Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Istanbul - Hồi Ức và Thành Phố

“Tôi nghĩ tôi sẽ viết “Hồi ức và Thành Phố” trong sáu tháng, nhưng lại mất đến một năm để hoàn thành nó. Và tôi đã làm việc 12 tiếng mỗi ngày, chỉ đọc và làm việc. Cuộc đời của tôi, vì rất nhiều nguyên do, đang ở trong cơn khủng hoảng. Tôi không muốn đi sâu vào từng chi tiết: ly hôn, cha tôi chết, vấn đề chuyên môn, rắc rối chỗ này, rắc rối chỗ kia, mọi thứ đều tệ. Tôi nghĩ nếu lúc đó tôi yếu đuối, có lẽ tôi đã rơi vào trầm cảm. Nhưng mỗi ngày tôi đều dậy và tắm nước lạnh và ngồi xuống và nhớ lại và viết, tôi luôn chú ý đến vẻ đẹp của cuốn sách. Thành thực mà nói, có lẽ tôi đã làm tổn thương mẹ tôi, gia đình tôi. Cha tôi đã chết, nhưng mẹ tôi còn sống. Nhưng tôi không thể quan tâm đến điều đó, tôi phải quan tâm đến vẻ đẹp của cuốn sách.” Orhan Pamuk đã trả lời với tờ Wild River Review như vậy khi nói về khoảng thời gian ông viết quyển “Istanbul: Hồi ức và Thành Phố” – một quyển kí dày, 37 chương, về thành phố của ông. Orhan Pamuk viết lại tất cả những gì của chính ông, từ năm ông ra đời (1952), với những gì ông nhìn thấy, sự thay đổi xung quanh, người ông gặp, cuộc trò chuyện với mẹ, sự yên lặng của bà hay những bữa tiệc buồn tẻ nào đó. Ở giữa các chương viết, Orhan Pamuk phác thảo lại toàn bộ Istanbul của ông, từ hàng trăm năm trước, qua tay các nhà thơ, nhà báo, qua tay những người bán hàng, qua vịnh Bosphorus, từ những tiểu tiết trên tranh vẽ. “Istanbul” chứa tư liệu đầy ắp, so sánh liên tục, các ý tưởng sắp xếp cực kì ngăn nắp, chú thích rạch ròi trong từng đoạn viết. Orhan viết về vịnh Bosphorus của ông, một vịnh biển khi nhìn ra có thể thấy những dinh thự bằng gỗ đẹp tuyệt vời, nơi xưa kia là chốn ngự của những pasha quyền lực cai quản thành phố. Các toà nhà ấy cũ dần đi, mủn đi, trong kí ức có cả những người hàng rong lái thuyền đi bán trái cây, các món đồ thú vị… và Bosphorus nơi người ta đang phá dần đi và xây nên những toà nhà mới kiểu Tây, hào nhoáng, lấp lánh. Orhan lúc ấy chỉ còn là một đứa bé, nhớ rằng bác sĩ dặn mẹ hãy đưa mình ra vịnh để thở khí trong lành và khỏi bệnh. Sau tất cả những khắc hoạ chi tiết, tư liệu lịch sử, ông viết rằng: “… có một chuyện chẳng hề thay đổi: chỗ mà Bosphorus chiếm ngự ở trong trái tim cộng đồng của chúng tôi. Như khi còn nhỏ, chúng tôi vẫn coi nó như là một sự đảm bảo cho sức khoẻ tốt lành, một thứ linh dược khi lâm bịnh, một suối nguồn vô tận của điều tốt điều thiện, những gì gìn giữ thành phố và các cư dân của nó.” Trong suốt quyển sách, người đọc có thể tìm thấy Orhan tả vịnh Bosphorus, tả giáo đường Suleymaniye, tả ngoại ô Istanbul, tả bến cảng với thuyền đi qua ban đêm, tả những ngôi nhà yah đẹp huy hoàng một thời, những ngõ hẻm, trời tối… và khi đọc, người ta có thể tưởng tượng ra hình ảnh như thể ta đứng đó, với cảm giác của ông, với các chi tiết rõ ràng, mạch lạc, với cả mùi hơi nước, mùi khói, hay khí lạnh… Bên cạnh các chương kể về thành phố, Orhan Pamuk viết về những người đã biến Istanbul thành một vẻ đẹp có lịch sử, bằng tranh vẽ, thơ ca, văn học hay các bài báo. Có rất nhiều phần trong sách, Orhan nói lên nỗi khốn khổ của những nhà nghệ sĩ này. Họ ở một thành phố kì quặc, có một nửa Tây hẳn và một nửa mang đầy khí chất phương Đông. Orhan tả lại nỗi khổ sở của nhà thơ Yayah Kemal, nhà văn Abdulhak Sinasi Hisar, nhà văn Ahmet Hamdi Tanpinar, nhà sử học Resat Ekrem Kocu khi họ phải chọn cho mình một phong cách sáng tác. Họ học cái hay của các nhà thơ, nhà văn Pháp, họ thử viết, họ thấy không hợp với cái mùi phương Đông của Istanbul, rồi họ chọn cho mình một thứ: nỗi buồn của Istanbul và cứ thế xoáy sâu vào nó và được lưu danh vì những gì họ giữ lại cho thành phố này sau hàng chục năm phôi pha và biến đổi. Ông cũng nói về nỗi đau khổ của họ, những người bị nền Cộng Hoà kiểm duyệt gọi tên là “phản động” rồi kết thúc cuộc đời trong bi kịch: “… cả bốn ông nhà văn này buồn bã này sống và chết, một mình, chẳng bao giờ lấy vợ. Ngoại trừ Yayah Kemal, ba ông kia chết mà không thực hiện được giấc mơ của họ. Không chỉ là chuyện họ để lại đằng sau những tác phẩm chưa hoàn tất, mà ngay cả những cuốn sách được xuất bản khi họ còn sống cũng chẳng bao giờ với tới được các độc giả mà những nhà văn này tìm kiếm. Riêng Yayah Kemal, nhà thơ lớn lao nhất và ảnh hưởng nhiều nhất của thành phố Istanbul, suốt cuộc đời, ông từ chối cho xuất bản bất cứ tác phẩm nào của ông.” Dường như bóng ma kiểm duyệt của nền Cộng Hoà đã xâm lấn và huỷ hoại rất nhiều nghệ sĩ yêu thành phố này. Nhưng ở chương 15, Orhan lại nói về Ahmet Rasim, một người giữ chuyên mục báo đã viết về Istanbul bằng một thái độ vui vẻ, bình thản, trước sự kiểm duyệt tàn nhẫn đến đau lòng của nền chính trị. Ahmet Rasim dành 50 năm để viết về những gì xảy ra ở Istanbul, từ những tay nghiện rượu, đến dân bán hàng rong, khu phố nghèo, cửa hàng tạp hoá, phiên chợ, các món hàng… Ahmet Rasim từng nói: “Nếu những cấm đoán chính trị và sự thiển cận khiến bạn không tìm ra thứ gì để nói, hãy nói về hội đồng thành phố và cuộc sống ở thành phố, bởi vì mọi người luôn thích đọc mấy thứ này.” Orhan đã dành rất nhiều bài viết để ca ngợi những con người lao động miệt mài, bình tĩnh, người vẽ tranh, người viết từ điển, nhà thơ, nhà báo… đã kiên trì và bình tĩnh sống để viết về Istanbul trong sự ngột ngạt và đau đớn của nó. Có người kháng cự, có người ẩn nấp, có người cự tuyệt, lại có người cười khẩy vào mặt nó… nhưng tất cả họ đều cặm cụi sáng tác, nghiên cứu, viết để giữ lại một Istanbul đang dần đổ lụi vì những toà dinh thự đã quá cũ kĩ, vì thành phố đang méo mó đi bởi những kẻ xây dựng nó một cách kì quái và thô bạo. Orhan viết những điều này trong một nỗi buồn trong suốt và xuyên qua cả trang viết. “Chẳng làm gì có những tàn dư đế chế vĩ đại như vậy ở các đô thị Tây phương, được gìn giữ như viện bảo tàng lịch sử và được trưng bày một cách hãnh diện. Người dân của Istanbul cứ thế mà sống giữa những điêu tàn, hoang phế. Nhiều nhà văn, nhà du lịch Tây phương coi đây là một điều dễ thương vô cùng. Nhưng đối với những cư dân mẫn cảm, thân quen hơn, các tàn dư đế chế nhắc nhở họ rằng thành phố hiện nay quá nghèo, quá xô bồ, và thật vô phương nếu mơ ước sẽ có một ngày lại hiển hách như xưa, về những mặt giàu sang quyền uy và văn hoá. Thật khó mà tự hào về những căn nhà xiêu vẹo, đổ nát, bị bỏ bê, dơ dáy, bùn và bụi bám đầy, và thật đẹp làm sao, khi còn là một đứa nhỏ, những lần tôi đứng nhìn chúng bị lửa thiêu rụi từng chiếc một.” hay: “Bởi vì hình ảnh mà người dân Istanbul ôm ấp trong mình về thành phố thân yêu trong thế kỷ đã qua là hình ảnh một đứa trẻ nghèo đói, bị thất trận, bị tủi nhục, và cái còn lại chỉ là điêu tàn. Khi tôi mười lăm tuổi, tập tành vẽ những bức hoạ đầu tiên của mình, nhất là khi vẽ những con phố nhỏ của thành phố, tôi cảm thấy xốn xang tự hỏi nỗi buồn của chúng tôi sẽ dẫn dắt chúng tôi tới mãi đâu.”    Một phần khác được Orhan viết là những chuyện riêng của ông. Ông viết về cha mẹ mình, bà nội, cô chú, ngôi nhà yah sang trọng của dòng họ quý tộc nhà ông (đã hết thời) giờ chỉ là những cái hốc được ngăn ra cho cả dòng họ đu bám vào – gọi là nhà ổ chuột. Ở đó Orhan thấy cha mẹ cãi nhau, cha đi với mấy cô bồ, thấy bà nội ôm ấp mình, thấy cả cái tuổi dậy thì kì quặc của mình nảy mầm trong cơ thể. Ông mô tả những tính cách và suy nghĩ của người xung quanh ông. Người giàu Istanbul làm gì trong những buổi tiệc trà, khi có một đống tiền? – Họ đi mua nhà kiểu Tây, bất chấp căn nhà đó có vẻ vô cùng bất tiện và họ chẳng thích. Những chàng trai trẻ như Orhan làm gì? – Họ chạy như điên đầy phấn khích ra khỏi nhà mỗi khi có một dinh thự bùng lên trong ngọn lửa hay khi những chiếc tàu hàng khổng lồ đâm nhau ngoài vịnh Bosphorus và bốc cháy ra tro. Cảm xúc ấy được ông miêu tả:“Nhưng với những người trong số chúng tôi, đã từng nhìn thấy các yah cuối cùng của thành phố, những biệt thự, những khu nhà gỗ bị thiêu rụi vào thập niên 1950 và 1960, nỗi thích thú của chúng tôi có được bắt nguồn từ một trạng thái tinh thần khác hẳn các pasha thời kì Ottoman, những người thuần tuý thưởng thức cảnh tượng; niềm thích thú của chúng tôi còn bao gồm cảm giác tội lỗi, mất mát và ghen tức, trước sự huỷ diệt bất thình lình những dấu vết cuối cùng của một nền văn hoá lớn và một nền văn minh lớn mà chúng tôi không xứng hợp hay chưa được sửa soạn để mà thừa hưởng, trong khi chúng tôi điên cuồng biến Istanbul thành một thành phố hạng hai bắt chước một đô thị Tây phương nhợt nhạt, nghèo đói.” *** Orhan Pamuk, “một trong những tiếng nói mới mẻ và độc đáo nhất trong văn chương đương đại” như lời Independent on Sunday nhận xét, đã viết nhiều cuốn sách trong đó có Pháo đài trắng và Cuộc đời mới. Năm 2003, ông nhận giải International IMPAC Dublin cho cuốn Tên tôi là Đỏ, và năm 2004, Faber ấn hành bản dịch tiếng Anh cuốn Tuyết của ông, được Margaret Atwood ca ngợi là “cuốn sách không thể thiếu của thời đại chúng ta”. Istanbul, một ghi chép của ông về cuộc sống nơi thành phố này, đã được đề cử giải Samuel Johnson của BBC4, được Katie Hickman trong New Statesman gọi là “đẹp đẽ một cách phi thường và siêu việt”. Orhan Pamuk hiện đang sống ở Istanbul. *** Orhan Pamuk là một nhà văn người Thổ Nhĩ Kỳ, sinh ngày 7 tháng 1 năm 1952 tại Istanbul. Ông là tác giả của nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận và tác phẩm phê bình văn học. Pamuk đã được trao giải Nobel Văn học năm 2006, trở thành nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ đầu tiên nhận được giải thưởng này. Pamuk sinh ra trong một gia đình tư sản giàu có ở Istanbul. Ông theo học ngành Kiến trúc tại Đại học Istanbul, nhưng sau đó chuyển sang học Văn học Anh. Sau khi tốt nghiệp đại học, Pamuk bắt đầu viết văn và xuất bản tác phẩm đầu tay, "Cevdet Bey ve Oğulları" (Cevdet Bey và các con trai) vào năm 1982. Tác phẩm của Pamuk thường đề cập đến các chủ đề như bản sắc, lịch sử, văn hóa và tôn giáo. Ông đã khám phá những chủ đề này theo nhiều cách khác nhau, từ sử dụng các thủ pháp hậu hiện đại đến tái hiện lịch sử Thổ Nhĩ Kỳ. Tóm tắt một số tác phẩm "Cevdet Bey ve Oğulları" (Cevdet Bey và các con trai) (1982): Cuốn tiểu thuyết kể về câu chuyện của Cevdet Bey, một doanh nhân thành đạt ở Istanbul. Ông có ba người con trai, mỗi người đại diện cho một thế hệ khác nhau của Thổ Nhĩ Kỳ. Cuốn tiểu thuyết khám phá những thay đổi xã hội và chính trị ở Thổ Nhĩ Kỳ trong thế kỷ 20. "Kara Kitap" (Sách đen) (1990): Cuốn tiểu thuyết kể về câu chuyện của Kemal, một người đàn ông trẻ tuổi sống ở Istanbul. Kemal đang tìm kiếm sự thật về cái chết của cha mình, người đã bị giết bởi một nhóm cực đoan. Cuốn tiểu thuyết khám phá những xung đột giữa các giá trị truyền thống và hiện đại ở Thổ Nhĩ Kỳ. "Masumiyet Müzesi" (Bảo tàng sự trong trắng) (2008): Cuốn tiểu thuyết kể về câu chuyện của Kemal và Füsun, hai người trẻ tuổi yêu nhau ở Istanbul những năm 1970. Tuy nhiên, mối tình của họ bị ngăn cấm bởi gia đình của họ. Cuốn tiểu thuyết khám phá những phức tạp của tình yêu và sự mất mát. "Kar" (Tuyết) (2002): Cuốn tiểu thuyết kể về câu chuyện của Ka, một nhà văn trẻ tuổi đến Kars, một thị trấn nhỏ ở miền đông Thổ Nhĩ Kỳ. Ka được giao nhiệm vụ viết một bài báo về một vụ tự thiêu của một cô gái trẻ. Tuy nhiên, anh sớm bị cuốn vào một cuộc xung đột giữa các nhóm cực đoan. Cuốn tiểu thuyết khám phá những căng thẳng chính trị và sắc tộc ở Thổ Nhĩ Kỳ. "Kırmızı Saçlı Kadın" (Người phụ nữ tóc đỏ) (2016): Cuốn tiểu thuyết kể về câu chuyện của Mevlut, một người đàn ông bán bánh mì ở Istanbul. Mevlut đã kết hôn và có ba con, nhưng anh vẫn nhớ đến một người phụ nữ tóc đỏ mà anh đã gặp khi còn trẻ. Cuốn tiểu thuyết khám phá chủ đề tình yêu và mất mát trong bối cảnh của Istanbul đương đại. Tác phẩm của Orhan Pamuk đã được dịch ra hơn 60 thứ tiếng và được nhiều nhà phê bình đánh giá cao. Ông là một trong những nhà văn đương đại nổi tiếng nhất thế giới. Mời các bạn đón đọc Istanbul - Hồi ức và Thành phố của tác giả Orhan Pamuk.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Tiểu Long Nữ - Nguyễn Huy Thiệp
Tiểu thuyết là một thể loại văn học đặc sắc có cả ở phương Đông lẫn phương Tây. Tiểu thuyết văn xuôi có ở Việt Nam xuất hiện vào khoảng thời gian đầu thếkỷ ~ khi mà chữ quốc ngữ bắt đầu đuởc phổ biến. Nhiều nhà nghiên cứu văn học coi Hoàng Ngọc Phách, tác giả của tiểu thuyết "Tố Tâm" (xuất bản năm 1925) là người đầu tiên viết tiểu thuyết ở Việt Nam. Tuy nhiên, cũng có ý kiến bác lại, cho rằng tiểu thuyết ở Việt Nam có sớm hơn (khoảng trong những năm Đại chiến thế giới thứ nhất) và những tiểu thuyết đó ra đời đầu tiên ở Nam Bộ. Lỗ Tấn (nhà văn lớn Trung Quốc) khi trích dẫn lời người xưa cho rằng "nhà tiểu thuyết gom góp những câu nói vụn vặt, những mẩu chuyện vụn, lấy thí dụ gần đó để làm ra những cuốn sách ngắn, gọn, tuy vậy cũng có thể lấy đó để răn mình, sắp xếp việc nhà". Những nhà tiểu thuyết đầu tiên ở Trung Quốc phần lớn "thuộc dòng phái sinh ra tử các chửc quan nhỏ, sách họ làm là do câu chuyện đường phố, lời nói ngõ làng, vào lỗ tai ra lỗ miệng mà tạo ra". Trong biển cả tiểu thuyết mà các "nhà văn" sáng tác ra (khái niệm "nhà văn" là một khái niệm chỉ những người viết hư cấu, "bịa đặt" - chữ của Nguyễn Công Hoan - hẳn cũng chỉ là một khái niệm mới, ở ta từ thế kỷ XIX về trước không có) bao gồm đủ mọi thử chuyện ái, ố, hỷ, nộ trên đời: Tính chất thị phi, không tin cậy khiến người ta thậm chí nghi ngờ tư cách của chính những người viết ra nó. Trong câu trích dẫn trên đây từ sách của Lỗ Tấn ("Sơ lược lịch sử tiểu thuyết Trung Hoa") tôi đặc biệt chú ý đến chi tiết người viết tiểu thuyết ("nhà văn' ) đều là "các chức quan nhỏ'? Vì sao lại thế? Các chức quan nhỏ từ xưa tới nay phần lớn đều nghèo, họ thuộc bậc thang thấp nhất trong giới quan trường nhưug lại đứng đầu trong "bọn thảo dân". Địa vị "trung dung" không cao, không thấp "chân không đến đất, cật không đến trời", cộng với sự rỗi hơi trong công việc khiến họ có thể có nhiều cơ hội "nắm thông tin" trong thiên hạ nhiều hơn những người ở tầng lớp khác. Chữ nghĩa đầy mình cũng chẳng làm gì, thời gian nhàn rỗi cũng chẳng làm gì… Vậy thì tôt nhất ngồi viết tiểu thuyết. Trong quan niệm của tôi, truyện ngắn là một thể loại viết khó hơn tiểu thuyết nhiều. Nó là một thứ "luyện công" cho nghệ thuật viết văn, là một thử mỹ nghệ kim hoàn đòi hỏi tinh vi, khéo léo và "bác học". Tiểu thuyết tạp hơn, có thể viết "tất tay" và không phải tôn sức nhiều như truyện ngắn. Đương nhiên, đây là tôi muốn nói đến những nhà văn có tài Trời cho thực sự, họ hoàn toàn có thể viết những tiểu thuyết (đọc được, không cầu toàn lắm vì thể loại tiểu thuyết không đòi hỏi cầu toàn) dễ dàng như "thò tay vào túi lấy đồ vật, Nhiều cuốn tiểu thuyết người ta chỉ viết trong vòng một tháng. Tôi cũng đã từng có cơ hội làm việc như vậy (tiểu thuyết "Tuổi 20 yêu dấu" viết trong một tháng và viết tiểu thuyết "Tiểu long nữ" trong 15 ngày). Tôi nghĩ rằng ở những nhà tiểu thuyết "đại hiệp" như Kim Dung thì việc viết ra "Tiếu ngạo giang hồ, "Thiên long bát bộ" v.v… chắc có lẽ cũng không mất nhiều công sức cho lắm. Nhà văn Nguyễn Việt Hà (sinh năm 1962 ở Hà Nội) quan niệm khá chính xác về sự "bừa", hồn nhiên, ôm đồm và trần tục của tiểu thuyết. Xét về khía cạnh nào đó, tiểuthuyết có lẽ không phải là một thể loại "đứng đắn" nếu nhìn bằng con mắt nghiêm khắc của các học giả "đại thuyết". "Tiểu thuyết - sách mua vui" cần phải được các nhà văn ở ta nhận thức ra và quan niệm lại (ít nhất cũng giống như những nguởi "cổ xưa"), nhu thế thì "chữ nghĩa mới tuôn ra trên đầu ngọn bút như nước chảy" được. Trong nhiều năm nay, rất tiếc giới nghiên cứu lý luận văn học ở ta và các nhà phê bình văn học thuộc môn phái "hành quyết" đã đặt vào tiểu thuyết nhiều rào chắn quá, khiến cho các nhà văn thực sự muốn viết cũng sợ hãi không dám viết tiểu thuyết. "Tiểu long nữ" là một cuốn tiểu thuyết thời sự. Nó được viết ra từ một chuyện nhảm nhí và tôi nghĩ cũng không phải khó khăn gì mấy (nó không bõ để tôn sức). Thực ra, ý nghĩa của nó cũng chỉ để mua vui và kiếm tiền. Có lẽ bởi vậy nó sẽ gần với quan niệm của các nhà tiểu thuyết "đại hiệp" như Tản Đà, Lê Văn Trương, Hồ Biểu Chánh… ở ta ngày xưa chăng? Nguyễn Huy Thiệp *** Trong nhà Chi. Trên chiếc ghế xa-lông rách, Thúy Vinh ngồi nép vào một góc sợ hãi. Bà Dung ôm Chi ngồi ở ghế, Chi vẫn nước mắt sụt sùi. Khôi ra treo tấm biển: "Nghỉ không bán hàng" rồi khép cửa lại đi vào. Khôi đi đi lại lại trước mặt ba người. Khôi ra rút soạt con dao bầu lăm lăm trong tay. Khôi dừng lại trừng mắt hỏi Chi: - Thế hiếp dâm mày nó là thằng nào? Chi sợ hãi chỉ Thúy Vinh. Chi nhìn con dao trên tay Khôi, khiếp đảm: - Con không biết… Bố hỏi chị ấy! Khôi quay sang Thúy Vinh, uy hiếp. Khôi dứ con dao trước mặt Thúy Vinh: - Nó là thằng nào? Nói! Thúy Vinh sợ hãi, lắp bắp: - Ông ấy… Ông ấy là Nguyễn Quốc Lương, một quan chức bự… Khôi cười nhạt: - Thế thì nó là một thằng có tóc… Được rồi! Tóm thằng có tóc không ai tóm thằng trọc đầu! Tốt lắm! Thế thì tốt lắm! Thế thì nó chết đầu nước với tao… Tao sẽ cho nó đi tù phen này… Thế mày quen nó lâu chưa? ... Mời các bạn đón đọc Tiểu Long Nữ của tác giả Nguyễn Huy Thiệp.
Người Đàn Ông Có Đôi Mắt Trong - Cấn Vân Khánh
Tình yêu trong “Người đàn ông có đôi mắt trong” của Cấn Vân Khánh làm cho độc giả cảm thấy thân thuộc. Những ngột ngào, rung cảm, những mong đợi và đam mê tưởng như đều là những xúc cảm chân thật nhất mà Cấn Vân Khánh lấy ra từ chính cuộc sống này, góp nhặt từ chính tình yêu của cô. Nhưng nếu muốn tìm những cuộc tình ngọt ngào như kẹo, lãng mạn như hoa hồng ở tình yêu trong văn chương của Cấn Vân Khánh thì có lẽ sẽ rất khó.  Tình yêu trong “Người đàn ông có đôi mắt trong” của Cấn Vân Khánh là những dày vò, những xúc cảm mạnh mẽ, đôi khi là những dằn vặt đến đau đớn. Tình yêu đó là thứ tình yêu đôi khi là cay đắng nhưng nồn nàn.    Bạn đọc có thể dễ dàng bắt gặp mình trong hình ảnh của những nhân vật, những số phận, những nỗi buồn, niềm vui của chính mình. Cũng có thể, nếu muốn tìm một sự tĩnh tại, một cảm giác thư giãn thì độc giả không nên đọc tác phẩm này, bởi khi đọc “Người đàn ông có đôi mắt trong” thì bạn sẽ phải ngẫm ngợi và suy tư vì nó đời quá, nó khao khát và dằn vặt quá, tình yêu nhiều lúc cũng khiến người ta đau. Đau chung với số phận của một người phụ nữ chán chồng, đau chung với tình yêu đơn phương của một chàng gay trẻ tuổi, đau cùng nỗi niềm của chính tác giả khi cảm thấy mình bất lực trước yêu thương… *** Người tình của tôi là nỗi buồn lớn nhất cuộc đời tôi... Tôi nghĩ thế, và cứ triền miên trong cảm giác u ám ấy mãi thế, ngay cả khi anh sát tôi thế này. Trong năm giây đầu tiên tôi mở to mắt ngửi ngửi mùi vị nồng nàn ẩm ướt trên cánh môi anh, và năm giây sau ngay lập tức mắt tôi cụp xuống khi anh và tôi quyết định trao nhau một nụ hôn kiểu Pháp như anh nói: Đó là sự yêu của lưỡi. Tôi vốn là một kẻ biếng lười, ngoài việc phải ngồi vào bàn viết hàng đêm, vật vã cùng câu chữ, tôi không làm nổi môt việc gì tử tế cho ra hồn. Nữa là đáp lại một hôn quá dài quá sâu thế này. Hết sức tham lam là việc đó chưa bao giờ ngưng. Nữa! Nữa! Tôi từ một kẻ mỏi mệt dần dần chuyển sang trạng thái háo hức chưa từng có. Giữa một căn phòng lãng mạn không chê vào đâu được cùng với vòng tay siết chặt của người đàn ông tôi yêu. Và anh, không ngớt gọi tôi là "người tình bé bỏng", khi anh biết thừa tôi rắp tâm muốn làm vợ anh. Tại sao, giữa hai người độc thân yêu nhau, vẫn có thể coi nhau là người tình. Đôi khi tôi nằm úp mặt xuống gối, miên man trong dòng suy nghĩ vô định, run lên vì hồi hộp đợi chờ những ngón tay anh vuốt nhẹ sống lưng tôi, anh làm thật khẽ và nói tôi hãy tận hưởng cảm giác này đi đừng lo âu gì cả, rằng anh chỉ có duy nhất một mình tôi mà thôi. Thi thoảng anh nhắc đến danh từ vợ mà tôi luôn cố tình viết hoa trong tâm trí. Người đàn bà sẽ sống chung với anh sau này, một người sẽ phải, nhất thiết phải mập mạp hông to ngực nở tóc dài nấu ăn ngon biết lắng nghe, chịu đựng, sinh cho anh thật nhiều con. Người mà tôi không thấy hình ảnh mình trong đó. Dĩ nhiên không phải trong lúc âu yếm thế này vì tôi sẽ một là nổi điên hai là cụt hứng, mặt xị xuống, mặc lại tất cả những thứ đồ anh đã cởi bỏ lên người rồi đi khỏi anh, biến mất, ngay lập tức. Nhưng tôi đã chưa bao giờ tắt điện thoại được quá một ngày. Và cũng không thể từ chối anh quá một đêm, trừ phi anh ở một nơi rất xa. Vì công việc anh thường xuyên phải xa tôi. Khi anh ở xa tôi thường ẩn mình trong bóng đêm u ám, uống thật nhiều cà phê đen, nghĩ đến và dằn vặt sự mê muội của mình, yếu đuối là khởi thủy của sự mê muội. Hay tâm hồn tôi bị anh chiếm lĩnh. Dù anh không phải mối tình đầu tiên, mối tình thứ hai và kế tiếp của tôi. Nhưng tôi tin anh là cuối cùng. Vì sau anh chẳng thấy ai còn là hấp dẫn, ngay cả khi vì quá nhớ anh, tôi đi bar chơi rất khuya và suýt nữa thì chịu cho một chàng trai hai mươi tuổi ghé sát tai khen tôi quyến rũ và âu yếm hôn tôi. Chung thủy. ... Mời các bạn đón đọc Người Đàn Ông Có Đôi Mắt Trong của tác giả Cấn Vân Khánh.
Ba Sai Lầm Của Đời Tôi - Chetan Bhagat
Govind, một chàng trai trẻ tại một thành phố nhỏ của Ấn Độ mơ giấc mơ làm giàu. Ish, gã bạn thân, lại có một giấc mơ khác về sự nghiệp thể thao. Và họ cùng nhau mở một cửa hàng bán đồ cricket trên đất của Omi, cậu bạn thứ ba. Nhưng chẳng có gì dễ dàng tại một thành phố hỗn loạn đang phát triển. Lọt thỏm giữa những mâu thuẫn tôn giáo, những xung đột chính trị, những thảm họa tự nhiên, những tình yêu sai thời điểm, những va chạm trong lý tưởng của chính họ liệu những giấc mơ cá nhân có thể chiến thắng cơn ác mộng của thực tế? Và những sai lầm của đời họ có cản bước họ đi? Với giọng văn lôi cuốn, dí dỏm và hài hước, cây bút xuất sắc của Ấn Độ đã kể câu chuyện xúc động về một tuổi trẻ khinh suất nhưng đầy khát khao. Ra đời sau thành công vang dội của Ba chàng ngốc, Ba sai lầm của đời tôi lại là một bestseller nữa của Chetan Bhagat, người hùng trong văn chương dành cho người trẻ Ấn Độ. Một câu chuyện nữa vừa hài hước vừa xúc động về tuổi trẻ khinh suất nhưng đầy khát khao, bồng bột nhưng kiên định. Ra đời sau thành công vang dội của Ba chàng ngốc, Ba sai lầm của đời tôi lại là một bestseller nữa của Chetan Bhagat, người hùng trong văn chương dành cho người trẻ Ấn Độ. Một câu chuyện nữa vừa hài hước vừa xúc động về tuổi trẻ khinh suất nhưng đầy khát khao, bồng bột nhưng kiên định. *** Chetan Bhagat sinh năm 1974 là nhà văn người Ấn Độ. Sách của anh thường đạt được ngay vị trí best seller từ khi mới phát hành và được chuyển thể thành nhiều bộ phim lớn của Bollywood. Tờ The New York Times gọi anh là “tiểu thuyết gia viết tiếng Anh bán chạy nhất lịch sử Ấn Độ”. Tạp chí Time đưa anh vào danh sách “100 người có ảnh hưởng nhất thế giới”. Anh cũng từng có mặt trong số “100 người sáng tạo trong công việc nhất thế giới” do tạp chí Fast Company (Mỹ) bình chọn. Chetan viết bằng cả tiếng Anh và tiếng Hindi cho các tờ báo hàng đầu, tập trung vào tuổi trẻ và các vấn đề phát triển đất nước. Anh cũng là một diễn giả đầy thuyết phục. Chetan bỏ việc tại một ngân hàng đầu tư quốc tế vào năm 2009 để cống hiến toàn thời gian cho viết lách và đem lại sự thay đổi cho đất nước. Anh sống ở Mumbai cùng vợ là Anusha, một người bạn học cũ, và hai cậu con trai sinh đôi Shyam và Ishaan. Các cuốn sách nổi tiếng nhất của Chetan có thể kể tới Ba chàng ngốc (Five point someone), Ba sai lầm của đời tôi (The 3 mistakes of my life), Hai đầu đất nước: Câu chuyện về cuộc hôn nhân của tôi (2 states: The story of my marriage) và Cách mạng 2020 (Revolution 2020). Website chính thức của anh tại http://www.chetanbhagat.com *** Máy đo nhịp tim kêu dồn dập. Tim của Govind đập quả 130 nhịp một phút. Y tá chạy vào. “Anh làm gì thế?” cô nói. “Tôi không sao. Tôi đang nói chuyện,” Govind nói. Cậu ta ngồi nhỉnh dậy trên giường. “Đừng bắt anh ấy gắng sức.” Y tá lắc lắc ngón tay với tôi. Tôi gật đầu và cô ấy rời phòng. “Và từ ngày hôm đó, chính xác là cách nay ba năm, hai tháng và một tuần, Ish đã không nói chuyện với tôi nữa. Mỗi lần tôi cố nói chuyện với cậu ấy, cậu ấy lại lờ tôi đi.” Govind kết thúc câu chuyện của mình. Tôi đưa nước cho cậu ta, vì giọng cậu ta ngập ngừng. “Vậy chuyện gì xảy ra trong ba năm ấy - với cửa hàng, Vidya, và Ali?” tôi hỏi. Cậu ta cúi xuống mân mê dây máy đo nhịp tim đang dính vào ngực. Cậu ta nuốt khan mấy lượt để giữ bình tĩnh. Tôi không hối thúc thêm nữa. Nếu cậu ta muốn kể, cậu ta sẽ kể. Tôi xem đồng hồ, năm giờ sáng. Tôi bước ra khỏi phòng. Ánh ban mai ngập tràn hành lang bệnh viện. Tôi hỏi một người xem lấy trà ở đâu. Cậu ta chỉ tôi vào căng tin. Tôi quay lại, mang theo hai tách trà. Govind từ chối, vì cậu ta không được phép uống sau khi rửa dạ dày. Cậu ta không nhìn thẳng vào mắt tôi. “Tôi cần số điện thoại hãng hàng không Singapore. Tôi phải xác nhận chuyến bay khứ hồi,” tôi nói, để thay đổi tâm trạng. “Bố mẹ Omi,” Govind nói, ánh mắt và giọng nói đều hạ xuống. “Tôi không thể nói họ bị hủy hoại ra sao. Trong nhiều tuần, ngôi đền có nhiều khách trong khu dân cư đến thăm và họ chỉ cầu nguyện cho Omi, Dhiraj và Mama. Tại lễ tang, bố Omi khóc khi năm ngàn người từ khắp Ahmedabad đến dự. Mẹ Omi ngã bệnh sau một tuần bỏ ăn. Bà ấy phải nằm viện một tháng.” Nội tâm tôi tranh đấu không biết có nên đặt tay mình lên bàn tay xanh tái của Govind đang kê trên chăn không. “Suốt hai tháng, tôi không đến cửa hàng. Tôi đã cố liên lạc với Ish, nhưng... Nếu tôi đến gặp cậu ấy, cậu ấy sẽ sập cửa ngay trước mặt tôi.” “Anh có nói chuyện với Vidya không?” Govind lắc đầu. “Nói chuyện với Vidya thì tuyệt nhiên là không rồi. Họ giam lỏng cô ấy trong nhà. Bố cô ấy đập nát điện thoại cô ấy. Các kênh truyền hình vẫn tiếp tục đưa tin sau vụ Godhra và những cuộc nổi loạn. Nhưng đời tôi đã sụp đổ. Tôi đã sống sót qua những chuyện đó. Lúc ấy tôi có uống thuốc tự tử đâu. Đừng có vì hôm nay tôi nằm đây... mà cho rằng không mạnh mẽ.” Cậu ta ngừng lại. “Ba tháng sau biến cố kia, mẹ Omi về nhà. Bà bảo tôi mở lại cửa hàng. Omi đã bảo với bà đó là nơi nó yêu thích nhất trên đời này. Mama đã mất, nên cửa hàng lúc này là của mẹ Omi. Và bà muốn để nó cho chúng tôi, để giữ lại kỷ niệm về con trai bà.” “Vậy cậu đồng ý?” “Lúc đầu tôi không thể nhìn thẳng vào mắt bà. Tội lỗi... vì đã khiến Omi chết, vì tôi có một phần lỗi trong cái chết của Mama, vì đã mừng khi Mama chết. Nhưng bà không hiểu gì về những ác mộng của tôi, và dù sao tôi phải kiếm sống. Công việc thua lỗ. Chúng tôi đã nợ nhiều hợp đồng. Nên tôi quay lại cửa hàng. Ish bảo với mẹ Omi nó sẽ đến, nhưng không muốn liên quan đến tôi. Mẹ Omi muốn cả hai, nên chỉ có một giải pháp duy nhất.” “Là gì?” ... Mời các bạn đón đọc Ba Sai Lầm Của Đời Tôi của tác giả Chetan Bhagat.
Giữa Trong Xanh - Nguyễn Thành Long
Nguyễn Thành Long sinh tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, nguyên quán ở Quy Nhơn, Bình Định, con một gia đình viên chức nhỏ. Năm 18 tuổi ông chuyển ra học ở Hà Nội và có viết cho báo Thanh Nghị (1943). Sau Cách mạng Tháng Tám, Nguyễn Thành Long tham gia hoạt động văn nghệ trong những năm kháng chiến chống Pháp (1946-1954) ở Nam Trung Bộ và bắt đầu viết văn vào thời gian này. Nguyễn Thành Long là cây bút chuyên viết về truyện ngắn và ký. Nét đặc sắc trong truyện ngắn của ông là luôn tạo được hình tượng đẹp, ngôn ngữ giàu chất thơ, trong trẻo, nhẹ nhàng. Nguyễn Thành Long đã cho xuất bản nhiều truyện ngắn, trong đó nổi bật là các tập: Bác cơm Cụ Hồ (1952), Gió bấc gió nồm (1956), Hướng điền (1957), Chuyện nhà chuyện xưởng (1962), Trong gió bão (1963), Gang ra (1964), Những tiếng vỗ cánh (1967), Giữa trong xanh (1972), Nửa đêm về sáng (1978), Lý Sơn mùa tỏi (1980), Sáng mai nao, xế chiều nào (1984),... Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa viết năm 1970, sau chuyến đi thực tế Lào Cai của nhà văn, được in trong tập Giữa trong xanh (1972). Đây là truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách Nguyễn Thành Long. Qua câu chuyện về những nhân vật không tên, tác giả muốn giới thiệu với người đọc về một vùng đất lặng lẽ mà thơ mộng, ở đó có những con người được lao động thầm lặng, say mê hiến dâng tuổi trẻ và tình yêu của mình cho quê hương, đất nước. Ngoài sáng tác, ông còn là dịch giả hai tác phẩm của Antoine de Saint-Exupéry: Em bé con nhà trời và Quê xứ con người (nguyên tác: Terre des hommes). *** LÂU lắm họ mới lại gặp nhau. Và cùng đi công tác. Chuyến trước ở một vùng trung du. Phùng và Hân quen nhau, có dịp trao qua đổi lại một số ý kiến về những công việc hiện nay, hai người đánh giá thầm nhau kha khá, nhất là ở sự thành thật. Điểm thành thật ấy, mọi người xung quanh không biết, họ chỉ biết hai người có cái gì hợp nhau đấy, và bắt đầu nửa đùa nửa thật cặp ghé đôi bên, như thói thường vẫn thế, khi hai người nữ và nam đều còn đang tự do, cho dù Hân chỉ mới quá hai mươi và Phùng thì đã bốn mươi rồi. Chắc chắn là Phùng và Hân đều có nghe nhưng bỏ qua, cũng chẳng bỏ qua đâu, thật ra cũng có dừng lại ngẫm nghĩ một chút, nhưng việc ấy không ảnh hưởng gì đến cái tình bạn xa xa — xa đến nỗi tưởng không gọi được là tình bạn, nhưng lại có cái vốn quí trọng mà tình bạn hời hợt thường không có. Trong đám đông nhà báo ăn nói rất bạo dạn, Hân nhìn thấy Phùng thì mừng quá. Cô bước tới, xiết tay anh và thấp giọng hỏi dịu dàng: — Anh cũng đi Điện Biên lần đầu ạ? — Lần thứ ba đấy cô ạ — Anh trả lời tươi cười và bất giác nói luôn — lần trước năm nhăm, nhân dịp lập khu tự trị Tây Bắc. — Anh là chiến sĩ Điện Biên ư? Không hiểu sao cô gái lại kêu lên thế. Phùng “vâng” một cách sẽ sàng, và đỏ mặt. Chừng như tiếng “vâng” ấy vẫn còn ồn áo quá, anh xóa bớt đi bằng một câu giảng giải xuề xòa: — Tôi cũng là nhà báo như bây giờ thôi mà. Nói xong, lại như thấy mình nhỡ miệng mà hở hang thêm. Anh nín thinh. Đi thăm chiến trường cũ hôm nay, đoàn nhà báo có ý đi bằng cả một đội xe tải chở hàng lên Tây Bắc. Đây là một đôi xe tiên tiến, chỉ chênh với đội được phong là anh hùng có một tí. Nghe kể cuộc đời của mỗi anh đội trưởng ngẫu nhiên cũng là chiến sĩ Điện Biên cũ, cũng đã loang loáng thấy lóe lên, rền lên biết bao bom đạn, bao hiểm nghèo, bao gan dạ. Các nhà báo từng nhóm hai người chia nhau ngồi trong các lái, Hân và Phùng cùng lên một xe. Lái cho hai người là một người trai trẻ bề ngoài lù khù nhưng đã trải qua sáu năm đánh Giônxơn và Níchxơn thật sôi động, đuôc làm lễ vào Đảng cách đây chỉ nửa tiếng đồng hồ. Chuyện này vừa xảy ra trước mắt các nhà báo, làm cho ai nấy đều kích động lắm. Hân bắt tay anh lái trước rồi mới vòng lại để bước lên xe. ... Mời các bạn đón đọc Giữa Trong Xanh của tác giả Nguyễn Thành Long.