thể tiếp đón cùng lúc Ba mươi ngàn khách chơi, tổng vốn đầu tư là Năm trăm triệu đô la và ...lãi đồng niên trông rõ được là Một trăm triệu đô la". Vậy thì vui quá rồi. Song, cả tiền lẫn niềm tin đều chưa tìm thấy thì đã thấy chàng Cimballi; nào lồng lên như ngựa vía khắp các châu lục trên trái đất, từ Mỹ sang Âu, Á, Phi rồi lại ngược từ Phi, Á, Âu về Mỹ; nào suýt phá sản; nào hơn thế, suýt bỏ mạng cùng hai đứa con - một đẻ một nuôi, trong đường hầm bên dưới sòng bạc của chính chàng. Bạn đọc sẽ ngạc nhiên và có thể, kinh hoàng, khi đi tới tận cùng của "Sòng Bạc". Sòng Bạc là tập thứ 3 của series tiểu thuyết Tiền của tác giả Paul Loup Sulitzer. Bộ Tiền gồm có: - Tiền! Niềm Vui Sướng - Tiền! Tiền Mặt Trả Ngay - Sóng Bạc *** Tác giả Paul L. Sulitzer trước khi trở thành nhà văn đã là một chuyên gia kinh tế, tham vấn cho nhiều công ty lớn. Nhờ thế ông đã có thể đi sâu vào gan ruột “giới làm ăn”, nắm được tối đa những lắt léo, những bí mật mà chỉ người trong cuộc mới biết. Có lẽ đó là lý do chủ yếu khiến "Tiền!..." có sức hấp dẫn lạ lùng của một cuốn truyện trinh thám. Nhưng khác với loại truyện ấy, vẫn là một cuốn tiểu thuyết tâm lý xã hội, một bức tranh thu nhỏ của thời hiện đại, với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, của tốc độ chuyển dịch, sức mạnh ma quái của đồng tiền, với lý tưởng, tình yêu, hạnh phúc, và khổ đau của con người... *** Vào quãng giữa tháng 7 năm 1976, ngày 18, cách đây hơn ba tháng tôi đã lao vào việc mua và xây dựng một khách sạn - sòng bạc khổng lồ trên đất Mỹ. Một sòng bạc đáng gọi là một sòng bạc: Sau khi xây dựng xong, nó sẽ có thể tiếp đón được trong cùng một lúc từ 29 đến 30 ngàn khách chơi. Không phải là nhỏ rồi! Dù sao nó cũng đủ để cạnh tranh với những sòng bạc Caesars hay Saudz của Las Vegas. Quy mô thì y chang như nhau hay cũng gần như thế. Nhưng về tầm quan trọng của công chuyện kinh doanh mà tôi đã dấn thân vào thì chỉ cần ba con số là đủ để biểu hiện nó: Tổng số vốn đầu tư là năm trăm triệu dolars, nếu không có gì bất thường thì số vốn này sẽ được khấu hao xong trong ba năm rưỡi, lãi đồng niên trông thấy được sẽ là một trăm triệu dolars nghĩa là 500 triệu francs mỗi tháng[1]. Trừ tiền thuế và các lệ phí. Ngày 18 tháng 7 năm 1976, một chiếc taxi đưa tôi đến một cao ốc ở Phố 65 Đông, tại Manhattan, New York, lúc đó là tám giờ tối, hơn kém khoảng một hay hai phút gì đó. - Tôi tên là Franz Cimballi. Ông Olliphan chờ tôi. Người bảo vệ có mang súng, tra một bảng danh sách để trên bàn làm việc nhìn chòng chọc vào mặt tôi, rồi gật đầu. Tôi đi về phía thang máy, anh ta gọi giật tôi lại, nói: - Tầng lầu của ông Olliphan có thang máy riêng. Anh ta đến gần tôi, đưa tôi đến trước mặt cái cửa bằng gỗ sồi đánh si, kỳ lạ là không có một quả đấm cửa hay bất cứ một thiết bị mở nào. - Xin mời ông nhìn vào chiếc camera này. Tôi phải ngẩng đầu và con mắt độc nhỡn của chiếc ống kính nhìn xuống tôi. Tôi gửi cho nó một nụ cười quyến rũ mà tôi có bí quyết. Mười giây, cái cửa không có khóa lặng lẽ quay, mở vào một thứ phòng khách của phụ nữ, căng bằng lụa mộc, có kê ở hai bên một chiếc tủ đứng kiểu Louis XVI, hai chiếc ghế fauteuil kiểu Adam, lưng ghế có phù hiệu. Tôi bước vào, cánh cửa đóng lại sau lưng tôi. Tôi không hề cảm thấy chiếc cabin khởi động, và cũng chẳng cảm thấy chấn động nhẹ nào báo hiệu đã lên đến nơi. Một cánh cửa mở ra, gác lầu thứ 64 trên cao, một người quản gia người Porto Rico thản nhiên đỡ chiếc áo choàng của tôi. - Xin mời ông đi lối này, thưa ông Cimballi. Nếu cứ xét theo cái thang, bằng gỗ mun rất hẹp đưa tôi lên một căn phòng có lẽ là căn gác cuối cùng của cao ốc này, thì tầng lầu này phải là song lập. Người mời tôi dùng bữa tối đang chờ tôi ở đầu một dãy hành lang hoàn toàn ốp gỗ, dẫn vào một phòng đọc sách cũng hoàn toàn ốp gỗ như vậy. Khi tôi bước vào, ông cất chiếc vĩ cầm vào hộp, và tôi có thể đoán chắc rằng chỉ riêng một cây đàn này thôi, ít nhất cũng bằng giá của cả tầng lầu song lập này và những gì nó chứa bên trong. Đó là một người đàn ông trạc năm mươi tuổi, cao lớn, mảnh mai, rất đẹp, rất lịch sự! Hai thái dương tóc điểm bạc, da mặt rám nắng, đôi mắt xanh cháy bỏng thông minh. Tên ông ta là James Montague Olliphan. Chính ông là người đứng làm trung gian để bán cho tôi khách sạn “Con Voi Trắng”. - Ông dùng một chút rượu thưa ông Cimballi? ... Mời các bạn đón đọc Tiền 3: Sòng Bạc của tác giả Paul Loup Sulitzer.
Tiền! Niềm Vui Sướng - Paul Loup Sulitzer
"Tiền!..." vào lúc này, chúng tôi hy vọng có thể giúp bạn đọc tiếp cận với "thế giới kinh doanh", với "nghệ thuật làm giàu", và còn hơn thế nữa, có một cái nhìn đầy đủ, xác thực về thời đại mình đang sống. Cậu chàng Frank Cimballi, 19 tuổi, con nhà tỉ phú chỉ biết ăn chơi, bỗng rơi tõm vào một cảnh ngộ bi đát: Bố, mẹ chết, người yêu tự sát, gia tài khổng lồ được thừa kế bị cưỡng đoạt sạch sành sanh. Bị đẩy đến xứ Kenya Châu Phi xa lạ với hai bàn tay trắng - theo đúng nghĩa đen, cậu chàng bắt buộc phải sống, phải làm lại cuộc đời mình. Thế mà chỉ năm năm sau, Cimballi đã trở thành triệu phú, lần luợt đánh bại tất cả những kẻ độc ác đã “gây nên cuộc lừa đảo có tầm cỡ thế kỷ”, kể cả tên trùm tư bản tài chính Martin Yahl. Đánh bại, không phải bằng vũ lực mà bằng chính sức mạnh của đồng tiền, bằng các mánh lới, các thủ đoạn kinh doanh. Và rồi chính Cimballi, đang ngất ngưởng trên đỉnh cao chót vót thắng lợi huy hoàng, lại một lần nữa bị lôi tuột xuống vực cũng bằng những cái “bẫy” nghề nghiệp... Sòng Bạc là tập thứ 3 của series tiểu thuyết Tiền của tác giả Paul Loup Sulitzer. Bộ Tiền gồm có: - Tiền! Niềm Vui Sướng - Tiền! Tiền Mặt Trả Ngay - Sóng Bạc *** Tác giả Paul L. Sulitzer trước khi trở thành nhà văn đã là một chuyên gia kinh tế, tham vấn cho nhiều công ty lớn. Nhờ thế ông đã có thể đi sâu vào gan ruột “giới làm ăn”, nắm được tối đa những lắt léo, những bí mật mà chỉ người trong cuộc mới biết. Có lẽ đó là lý do chủ yếu khiến "Tiền!..." có sức hấp dẫn lạ lùng của một cuốn truyện trinh thám. Nhưng khác với loại truyện ấy, vẫn là một cuốn tiểu thuyết tâm lý xã hội, một bức tranh thu nhỏ của thời hiện đại, với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, của tốc độ chuyển dịch, sức mạnh ma quái của đồng tiền, với lý tưởng, tình yêu, hạnh phúc, và khổ đau của con người... *** Tôi nghĩ rằng, ta có thể bắt đầu câu chuyện từ sáng 23 tháng mười một, vào lúc mười một giờ ba mươi phút, trong ngôi nhà ở đường Old Queen bên rìa công viên St. James thành phố London. Sao lại không? Chính vào lúc đó cuộc chơi bắt đầu. Có lẽ không thật đúng vào lúc mười một giờ ba mươi, mà là mười một giờ ba mươi rồi kéo dài trong năm sáu tiếng đồng hồ sau đó. Viên cảnh sát từ công viên Scotland tới ngồi trước mặt tôi. Đến bây giờ trong mắt tôi vẫn còn lưu lại đường nét chiếc veston bằng vải tuýt anh ta mặc hôm đó. Anh ta trạc độ bốn mươi, có khuôn mặt người xứ Scotland hung hung, mái tóc dày và xoắn có đường ngôi bên trái kéo dài sang phải bởi một làn sóng có hai chỗ duỗi, tên là Ogilvie hoặc Watts. Anh ta theo dõi những người dọn nhà thuê đang khuân vác đồ đạc. - Anh rời bỏ căn nhà này? - Chính nó rời bỏ tôi. Người ta đang lấy lại những thứ tôi chưa trả hết tiền. Tôi chưa trả hết tiền một thứ nào. Điện thoại, tôi nhấc máy, lại ngân hàng gọi tới: Tấm séc thứ hai đã tới nơi, họ không chịu đựng nổi tình thế này, tôi định làm gì, mấy giờ tôi mới đến gặp họ, không biết rằng càng sớm càng tốt hay sao? Tôi có biết chứng thư kháng nghị là cái gì không? “Tôi sẽ cố đến thật sớm! Bao giờ? - Một giờ nữa!” Tôi gác máy, thấy cặp mắt màu hạt dẻ đăm chiêu của viên cảnh sát vẫn dán vào tôi. Chắc chắn gã đã nghe hết, đã biết rõ ai gọi tôi, gọi để làm gì, nhưng cứ giả ngây giả điếc như chẳng hay biết gì. Gã bảo: - Hay, tôi vừa nảy ra một ý: Có lẽ tốt nhất là anh nên làm lại từng bước một những cái gì anh đã làm đêm hôm đó. Không bắt buộc đâu. Nhưng tranh thủ được thời gian. Và tôi có thể để anh dược tự do sớm hơn. Tôi đứng lên, chân nặng trịch. - Nào, đi! Các người dọn nhà thuê đã và đang làm việc rất tốt: Họ bắt đầu từ lầu hai, đã dọn sạch mọi thứ trên đó, lầu một cũng trống trơn, chẳng sót thứ gì. Bây giờ họ đang tấn công vào tầng trệt, mang đi hết, nhẵn nhụi, có mảnh giấy vẽ ngôi nhà ở St. Tropez bằng bút mực. - Anh bao nhiêu tuổi? - Hăm mốt. Hai mươi mốt năm, hai tháng và mười bốn ngày. - Anh thuê căn nhà này từ bao giờ? - Cách đây hai tháng mười bốn ngày. - Buổi tối hôm kia là lần đầu tiên? Tôi nhìn theo bức tranh trong tay một người dọn nhà thuê. - Không phải lần đầu. Giữa lầu một và tầng trệt có vài bậc tam cấp. Chúng tôi trèo lên. Tôi ngoái nhìn lại lần cuối cùng mong trông thấy bức vẽ, nhưng người mang nó đi đã ra tới ngoài phố, tới xe tải. - Không phải lần đầu, nhưng chắc chắn là lần cuối cùng. - Đêm ấy anh ăn mừng cái gì là chính? - Sự phá sản của tôi. - Chúng tôi lên thang gác lầu một. - Tôi nói - Tôi ở dưới kia, trong phòng khách bên phải. Trông rõ cô ta trèo lên cầu thang này. Cô dừng lại đứng chỗ này, quay đầu nhìn xuống. Nhìn tôi, giơ tay làm dấu rồi tiếp tục lên gác. - Có tỏ vẻ gì đặc biệt? ... Mời các bạn đón đọc tập 1 bộ Tiền: Tiền! Niềm Vui Sướng của tác giả Paul Loup Sulitzer.