Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Ông Già Goriot - Honore de Balzac

Ông Già Goriot là một tiểu thuyết xuất bản lần đầu năm 1835 của nhà văn Pháp Honoré de Balzac. Đây là một tác phẩm thuộc phần Những cảnh đời riêng (Scènes de la vie privée) của bộ tiểu thuyết đồ sộ Tấn trò đời (La Comédie humaine). Lấy bối cảnh là kinh đô Paris năm 1819, Ông Già Goriot đề cập tới số phận của ba nhân vật, ông lão Goriot, tên tù khổ sai vượt ngục Vautrin và anh sinh viên luật Eugène de Rastignac. Tiểu thuyết này được coi là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của Balzac, nó lần đầu tiên cho thấy ý định của nhà văn trong việc nối kết các tác phẩm riêng lẻ của bộ Tấn trò đời bằng những nhân vật xuất hiện qua nhiều tiểu thuyết (điển hình là Rastignac). Ông Già Goriot cũng là điển hình cho chủ nghĩa hiện thực trong phong cách viết của Balzac với những nhân vật được mô tả chi tiết và có chiều sâu. *** Honoré de Balzac (1799-1850) là nhà văn hiện thực Pháp lớn nhất nửa đầu thế kỷ 19, bậc thầy của tiểu thuyết văn học hiện thực.  Ông là con trai của Bernard-François Balssa và Anne-Charlotte-Laure Sallambier, họ Balzac được lấy của một gia đình quý tộc cổ Balzac d'Entraigues. Cuộc đời ông là sự thất bại toàn diện trong sáng tác và kinh doanh - đó là tổng kết chung về thời thanh niên của Balzac từ khi vào đời cho đến năm (1828). Ông chỉ thật sự được văn đàn Pháp công nhận sau khi đã mất. Người ủng hộ ông nhiều nhất khi còn sống là Victor Hugo. Ông có một sức sáng tạo phi thường, khả năng làm việc cao, thường chỉ ngủ một ngày khoảng 2 đến 3 tiếng, thời gian còn lại làm việc trên một gác xép. Balzac sớm có ý thức về sự tái hiện cuộc đời một cách hoàn chỉnh ở đủ mọi góc cạnh của nó và được đặt trong hệ thống mà ông ví như một "công trình kiến trúc của vũ trụ" với tính chất vừa hệ thống vừa hoành tráng từ các tác phẩm của ông. Vũ trụ ấy là cuộc đời nhìn qua nhãn quang của ông tạo nên một "thế giới kiểu Balzac" in rõ dấu ấn của "cảm hứng vĩ mô". Vì vậy, vũ trụ trong tiểu thuyết Balzac là một "vũ trụ được sáng tạo hơn là được mô phỏng". Honoré de Balzac từng nói một câu nổi tiếng " Ai cũng có thể làm thầy ta !" ; chính sự sâu sắc này của ông đã ảnh hưởng rất lớn về cách sống cũng như trong nghệ thuật của ông. Một số tác phẩm tiêu biểu : Miếng da lừa, Lão Goriot, Bước thăng trầm của kĩ nữ, và đặc biệt là bộ tiểu thuyết đồ sộ Tấn trò đời. *** Kính tặng đại danh sĩ Geoffroy Saint Hilare để tỏ lòng ngưỡng mộ sự nghiệp và thiên tài cùa ông De Balzac Bà Vauquer, nhũ danh de Conflans, là một bà già từ bốn mươi năm nay đang cai quản tại thành Paris một ký túc xá ờ đường mới Neuve Sainte Geneviève, khoảng giữa xóm la tinh và vùng ngoại ô Thánh Marcel. Ký túc xá này được gọi là ký túc xá Vauquer nhận ở trọ cả đàn ông lẫn đàn bà, cả người già cả đến hạng thanh niên, mà chẳng bao giờ thanh danh của nhà trọ ấy bị xuyên tạc. Nhưng cũng đã ba mươi năm nay, không hề có một người trẻ tuổi nào ờ đây, và nếu có thanh niên nào lạc lõng chốn này thì có lẽ thanh niên ấy chỉ nhận được của gia đình một số tiền cấp dưỡng rất kém cỏi. Tuy nhiên, vào năm 1819, là lúc mở màn tấn thảm kịch sắp kể ra đây, nhà này có chứa một thiếu nữ khôn lớn. Ta cần phải dùng chữ thảm kịch ờ đây, dầu danh từ này đã mất cả ý nghĩa vì người ta đã quá lạm dụng và quá ngược đãi nó trong thời buổi văn chương bi khổ này? Không phải vì câu chuyện có một kịch tính thật sự: nhưng câu chuyện kể ra có cũng sẽ làm cho đọc giả xa gần không cầm được nước mắt intra muros et extra? Nhưng bạn sống xa cách Paris thông cảm được câu chuyện này chăng? Điều đó không chắc. Những đặc tính của “Cảnh đời” (Scènce de la vie privée) này mang nặng màu sắc địa phương mà chỉ những dân ở giữa đồi Montmartre và vùng Montrouge, ở cái thung lũng nổi danh vì đầy vôi gạch lúc nào cũng sắp sụp đổ và đầy những rạch bùn đen. Cái thung lũng đầy những đau khổ thực sự, những vui mừng thường là giả tạo, cái thung lũng đã hằng bị náo động ghê gớm, đến nỗi chỉ có chuyện gì thật quá lố mới có thể gây được ở đây một cảm xúc lâu dài. Nhưng thỉnh thoảng cũng có những nỗi đau khổ mà do sự quy tụ của tệ tập và đức hạnh đã làm cho thành lớn lao và nghiêm trọng: trước những cảnh huống ấy, lòng ích kỷ và quyền lợi đều trăm lại và thương cảm; nhưng sự khích động ấy chỉ như một quả ngon được nhai nuốt mau lẹ. Chiếc xe của văn minh, chẳng khác chi chiếc xe chở tượng Thần ờ thành Jaggernath (1), chỉ chậm tiến đôi chút vì có một mảnh tim khó nghiến hơn chững tim khác đã làm kẹt bánh thần xa. Và chính người cũng sẽ làm như thế, người là kẻ đang cầm cuốn sách này trong bàn tay trắng, là kẻ đang chễm chệ trên chiểc ghế bành êm dịu, và người cũng tự nhủ thầm: “Cái này có lẽ cũng tiêu khiển ta được đây!”. Lúc đã đọc xong những nghịch cảnh âm thầm của ông già Goriot, người sẽ ăn ngon cơm; còn lòng người không chút rung cảm, người chỉ quy tội cho tác già đã nói quá, hoặc đã thi vị hóa câu chuyện. Ẩy, nhưng người hãy biết cho rằng tấm thảm kịch xảy ra đây không phải là chuyện bịa đặt hay là một tiểu thuyết. Tất cả đều có thật (2), thật đến nỗi ai cũng có thể nhận thấy từng chi tiết ở ngay mình, có lẽ ở ngay nội tâm mình. Ngôi nhà dùng làm ký túc xá thuộc quyền sở hữu của bà Vauquer. Nhà ở dưới dốc Đường mới Sainte Genevière, ngay chỗ con đất uốn thấp xuống để rẽ qua đường Cái Ná một cách rất đột ngột và rất gắt, đến nỗi ngựa ít lên xuống con đường đó. Trường hợp này đã làm thuận tiện cho không khí êm lặng ở những con đường bị ép giữa khu vực nhà thờ Val de Grâce và đền Panthéon: hai lâu đài đã biến đổi bầu không khí với những màu vàng tung vào đấy, và đã làm mọi vật phải tối tăm vì những mầu sắc chát chúa của các nóc dọi xuống. Ở đây những đá lát đường khô ráo, những rãnh chẳng có nước mà cũng chẳng có bùn, cỏ mọc ven theo các bức tường. Người rất vô tư vào đây cũng phải u buồn như những khách khác, tiếng ồn một cái xe đến đây cũng thành một biến cố đặc biệt, nhà cửa ủ rủ, tường vách sặc mùi một ngục tù. Một người dân Paris lạc loài vào đây chỉ nhận thấy toàn những nhà trọ tầm thường hoặc những trường học, một vẻ nghèo nàn hoặc buồn nản, những người già sắp chết, hoặc những thanh niên đang tươi vui mà phải cặm cụi làm việc. Không một xóm nào ở Paris có thể ghê tởm hơn, hoặc ít người biết hơn. Nhất là con đường mới Sainte Genevière giống như một cái khung bằng hoàng đồng, cái khung cảnh độc nhất hợp với cốt truyện này: để đưa vào cốt truyện và để hiểu, không gì bằng những màu sắc nâu sậm, những lý tưởng trang trọng... cũng như từ bậc một ánh mặt trời tối dần và tiếng hát người đánh xe trầm dần lúc kẻ lữ hành xuống đần Hầm mộ. So sánh đúng thay! Nào ai đoán định được còn gì rùng rợn hơn sự việc này, ai, những kẻ có một quả tim khô héo, hay những kẻ mang một khối óc trổng rỗng? Mặt tiền của ký túc xá nhìn xuống một cánh vườn nhỏ, và cái nhà đâm thẳng góc ra đường Mới Sainte Genevière, trông hình như cái nhà bị con đường cắt sâu vào vậy. Dọc theo mặt tiền nhà, giữa nhà và vườn có một đám sân sỏi lõm sâu vào và rộng lối một thước (3); trước đám sân là một con đường nhỏ rải cát, hai bên có những cây phong lữ thảo, trúc đào và cây lựu trồng trong những chậu lớn bằng sành màu xanh và trắng. Người ta vào đường nhỏ ấy do một cửa lớn trên có tấm bảng mang chữ: Nhà Vanquer, và ở dưới: Nhà trọ cho cả nam phụ lão ấu. Ban ngày, một cánh cửa song thưa có mắc cái chuông rung kêu rổn rảng để thấy ở cuối con đường nhỏ, trên bức tường đối diện với đại lộ một cái vòm tròn vẽ màu cẩm thạch xanh do tay một họa sĩ trong xóm vẽ. Trong chỗ lõm dưới vòm vẽ ấy, có đựng cái tượng thần Ái tình. Nhìn lớp sơn long của bức tượng, những người thích tượng trưng có lẽ nhận thấy đây là một thần thoại của thứ tình ái ở thành Paris mà người ta đang chữa bệnh khỏi được chỉ cách đó vài bước đường. Trên đế bức tượng, một hàng chữ đã bị xóa hết phân nửa làm cho ta nhớ tới cái thời đã xây dựng kỷ vật trang trí này, do lòng hâm mộ đối với văn hào Voltaire, đã trở về Paris vào năm 1777. Đây là thầy ngươi, bất cứ người là ai: Hiện tại ông là thầy ngươi, trong quá khứ ông cũng đã là thầy, hoặc ông phải là thầy của ngươi. Tối đến, cánh cửa song thưa được thay thế bằng một cánh cửa kín. Cái vườn nhỏ rộng bằng bề dài mặt tiền cái nhà, ở giữa bức tường phía đường cái và bức tường ngăn cách nhà bên cạnh. Một màn bìm bìm treo dọc phủ kính cả bức tường chung này, và giữa thành Paris đây là một cảnh đẹp làm người qua đường lưu ý: Mỗi tường thành đều cổ phủ một thảm cây nho hoặc cây ăn quả khác với những lớp trái mảnh mai và đầy bụi: những trái cây này là mối lo âu hằng năm của bà Vanquer và là đầu đề của những cuộc trò chuyện của bà và các khách ở trọ. Dọc theo mỗi bức tường có một đường nhỏ dẫn đến một lùm cây điền ma (4) cái tên cây mà bà Vanquer tuy thuộc dòng dõi de Conflans vẫn đọc trại đi, dầu mấy khách trọ cố phê bình về văn phạm cho bà. Giữa hai con đường bên hông là một cái bồn vuông trồng artisô, có kèm những cây ăn quả được cắt cành lá tròn như búp chỉ, chung quanh thêm những cây chua me, rau diếp hay ngò tây. Dưới vòm cây điền ma có để cái bàn tròn sơn màu lục, có ghế để quanh. Những ngày nóng bức, những khách trọ nhà giàu có thể dùng đến cà phê được đều ra ngồi đây uống nhâm nhi trong lúc ánh nắng có thể làm nở được trứng ấp. Mặt tiền cao ba tầng có cả rầm thượng kiến trúc bằng đá cuội và quét bằng thứ màu vàng nó đã làm cho hầu hết những nhà ở cận Paris đều có cái vẻ khả ố làm sao. Mỗi tầng lầu có năm cửa sổ đều lắp kính nhỏ và đều có bỏ mành mành, nhưng chẳng có bức mành nào được cuốn lên giống nhau, thành thử chẳng bức nào ngay hàng với bức nào. Bề sâu nhà có hai cửa sổ, và tầng dưới hai cửa sổ này được trang trí bằng những song sắt có rào lưới. Sau nhà có cái sân rộng độ hai chục bộ (5): trong sân phát hiện một cuộc sống chung rất hòa hiệp giữa những giống lợn, gà, thỏ.., và phía sau có một cái kho để củi. Giữa kho củi và cửa sổ của nhà bếp, có treo một tủ đồ ăn, dưới tủ là dòng nước dơ của chậu rửa bát. Từ sân này ra đường Mới có một cửa nhỏ do đó đầu bếp đổ rác rến trong nhà ra đường và giội nước chùi rửa nơi đây, nếu không có thể phát bệnh ôn dịch. Lẽ tất nhiên tầng dưới nhà dùng làm nhà trọ và gồm có một phòng ngoài: phòng này được sáng nhờ hai cửa sổ trông ra đường, đi vào do một cửa lớn vừa là cửa sổ. Phòng khách này thông vào một phòng ăn, rồi đến cái chân cầu thang mới đến nhà bếp. Bậc thang bằng gỗ và gạch vuông sơn màu, đánh bóng. Chẳng có gì buồn hơn quang cảnh cái phòng khách đầy ghế bành và ghế dựa bọc vải sọc chen lẫn đường lì và đường láng. Giữa phòng kê một bàn tròn mặt cẩm thạch trang trí bằng hình cái quán trên một tấm sành trắng viền chỉ vàng đã phai hết nửa hình trang trí mà hiện nay đâu cũng có. Nền phòng lát gập ghềnh, tường đóng ván đến ngang lưng người đứng. Phần trên tường còn lại thì dán một giấy sơn vẽ những cảnh chính của truyện Télémaque với các nhân vật vẽ màu. Khoảng giữa hai cửa sổ rào lưới sắt là bức tranh vẽ buổi tiệc của nữ thần Calypso đãi con trai vua Ulysse (6). Trong bốn mươi năm trường, bức vẽ đã gợi bao nhiêu lời chế giễu của bọn thanh niên ở trọ: tự kiêu ngạo bữa ăn mình, bọn này vẫn tưởng đang ở một địa vị cao sang hơn cảnh hiện tại mà sự nghèo khổ đã buộc họ vào. Lò sưởi được trang trí bằng hai độc bình cắm đầy hoa giả đã cũ rích và được bọc lồng lại, ở giữa là một đồng hồ bằng cẩm thạch màu xanh nhạt rất xấu xí. Lòng lò sưởi lúc nào cũng sạch sẽ chứng tỏ là lò chỉ được đốt lửa vào những cơ hội lớn. Phòng thứ nhất này để xông ra một mùi mà trong ngôn ngữ không có danh từ nào diễn tả được, và có lẽ phải gọi nó là cái mùi nhà trọ. Đây là mùi của một phòng hay đóng cửa, mùi mốc, mùi ôi; lạnh lẽo ẩm iu ngửi thấy ngay ở mũi, thâm nhập vào cả áo quần, mùi của một phòng người ta mới ăn cơm, hôi mùi chén bát, mùi một phòng để đồ ăn, mùi một nhà thương thí. Cái mùi có lẽ diễn tả được nếu người ta sáng chế được một phương pháp để đo lường được số lượng yếu tố và buồn nôn của hơi đờm dãi và đặc biệt của mỗi người ở trọ, trẻ hay già. Ấy thế mà mặc dầu có những cái ghê tởm tầm thường ấy, và nếu ta so sánh với cái phòng ăn kề cận đó, ta lại cho cái phòng khách là trang nhã và thơm tho như một phòng khuê. Phòng ăn có vách hoàn toàn lót gỗ nguyên trước có sơn một màu mà bây giờ không còn nhìn ra màu gì nữa, màu ấy đã thành cái nền trên đó cát bụi chồng chất thành lớp vẽ nên những hình kỳ lạ. Những tủ chén bát trơn nhớt dựa tường, trên tủ bày những bình nước sứt mẻ, lu mờ, những tấm sắt tây tròn có vân, mấy chồng dĩa bằng sành dầy có viền xanh, chế tạo tại Tournal. ở một góc để một cái thùng có nhiều hộc số để đựng khăn lau lốm đốm dơ hay đỏ màu rượu vang, của những người ở trọ. Lại có những thứ bàn ghế bất hủ, đâu đâu cũng phế bỏ nhưng được đặt tại đây như những di vật của nền văn minh được đặt tại Nan y viện (7). Người ta còn có thể thấy một phong vũ biểu được đem ra lúc mưa, những tranh ảnh ghê gớm làm hết muốn ăn, cái nào cũng để trong khung gỗ sơn đen có chỉ vàng; một đồng hồ treo bằng đồi mồi khảm đồng; một lò sưởi màu lục, những cây đèn dầu mà dầu và bụi trộn lẫn nhau, một bàn dài trải tấm vải sơn, nhờn mỡ trên ấy một trú sinh nghịch ngợm đã lấy ngón tay viết tên lên như đã dùng một mũi sắt nhọn, những ghế dựa khập khễnh, những tấm đệm cói chỉ trải ra mà không lúc nào hưởng những lồng ấp có lỗ đã bè, bản lề lật ra, gỗ đã đen thui. Muốn giải rõ đồ đạc ở đầy đã cũ kỹ đến bậc nào, đã lũng, mục, lung lay, sứt bể, cụt tay dơ dáy, què quặt, gần tàn phế hấp hối... thì phải làm một bài miêu tả làm quá chậm câu chuyện, và những người gấp nghe chuyện không thể tha thứ. Gạch lát vuông đỏ thì bị vạch đường vì sự lau chùi hay vì những lúc tô màu. Tóm lại, nghèo khổ ngự trị ở đây, không chút thi vị, một nghèo khổ tằn tiện, cô đọng, xơ xác. Nếu cảnh nghèo ở đây chưa có bùn lầy, thì cũng đã có những vết dơ, nếu nó chưa có áo lũng, giẻ rách, thì nó cũng sắp đồ ra thối mục. Căn phòng này hoàn toàn sáng lạn vào lúc bảy giờ sáng, lúc con mèo của bà Vanquer dậy trước chủ nó nhảy lên các tủ đồ ăn, đánh hơi sữa trong những tô có dĩa đậy, và lên tiếng gầm gừ. Ngay sau đó bà chủ xuất hiện với cái mũ ren trên đầu, với một vành tóc giả treo lủng lẳng vụng về ở dưới. Bà ta kéo xà lệt một đôi dép méo mó. Khuôn mặt bì dày dày, mập mạp, ở dưới nổi lên một cái mũi mỏ keo; hai bàn tay nhỏ nhắn, múp míp, thân hình bụ bẫm như con chuột ở nhà thờ, áo lót quá dày và phồng phềnh lên, tất cả hình ảnh này rất phù hợp với căn phòng đầy mùi khốn đốn, chứa một không khí đầu cơ, trong ấy bà Vanquer biết thở mùi nồng thối, không chút gì ghê tởm. Vẻ mặt bà tươi tắn như buổi gió lạnh đầu tiên của tiết thu, đôi mắt nhăn nheo của bà đi từ vẻ nụ cười bắt buộc của vũ nữ đến vẻ cau có của viên thu ngân chiết khấu... tóm lại là cả con người bà giải thích cho cái nhà trọ, cũng như cái nhà trọ ám tàng con người của bà. Ngục tù không thể tồn tại được nếu không có tên ngục tốt, người ta không thể tưởng tượng có thể có cái này mà không cái kia. Vẻ phì nộn xanh xao của người đàn bà thấp bé này là kết quả của lối sinh hoạt kia, cũng như bệnh đậu lào là quy kết của bể khí một bệnh viện. Cái váy lót bằng len đan của bà ló dài hơn cái váy ngoài may với một áo dài cũ mà lớp bông lót lòi ra do những đường nứt nẻ của đường vải rách, cái váy này là một hình ảnh thu gọn của phòng khách, căn phòng ăn, cái vườn nhỏ, và báo trước cái nhà bếp, làm thấy trước những khách trọ ra thế nào rồi. Lúc bà chủ có mặt, quang cảnh thật là hoàn mỹ, bà Vanquer tuổi lối năm mươi, bà giống như mọi người đàn bà khác đã chịu đựng đau khổ. Mặt bà lờ đờ, bộ bà ngây thơ như một mụ môi dong làm bộ tức giận để đòi hoa hồng thêm, nhưng vẫn sẵn sàng làm hết mọi sự để số phận mụ được êm dịu hơn, sẵn sàng bán cả Georges hay Pichegru nếu còn một Georges hay một Pichegru để bán. Tuy vậy, bà là một người tốt, các người ở trọ nói vậy, và ai cũng tưởng bà là nghèo, vì ai cũng nghe bà kêu rêu ho hen như họ. Còn ông Vanquer trước kia thẽ nào? Bà không lúc nào phân giải về người quá cố. Tại sao ông ta mất hết của cải? Bà chỉ trả lời: “Trong những tai nạn”. Ông ta cư xử với bà không tốt, chỉ lưu lại cho bà cặp mắt để khóc, ngôi nhà này để sinh sống, và cái quyền không thương hại một nghịch cảnh của ai, vì theo bà nói, bà đã chịu đựng tất cả những gì người ta có thể chịu đựng được. Nghe tiếng chân bà chủ đi lắc nhắc, mụ Sylvie béo, người làm bếp lật đật dọn ăn sáng cho khách trọ. ... Mời các bạn đón đọc Ông Già Goriot của tác giả Honore de Balzac.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Quân Đoàn Hủy Diệt Tập 1: Dây Chuyền Thiên Sứ - Cassandra Clare
Phép thuật đã nguy hiểm, nhưng tình yêu còn đáng sợ hơn.   Khi cô gái mười sáu tuổi Tessa Gray vượt biển tới Anh quốc để tìm anh trai, cô không hề biết những chuyện kinh khủng đang chờ đợi mình tại Thế Giới Ngầm của London, nơi ma cà rồng, pháp sư và những sinh vật siêu nhiên khác ngày ngày đi lại dưới ánh đèn vàng vọt. Bị Chị Em Hắc Ám, thành viên của tổ chức bí ẩn mang tên Câu lạc bộ Xứ Quỷ, bắt cóc, Tessa sớm được biết mình chính là một cư dân Thế Giới Ngầm với khả năng hiếm có: biến hình thành người khác. Và Ông Chủ - nhân vật bí ẩn điều hành Câu lạc bộ Xứ Quỷ sẵn sàng làm tất cả để chiếm lấy quyền năng của Tessa cho riêng mình. Trong hoàn cảnh không bạn bè người thân và bị săn đuổi, Tessa đành nương náu dưới mái nhà của Thợ Săn Bóng Tối tại Học Viện London, những con người thề sẽ tìm anh trai cô nếu cô chịu dung quyền năng của mình để giúp họ. Cô dần cảm mến hai người bạn: James, người con trai mang vẻ đẹp mong manh có một bí mật chết người và chàng Will mắt xanh luôn xa cách tất cả… trừ Tessa. Trong cuộc hành trình tìm kiếm người anh, họ đã khám phá ra một âm mưu nhằm tiêu diệt toàn bộ Thợ Săn Bóng Tối. Còn Tessa, cô nhận ra mình sẽ phải lựa chọn: hoặc cứu anh mình, hoặc giúp những người bạn mới cứu lấy thế giới… và tình yêu có thể là thứ phép thuật nguy hiểm nhất. *** Tác giả Cassandra Clare (27/07/1973), tên thật là Judith Rumelt, nhà văn người Mỹ chuyên viết về thể loại tiểu thuyết kỳ ảo. Từng làm việc tại nhiều tạp chí và tòa báo cỡ nhỏ, trong đó có The Hollywood Reporter. Hiện Cassandra Clare đang sống ở Amherst, bang Massachusetts cùng chồng và ba chú mèo. Các series sách tiêu biểu:  - Vũ khí bóng đêm (The Mortal Instruments),  - Quân đoàn hủy diệt (The Infernal Devices),  - The Dark Artifices Trilogy, - The Bane Chronicles,  - Magisterium (viết chung với Holly Black)… Ngoài ra cô còn viết nhiều truyện ngắn và fan-fic khác. Hãy khám phá cuốn sách đầy mê hoặc đầu tiên trong series Quân đoàn hủy diệt– tác phẩm nằm trong danh sách bán chạy nhất của New York Times. Tới với Quân đoàn hủy diệt, bạn đọc sẽ đắm chìm trong không gian Anh thời Victoria bảng lảng sương mù và trôi theo cuộc đời của các Thợ Săn Bóng Tối sống trước thời đại của Clary, Jace hay Simon trong loạt series đình đám Vũ khí bóng đêm.   Trọn bộ series Quân đoàn hủy diệt (The Infernal Devices) do Chibooks xuất bản:      Dây chuyền thiên sứ (Clockwork Angel, phần 1)      Hoàng Tử Kim Khí (Clockwork Prince, phần 2)      (Clockwork Princess, phần 3) Nhận xét báo chí nước ngoài: Cuốn Dây chuyền thiên sứ của Cassandra Clare có mọi thứ: bối cảnh London thời Victoria nhưng với nhân vật chính đến từ nước Mỹ - tất nhiên đó là một cô gái vừa dễ thương vừa dễ ghét; cốt truyện liên quan tới Nephilim, những con người mang trong mình dòng máu thiên thần (Nhớ  đoạn Sáng Thế Kí nói về những người khổng lồ trong thế giới của chúng ta chứ?) và những ma cà rồng rất đặc biệt… một Nephilim đem lòng yêu nhân vật chính nhưng lại không thể thổ lộ vì lí do khó nói, và điều đó khiến anh ta đau đớn… câu chuyện là bài ca đẹp về tính nhân văn. Đây là một tác phẩm tuyệt vời đáng để bạn đọc nghiền ngẫm.” –The Evening Standard Qua những nghiên cứu tỉ mỉ, Clare đã dựng nên một London thời Victoria mang màu sắc âm u nhưng lãng mạn, với Tessa mạnh mẽ là một anh hùng bất đắc dĩ sẽ khiến bạn đọc yêu mến. Người con gái ấy đem lòng yêu, Will, một chàng trai xấu tính mà chỉ mình Tessa có thể hiểu, nhưng Jem cũng là một con người đáng để yêu. Xuyên suốt mạch truyện, độc giả sẽ có nhiều câu hỏi hơn là đáp án, nhưng cách viết rõ ràng cũng diễn biến nhanh chắc chắn sẽ khiến cuốn sách được lòng nhiều độc giả. – VOYA Trong phần mở đầu của loạt truyện Quân đoàn hủy diệt, Clary đã đem hơi thở của thời đại Victoria vào thế giới Thợ Săn Bóng Tối vốn đã mê hoặc nhiều độc giả. Clare đã chuyển ngòi bút từ một New York thời hiện đại về London cổ kính rất ngọt, và vẫn với văn phong kể chuyện tài tình như trước. Nhân vật chính Tessa Gray can trường và thông minh phải đối mặt với một Ông Chủ bí ẩn của câu lạc bộ Xứ Quỷ, kẻ muốn chiếm cô cho riêng mình bằng bất cứ thủ đoạn nào. Đến với tác phẩm, bạn đọc vừa tò mò tìm câu trả lời rồi đây Tessa sẽ phải lòng Thợ Săn Bóng Tối nào, Will hay Jem, vừa hứng khởi đón chờ những bất ngờ trên chặng đường phiêu lưu của cô gái này. – Locus Magazine   “Đây là cuốn sách đầu tiên trong loạt truyện Quân đoàn hủy diệt của Clare, xảy ra trước những gì được kể trong series bán chạy nhất Vũ khí bóng đêm. Câu chuyện mở đầu với cuộc đời bình lặng của Tessa vào  năm 1878 ở New York kết thúc khi dì cô qua đời. Sau khi đặt chân tới London, nơi anh trai sinh sống, Tessa bị Chị Em Hắc Ám bắt cóc và ép cô học sử dụng một thứ quyền năng hiếm – biến hình – mà cô không biết mình có. Cô được một chàng trai trẻ tên Will cứu thoát và đưa cô tới với thế giới của Thợ Săn Bóng Tối…. Câu chuyện được dựng nên giữa khung cảnh London mờ sương của thời Victoria, điểm xuyết thêm những nét chấm phá hóm hỉnh và  sâu sắc của Clare, xoay quanh những nhân vật đặc biệt, những con người vừa phải chiến đấu trước quá khứ đau thương, vừa phải ngày ngày bảo vệ thế giới khỏi quỷ dữ. Những tình tiết bí ẩn, lắt léo, cùng những cao trào sẽ khiến bạn đọc không thể rời mắt khỏi từng trang sách. Những độc giả trung thành của series Vũ khí bóng đêm và cả những người mới tới với bộ truyện này sẽ không bị thất vọng. – Publishers Weekly Mời các bạn đón đọc Quân Đoàn Hủy Diệt Tập 1: Dây Chuyền Thiên Sứ của tác giả Cassandra Clare.
Bí mật của Naoko - Higashino Keigo
Cuộc sống của Hirasuke trôi qua hết sức bình lặng, cho đến một ngày tai nạn khủng khiếp xảy ra, và gã mất đi người vợ yêu quý nhất của mình, còn đứa con gái bé bỏng thì vẫn trong tình trạng hôn mê bất tỉnh. Nhưng chỉ sau một đêm, con gái gã tỉnh lại và một mực xưng mình là Naoko, vợ gã. Dường như linh hồn của Naoko đã nhập vào thể xác con gái, còn Monami thực sự đã chết. Rốt cuộc Hirasuke đã mất vợ hay con gái trong vụ tai nạn ấy  ? *** Câu chuyện hấp dẫn, đủ để bạn phải lật hết chương này sang chương khác. Hấp dẫn không phải ở chuyện thay xác đổi hồn mà là ở diễn biến khó lường của câu chuyện, người đọc không biết được kết quả khi chưa đọc đến trang cuối cùng.  Dù rằng ở Nhật Bản, tác phẩm này được xếp vào thể loại huyền bí, nhưng đối với độc giả hiện nay với "level" thượng thừa, thì chuyện huyền bí trong truyện này chỉ là tầm thường. Cái làm nên giá trị cho tác phẩm chính là sự nhân văn hiển hiện không chỉ trong từng nhân vật, từng sự kiện mà còn trong từng tình tiết và câu chữ. Diễn biến câu chuyện cứ khiến người xem xúc động - không mãnh liệt, dâng trào mà là một thứ cảm xúc nhẹ nhàng, ngấm ngầm mà day dứt.  Cái kết có hơi sốc nếu bạn quá yêu mến nhân vật Hirasuke, vì bạn sẽ cảm thấy Naoko hơi tàn nhẫn hay đúng hơn là tác giả hơi tàn nhẫn. Riêng với tôi, tôi cứ tự hỏi: sao tác giả không giải quyết vấn đề ngược lại: chính cô gái là tác giả của trò chơi, nhằm giúp bố mình không quá đau đớn trước cái chết của mẹ ? Ồ... tại vì hơi bị ảnh hưởng Guillaume Musso ấy mà... Haha...  *** Bạn đọc nhận xét: Quyển sách lôi cuốn người đọc từ câu chuyện cuộc sống của Hirasuke và người vợ Naoko trong hình dáng con gái Monami đã chết trong vụ tai nạn, từ lúc Monami còn là 1 cô bé, đến tuổi vị thành niên và trưởng thành. Qua những tình huống hai vợ chồng đối xử với nhau như cha con, Hirasuke muốn ngoại tình, Naoko phải đối mặt với cơ thể đang lớn của Monami cùng sự thay đổi bất thường về tâm sinh lí..., những tình huống hết sức đời thường gây cho mình nhiều xúc động về nỗi đau mất mát không thể chia sẻ cùng ai của Hirasuke và Naoko. Truyện là một bài học quý giá cho các bạn teen như mình, đôi khi con người phải chấp nhận mất mát đau thương để tiếp tục sống bình thường như bao người khác, con người ta không phải chỉ sống vì bản thân mình mà còn sống vì người khác, vì cộng đồng, như chính nhân vật Naoko chấp nhận cuộc sống của Monami và tiếp tục hoàn thành ước mơ của con gái. Tuy vậy, chính trong nỗi đau, con người ta mới biết trân trọng những điều tuyệt vời khác mà khi hạnh phúc họ không nhớ đến. Kết thúc truyện thật bất ngờ, mở ra cho mình nhiều suy nghĩ: Naoko chấp nhận là Monami vĩnh viễn, có thể cô đã làm đúng sau quá nhiều sức ép từ cuộc sống với Hirasuke. Nhưng liệu điều ấy có đem lại hạnh phúc cho cô và cả cho người chồng của cô không? Đó sẽ là phần sau của câu chuyện. Theo mình nghĩ, sống thật với bản thân mới là sự lựa chọn đúng đắn nhất của mỗi người. Hirasuke và Naoko, cả 2 không thể chấp nhận sự thực mất đi con gái, Naoko không đủ can đảm để sống cuộc đời của Naoko, và Hirasuke cũng không thể cư xử bình thường với vợ khi hình ảnh Monami luon hiện hữu trước mắt...2 nhân vật chính không đủ nghị lực chấp nhận sự thật tai tiếng từ xã hội, có lẽ vì thế kết thúc của mỗi người là ôm lấy nỗi đau và tiếp tục bước đi. Mình không hài lòng lắm với kết thúc của câu chuyện vì: sống thật với chính con người mình, đó mới là hạnh phúc cho bản thân và người mình yêu thương! 1 số tình huống mô tả về cảnh tình dục trong truyện khá chi tiết làm mình thấy hơi ngại, có lẽ quyển sách này thích hợp với các bạn teen sắp trưởng thành và suy nghĩ chín chắn! Trần Ngọc Chân Câu chuyện có vẻ lê thê, nhưng kết thúc bất ngờ. Bất ngờ không phải vì nó hay nhưng vì nó hơi chán. Tình huống truyện được đưa ra khá độc đáo, và có phần oái ăm đối với nhân vật nam chính, khi vợ mất đi và xuất hiện lại trong hình hài của chính con gái của mình. Những diễn biến tâm lý của người chồng, người cha khi chứng kiến con mình - vợ mình lớn lên từng ngày, tiếp xúc những thứ mới mẻ; mà người cha, người chồng không thể làm gì được... Truyện kết thúc khá hợp lý theo cách mà nó phải thế, tuy nhiên có vè không được xuất sắc lắm... VTAnh   Tác giả: Higashino Keigo  Dịch giả: Uyên Thiểm - Trương Thùy Lan  Nhà xuất bản: Thời Đại Cty phát hành: Nhã Nam  Năm xuất bản: 2011 Số trang: 463 Nguồn sách: Nguyễn Thùy Dung Thực hiện ebook: Hoa Quân Tử  Nguồn: ebook-truyentrinhtham.blogspot.com  
Ly Rượu Pha Vội - James Patterson
Cuốn tiểu thuyết Ly Rượu Pha Vội của James Patterson có đầy đủ yếu tố hành động, hồi hộp, ly kỳ và lãng mạn. Laurent Stillman là một cảnh sát thành đạt, có một cuộc sống hôn nhân tuyệt vời “là một cặp vợ chồng yêu nhau đến rồ dại và là những người bạn thân thiết nhất, là những người có thể chết cùng nhau như Romeo và Juliet”. Khi tình cờ thấy chồng đi cùng một người phụ nữ khác, Laurent thất vọng và thèm khát trả thù. Chấp nhận ly rượu pha vội, đêm ngoại tình duy nhất đã đẩy cuộc đời chị vào rẽ ngoặt bất ngờ, đe dọa nhấn chìm sự nghiệp, hôn nhân và cả tính mạng. *** Trong đêm hẹn hò với Scott, Laurent đã nhìn thấy Paul, chồng mình tìm đến nhà Scott và đánh nhau với anh ta. Sáng hôm sau, khi hay tin Scott đã bị giết, Laurent nghĩ là do chồng ghen tuông giết chết tình địch nên đã tìm mọi cách xóa dấu vết, ngăn cản cuộc điều tra của đồng đội. Nhưng cô không ngờ, người mà mình quan hệ để trả đũa chồng lại là một cảnh sát biến chất, đã bắt tay cùng một băng đảng tội phạm. Trong quá trình điều tra băng đảng này, Laurent phát hiện ra chồng mình có một gia đình khác và là một tên cướp sừng sỏ. Cô phải làm thế nào để thoát ra khỏi mớ bòng bong mà mình đã góp phần tạo ra? *** Tác giả    Nhà văn James Patterson sinh ngày 22 tháng 3 năm 1947 tại thành phố Newburgh, bang New York. Ông từng tốt nghiệp cử nhân về tiếng Anh ở trường cao đẳng Manhattan và tiếp theo, đã bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ cũng về tiếng Anh ở Trường Đại học Tổng hợp Vanderbilt. Năm 1971, Patterson được nhận vào làm tại Công ty Quảng cáo James Walter Thompson. Chính ở đây nhà văn tương lai đã được thăng tiến rất mau lẹ trong công việc, từ một nhân viên bình thường lên tới giám đốc. Ngay khi đang làm quảng cáo, Patterson đã thử viết văn. Tiểu thuyết đầu tay của ông là Con số Thomas Berryman thoạt tiên đã bị nhiều nhà xuất bản từ chối. Mãi tới năm 1976, Con số Thomas Berryman mới được nhà xuất bản Little Brown nhận in và sau đó, chính nó đã trở thành sách best-seller và được trao giải thưởng mang tên nhà văn Edgar (mang tên nhà văn Mỹ nổi tiếng Edgar Poe) dành cho tác phẩm đầu tay xuất sắc. Trong gần hai mươi năm sau đó, Patterson đã kết hợp hoạt động của một giám đốc hãng quảng cáo với công việc của một ngôi sao mới nổi trong làng nghệ thuật giải trí. Và rất thành công. Mời các bạn đón đọc Ly Rượu Pha Vội của tác giả James Patterson.
Sống Đọa Thác Đày - Mạc Ngôn
Cảm giác đầu tiên của tôi khi cầm quyển sách lên là nặng, nặng từ cái trọng lượng ngót một cân và cái bìa tối màu nặng đi, nặng từ cái tên mượn lời Tam Hợp đạo cô phán về cuộc đời chìm nổi của Kiều nặng lại. Nhưng may quá, giọng văn chả có gì cao siêu nhưng rất uyển chuyển linh hoạt của Mạc Ngôn lại khiến nửa thế kỷ đầy những biến động lịch sử khốc liệt của nước Trung Quốc trôi qua trước mắt độc giả vừa như thực lại vừa như mộng.  Đầu tiên là mộng, người đọc đi theo linh (hay oan) hồn của địa chủ Tây Môn Náo mới bị xử bắn xuống xếp hồ sơ trình Diêm Vương duyệt dự án đầu thai. Tiếp theo là thực, hồn của Tây Môn Náo quay trở về đúng ngôi nhà của mình, đầu thai vào kiếp lừa, chứng kiến cảnh vợ mình thành vợ người khác, con mình thành con người khác… Rồi kiếp lừa qua hết lại tới kiếp trâu, lợn, chó…, Tây Môn Náo trong lốt lừa, trâu, lợn… vẫn gắn bó với những con người trong ngôi làng ở vùng Đông Bắc Cao Mật ấy, cùng họ đi qua những cột mốc thời gian tính bằng sự kiện, Đại Nhảy Vọt cuối thập kỷ 50, Cách mạng Văn hóa cuối thập kỷ 60 - đầu 70, Cải cách Khai phóng những năm 80...  Không chịu uống canh Mạnh bà để quên quá khứ, những ký ức của địa chủ - lừa - trâu - lợn - chó cứ chồng chất lên nhau, cuối cùng dồn lại ở thân xác yếu ớt của một cậu bé sinh ra trong những năm cuối cùng của thiên niên kỷ… Cậu bé ấy có quan hệ thế nào với địa chủ Tây Môn Náo đã chết từ 50 năm trước, cậu bé ấy có đem những ký ức chồng chất kia trải ra cho ai thấy hay không, tôi nghĩ bạn hãy tự tìm hiểu thì hay hơn. Trong khuôn khổ bài bình sách vô vị này, cái tôi nên và có thể đề cập đến chắc chỉ là phong cách văn chương.  Đọc cuốn sách này, một lần nữa tôi lại bị tác giả lôi xềnh xệch vào cái vùng đất quê hương thân thiết của ông ta. Tính ra, vố này là vố thứ ba thứ tư gì đó rồi tôi cũng như các bạn đọc phải cùng Mạc Ngôn về cái huyện mà chính tay ông ta đã tả rằng “không nơi nào trên trái đất lại đẹp nhất và xấu nhất như Cao Mật”. Tưởng là lần này hết cái để khám phá rồi, hóa ra không phải. Nếu như trước kia tôi say sưa với cảnh cánh đồng cao lương bạt ngàn dậy sóng hay những người đàn bà man dại nhà Thượng Quan thì giờ đây lại mê mải trong rừng hoa hạnh trắng xóa và những người đàn ông mang dòng máu Tây Môn… Khi đọc  Đàn hương hình, tôi biết một Cao Mật trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tới cuốn này, Cao Mật lại thuộc về nửa cuối thế kỷ XX...  Và cũng như các tiểu thuyết nổi tiếng khác của mình, trong  Sống đọa thác đày, Mạc Ngôn vẫn dạy cho người ta những bài học lịch sử qua những mảnh đời rất nhỏ. Tây Môn Lừa đã gõ móng qua những năm cải cách ruộng đất rồi kháng Mỹ viện Triều và nhà nhà luyện thép, Tây Môn Chó thì sủa vang trong khung cảnh phố huyện thời mở cửa đầu tư rồi xử tử hình quan chức tham nhũng… Trong truyện Mạc Ngôn, chẳng có một cá nhân nào thoát khỏi những rung động phát ra từ vòng quay của bánh xe lịch sử. Họ chỉ có thể sống bám vào bánh xe ấy, rồi khi mỏi mệt thì sẽ tự động buông thân xác già nua xuống chiếc huyệt đã đào sẵn, như Mặt Xanh và Tây Môn Chó đã làm.  Hơn 800 trang sách với 6 kiếp sinh tử bì lao qua 50 năm tưởng dài vậy nhưng cũng trôi qua thật nhanh, hơn 800 chữ bình luận hời hợt trôi qua còn nhanh hơn nữa. Điều cuối cùng tôi muốn nói là một lời chê và một chuyện bên lề. Lời chê dành cho bản dịch, một số chỗ mang văn phong miền Nam không thực sự phù hợp với bối cảnh Cao Mật (vốn ở phía đông bắc Trung Quốc) và một vài nhầm lẫn không đáng có như anh em cùng mẹ khác cha lại viết thành cùng cha khác mẹ. Còn chuyện bên lề dành cho tác giả: Mạc Ngôn hoàn thành tiểu thuyết này trong có 43 ngày. Tất nhiên, để có được 43 ngày ấy, cái ông họ Quản[3] này đã phải trải qua bao nhiêu đơn vị 43 dài dằng dặc khác thì nào ai mà biết!  *** Đây là tiểu thuyết của nhà văn Mạc Ngôn đang gây xôn xao dư luận và cũng là cuốn sách đầu tiên ông viết tay, vứt bỏ máy tính, gồm 49 vạn từ. Tốc độ sáng tác rất nhanh, chỉ trong 43 ngày nhưng có thể tổng kết được những kinh nghiệm sống tích lũy được suốt 43 năm qua. Bộ tác phẩm của nhà văn Mạc Ngôn gồm: - Châu Chấu Đỏ, - Bạch Miên Hoa, - Trâu Thiến, - Con Đường Nước Mắt, - Ma Chiến Hữu, - Hoan Lạc, - Người tỉnh nói chuyện mộng du Mời bạn đón đọc Sống Đọa Thác Đày của tác giả Mạc Ngôn.