Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tuần Đêm

Ít ai biết được rằng ở Matxcơva, trong vẻ huy hoàng lộng lẫy của thành phố này, kể cả vào ban đêm, lại có biết bao chuyện kỳ lạ xảy ra, phía trên mặt đất và sau một tầng thế giới khác nữa thường được bóng u minh bao phủ. Tuần Đêm - tiểu thuyết giả tưởng, pha một chút kinh dị lại mang rất nhiều yếu tố của trinh thám hình sự, đưa người đọc lạc vào thế giới của những-người-khác mà Lukianenko đã vẽ nên bằng trí tưởng tượng tuyệt vời của mình qua một loạt những cuộc phiêu lưu trong không gian lạ, để bạn nhìn thấy chính mình trong cái gọi là cuộc chiến giữa Thiện và - Ác, cảm nhận nỗi hoang mang khi đứng giữa lằn ranh mong manh của Ánh sáng và Bóng tối. Cuốn sách có triết lý lạnh lùng, lại được viết bằng ngòi bút sắc sảo của một nhà văn từng là bác sĩ tâm thần: cái Thiện, cái Ác trong thế giới này thậm chí đã nương vào nhau mà song song tồn tại, cái Thiện có thể thắng nhưng không thể triệt tiêu cái Ác, những con người của cái Thiện đôi khi cũng cần đến những thủ đoạn không được trong sạch lắm để giành phần thắng – để làm việc thiện, đôi lúc cũng phạm tội ác! *** Đầu năm 2010, tạp chí Expert đã công bố danh sách 10 nhà văn Nga đương đại nổi tiếng nhất theo bình chọn của tạp chí và độc giả. Sergey Lukianenko đứng thứ năm, được Expert đánh giá là “nhà văn vừa giữ được những giá trị truyền thống của văn học Nga, lại là một trong những tác giả thời thượng hiếm hoi của Nga theo đuổi thành công thể loại giả tưởng”. Sergey Lukianenko (bìa phải) trong một buổi chuẩn bị ra mắt phim Tuần đêm tại Saint Petersburg - Ảnh: barros.rusf.ru Ông được công nhận là nhà văn có tác phẩm được điện ảnh hóa nhiều và nhanh nhất từ trước đến nay. Ba cuốn sách của ông đã được chuyển thể thành phim (Tuần đêm, Tuần ngày và Hôm nay, mẹ ạ). Trong tương lai gần người ta đang chuẩn bị khai thác thêm một vài kịch bản phim nữa và đưa ra những phiên bản game online Tuần đêm ngày càng phức tạp, hoàn thiện. Vì sao có khi tội ác không bị trừng trị? Với nhân vật chính là Anton Gordetsky, một công dân bình thường của thủ đô nước Nga, câu chuyện Tuần đêm xoay quanh cuộc sống của anh ta giữa những nhân vật kỳ bí: ma cà rồng, người sói, những phù thủy tà giáo, minh giáo nhiều phép thuật, những con người biết biến hình vào những tầng lớp hiện thực được gọi là những tầng U Minh, công lực càng cao càng xuống được sâu hơn, nơi thế giới không còn màu sắc nhưng lại có những phép biến ảo kỳ lạ làm thay đổi hành vi đời sống... Thế nhưng, sức hấp dẫn của Tuần đêm quyết không phải ở những pha gay cấn, kinh dị hay huyền ảo ma quái (chất này so với phim Mỹ thì chưa “đủ đô”!), mà ở chỗ Tuần đêm đưa ra một cách lý giải thế giới độc đáo, bất ngờ không kém phần thuyết phục. Chẳng hạn, những bất hạnh, buồn khổ của con người do chính con người tạo ra cho nhau, bằng những lời nguyền rủa hoặc được thốt lên một cách độc địa, hoặc âm thầm tàn hại người ta. Hiện thân của những lời tàn ác ấy là những chiếc phễu đen xoay chầm chậm trên đầu... Từ đó mà xảy ra chiến tranh, thiên tai và những điều tồi tệ khác... Rồi những quầng sáng trên đầu mỗi người mà chỉ những người khác mới nhìn thấy được, chính là một dạng “chứng minh thư” trong đời, vừa làm nên khác biệt của con người trong đám đông, lại cho một hình dung rõ nét về bản chất và số phận của người. Đọc Tuần đêm, bạn đọc sẽ có cho mình lời đáp của một loạt câu hỏi: Vì sao đôi khi tội ác không bị trừng trị? Vì sao trong nhiều trường hợp, người ta không thể tùy tiện làm điều thiện mà tất cả đều phải tuân theo những nguyên tắc khắc nghiệt của một bản đại giao ước giữa ánh sáng và bóng tối? Hai thế lực tưởng chừng đối lập nhau hoàn toàn về lợi ích lại có thể đi đến những thỏa hiệp gì để giữ gìn sự cân bằng của thế giới? Cái ác được cấp “giấy phép” dưới hình thức nào và ai cầm cân nảy mực để những môn đồ thiện - ác hành động theo giao ước đã được đặt ra? Ngọn nguồn của lòng hận thù, sự lãnh đạm và cả tình yêu... - những vấn đề gần gũi của cuộc sống lẫn những biến động to lớn của lịch sử được tác giả Sergey Lukianenko bình thản cắt nghĩa bằng giọng văn khá trầm tĩnh, không chạy theo tốc độ, nhưng với cách cắt đặt lớp lang khéo léo không lộ ý, nhà văn từng là bác sĩ tâm thần này đã luôn khiến người đọc chấn động khi những câu chuyện nhỏ của Tuần đêm khép lại trang cuối cùng. Điều thú vị ở truyện kỳ ảo của Sergey Lukianenko chính là tính logic chặt chẽ trong thế giới tưởng chừng không có thật, nhưng lại được lý giải một cách khoa học, dễ chấp nhận về cả lý và tình. Tác giả khiến ta hiểu rằng tiểu thuyết kỳ ảo không phải là thể loại khoa học viễn tưởng với những tưởng tượng táo bạo về tương lai có thể một lúc nào đó sẽ trở thành sự thật. Ở đây, thế giới được giải mã thông qua diễn biến tâm lý nhân vật. Những triết lý về cuộc sống của những người khác góp phần làm sáng tỏ cách sắp đặt thế giới ngày càng đảo điên của những người thường. Sergey Lukianenko, sinh năm 1968, là một trong những cây bút ăn khách và có sức viết hàng đầu của nền văn học đương đại Nga thế kỷ 20-21, tác giả của một loạt tiểu thuyết, truyện vừa và kịch bản điện ảnh thể loại giả tưởng. Bắt đầu từ truyện ngắn đầu tay Hành vi xấu (1988), cho đến nay trung bình mỗi năm Lukianenko cho ra đời hai cuốn tiểu thuyết và đều được đón nhận nồng nhiệt. Ngoài cuốn Tuần đêm, Lukianenko đã từng đến với bạn đọc Việt Nam qua Mê cung ảnh (NXB Lao Động, Phương Hoài dịch) cách đây năm năm. Là bác sĩ tâm thần, những tiểu thuyết kỳ ảo của ông đặc biệt có tác động mạnh đến cảm nhận tâm lý của người đọc. Ông là “hot blogger” với trang blog nổi tiếng “doctor-livsy”, nhưng trang blog này đã phải đóng cửa sau một entry “nhạy cảm” về nước Mỹ và những vấn đề xung quanh chuyện người nước ngoài nhận con nuôi người Nga. *** Thang cuốn bò một cách chậm chạp, thẳng căng. Ga cũ rồi mà, biết làm sao. Ngược lại, gió thả sức thổi cuộn lên trong đường ống bê tông, vò rối tóc người, kéo xếch mũ áo khoác, luồn dưới khăn quàng và đẩy người xuống phía dưới. Gió không muốn Egor đi lên. Gió đòi người quay bước. Lạ thật - tuồng như chung quanh không một ai nhận ra sự hiện diện của gió cả. Bấy giờ ở đây cũng chẳng có mấy người - nhà ga về nửa đêm đã vắng. Dăm người đi ngược chiều, còn cùng phần thang với Egor hầu như chẳng có ai: một người đứng trước, hai hay ba người phía sau. Hết. Nếu không tính đến một nhân vật nữa - là gió! Egor đút tay vào túi, ngả người về phía sau. Khoảng hai phút từ lúc mới bước ra khỏi tàu, cái cảm giác có ánh mắt người lạ không rời cậu. Không hiểu sao hoàn toàn không phải cảm giác hãi sợ, mà nó phê phê, cảm giác, nhoi nhói lên như mũi tiêm. Ở đầu thang cuốn, nơi bắt đầu thang lên, có một người đàn ông mặc đồng phục. Không phải công an, mà là quân nhân. Tiếp đó là một phụ nữ đi cùng bé con ngái ngủ, bám vào tay mẹ. Nữa là một thanh niên trẻ, mặc áo khoác màu cam sặc sỡ, đeo tai nghe. Có vẻ như anh ta cũng ngủ trên đường. Không có gì đáng ngờ cả. Kể cả đối với một cậu bé đương về nhà vào giờ quá muộn. Một lần nữa, Egor lại nhìn lên trên - thấy một chú công an dựa người vào thanh vịn sáng loáng, rầu rĩ soi giữa đám hành khách xem có con mồi dễ vồ nào không. Chẳng có gì đáng sợ. Gió xô Egor lần cuối và lặng đi - dường như đã cam chịu, đã hiểu rằng gắng đấu sức cũng hoài công. Cậu bé lại nhìn về sau rồi bắt đầu chạy theo những bậc thang đang cuốn nhàu đi dưới chân. Lẽ ra phải rảo bước lên mới đúng. Không hiểu tại sao lại phải thế. Một lần nữa cậu lại bị chích nhói vào người, một cách vô lý và bất an, luồng khí lạnh lướt ngang qua cổ. Vẫn là gió. Egor co giò phóng qua cánh cửa mở hé, và cái lạnh sắc ngọt ào vào cậu với một sức mạnh mới. Mái tóc hãy còn ẩm sau khi đi bơi - cái máy sấy lại hỏng - lập tức đông đá. Egor kéo sụp cái mũ áo khoác xuống thấp hơn, chạy một mạch ngang qua mấy sạp hàng, hụp ngay xuống đường ngầm. Trên mặt đất, người đông hơn nhiều, nhưng nỗi lo ngại không hết được. Thậm chí cậu còn ngoái lại, chân vẫn không chậm bước - nhưng không ai theo dõi cậu cả. Người phụ nữ đi với con đang hướng về phía bến tàu điện, thanh niên đeo tai nghe dừng lại bên những ki-ôt, ngắm nghía hàng chai lọ, đồng chí quân nhân thì vẫn chưa bước ra khỏi metro. Cậu bé đi dọc đường ngầm, càng lúc càng rảo chân và rảo chân hơn nữa. Có tiếng nhạc từ đâu đó vang lên - khe khẽ, khó nghe, nhưng dễ chịu kỳ lạ. Giọng thanh thanh của ống tiêu, tiếng lao xao của dây đàn ghi-ta, âm rung lanh lảnh của bộ đàn gõ. Tiếng nhạc mời gọi, tiếng nhạc giục giã. Egor tránh nhóm người đi ngược chiều, đuổi kịp một người đàn ông vui nhộn say liêng biêng, lê bước chậm chạp. Mọi suy nghĩ tuồng như bay hết ra khỏi đầu, cậu đã gần như chạy. Tiếng nhạc đang gọi. Giờ trong nhạc đã có lời quện vào… dẫu còn lơ mơ chưa rõ tiếng, quá khẽ, nhưng lại gọi mời đến thế. Egor nhảy ra khỏi đường ngầm, dừng lại một giây nuốt một ngụm khí lạnh. Vừa lúc chiếc xe điện bánh hơi cũng lướt đến bến. Nó đợi vài giây, các cửa lên xuống mở toang, rồi khép lại, rời bến. Egor lờ đờ nhìn theo dấu chiếc xe - tiếng nhạc càng lúc càng vang lên to hơn, tràn ngập cả thế giới, từ cái khách sạn cao tầng hình bán nguyệt cho đến “cái hộp có chân” thấp thoáng không xa - nhà của cậu. Tiếng nhạc rủ cậu đi bộ. Dọc theo đại lộ được chiếu sáng rỡ, nơi tận giờ này vẫn có không ít người đi lại. Chỉ cần độ năm phút để đến chân cầu thang. Còn để đến với tiếng nhạc lại cần ít phút hơn. Egor cũng kịp đi được quãng trăm mét cho đến lúc tòa nhà khách sạn thôi không che gió cho cậu được nữa. Luồng băng giá quật vào mặt, gần như át hẳn tiếng nhạc mời gọi. Cậu lắc lư người, dần dừng lại. Trạng thái mông lung ma mị tan biến, song cái cảm giác về ánh mắt người lạ lại trở về - lần này thì cảm giác ấy còn quyện chặt với nỗi hãi hùng. Cậu ngoảnh lại - thêm một chiếc xe điện bánh hơi đang trờ về bến. Và trong ánh sáng của đèn đường thấp thoáng bóng áo màu cam sặc sỡ. Gã thanh niên đã đi lên cùng cậu trên thang cuốn, giờ theo sát gót. Mắt vẫn cứ khép hờ, nhưng gã đột nhiên đi nhanh và gắng sức hơn - như thể nhìn thấy Egor. Cậu bé bỏ chạy. Tiếng nhạc lại vang lên với sức ngân mới, xuyên thủng màn gió. Cậu đã có thể phân biệt được lời hát… cậu có thể, nhưng không muốn. Bây giờ chuẩn nhất là đi dọc theo đại lộ, ngang qua những cửa hiệu đóng cửa nhưng sáng đèn, đi sát những khách bộ hành đêm muộn, để lộ mình ra trong ánh đèn những chiếc ôtô đang phóng trên đường. Nhưng Egor lại rẽ vào một cái ngách cổng. Tiếng nhạc gọi cậu đến đó. Ở đây gần như tối hoàn toàn - chỉ có ở bên tường hai bóng đen lay động. Egor nhìn thấy chúng như nhìn qua màn sương mù, như thể chúng được chiếu hắt lên bởi một thứ ánh sáng xanh lè chết chóc. Một thanh niên và một thiếu nữ, còn trẻ, mặc rất mỏng, cứ như ngoài trời không phải âm hai mươi độ vậy. Tiếng nhạc lại dội lên lần cuối - chói óc và đắc thắng. Rồi im bặt. Egor có cảm giác toàn thân mềm nhũn. Người cậu ướt đẫm mồ hôi, chân đứng không vững, chỉ muốn ngồi bệt xuống vỉa hè trơn chuội vì phủ một lớp bùn đóng đá. - Trông ngon đấy… - đứa con gái khẽ nói. Cô ta có gương mặt thanh mảnh, má hóp, nước da tai tái. Mỗi đôi mắt là có vẻ sống động - đen, to và cuốn hút. - Để lại tí chút chứ… - gã thanh niên bảo. Mỉm cười. Hai người giống nhau như hai anh em ruột - không phải giống ở nét mặt mà ở một thứ gì đó khó nắm bắt, cùng chung cho cả hai, bao trùm lên họ từ bên trên, như thể một tấm voan bụi mờ ảo. - Để cho anh á? - Trong một thoáng, cô nàng rời mắt khỏi Egor. Trạng thái đờ đẫn hơi hẫng đi, song nỗi sợ hãi lại ập đến. Cậu bé mở miệng - nhưng bắt gặp ánh mắt của gã kia, và không thể nào kêu lên được. Cậu như bị quấn chặt bằng một tấm cao su lạnh. - Ừ. Giữ nó đi! Đứa con gái phì cười giễu cợt. Chuyển ánh nhìn sang Egor, chúm môi lại như đang hôn gió. Ả cất giọng khẽ phát ra những từ giờ đã thành quen thuộc - những lời từng quện vào tiếng nhạc gọi mời. - Lại đây… lại đây với ta… Egor đứng như trời trồng. Không đủ sức chạy nữa, dù cậu đang sợ phát khiếp, tiếng thét trong cổ vụn vỡ và nghẹn tắc. Cậu chỉ có thể đứng sững yên một chỗ. Một người đàn bà dắt hai con bec-giê to khỏe đi ngang qua ngách cổng. Chầm chậm, gò bước, như thể cử động dưới nước, như thể đang hiện đến trong một giấc mơ hãi hùng. Egor liếc thấy hai con chó vùng vằng, cố sấn đến phía ngách cổng - và trong lòng cậu bùng lên hy vọng mãnh liệt. Hai con chó gầm gừ, nhưng có vẻ không tự tin sao đó, vừa căm giận vừa hoảng sợ. Người đàn bà dừng lại một thoáng, nghi ngờ nhìn khe cổng. Egor bắt được ánh nhìn của bà ta - ánh nhìn của người không nhìn thấy gì, dường như xuyên qua một khoảng trống. - Đi thôi! - bà ta kéo dây xích, và lũ chó nhanh nhảu lùi về phía chân bà. Gã trai cười khẽ. Người đàn bà bước dấn lên, và đi khuất. - Thằng oắt kia, anh nhìn kìa, nó không đi! - đứa con gái nhõng nhẽo kêu lên - Nó đứng yên kìa! - Mạnh hơn lên, - gã trai nói ngắn gọn. Cau có - Học cách đi. - Lại đây! Lại đây với ta! - đứa con gái nói giọng căng thẳng. Egor đứng cách cô ta độ hai mét, nhưng có vẻ như cô nàng rất cần thấy cậu tự đi qua khoảng cách ấy. Rồi Egor hiểu ra rằng mình không còn sức chống cự nữa. Ánh mắt cô gái giữ nguyên, dính chặt vào sợi dây trói cao su vô hình, lời cô ta kêu gọi, và cậu bé chẳng thể nào điều khiển nổi mình. Biết là không nên bước - nhưng vẫn bước. Cô gái mỉm cười - hàm răng trắng đều sáng lóe lên. Nói: - Tháo khăn quàng ra. Cậu đã không còn cưỡng lại nổi. Đôi tay run rẩy gỡ chiếc mũ áo khoác, giằng chiếc khăn mà không tháo vòng cuốn. Bước đến trước đôi mắt đen đang gọi. Có điều gì đó xảy ra với gương mặt đứa con gái. Hàm dưới trễ ra, răng nghiến trèo trẹo. Những chiếc răng nanh dài, đã không còn là răng người nữa, sáng lóa. Egor bước thêm bước nữa. Mời các bạn mượn đọc sách Tuần Đêm của tác giả Sergey Lukianenko & Thụy Anh (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Biệt Thự Longbourn
Những nhân vật chính trong Biệt thự Longbourn chỉ hiện diện về mặt tinh thần trong Kiêu hãnh và Định kiến. Họ tồn tại để phục vụ gia đình Bennet. Họ gửi thư và đánh xe ngựa; họ làm việc vặt khi không ai muốn ra khỏi nhà - họ là “những người được ủy thác” để đi lấy những bông hồng đính giày cho buổi dạ hội ở Netherfield dưới cơn mưa rào. Nhưng họ - ít nhất trong tâm trí tôi - cũng là con người.  Biệt thự Longbourn đào sâu vào quá khứ của các nhân vật này, và kéo dài sau cả cái kết hạnh phúc của Kiêu hãnh và Định kiến; nhưng ở những sự kiện trùng lặp trong cả hai cuốn sách, chúng được mô tả chính xác như trong cuốn sách của Jane Austen. Khi một bữa ăn được dọn ra trong Kiêu hãnh và Định kiến, nó đã được chuẩn bị ở gian bếp của Biệt thự Longbourn. Khi những tiểu thư nhà Bennet đến dự vũ hội trong cuốn sách của Austen, họ đã rời cỗ xe ngựa trong cuốn sách này. Tôi chỉ đặt tên cho những nhân vật vô danh - người hầu, người đánh xe, cô hầu gái - và dành vai trò nấu nướng kiêm quản gia cho bà Hill; sự sắp xếp như vậy là khá phổ biến trong những gia đình với quy mô và vị thế như vậy. Nhưng những gì xảy ra ở gian nhà dưới giữa các gia nhân, khi Elizabeth và Darcy còn bận rộn yêu đương trên nhà chính, thì tôi nghĩ hoàn toàn tùy thuộc vào họ. - Jo Baker - *** BIỆT THỰ LONGBOURN (JO BAKER) - NGOẠI TRUYỆN ĐẶC SẮC CỦA "KIÊU HÃNH VÀ ĐỊNH KIẾN" Không ai có thể nói trước được rằng cuộc đời chúng ta, những chọn lựa của chúng ta là sai hay đúng, và sai đúng ấy ở mức độ như thế nào... Nhưng cuộc tình giữa Elizabeth Bennet và Fitzwilliam Darcy trong Kiêu Hãnh và Định Kiến đã thành công, không chỉ nhờ sự vượt qua các rào cản từ phía họ, mà chính còn bởi những xung lực ngầm, những sự trợ giúp, những tác động rất nhỏ theo hiệu ứng cánh bướm, từ những người thân chung quanh. Trong đó, có các gia nhân của Biệt Thự Longbourn. Nhưng đồng thời, một người đọc không phải là độc giả của Jane Austen vẫn có thể đọc Biệt Thự Longbourn mà không cần quan tâm hay biết trước về cốt truyện của Kiêu Hãnh và Định Kiến. Đó chính là điểm độc đáo của một cuốn sách tiếp nối sự sáng tạo và thành công của một kiệt tác trước đó. *** Cuộc đời những nhân vật vô danh trong 'Kiêu hãnh và định kiến. Khi Elizabeth và Darcy trong "Kiêu hãnh và định kiến" đang mải tán tỉnh nhau trên lầu, những người hầu cận cũng đang bận rộn với chuyện tình cảm của riêng họ. Biệt thự Longbourn của tác giả Jo Baker đã đưa ra những góc nhìn khác về các sự kiện trong Kiêu hãnh và định kiến thông qua câu chuyện của hai người hầu vô danh.  Cuốn sách xoay quanh một phần cuộc đời của Sarah - cô hầu gái ở Longbourn, biệt thự của gia đình Bennet. Gia đình Bennet có 5 con gái và họ là nhân vật chính trong tiểu thuyết nổi tiếng Kiêu hãnh và định kiến của Jane Austen. Sarah đem lòng cảm mến chàng người hầu kỳ lạ có tên James. Cuộc tình của họ diễn ra song song với cuộc tình của Elizabeth và Darcy. Tuy nhiên, vì bí ẩn thân thế của James, cuộc tình của hai người hầu gặp nhiều sóng gió hơn. Quá khứ phức tạp của James dẫn anh đến nhiều rắc rối. Khi Wickham, một sĩ quan quân đội, người mà sau này trở thành chồng của Lydia (cô em út nhà Bennet) phát hiện ra quá khứ của James, anh phải lặng lẽ rời đi mà không để lại lời từ biệt cho Sarah.  Cô nàng Sarah, vì tình yêu của đời mình, đã từ bỏ công việc hầu gái cho cô chủ Elizabeth ở biệt thự của Ngài Darcy để bước vào cuộc hành trình đầy gian khổ đi tìm James.  Cuốn sách Biệt thự Longbourn được Jo Baker xuất bản năm 2013, bao gồm đủ cốt truyện của Kiêu hãnh và định kiến để một người dù từng đọc tác phẩm kinh điển này hay chưa đọc, đều không cảm thấy bị lạ lẫm. Thậm chí, một người say mê Jane Austen cũng có thể hài lòng với những gì được miêu tả trong cuốn sách này. Khi được hỏi về ý tưởng viết nên cuốn sách, tác giả Jo Baker đã chia sẻ: "Những nhân vật chính trong Biệt thự Longbourn chỉ hiện diện về mặt tinh thần trong Kiêu hãnh và định kiến. Họ tồn tại để phục vụ gia đình Bennet.  Họ gửi thư và đánh xe ngựa. Họ làm việc vặt khi không ai muốn ra khỏi nhà. Họ là "những người được ủy thác" để đi lấy những bông hồng đính giày cho buổi dạ hội ở Netherfield dưới cơn mưa rào. Nhưng họ - ít nhất trong tâm trí tôi - cũng là con người. Biệt thự Longbourn đào sâu quá khứ của các nhân vật này, và kéo dài sau cả cái kết hạnh phúc của Kiêu hãnh và định kiến. Nhưng ở những sự kiện trùng lặp trong cả hai cuốn sách, chúng được mô tả chính xác như trong cuốn sách của Jane Austen.  Khi một bữa ăn được dọn ra trong Kiêu hãnh và định kiến, nó đã được chuẩn bị ở gian bếp của Biệt thự Longbourn. Khi những tiểu thư nhà Bennet đến dự vũ hội trong cuốn sách của Austen, họ đã rời cỗ xe ngựa trong cuốn sách này.  "Tôi chỉ đặt tên cho những nhân vật vô danh - người hầu, người đánh xe, cô hầu gái - và dành vai trò nấu nướng kiêm quản gia cho bà Hill. Sự sắp xếp như vậy là khá phổ biến trong những gia đình với quy mô và vị thế như vậy. Nhưng những gì xảy ra ở gian nhà dưới giữa các gia nhân, khi Elizabeth và Darcy còn bận rộn yêu đương trên nhà chính, tôi nghĩ hoàn toàn tùy thuộc vào họ", tác giả cho biết. *** Người quản gia… Bà Hill và hai người giúp việc. Quần áo thì chắc chắn phải được giặt trước khi mặc, cũng như không thể ra ngoài đường mà không mặc đồ, ít nhất là ở Hertfordshire này, đặc biệt là vào tháng Chín. Ngày giặt giũ là không thể tránh khỏi, nhưng viễn cảnh gột rửa đống đồ vải của gia đình hằng tuần vẫn khá ảm đạm trong mắt Sarah. Trời vẫn lạnh buốt vào lúc bốn giờ ba mươi sáng, khi cô bắt đầu làm việc. Cần gạt nước bằng sắt lạnh như băng, mặc dù đã đeo găng nhưng những vết nẻ trên tay cô vẫn nhói đau khi cô bơm nước từ dưới lòng giếng tối om lên và đổ vào cái xô để sẵn bên cạnh. Còn cả một ngày dài phía trước, và công việc này mới chỉ là khởi đầu mà thôi. Mọi thứ xung quanh đều tĩnh lặng. Đàn cừu chậm rãi đi thành từng cụm trên sườn đồi; những con chim nấp trong bờ rào xù lông như những nùi bông kế; trong rừng, một con nhím bò qua đám lá vàng tạo nên tiếng kêu sột soạt; dòng suối phản chiếu ánh sáng lấp lánh lên những tảng đá. Dưới kia, trong khu chuồng gia súc, lũ bò đều đặn phả ra những làn hơi trắng mờ, còn ở chuồng bên, cô lợn nái nằm khụt khịt trong lúc đàn con tranh nhau bú mẹ. Bà Hill và chồng bà đang chìm trong giấc ngủ vì kiệt sức trên căn gác xép nhỏ bé; và ở dưới đó hai tầng, trong phòng ngủ chính, ông bà Bennet đang ngáy đều đều dưới tấm chăn thêu. Những tiểu thư trẻ, năm người cả thảy, đều đang ngủ trên giường, mơ về những gì mọi cô gái trẻ vẫn mơ. Và từ trên cao kia, ánh sao lạnh lùng chiếu xuống mái nhà lợp đá, khoảng sân lát đá, căn nhà phụ, bụi dâu và cả khu đất hoang nhỏ bên kia bãi cỏ, xuống bầy gà lôi đang túm tụm với nhau, và xuống Sarah, một trong hai gia nhân ở Longbourn, người đang kéo cần gạt nước, đổ đầy xô và vần nó sang một bên. Lòng bàn tay cô lúc này đã nhức nhối, nhưng cô vẫn kéo một cái xô khác sang để đổ đầy nó. Trên những ngọn đồi phía đông, bầu trời đã chuyển sang màu chàm trong trẻo. Sarah ngước nhìn lên, kẹp hai bàn tay vào nách, vừa thở ra khói vừa mơ về vùng đất hoang dã cuối chân trời kia, nơi mà mặt trời đã lên chiếu sáng rực rỡ, và khi ngày của cô kết thúc, nó vẫn tiếp tục chiếu sáng ở một nơi nào đó khác, như Barbados, Antigua và Jamaica, nơi những người đàn ông da đen cởi trần làm việc; chiếu lên toàn bộ châu Mỹ, nơi những người da đỏ hầu như không mặc quần áo, và do đó có rất ít đồ phải giặt; và một ngày nào đó, cô sẽ đến những vùng đất ấy và không bao giờ phải giặt đồ lót cho người khác nữa. Bởi vì, cô nghĩ trong khi đang móc những xô nước vào hai đầu đòn gánh, cúi xuống đỡ lấy nó rồi loạng choạng đứng thẳng lên, thực sự là không ai đáng phải giặt đống quần áo bẩn của người khác. Các tiểu thư có thể cư xử như những bức tượng thạch cao mịn màng và kín kẽ dưới lớp quần áo lượt là, nhưng khi họ vứt những bộ đồ lấm lem chờ được đem đi giặt xuống sàn phòng ngủ, bản chất yếu đuối, dơ dáy, cộc cằn của họ sẽ bị phơi bày. Có lẽ đó là lý do vì sao họ thường ra lệnh cho cô từ phía sau khung thêu hay khi đang cúi mặt đọc sách; cô là người đã vò sạch những mảng ố do mồ hôi, vết bẩn hay máu đến tháng của họ; cô biết họ không phải là những thiên thần tinh khôi như người ngoài vẫn nghĩ, và vì thế họ không dám nhìn thẳng vào mắt cô. Đống xô nước chao nghiêng khi Sarah loạng choạng đi qua sân; cô vừa bước tới bên cánh cửa phòng giặt thì trượt chân và mất thăng bằng. Khoảnh khắc ấy như được kéo dài, đủ để cô nhìn thấy đống xô nước vụt bay lên và văng ra, tuột khỏi đòn gánh, hất hết nước ra ngoài, khiến những gì cô làm nãy giờ bỗng chốc trở về số không, và cô còn kịp nhận ra khi sắp tiếp đất, cơn đau đang đón chờ cô. Rồi thì những cái xô rơi xuống đất và nảy lên, làm cho những con quạ đậu trên mấy cây dẻ gai giật mình kêu quang quác, còn Sarah thì đập mạnh người xuống nền sân lát đá. Cô đã đánh hơi ra thủ phạm làm cô trượt chân: bãi phân lợn phía dưới. Con lợn nái đã xổng ra ngày hôm qua, cả đàn lợn con đã chạy theo nó và chưa ai kịp dọn dẹp sau đó vì chẳng ai có thời gian. Công việc mỗi ngày đều bị dồn ứ đến ngày hôm sau, và không có việc nào được hoàn thành cả, vì vậy chẳng ai có thể nói câu: “Xem này, công việc hôm nay đã xong hết rồi.” Mọi việc cứ dồn ứ lại, uể oải và ngổn ngang để khiến bạn giẫm lên chúng và trượt chân vào buổi sáng. Sau bữa sáng, bên bếp lửa, Lydia vừa thu hai chân lên xếp bằng, vừa nhâm nhi ly sữa có đường và phàn nàn với bà Hill. “Bà không biết bà may mắn thế nào đâu, bà Hill. Được giấu mình ở nơi ấm áp và đẹp đẽ thế này.” “Đấy là cô nghĩ vậy thôi, cô Lyddie.” “Ồ, tôi nghĩ vậy thật đấy! Bà có thể làm gì tùy thích đúng không, mà không có ai lượn lờ xung quanh và chỉ trích bà. Chúa ơi! Nếu như tôi phải nghe thêm giọng điệu cảnh cáo của Jane một lần nữa - và đấy là tôi mới chỉ thử quậy một chút…” Ở phòng kế bên, cạnh những bậc thang dẫn lên phòng giặt đồ, Sarah đang còng lưng trên tấm ván giặt, vò sạch phần viền áo đã bị ố. Chiếc váy lót ngập sâu ba thước trong bùn mà cô nhặt lên từ sàn phòng ngủ của các cô gái đã được ngâm một đêm trong dung dịch kiềm. Xà phòng không lay chuyển được vết bẩn, nhưng lại gặm nhấm đôi bàn tay giờ đã nẻ và nứt toác của cô, khiến chúng nhức nhối. Sarah vẫn nghĩ, nếu Elizabeth phải tự giặt váy lót của mình, thì chắc chắn cô ấy sẽ cẩn thận hơn khi mặc chúng. Chiếc thùng hấp bốc hơi nghi ngút, một lô quần áo đang được ngâm trong đó, ngay cạnh khung cửa sổ mờ hơi nước trước mặt cô. Sarah cẩn thận bước từ ván giặt cạnh chậu rửa sang ván giặt cạnh nồi hấp, qua sàn đá trơn trượt và xỉn màu. Cô thả bộ váy lót vào thùng nước đang nổi bong bóng, nhấc cái gậy giặt lên và nhấn bộ đồ lót chìm xuống để những bóng khí thoát ra, rồi khuấy đều. Cô đã được dạy - và cô cũng phải tin như thế - rằng những bộ đồ lót cần phải được tẩy cho thật trắng trước khi chúng lại bị vấy bẩn trong lần mặc tiếp theo. Polly đang nhúng ngập khuỷu tay trong bồn rửa lạnh buốt, chà mạnh những cái nơ áo của Ngài Bennet trong nước, sau đó nhấc từng chiếc ra rồi lại nhúng vào nước lạnh lần nữa để giũ sạch chúng. “Ta còn bao nhiêu đồ phải giặt nữa nhỉ, chị Sarah?” Sarah nhìn quanh và ước lượng. Những cái chậu đang ngâm đầy đồ vải, những đống đồ sũng nước ở các công đoạn giặt giũ khác nhau. Ở một số nơi khác, người ta thuê thêm người phụ việc trong ngày giặt giũ. Nhưng ở đây thì không. Tại biệt thự Longbourn, họ luôn tự giặt đồ vải bẩn. “Vẫn còn ga trải giường, vỏ gối, và cả quần áo của chúng ta nữa…” Polly lau tay vào tạp dề và giơ tay lên đếm những đống đồ còn lại, nhưng khi thấy tay mình đã ửng đỏ, cô bé cau mày và xoay bàn tay lại, xem xét chúng như thể chúng rất thú vị và không hề liên quan đến cô. Hẳn là chúng đã tê dại rồi, ít nhất là vào lúc này. “Và còn cả đống khăn ăn nữa.” Sarah nói thêm. Giờ đang là khoảng thời gian khó khăn nhất của mỗi tháng, khi mọi người phụ nữ trong nhà đều trở nên nóng nảy, hậu đậu và dễ khóc hơn, chưa nói tới việc đến tháng. Những chiếc khăn ăn đang được ngâm trong chậu riêng, bốc lên thứ mùi đặc trưng không hề dễ chịu - cửa hàng bán thịt; chúng sẽ được đun sôi cuối cùng, lẫn với đống cặn trong thùng đồng trước khi bị đổ đi. “Chị nghĩ chúng ta còn năm chồng đồ nữa cần giặt.” Sarah thở dài rồi kéo kéo phần đường may dưới ống tay áo. Dưới lớp váy mà cô rất ghét, mồ hôi của cô đang tuôn ra như tắm. Đó là bộ váy vải thô mà bà Hill cho là có màu xanh của nước sông Nile, nhưng theo Sarah, nó có màu dịch mật thì đúng hơn; nhưng màu sắc khó chịu của bộ váy này không phải là vấn đề lớn, bởi sẽ chẳng có ai nhìn ngắm cô trong bộ đồ này cả, vấn đề nằm ở các đường may ấy. Nó vốn được may cho cô Mary, để quấn quanh cánh tay mềm mại, chuyên dùng để thêu thùa hoặc đánh đàn dương cầm. Nó không thoải mái và linh hoạt để phù hợp với những công việc đòi hỏi sức lực, và Sarah chỉ mặc bộ váy này bởi bộ đồ còn lại của cô, bộ bằng vải bông pha len xám xịt đã bị ngâm sũng nước và đang được treo trên dây phơi để chờ mùi phân lợn hôi thối bay đi. “Bỏ lượt tiếp theo vào đi.” Cô nói. “Em khuấy nhé, còn chị sẽ vò.” Như thế sẽ đỡ cho đôi bàn tay nhỏ của em, Sarah nghĩ bụng, mặc dù tay của cô cũng mất hết cảm giác rồi. Cô lùi lại khỏi thùng đồng, bước lên ván giặt cạnh bồn rửa để nhường lối cho Polly đi qua. Rồi cô dùng cái kẹp quần áo để lôi một chiếc nơ áo ra khỏi đống bột hồ và quan sát nước keo nhỏ giọt lại vào trong chậu. Polly vừa khuấy cây gậy trong thùng bằng đồng, vừa bóc da môi bằng phần móng tay đã bị cắt cụt lủn. Mắt cô bé vẫn còn sưng đỏ sau khi bị bà Hill mắng vì đã không dọn sân cẩn thận. Buổi sáng ấy, cô đã phải dậy nhóm lửa, xách nước, rồi thì chuẩn bị cho bữa tối ngày Chủ nhật; và khi mọi người ăn xong thì trời đã tối rồi, ai có thể dọn đống phân lợn dưới ánh sao mờ mịt được chứ? Mà chẳng phải lúc đó cô cũng đang phải ngồi cọ đống xoong chảo đấy thôi? Mười đầu ngón tay của cô đã xước hết sau khi cọ những vết cháy sém. Hơn nữa, nếu nghĩ lại thì chẳng phải đó là lỗi của người đã không khép cửa chuồng cẩn thận, khiến cho con lợn nái chỉ cần huých nhẹ là thoát được ra sân hay sao? Họ cũng không nên đổ lỗi cho Polly đáng thương việc Sarah bị ngã và công việc thì bị đình trệ - cô nhìn quanh rồi hạ giọng thì thầm để ông Hill không nghe thấy - mà nên trách chính ông ta, người chịu trách nhiệm trông coi chuồng lợn. Ông ta mới phải chịu trách nhiệm dọn dẹp sân sau chứ? Nhiệm vụ của ông già lôi thôi đó là gì? Tại sao khi cần thì chẳng thấy mặt ông ta đâu? Chẳng phải họ vẫn cứ càm ràm chuyện cần thêm người phụ giúp đấy thôi? Sarah gật đầu đồng tình và thở dài, mặc dù cô đã không còn lắng nghe nữa rồi. Lúc đồng hồ ở sảnh đánh lên tiếng chuông thứ tư, ông bà Hill đang phục vụ mọi người món ăn nhẹ vào ngày giặt giũ: thịt quay còn thừa từ Chủ nhật; hai cô hầu gái thì đang đứng ngoài bãi cỏ để phơi đồ, những tấm vải ướt vẫn còn bốc khói trong khí chiều mát mẻ. Một trong những vết nẻ của Sarah đã nứt toác và đang chảy mủ, khiến cô phải đưa lên miệng và liếm máu đi để không làm bẩn đồ vải. Cô đứng lặng người mất một giây để cảm nhận rõ cái nóng từ lưỡi mình chạm vào làn da lạnh tái, cái nhức nhối của vết nẻ, vị mặn của máu và hơi ấm của môi; vì vậy cô đã không thấy rõ, và có thể cô đã nhìn nhầm, nhưng trong thoáng chốc, cô nghĩ mình đã thấy thứ gì đó di chuyển trên con đường cắt ngang ngọn đồi đối diện, con đường nối giữa đường vận chuyển gia súc cũ tới London và làng Longbourn, và xa hơn nữa là trạm đóng quân Meryton mới. Mời các bạn đón đọc Biệt Thự Longbourn của tác giả Jo Baker & Phương Anh, Việt Anh (dịch).
Son Môi Trong Bóng Tối
Cô gái tóc vàng trần như nhộng nhảy qua cửa sổ bỏ trốn ấy là ai? Họ tên: Charlotte Malère Tuổi: Ba mươi, theo phong cách tuổi băm phơi phới. Nghề nghiệp: Phê bình điện ảnh Điểm đặc biệt: Là nạn nhân của mọi sự cố khó tin nhất trên đời. Một buổi sáng đẹp trời, Charlotte tỉnh dậy trơ trọi với cánh tay bị còng vào giường tại nhà người tình, đạo diễn nổi tiếng Richard Bouvier. Để trốn khỏi nanh vuốt của cô vợ người tình, nàng phá khóa, nhảy qua cửa sổ xuống phố trong tình trạng khỏa thân rồi chui tọt vào chiếc xe vừa xịch tới. Khi bị phát hiện, nàng vơ đại áo vest của anh chàng lạ mặt rồi biến mất… mà không thể ngờ rằng, năm tiếng sau, họ gặp lại nhau, thậm chí còn song ca cùng nhau trong buổi lễ bế giảng ở một trường tiểu học. Phải chăng dấu hiệu đầu tiên của một câu chuyện tình đang dần hé mở? Lạc quan, cuồng nhiệt và đầy ắp đam mê, mầm mống điên loạn mang tên Charlotte đó ập đến, khiến bạn phải sững sờ, xúc động và trên hết, bạn thấy rằng có lẽ cô nàng rất giống bạn!   Tác giả Sinh năm 1977,  là một nghệ sĩ đa tài. Cô là diễn viên, ca sĩ và nhà văn tài năng. Charlotte tham gia rất nhiều cuộc thi hát và kịch từ nhỏ, và sau này cô theo học diễn xuất tại trường điện ảnh. Cô đạt được thành tựu đáng kể với vai diễn trong các vở kịch của Obaldia, Molière, Camus... Cuộc gặp gỡ với Marion Michau mang tính quyết định tới sự nghiệp của Charlotte Marin. Hai người đã hợp tác trong nhiều dự án âm nhạc cũng như kịch ngắn. Son môi trong bóng tối chính là kết quả tuyệt vời của sự hợp tác đó, đánh dấu bước lấn sân sang văn học của Charlotte Marin. *** Khen tặng của báo chí “Sống động, tươi vui như một bộ phim hài lãng mạn.” - Elle “Một tiểu thuyết đầu tay xuất sắc, là sự pha trộn tài tình của hài hước đến phi lý và lãng mạn tuyệt đối!” - France Soir   ***   Một mớ tóc vàng thò ra khỏi chăn, là tôi: Charlotte Malère. Tôi tỉnh dậy, mỉm cười mãn nguyện như điệu cười trong quảng cáo cà phê Ricoré trên ti vi, vươn vai... Nói cho đúng thì tôi cố vươn vai: có cái gì đó ghìm bàn tay trái của tôi lại... Ơ... cái quái gì thế này? - Richard? Một tay tôi bị còng vào khung sắt rèn đầu giường! Nhớ lại buổi tối hôm qua, tôi bỗng cảm thấy cần một liều giảm đau quá. Tiếng cửa ra vào bật mở. Tôi bật phắt dậy. Tiếng phụ nữ hét lên “Ối giời ơi!” nghe chẳng khác gì trong một bộ phim hài sống sượng của Almodovar. Ối giời ơi? Thôi xong, chết bỏ xù rồi! Tôi luống cuống rút tay ra khỏi còng, không ăn thua. Tôi dùng đầu ngón chân quắp chiếc quần lót rồi oằn mình dùng một tay mặc nó vào như con giun bị xéo. Một phụ nữ thấp tè thò đầu vào phòng và trố mắt ra nhìn. Tôi chỉ kịp định thần tự nhủ trông bà ta chẳng khác gì hạ sĩ Garcia đeo hoa tai thì người đàn bà đã rống tướng lên như một con bò cái Tây Ban Nha. Lẽ ra tôi đã không nên trốn học như vậy. Cố che chắn ngực mình, tôi chỉ cho bà ta thấy cái còng số tám trên tay. - Tôi bị trói... ờ, xin mở cho tôi! Bà không... tưởng tượng được đâu. Đây là một trò đùa! - Một tròi đuồi* ? bà ta ngây ra hỏi lại. Xin chú thích, sau này tôi mới biết, trong tiếng Tây Ban Nha thì “tròi đuồi” có nghĩa là quần lót. - Đúng, đúng, đây là một trò đùa rất buồn cười! Bà có thể tìm tuốc nơ vít để mở cái khóa này được không? Tôi nói mà ngượng chín hết cả người. Bà ta bỏ đi sau khi sập cửa mạnh đến nỗi bung cả quả nắm cửa. Tôi nghe tiếng bà ta lục lọi ngăn tủ. Cầu mong là bà ta không đi tìm hắc in và lông vũ* . Người đàn bà mở cửa, nhưng lõi khóa cứ xoay tròn vô ích. Cơn ác mộng của Freddy* . Tôi trườn xuống sàn, cố rướn người móc lại quả nắm vào cửa. Bà ta bước vào phòng với hộp dụng cụ trên tay! Tôi cầu Chúa phù hộ cho bà ta bằng thứ tiếng Pháp pha tiếng Tây Ban Nha ngon nghẻ nhất của mình trong khi bà ta rút ra chiếc tuốc nơ vít nhỏ xíu rồi bắt đầu chọc ngoáy cái còng. Ngay khi bà ta giải phóng tôi khỏi món đồ kích dục kia, lại có tiếng cửa ra vào bật mở. Một phụ nữ cất tiếng gọi: - Richard à? Bà Rosa ơi? Rosa và tôi nhìn nhau bàng hoàng. Tiếng phụ nữ lại vang lên từ lối vào. Đột nhiên, mọi thứ xảy ra rất nhanh: tôi nhảy phóc lên quấn chân quanh mình như quấn nem trong khi Rosa thu dọn hiện trường. Bà ta nhặt túi xách và đôi giày cao gót của tôi, mở cửa sổ rồi quẳng chúng ra ngoài. Tôi nhảy tưng tưng ra đến lan can cửa sổ rồi ngay lập tức nhảy xuống dưới, ơn Chúa, đây chỉ là tầng hai. Tôi đã thôi không chơi thể thao từ năm 1987, nhưng vẫn nhảy qua được khoảng cách hai mét từ lan can xuống đến vỉa hè. Chiếc chăn mắc vào bản lề cửa sổ. Tôi đứng giữa phố, độc chiếc quần lót trên người, có thể coi là trần như nhộng. Rosa đóng cửa sổ. Tôi chộp lấy túi xách, cố dùng nó để che thân. Một chiếc taxi xẹt qua ngay bên cạnh. Tôi chạy đuổi theo như có tên lửa gắn đằng mông. Nhìn thấy tôi qua gương chiếu hậu, gã lái xe đê tiện vội tăng tốc. Tôi chỉ kịp đập vào cốp xe hắn mà chửi thề, trước khi ngồi thụp xuống nấp vào khoảng trống giữa hai chiếc ô tô. Tốt, tốt, tốt thôi... Vậy đấy, có những ngày địa, ngục mở toang cửa thế này ư? Vậy mà tôi chẳng biết đấy. Dù đang là tháng Sáu, nhiệt độ ngoài trời khá dịu mát. Đầu ngực tôi căng cứng. Thật phiền phức khi phải động não vào lúc này. Chết tiệt, tệ nhất là mình đã đánh mất một bên khuyên tai trong khi hoảng loạn. Bà chị gái sẽ giết mình mất thôi. Chiếc ô tô màu trắng làm bình phong cho tôi phát ra hai tiếng “tít tít”, báo hiệu có người vừa mở cửa từ xa! Theo phản xạ: tôi lao tới vặn tay nắm cửa sau rồi chui tọt vào trong xe. Một anh chàng tóc nâu cao lớn mở cửa chỗ người lái, vứt chiếc túi nhỏ lên ghế bên, cởi áo vest rồi quầng xuống ghế phía sau cạnh tôi. Khi đã yên vị sau tay lái, anh chàng cất giọng đùa cợt: - Cậu đúng là đồ hư hỏng. Tôi tưởng câu nói đó dành cho mình cho tới khi nhận ra anh ta đang đeo tai nghe điện thoại. Anh ta cười. Tôi lẳng lặng khoác chiếc áo vest của anh ta. - Kệ cậu thôi, Franck, tớ có hẹn với anh trai rồi... Không, chiều nay cơ, nhưng trước đó tớ sẽ tạt về nhà gửi chúng cho cậu. Cậu sẽ thấy thôi, hàng nặng đấy. OK... Cảm ơn nhé... Chào cưng. Ấn tượng đấy. Anh ta tắt điện thoại rồi nổ máy. Vào khoảnh khắc tôi mở cửa, ánh mắt chúng tôi giao nhau qua gương chiếu hậu. Anh ta hét lên một tiếng, tôi cũng hét. Tôi nhảy ra khỏi xe rồi nhanh chân tẩu thoát. *** Khi rốt cuộc cũng về được đến cổng vào chung cư, tôi chạm mặt ngay với lão đưa thư, tóc màu hung đỏ với gương mặt méo mó bởi một cái mụn đã lên mủ. Cạnh mũi lão ta mọc một cái mụn bọc to tổ chảng đủ khiến cho toàn thể hội nghị da liễu phải buồn nôn. Tôi kéo vạt áo của mình ra đê’ trông cho có vẻ tự nhiên (cũng là để tôi cảm thấy bớt căng thẳng hơn chút đỉnh). Im ắng quá. Lão ta hí hửng xóa tan bầu không khí im lặng... - Chầu êm bé! Ôi! Chết tiệt... Lão ta biết tôi làm trong ngành điện ảnh, kể từ cái lần tôi dại dột hỏi xem lão có thích phim của Dany Boon không, lão rất thích chêm vào vài từ theo thứ giọng của người miền Bắc. - Trang phục buồn cười quá, nhưng không nên đếnh giá quơ về bên ngoẩy đâu, êm nhỉ! Đúng đấy, chào mừng đến với thế giới mụn* , đồ đần. Tôi thậm chí không thể ép mình cười nổi. Lão ta khiến tôi thấy kiệt sức, nhất là hôm nay. Tôi có một mong muốn cháy bỏng là dúi cái đầu đỏ khè của lão vào hòm thư nhà tôi và, như Lý Tiểu Long, tôi sẽ dộng cửa liên hồi vào gáy lão cho tới khi cổ lão gãy ra thì thôi. - Xem nào, êm bé, ênh nghĩ là có một lá thư xíu xiu cho êm đây. Charlotte Malère... Charlotte Malère... A, đây rồi! Lão đưa tôi bức thư rồi bảo tôi chờ một lát: có một bưu kiện gửi cho tôi để trong xe tải. Giờ tôi chỉ mong biến khỏi đây ngay lập tức, nhưng không được, đó hẳn là món hàng gần đây nhất mà tôi mua vì không tự kiềm chế được: một chiếc đai lưng giảm eo. Cô gái trên ti vi vừa nói về nó vừa rơm rớm nước mắt. Lần này, tôi đã thề là cô ta sẽ không bao giờ làm đống đồ chất trong phòng tôi cao hơn được nữa: nào đai quấn nóng giảm mỡ bụng, nào xúp thảo mộc đóng gói, nào ống giấy hút ẩm để làm tóc xoăn, nào chân nhái đi bơi cho mông săn chắc và mấy thứ đồ linh tinh làm ngực căng chắc như bê tông. Tôi mở lá thư “xíu xiu” của mình ra thì thấy một tấm thiếp mời. Tối mai, tôi được mời đến dự lễ ra mắt bộ phim của người tình yêu dấu nhưng xấu xa của tôi, Richard Bouvier. Một quý ông đã kết hôn với hai đứa con... nói đúng ra là anh ta kết hôn với một người đàn bà. Lão đưa thư quay trở lại, đưa cho tôi bưu kiện và tờ giấy biên nhận. - Mời ký vào đây, êm bé... Cần phải chấm dứt ngay cái màn lố bịch này trước khi tôi xé lão ra thành trăm mảnh rồi gửi đến Valenciennes* qua chuyển phát nhanh. Tôi nhét thiếp mời vào túi áo vest, ký tên, chào lão rồi quay gót bỏ đi. Thật kỳ lạ, từ phía sau lưng, người ta lại càng cảm thấy mình trần trụi hơn. Mời các bạn đón đọc Son Môi Trong Bóng Tối của tác giả Charlotte Marin.
Dona Flor Và Hai Người Chồng
Kiệt tác của tượng đài văn học Braxin Gợi cảm và là cô giáo dạy nấu ăn giỏi giang, Dona Flor kết hôn với Vadinho, một kẻ vô lại, bài bạc nhưng quyến rũ khó cưỡng. Tám năm sau, chính giữa những ngày vũ hội hóa trang, Vadinho đột tử khi đang cuồng nhiệt trong điệu samba sôi động, trên mình là bộ đồ giả trang thiếu nữ Bahia. Với người chồng thứ hai, dược sĩ Theodoro uy tín, cô được hưởng một sống đủ đầy, êm ả, có phần tẻ nhạt, cho đến một ngày dona Flor bàng hoàng nhìn thấy... một Vadinho trâng tráo, trần như nhộng, nằm trên chiếc giường của vợ chồng cô, mời gọi cô. Điều kỳ lạ là không ai ngoài cô có thể nhìn thấy anh ta… Đậm màu sắc văn hóa ẩm thực và âm nhạc Bahia, với thần Xangô, với samba, lễ candomblé,  rượu cachaça…. “Dona Flor và hai người chồng” còn vượt khỏi một “câu chuyện đạo đức, câu chuyện tình yêu” xúc động để trở thành “trận chiến khủng khiếp giữa Tinh thần và Vật chất” qua lời kể hài hước và sinh động của Jorge Amado, một trong những nhà văn hàng đầu của Braxin thế kỷ XX. Tác phẩm đã được chuyển thể thành phim vào năm 1976, bởi đạo diễn Bruno Barreto với vai dona Flor do Sonia Braga thể hiện. Bộ phim được coi là một trong những tác phẩm thành công nhất trong lịch sử điện ảnh Braxin. *** Đôi nét về tác giả Jorge Amado   Jorge Amado (1912-2001) là cây đại thụ văn học của Braxin, nơi không một nhà văn nào nổi tiếng, được yêu mến và có uy tín như ông. Và ông cũng là nhà văn Braxin nổi tiếng nhất ở nước ngoài. Các tác phẩm của ông đã được dịch ra khoảng 50 thứ tiếng trên khắp năm châu. Dona Flor và hai người chồng là một trong những tác phẩm được ra nhiều thứ tiếng nhất của Jorge Amado. Đây là lần thứ hai tác phẩm này được xuất bản tại Việt Nam. *** Lời khen tặng dành cho Dona Flor và hai người chồng   "Đại sứ văn chương của Braxin.” - NXB Gallimard   “Một trong những tượng đài của nền văn học.” - L’Express *** trường nghệ thuật  ẩm thực và hương vị Phải mời khách món gì trong đêm viếng trước ngày tang lễ? Dona Flor trả lời câu hỏi của một học sinh. Cho dù đó là ngày tang gia bối rối, buồn bã khóc lóc thì cũng không thể để khách tới viếng phải nhịn đói nhịn khát. Nếu bà chủ nhà, đang nức nở nghẹn ngào và sắp ngất xỉu, ngập chìm trong đau đớn, hay chính là người nằm chết trong áo quan, không thể lo được, thì bà con hay bạn bè phải đứng ra lo liệu, vì không thể để những người khách khổ sở đến đây viếng thăm vì tình nghĩa phải nhịn đói nhịn khát suốt đêm; chưa kể lúc mùa đông giá rét hay tiết trời lạnh lẽo. Để cho đêm tang lễ được nhộn nhịp và thật sự tôn kính người đã khuất, chủ nhân của đêm đó, làm cho linh hồn anh được nhẹ nhàng trong đêm đầu tiên và đang rất bối rối trong cõi chết của anh, phải thật chu đáo, chăm chút về cả tinh thần lẫn đồ ăn thức uống. Lúc nào mời và mời món gì? Lúc nào ư? Đơn giản thôi: suốt cả đêm, từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc. Cà phê thì dĩ nhiên là cần thiết vào bất cứ lúc nào, rót vào những tách nhỏ. Còn bữa sáng đầy đủ cả sữa, bánh mì, bơ, pho mát, bánh bích quy, vài cái bánh sắn, vài lát bánh ngũ cốc kèm trứng đặt trên đĩa thì chỉ cần dọn vào buổi sáng và cho những người đã thức suốt đêm. Quan trọng nhất là luôn luôn phải có nước sôi trong bình để pha cà phê, vì lúc nào cũng có người đến viếng. Thêm cả bánh nướng, bích quy kèm với cafezinho§.Thi thoảng mang ra vài món khai vị như bánh kẹp pho mát, giăm bông, giò, những thứ đơn giản, thể hiện sự tế nhị trước người đã khuất. Nhưng nếu đêm tang lễ của gia đình ở tầng lớp cao, sau đêm này tiền viếng cứ là dồi dào, thì đương nhiên phải có tách sô cô la thật đặc và thật nóng vào lúc nửa đêm, hay bát xúp gà mỡ màng. Sau cùng là cá tuyết viên, các món rán, các loại bánh kẹo, đồ ăn vặt, hoa quả khô. Về đồ uống thì nếu đó là gia đình khá giả, ngoài cà phê, còn có bia hay rượu vang, chỉ một ly thôi và chỉ để uống kèm xúp gà và các món rán. Tuyệt đối không dùng sâm panh, như thế không hợp cảnh cho lắm. Trong mọi trường hợp, dù là đêm viếng ở nhà giàu hay nhà nghèo, bắt buộc và cần thiết, đều phải có rượu cachaça§ nổi tiếng. Có thể thiếu gì cũng được, kể cả cà phê, nhưng rượu đó thì không thể thiếu. Không có chất trợ lực ấy, đêm viếng sẽ mất hết giá trị. Đêm viếng không có rượu tức là thiếu tôn trọng đối với người đã khuất, là vô tình, là ác nghiệt. *** REVIEW “DONA FLOR VÀ HAI NGƯỜI CHỒNG” Chắc chắn là một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất tôi từng đọc về tính hai mặt của tinh thần con người. Cuốn tiểu thuyết này đã chạm đến trái tim và tâm trí của tôi và lôi cuốn tôi vào câu chuyện huyền bí và mê tín của đất nước Brazil. Jorge Amado bắt đầu bằng cách nhắm trúng sự thích thú của độc giả thông qua một câu chuyện tình lãng mạn giữa một cô gái tốt bụng là Flor và một con bạc đáng yêu, gợi tình là Vadinho. Anh ấy là nhân vật phản diện kinh điển mà chúng ta khi đọc sẽ cảm giác vừa ghét vừa thương.  Amado tiếp tục đưa chúng đến với người dân của bang Bahian với những nhân vật tuyệt vời và thú vị. Người đọc gặp gỡ các nhà văn, người mù chữ, người ngoại đạo và người mê tín, người giàu và người nghèo, những lời đồn đoán, gái điếm, chế độ mẫu hệ và rất nhiều chuyện khác nữa. Cuối cùng, chúng ta sẽ thấy một bối cảnh đầy màu sắc với đủ các vấn đề và chi tiết khác nhau. Thêm vào đó, Amado đã vẽ ra nguyên mẫu hình ảnh của Brazil cùng với việc đặt “nền móng” phức tạp cho chủ đề chính của cuốn tiểu thuyết. Ngay cả khi chúng ta đang suy ngẫm về tính hai mặt thể hiện trong tâm hồn của nhân vật chính là Flor thì câu chuyện của Amado nổ ra trong sự hỗn loạn và mâu thuẫn tâm trí đến mức khó tin. Những thay đổi thần bí xảy ra khi các vị thần trở nên minh bạch trong sự trùng lặp của chính họ. Bất bình đẳng giai cấp xã hội, số phận cá nhân, lòng trung thành và tình yêu,... không có chủ đề nào vượt quá giới hạn trong câu chuyện tâm lý sâu rộng này. Amado là một bậc thầy tuyệt vời về khả năng tạo ra một nền văn hóa và cuốn hút người đọc bằng cách sử dụng những câu văn kết nối với cốt truyện kỳ diệu, văn xuôi lôi cuốn, phát triển nhân vật hoàn toàn tài tình và khiến chúng ta mê đắm với màu sắc của bối cảnh truyện. Cuối cùng, người ta có thể tin vào điều gì? Hòa bình đi kèm với sự chấp nhận vừa có cảm giác cưỡng ép vừa có cảm giác thích thú? Hay những góc khuất trong chính con người đang sống trong xã hội hiện nay khi có vô vàn những ước muốn khác nhau và lòng tham vô đáy đã ngự trị hết thảy tâm hồn của mọi người? Tất cả điều này diễn ra tại Bahia - nơi những điều quái lạ và những hành động ma thuật khác xảy ra mà không làm ai ngạc nhiên hay giật mình. Một góc phố nghèo dù cho có chuyện gì kinh thiên động địa hay chuyện con cóc vỉa hè cũng không còn đáng quan trọng nữa.  - Trần Thông Mời các bạn đón đọc Dona Flor Và Hai Người Chồng của tác giả Jorge Amado.