Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Nàng Lolita

Lolita là tiểu thuyết của Vladimir Nabokov. Tiểu thuyết được viết bằng tiếng Anh và được xuất bản vào năm 1955 ở Paris, sau đó được chính tác giả dịch ra tiếng Nga và được xuất bản vào năm 1967 ở New York. Tiểu thuyết nổi tiếng cả ở phong cách mới lạ lẫn nội dung gây ra các tranh cãi do nhân vật chính của tiểu thuyết tên Humbert Humbert, một người khá nhiều tuổi có sự ám ảnh về tình dục với một cô gái mười hai tuổi tên Dolores Haze. Sau khi được xuất bản, tiểu thuyết trở thành một tác phẩm kinh điển và là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất và gây ra nhiều tranh cãi nhất trong nền văn chương thế kỷ 20. Cái tên "Lolita" đã đi vào văn hoá phổ thông như là một từ để mô tả cô gái trẻ phát triển sớm về giới tính. *** Chắc một số bạn yêu văn học đã biết đến vụ tranh luận liên quan đến việc dịch giả Dương Tường dịch sai, “đạo” chú thích Lolita trong thời gian vừa qua. Người phản biện trực tiếp các lỗi sai của cụ Dương Tường là chị Haze Dolores (nick facebook). Chị đã viết rất nhiều bài chỉ ra các lỗi sai của cụ Dương Tường và đã dịch lại hoàn toàn tác phẩm khó này, một việc có thể nói là “Ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng” bởi vì bản quyền đã bị Nhã Nam mua đứt. Như các thành viên TVE đều hiểu, dịch và phát tán như thế này thực chất là vi phạm luật bản quyền. Người dịch chỉ làm vì niềm đam mê với tác phẩm chứ không được lợi lộc gì. Dù đây là bản "dịch lậu", nhưng rất nhiều người đọc, trong đó có mình, nghĩ rằng độc giả có quyền tiếp cận với một bản dịch tốt và đúng, nhất là trong hoàn cảnh Nhã Nam chưa tỏ ra có trách nhiệm gì trước việc tác phẩm bị dịch “sai hàng ngàn lỗi” thế này. Một số bạn có thể phản ứng với cụm từ “sai hàng ngàn lỗi”, cho rằng mình nói quá, cũng như nhiều người đã phản ứng với Haze khi chị chê trách dịch giả Dương Tường rất mạnh mẽ, cho rằng Haze không tôn trọng người lớn tuổi. Có lẽ ngôn ngữ của chị có một chút mỉa mai cay độc khiến người ta phải tức khí chăng? Nhưng mình là người đã theo dõi những bài phân tích của Haze qua FB của anh Gaup – cũng là một người rất giỏi ngoại ngữ và biên phiên dịch* - thì mình nghĩ rằng chị Haze không hề nói quá về chất lượng bản dịch của Dương Tường. Chưa kể cụ còn đạo văn cuốn chú thích Lolita và lên báo tự nhận công sức tìm tòi chú thích là của mình. Điều này làm mình rất thất vọng, bởi vì mình từng rất ngưỡng mộ cụ bắt đầu từ khi đọc “Cuốn Theo Chiều Gió” do cụ dịch. Nhưng thời nay, internet ở khắp mọi nơi và nếu dịch giả không cố gắng, không trung thực, sớm muộn gì người đọc cũng nhận ra. Mình post đường link blog của chị Haze ở đây với mong muốn các bạn có thể đọc và cảm nhận sự khác biệt giữa 2 bản dịch. *Note: anh Gaup có một bài viết rất giá trị chừng 10 năm trước là “Học, đọc, viết như thế nào” liên quan đến việc học ngoại ngữ (Gaup bỏ dở phần cuối là “Viết”, nhưng thế cũng đủ). Bạn nào quan tâm có thể tìm lại trên mạng.  Lời giới thiệu của anh Gaupvn trên FB: Một người bạn lâu năm của mình là chị Haze đã bỏ ra hai năm để hoàn thành bản dịch cuốn Lolita mà trước đây cụ Dương Tường đã dịch và Nhã Nam đã xuất bản nhưng như chị Haze đã chỉ ra bản dịch của cụ Dương Tường có hàng nghìn lỗi sai. Chị Haze đã tham khảo bản tiếng Anh, tiếng Nga, và nhờ các bạn bè giúp tham khảo cả các bản tiếng Trung, Pháp. Chị đã bỏ rất nhiều công sức và thời gian để hoàn thành bản dịch này và mình tin rằng đây là bản dịch tiếng Việt tốt nhất trong hàng chục năm tới nếu không nói là sẽ không bao giờ có bản dịch tiếng Việt nào tốt hơn bản dịch này. Người đặc biệt như chị Haze vừa có tài lại vừa có đam mê lại có đủ điều kiện để bỏ 2 năm cuộc đời ra làm việc vác tù và hàng tổng hiếm có lắm, chắc là chỉ có một mình chị. Tuy thế là người khiêm tốn chị không cho rằng bản dịch của chị là không có lỗi và luôn mong người đọc tinh mắt để ý và thông báo cho chị biết về các lỗi nếu họ thấy để giúp cho việc chỉnh sửa về sau. Vấn đề bây giờ là quyền dịch và xuất bản Lolita sang tiếng Việt hình như đã được bán đứt cho Nhã Nam và vì thế con đường xuất bản chính thức của bản dịch tuyệt vời tốt nhất hiện tại này là không thông. Chị Haze đã quyết định sẽ để kệ mình quyết định và mình sẽ xuất bản bản dịch qua đường vui là chính. Mình ủng hộ chị bằng cách đặt mua 100 bản đặc biệt, đóng bằng tay, có chữ ký của chị và mình sẽ tặng 90 bản cho các bạn trong friendlist của mình.  Rất mong các bản sách sẽ về với những người chủ thực sự quan tâm, sẽ đọc, và nâng niu quý mến cuốn sách để xứng công chị Haze dành thời gian làm việc công ích miễn phí cũng như mình đưa sách gửi tặng bạn bè.  Bạn nào quan tâm nhận sách xin để lại tên ở đây. Nếu có nhiều hơn 90 bạn mình sẽ để Excel lựa chọn ngẫu nhiên. Sách sẽ được chuyển đến tận tay các bạn ở Việt Nam. Bạn nào ở nước ngoài khi có sách mình sẽ liên hệ để xem chuyển cách nào đến bạn là nhanh và đỡ tốn kém nhất. Cảm ơn sự ủng hộ của các bạn. *** Vladimir Nabokov (1899-1977), tiểu thuyết gia, nhà phê bình văn học, dịch giả, nhà nghiên cứu về thể loại văn học của nước Mỹ, sinh ra tại nước Nga. Nabokov học thức uyên bác, tài hoa đa diện, cuộc đời sáng tác cực kỳ phong phú đa dạng, bao gồm: Thơ, kịch, tiểu thuyết, truyện ký, phiên dịch, cờ tướng và các luận văn về côn trùng học, song ông nổi tiếng thế giới vìtiểu thuyết, như: “Lolita”, “Puning”, “Ngọn lửa đìu hiu” (Pale Fire), “Ada”, “Vật thể trong suốt”, v.v… đều là những danh tác được mọi người biết đến. Ngoài tiểu thuyết và thơ, ông còn công bố bình luận về Gogol, phiên dịch và viết chuyên luận về bộ sách 4 quyển của Pushkin “Napalese Onegin”. Thập niên 70 của thế kỷ 20, danh tiếng của ông đạt tới tột đỉnh, được tôn vinh là “vua tiểu thuyết đương đại”. *** Lời nói đầu “Lolita” hay “Lời xưng tội của một gỡ đàn ông da trắng góa vợ”, ấy là hai cái đầu đề của tập bản thảo kì lạ được gửi đến người viết những dòng này làm mào đầu cho nó. “Humbert Humbert”[1], tác giả của nó, đã chết trong tù vì chứng nghẽn động mạch vành vào ngày 16 tháng Mười một năm 1952, ít hôm trước khi bắt đầu phiên tòa xử ông ta. Khi yêu cầu tôi biên tập những trang này, luật sư của ông ta, Ngài Clarence Choate Clark, nay là thành viên của luật sư đoàn Washington D.C, cũng là bạn và bà con của tôi, dựa trên một điều khoản trong di chúc của thân chủ của ông trao toàn quyền cho người anh họ lỗi lạc của tôi tiến hành mọi sự chuẩn bị cần thiết cho việc in ấn cuốn “Lolita”. Quyết định của ông Clark có thể là do người biên tập mà ông chọn vừa được tặng giải thưởng Poling về một tác phẩm khiêm tốn (“Do the Senses Make Sense?”) trong đó có bàn đến một số trạng thái bệnh hoạn và loạn dâm. Nhiệm vụ của tôi hóa ra đơn giản hơn là cả hai chúng tôi đã dự liệu. Ngoại trừ việc sửa những lỗi cú pháp quá hiển nhiên và thận trọng lược bỏ một số chi tiết mà bất chấp những cố gắng của “H. H.” vẫn dai dẳng lưu tồn trong văn bản của ông ta như những tấm biển báo và những tấm bia mộ (chỉ rõ những nơi hoặc những người mà lẽ ra nên giấu đi cho nhã, hoặc nên thương tình bỏ qua), tập hồi ức này được giới thiệu nguyên vẹn. Biệt danh kì dị của tác giả là do chính ông ta đặt; và dĩ nhiên, chiếc mặt nạ này - qua đó, dường như rực lên hai con mắt thôi miên – vẫn được để nguyên không cắt bỏ, theo đúng ý nguyện của người mang nó. Trong khi “Haze” chỉ vần với họ thật của nữ nhân vật chính thôi, thì tên cô[2] lại quyện chặt vào thớ cảm xúc sâu kín của cuốn sách đến độ không cho phép ơi thay đổi nó; vả chăng cũng chẳng có lí do thực tiễn nào (như độc giả sẽ tự thấy) khiến ta thấy cần phải làm thế. Những ai tò mò muốn tìm hiểu kĩ có thể truy cứu các tư liệu liên quan đến tội hình sự của “H. H.” trên các báo hằng ngày trong tháng Chín năm 1952; nguyên nhân và mục đích của tội đó ắt sẽ tiếp tục là một bí mật hoàn toàn nếu số phận không mang tập hồi ức này đến đặt dưới ngọn đèn biên tập của tôi. Để phục vụ các độc giả cựu trào muốn theo dõi số phận của những con người “có thực” bên ngoài câu chuyện “thật”, xin cung cấp một số chi tiết do ông “Windmuller” ở “Ramsdale” chuyển tới, ông này muốn giữ kín nhân thân để “cái bóng dài lê thê của câu chuyện thảm hại và nhớp nhúa này” khỏi chạm tới cái cộng đồng mà ông hãnh diện được là một thành viên. Con gái ông, “Louise”, hiện là sinh viên đại học năm thứ hai. “Mona Dahl” cũng là sinh viên ở Paris. “Rita” vừa mới kết hôn với một chủ khách sạn ở FIorida. Bà “Richard F. Schiller”[3] chết cả hai mẹ con trên bàn đẻ vào đúng hôm Giáng sinh năm 1952 ở Gray Star[4], một khu định cư ở miền Tây Bắc cực kì hẻo lánh, cái thai chết là một bé gái. “Vivian Darkbloom” vừa viết xong một cuốn tiểu sử nhan đề “My Cue”[5] sẽ xuất bản nay mai, và những nhà phê bình đã đọc bản thảo đều cho đó là cuốn sách hay nhất của bà ấy. Những người trông coi các nghĩa trang có liên quan tới câu chuyện cho biết không thấy bóng ma nào hiện về. Xét đơn thuần như là một tiểu thuyết, “Lolita” đề cập đến những tình huống và những cảm xúc mà nếu thể hiện nhờ nhạt bàng các thủ pháp né tránh vô vị thì trước sau chỉ khiến người đọc thấy mơ hồ đến phát cáu. Đúng là người ta không tìm thấy một từ tục tĩu nào trong toàn bộ tác phẩm; quả thật, kẻ phàm tục kiên cường được những ước lệ hiện đại luyện cho quen thói chấp nhận không chút đắn đo hàng loạt chữ tục trắng trợn tràn ngập trong những cuốn tiểu thuyết tầm thường, ắt sẽ phẫn nộ khi không thấy chúng ở đây. Nhưng nếu để chiều theo cái kẻ làm ra vẻ tiết hạnh một cách ngược đời ấy, một biên tập viên tìm cách pha loãng hoặc tước bỏ những cảnh mà một loại đầu óc nào đó có thể gọi là “kích dục” (về phương diện này, xin xem phán quyết trọng đại do Ngài John Woolsey tuyên đọc ngày 6 tháng Chạp năm 1933 đối với một cuốn sách khác còn thẳng thừng hơn nhiều[6]), thì tất phải từ bỏ hoàn toàn việc xuất bản “Lolita” vì chính những cảnh mà người ta có thể kết tội quàng xiên rằng tự thân chúng chứa một hiện sinh nhục cảm, lại đích thị là những cảnh có tác dụng triệt để nhất trong diễn biến của một câu chuyện bi thảm luôn kiên định hướng tới tôn vinh đạo đức. Kẻ khuyển nho có thể nói rằng loại văn chương “con heo” thương mại cũng lập luận tương tự, nhà học giả có thể phản bác bằng cách khẳng định rằng lời thú tội tâm huyết của “H. H.” chỉ là cơn bão trong ống nghiệm; ràng ít nhất 12%[7]  đàn ông trưởng thành ở Mĩ - một ước tính “dè dặt” theo tiến sĩ Blanche Schwarzmann[8](thông báo miệng) - năm nào cũng thưởng thức theo cách này hay cách khác các trải nghiệm đặc biệt mà “H. H.” mô tả một cách tuyệt vọng đến thế; rằng nếu vào cái mùa hè định mệnh năm 1947 ấy, người viết hồi ức điên khùng của chúng ta tìm đến một bác sĩ bệnh lí - tâm thần giỏi, thì chắc đã chẳng xảy ra tai họa; nhưng nếu vậy thì cũng chẳng có cuốn sách này. Kẻ viết những dòng bình luận này xin mạn phép được nhắc lại một điều hắn thường nhấn mạnh trong các cuốn sách và bài giảng của mình, cụ thể rằng “gây sốc” nhiều khi chỉ là một từ đồng nghĩa với “khác thường”; và một tác phẩm nghệ thuật lớn, dĩ nhiên, bao giờ cũng độc đáo, và như vậy, bởi chính bản chất của nó, ắt tạo nên một bất ngờ ít nhiều gây sốc. Tôi không hề có ý định ca ngợi “H. H.”. Rõ ràng, ông ta thật gớm ghiếc, ông ta thật bỉ ổi, ông ta là một thí dụ nổi bật về chứng phong hủi đạo đức, một hỗn hợp của tàn bạo và đùa cợt mà ẩn sau đó, có lẽ là một nỗi khốn khổ cùng cực song chẳng khiến ai đồng cảm. Tính khí ông ta vừa thất thường vừa tẻ ngắt, ông ta phát biểu văng mạng nhiều ý kiến nhố nhăng về con người và phong cảnh đất nước này. Một mạch thành thật tuyệt vọng đập chộn rộn suốt dòng tâm sự ăn năn, song nó không thể xá được cho ông ta khỏi những tội lỗi xảo trá quỉ quyệt, ông ta bất bình thường, ông ta không phải là người hào hoa phong nhã. Nhưng cây vĩ cầm réo rắt của ông ta có cái ma lực gợi nên một niềm trìu mến và thương cảm đối với Lolita, khiến ta mê mẩn với cuốn sách, đồng thời kinh tởm tác giả của nó! Với tư cách là một hồ sơ bệnh án[9], “Lolita” chắc sẽ trở thành một tư liệu kinh điển trong giới y học tâm thần. Với tư cách là một tác phẩm nghệ thuật, nó siêu vượt trên khía cạnh chuộc tội của nó; và đối với chúng tôi, điều còn quan trọng hơn cả ý nghĩa khoa học và giá trị văn học, là tác động đạo lí mà cuốn sách sẽ tạo nên đối với độc giả nghiêm túc; vì trong nghiên cứu cá nhân xót xa này, ẩn chứa một bài học phổ quát; đứa trẻ ngang ngạnh, người mẹ ích kỉ, gã quỉ ám hổn hển, không phải chỉ là những nhân vật sống động trong một câu chuyện duy nhất; họ cảnh báo ta về các khuynh hướng nguy hiểm; họ chỉ ra những cái xấu đầy cường lực. “Lolita” khiến tất cả chúng ta - những người làm cha mẹ, những nhà hoạt động xã hội, những nhà giáo dục - phải dốc sức, với tinh thần cảnh giác cao hơn nữa và sáng suốt hơn nữa, vào nhiệm vụ nuôi dạy một thế hệ tốt hơn trong một thế giới an toàn hơn. Widworth, Mas. Tiến sĩ John Ray, Jr[10]   5 tháng Tám năm 1955 Mời các bạn đón đọc Nàng Lolita (Tiếng Việt) của tác giả Vladimir Nabokov & Dương Tường (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Con Tiện Thỏ Này Phải Chết
Từ sau khi một con tiện thỏ đến thiên đình, nơi ở của các đại thần tiên trên thiên đình đều giăng biểu ngữ: Phòng cháy phòng trộm phòng con thỏ. Đồng thời, bách khoa toàn thư các cách chế biến thịt thỏ cũng bắt đầu bán chạy. Thường xuyên có thể nhìn thấy một đám thần tiên tay khua các loại pháp bảo, đuổi theo một con thỏ chạy khắp núi, hô hào: “Quần ẩu không quan trọng, da mặt có thể không cần nhưng con tiện thỏ này phải chết!” Người đi đường: "Vì sao con thỏ kia trâu bò như vậy? Cơ hồ tất cả thần tiên đều biết nó, bởi vì đáng yêu sao? Người qua đường Ất: "Không! Bởi vì tiện! Cũng không đúng, phải là rất tiện!" Một giấc chiêm bao Hoàng Lương sau đó 《 lão nạp phải hoàn tục 》 《 vạn giới trực tiếp chi đại thổ hào 》 về sau lại nhất tác phẩm mới, sắp ra mắt đến mọi người! P/s: Tìm kiếm loại mới, không theo khuôn sáo cũ, MỜI NHẬP HỐ *** Không phải một lão quái vật trong làng tiên hiệp, xuyên không. Cũng không phải tác phẩm lừng danh của một vị đại thần nổi tiếng. Vậy điều gì đã khiến cho Con Thỏ Này Phải Chết có sức hút lớn như vậy? Trước tiên phải kể đến là sự thành công của "Lão nạp phải hoàn tục". Cá nhân mình mà nói, xét về một phương diện nào đó "Con thỏ này phải chết" vẫn có một âm hưởng mãnh liệt hơn, sâu sắc hơn, đánh dấu sự trưởng thành trong văn phong của tác giả. Nhân vật chính Tần Thọ vốn là một thanh niên hiện đại, sau khi lập được đại công cứu được một đứa bé, không những không được nhà nước và nhân dân kính mến, ngưỡng mộ, còn vận cứt chó bị xuyên không tới một nơi tên "Cung trăng". Không có bàn tay vàng, không có hệ thống, không có thân phận bối cảnh, hắn thậm chí đến người cũng không làm được, chỉ có thể nhắm mắt hận đời làm một con thỏ. Làm thỏ cũng thôi đi, hắn vậy mà còn là một con thỏ sắp chết. Nhưng xưa nay có câu nhân vật chính ắt tự có lợi hại của riêng mình, nam chính sau khi được Hằng Nga hàng thật giá thật hi sinh bản thân để cứu về, cuối cùng cũng từ bỏ ý định tìm chết. Dù là thỏ, cũng phải là một con thỏ đứng trên vạn người, khiến chúng sinh kinh sợ, khiến toàn cõi thiên ma vì một con thỏ mà loạn lên một trận mưa máu gió tanh. Văn án: Từ sau khi một con tiện thỏ đến thiên đình, nơi ở của các đại thần tiên trên thiên đình đều giăng biểu ngữ: Phòng cháy phòng trộm phòng con thỏ. Đồng thời, bách khoa toàn thư các cách chế biến thịt thỏ cũng bắt đầu bán chạy. Thường xuyên có thể nhìn thấy một đám thần tiên tay khua các loại pháp bảo, đuổi theo một con thỏ chạy khắp núi, hô hào: “Quần ẩu không quan trọng, da mặt có thể không cần nhưng con tiện thỏ này phải chết!” Người đi đường: "Vì sao con thỏ kia trâu bò như vậy? Cơ hồ tất cả thần tiên đều biết nó, bởi vì đáng yêu sao? Người qua đường Ất: "Không! Bởi vì tiện! Cũng không đúng, phải là rất tiện!" Đánh giá: Truyện có điểm cộng là nội dung mới mẻ, độc đáo, không đi theo những lối mòn của đại đa số các bộ truyện tiên hiệp hiện nay. Tác giả viết chắc tay, đặc trưng lối viết hài hước, dí dỏm của Kê Vàng. Theo cảm nhận của mình thì tác phẩm này như một làn gió mới, với những cái "riêng" mà không thể tìm thấy ở bất cứ đâu. Bố cục truyện cũng rất ổn, cách dẫn dắt của tác giả thì khỏi bàn. Tóm lại, đây là một bộ truyện đáng đọc cho những ai cần tìm sự mới mẻ trong thể loại truyện không còn mới này. Điểm trừ duy nhất là một vài những chi tiết không quá quan trọng. Tuyến nhân vật phụ đặc sắc nhưng có phần hơi dài dòng, lan man. Đây cũng là hạn chế chung của các tác phẩm tiên hiệp, cho dù là các đại thần kì cựu nhất. Các lão làng trong thể loại này sẽ nhận ra truyện có một vài lỗ hổng về việc tu luyện của main. Vậy nên nếu các lão quái nếu muốn tìm một bộ truyện siêu phẩm về tu luyện thì đây không phải một lựa chọn tối ưu. Nhìn chung, truyện có một vài khiếm khuyết trong tuyến nhân vật, nhưng không làm mất đi sự cuốn hút đặc biệt của nội dung. Lối hành văn trôi chảy, hài hước cùng cách dẫn dắt truyện, cách khắc hoạ nhân vật rõ nét đã tạo nên một tác phẩm thành công và hấp dẫn. Hãy cùng khám phá xem, liệu một con thỏ cả ngày chỉ ăn rồi ngủ sau đó nằm chờ chết, sẽ làm thế nào để trở thành một con tiện thỏ khiến thần tiên nghe tới cũng phải khiếp sợ trong Con Tiện Thỏ Này Phải Chết nhé. ***   Mời các bạn đón đọc Con Tiện Thỏ Này Phải Chết của tác giả Nhất Mộng Hoàng Lương.
Bến Bờ
Bến bờ là câu chuyên tình nhuốm máu bi tráng của Điền, công an điều tra và Khanh, cô diễn viên xinh đẹp. Cao trào của tiểu thuyết diễn ra khi Khanh suýt bị gã đàn ông con riêng của mẹ kế cưỡng bức. Còn Điền bị ông Hói, thủ trưởng trực tiếp của anh, lộ mặt đê hèn, lợi dụng cơ hội hạ nhục anh. Điền và Khanh sẽ phản ứng và tiếp tục sống ra sao sau những cay đắng ấy? Tâm hồn cao thượng và lòng quả cảm có giúp anh đứng vững và đối mặt với cái ác hiển hiện trong cuộc sống? *** Mưa buông hạt từ lúc con tầu khởi hành. Những hạt mưa cuối thu hiền lành, nhỏ li ti, không trọng lực, bay lơ lửng, kết tụ như bụi, như ở bên kia xứ sở, ở bên ngoài cảm giác. Chúng chỉ hiện diện mỗi khi con tầu tăng tốc độ, hắt số nước tích đọng trên mui sang hai bên, thành những làn nước mỏng tanh; và dựa vào đà chạy của con tàu, chúng quay đảo, đè rạp đám cỏ dại cùng lau lách mọc ở hai bên lề đường. Không gì hắt hiu hơn là những bông lau trắng xám, chúng tự nở hoa, tự bạc đầu. Quẫy động trong luồng gió con tầu tạo ra, những bông lau tỏa ra bóng đêm sớm hơn những ngày thông lệ. Xuất phát từ lúc sáu giờ chiều ở một ga nhỏ biên giới, con tầu cảm nhận ngay được thân phận lẻ loi trên dặm đường xa. Nó hú còi liên tục và dàn bánh xe guồng rối rít tít mù như trốn chạy khỏi ám ảnh của một cuộc đuổi bắt hãi hùng. Nó làm dậy lên cuộc sống hoang dã hai bên đường. Hai bên đường thuần núi đất và rừng cây gỗ tạp chợt như được đánh thức và lập tức náo loạn lên với những tiếng gào thét, rên rỉ hoặc khoái trá của loài rắn rết, lũ côn trùng đang bắt đầu vào cuộc sát hại lẫn nhau hoặc cặp díp nhau, giẫy lên đành đạch vì lạc thú điên rồ khi trời sửa soạn vào phần đêm. Náo động từ hai bên đường, ở trong con tầu. Bao giờ cũng vậy, lộn xộn, hỗn loạn là trạng thái thường tình của con tầu ở mấy ga đầu. Người lên tầu còn chưa ổn định được chỗ ngồi, lại bỡ ngỡ trước môi trường mới. Dọc theo các lối đi xẻ giữa hay ở bên cạnh toa, nầm nập khách ngược xuôi đi lại và chỉ cần một người dừng chân để ngó nghé, hỏi han gì đó là đủ gây nên cảnh ùn tắc và ngay tức khắc ồn lên những lời mắng mỏ tức tối rồi. Cảnh sát dã chiến và người nhà tầu vung vẩy cây đèn pin hoặc đèn hiệu trong hộp kính mầu, nổi bật như các hồng huyết cầu trong dòng người chuyển động này, bao giờ cũng len lách vượt lên trong tinh thần chủ động. Rẽ vào một toa nằm để soát vé, giải quyết khiếu nại về sự trùng lắp của một vé ngồi, nhiều nhất là xử lý tình trạng đi tầu không vé, việc này bao giờ cũng gặp khó khăn, khúc mắc. Cũng giống như việc đi lại trên con tầu, lát sau tuy đã thưa người di chuyển, nhưng mọi việc diễn ra cũng không dễ dàng gì, vì con tầu bắt đầu phóng nhanh hơn. Nhất là khi bóng đêm đen tuyền đã phủ trùm toàn bộ cảnh vật. Không hề biết đến việc gì khác, con tầu dường như chỉ có mỗi một nỗi lo là hoàn thành lộ trình càng nhanh càng tốt. Đầu tầu chắm chúi lao hồng hộc và dàn bánh thép của nó càng lúc càng như tự trôi trượt trên mặt đường ray về đêm đã ướt nhoáng nước mưa. Như không có người lái, nó tự động chạy, vẻ như bất cẩn, ở những khúc quanh, vành xe chỉ còn mớm nhẹ vào mặt ray, như sắp buột ra khỏi khẩu độ, phát ra tiếng thép xiết như liếc dao, nghe ghê cả người. Nhiều đoạn, đường gập ghềnh như đường trâu đi trong làng bản, tầu nhảy chồm chồm, các điểm nối giữa các toa chỉ chực buột ra khỏi khớp khóa. Ngồi trong toa tầu mà dập dềnh như ngồi thuyền đè sóng sang ngang sông mùa lũ, như ngồi võng, như cưỡi ngựa. Đường xấu vì làm ẩu, làm vội để lấy thành tích báo cáo, để kiếm chác là một chuyện. Mặt khác, nó xấu kém còn vì bọn trộm cắp phá phách gần đây bỗng hoạt động rộ lên. Đạo chích là những kẻ nhạy cảm vô cùng đối với các khoản sinh lợi. Mà con đường thì cứ phô ra cả trăm, cả ngàn cây số, toàn bộ số tài sản khổng lồ không người canh giữ của mình. Đá có thể lấy về để rải đường, lát sân, đổ bê tông làm móng nhà, trần nhà. Ray, tà vẹt, lập lách, cóc đều có thể bán được tiền. Còn những chiếc guốc hãm các dàn bánh xe ở các toa tầu thì xứng đáng là nguyên liệu loại một để đúc nồi gang, chảo gang cỡ đại hoặc chân bàn máy khâu Trung Quốc, Nga, Phần Lan, loại máy công cụ khi nhập vào nước này vốn chỉ có mỗi cái đầu máy. Khủng khiếp! Nhiều chỗ đá bị moi, hai thanh ray như hai sợi thép căng giữa khoảng trống không điểm tựa đỡ. Ở những đoạn xuống dốc, con tầu mất lực hãm, lao sầm sập vô phương kìm giữ, nó chỉ dừng lại, khi các toa đang trôi tự do bỗng đâm vào nhau loảng xoảng chùn cả lại, vì sức cản của chiếc đầu tầu nặng như một quả núi đá chẹn đường. Tuy vậy, xóc lắc đều đều thì cũng là một kiểu nhịp điệu. Hiểm nguy liên tục thì cũng trở nên bình thường. Hơn nữa, lúc này vòng bánh xe quay theo cánh tay truyền lực phát tiếng kêu xục xịch đều đặn và tiếng hẫng hụt đứt gẫy cách quãng mỗi khi bánh xe qua điểm nối giữa hai thanh ray đã tạo nên trạng thái điều hòa trong cảm nhận mọi người. Dao động nhịp nhàng tác động vào thính giác hóa ra cũng thành một điệu ru. Hành khách được con tàu ru. Điền được con tàu ru. Duỗi thẳng chân, ở thế nằm nghiêng, úp mặt vào vách ngăn, trong con tầu xóc lắc liên tục, Điền đã tách mình ra khỏi hiện tại, để con người có thói quen đóng kín của mình trở nên trơ trụi, ở ngoài dòng thời gian. Vốn không dễ ngủ, nhưng Điền đã ngủ. Nói đúng hơn là Điền vừa chủ động vừa bị dìm nghỉm vào mớ tạp âm phát ra của con tàu và hơi mưa mát rượi chốc chốc lại tạt nhẹ vào khuôn cửa sổ tối mờ. Hơi mưa giải tỏa oi nồng trong toa tầu. May mà có mưa. Vì toa tầu đã chật hẹp lại đầy người. Mà người thì phát xạ như một hành tinh giầu năng lượng. Đã chật lại oi ngột. May mà có mưa. Mưa tắm mát vỏ con tầu. Mưa xóa nhòa các đường biên không gian, tạo nên cái hư giác là con tầu đang trôi trượt vào bóng đêm mung lung không thanh sắc, hình tướng. Trong mưa, tiếng va đập, rít xiết của con tầu trở nên phẳng bẹt, nhòa mờ, loang rộng. Mưa ru Điền vào giấc ngủ của kẻ lữ hành có cuộc sống phiêu tán đó đây đang rất cần những khoảng khắc tĩnh lặng để nghe được tiếng nói dịu dàng bên trong của một đời sống bình dị, lâu bền. Thiếp đi thật sâu, nhưng lát sau Điền đã thức giấc bất chợt. Nằm yên, lọc qua mớ tạp âm va đập, nhận ra tiếng hạt mưa đậu nhè nhẹ trên mui tầu, Điền có cảm giác như đã chạm tới nỗi quạnh vắng mênh mang của đời người, lòng chợt dịu mềm đi vì như gặp được niềm tâm cảm; nỗi lo âu có sẵn từ sâu xa bỗng chập chờn ẩn hiện. Trong Điền từ lâu rồi đã tồn tại một cơ chế cảnh báo tự động. Đời sống luôn khắc khoải muôn nỗi lo toan. Điền đã thức giấc vì tiếng quát tháo, hò hét vừa chợt rộ lên ở đâu đó trong con tầu. Giữa đêm đen mù mịt, trên con tầu chạy hộc tốc như bị săn đuổi, tiếng người quát tháo, hò hét như được khuếch đại lên nhiều lần, lại như nhiễm thêm nỗi kinh sợ bàng hoàng. Ở ga Phố Lu đã xảy ra một vụ cướp giật. Một viên thiếu tá bị mất chiếc túi dết đựng ba trăm mười lăm triệu đồng tiền lương mới lĩnh của đơn vị. Bọn cướp giật được túi tiền từ toa số 6. Cảnh sát đuổi chúng tới toa số 2, toa Điền nằm, thì mất tích. Chúng đã nhảy xuống tầu hay trà trộn vào mấy chục hành khách cùng toa với Điền vừa thất thần thức giấc? Điền ngồi dậy, nhìn vào khoảng không mờ mờ ánh đèn điện trong toa tầu chỉ thấy những bóng người qua lại mặt mày ngác ngơ hốt hoảng. Người trong khoang tầu nằm cùng Điền đã lục sục thức giấc. Nằm trên chiếc giường cạnh anh, ở tầng dưới cùng là một người đàn ông trung niên. Ông ngáp một cái rõ to rồi nhìn anh, lắc lắc đầu cười: “Thôi, các chú công an chào thua các ông kẻ cướp Việt Nam đi!”. Một người cảnh sát cầm súng ngắn đi qua, lườm người nọ, lướt mắt qua mặt Điền. Mắt anh ta đánh một tia chớp. Hình như anh ta nhận ra nét quen thuộc trên mặt Điền. Hay là đã có hồi anh ta cùng Điền tham gia chiến dịch săn bắt băng cướp trên các chuyến tầu Nam Định - Vinh? Chà, cuộc sống chứa chất bao điều quái dị. Có thể nào tin rằng bọn lưu manh chuyên nghề này xây nhà, sắm đài, mua xe đạp, xe máy... thuần bằng tiền móc ví hành khách? Buồn thay, cả băng hơn hai chục tên toàn là dân cày nghèo khổ và thợ thuyền. Người đàn ông trung niên đã leo lên tầng giường trên, gọi mấy ông bạn mình dạy chơi bài và uống trà. Chả còn ai ngủ nữa. Canh bạc ăn nhau về sáng. Bọn bất lương sang nửa phần đêm còn lại càng hoành hành dữ dội. Ở ga Lâm Giang một bà nạ dòng và một cô thiếu nữ Tày bị giật hai sợi dây chuyền vàng. Tên cướp nhảy tầu thật lành nghề, tầu đang chạy với tốc độ sáu mươi cây số giờ, thế mà nó cũng chỉ hơi chuệnh choạng khi chân chạm đất. Trong ánh đèn pin dọi ngược chiều, còn nhìn thấy cái mặt gồ ghề và bộ râu quai nón lục lâm thảo khấu của nó, thấy nó nhe răng cười và giơ hai sợi dây chuyền lên để giễu cợt những người định đuổi bắt nó thò cổ ra ngó nó từ trên các cửa sổ con tầu. Chuyến tầu đầy những sự cố bất thường. Vì đoạn đường nào cũng có người trình báo mất hành lý, mất ví tiền, sắp vào ga Ngòi Hóp, tầu hãm độc giật cục bất thình lình. Có một người nằm vắt ngang đường tầu. Tài xế phụ và một cảnh sát nhảy xuống. Người nọ là một gã đàn ông trẻ, mặt mũi bặm trợn. Bị dựng dậy, gã nhe răng: “Thằng chủ tịch xã nó chiếm đất nhà em, nó cướp cả vợ em. Em chán đời, em muốn chết. Với lại em muốn thử tài các bác lái đầu tầu anh hùng!”. Đúng là trò lưu manh dở. Anh tài xế phụ túm cổ gã, vung quả đấm: “Tài của tao đây!”. Gã nọ lăn ra đường, giẫy đành đạch, gào: “Ôi giời ơi, nó giết tôi. Mày nôn tiềnđền ông đi không có ốm nặng với ông đấy”. Thật là chẳng còn ra kỷ cương, phép tắc gì! Thật chẳng còn ra kỷ cương, phép tắc gì. Vì từ ga Cổ Phúc tràn lên cả bọn hơn chục tên thiếu niên ngổ ngáo nhất loạt trọc đầu, áo may ô đen bỏ ngoài quần, tay xăm hình đàn bà cởi truồng. Trưởng tầu đeo xà cột đến hỏi vé thì một thằng lên tiếng, rồi cả đám nhao nhao phụ họa: “Tầu của nhà nước chứ của riêng ông à!”. Được giải thích ôn tồn thì đồng loạt giả ngây: “Nhưng mà bố em bỏ mẹ em đi với con bồ nhí của ông, không cho em tiền mua vé”. Các bà buôn đường dài chứng kiến vở bi hài kịch cười ré lên: “Thôi các anh nhà tầu mấy lỵ cảnh sát ơi! Quên cha nó thằng cùn đi”. Trưởng tầu và mấy anh cảnh sát hợp lực kéo đẩy, dồn cả bọn vào một chỗ để lát nữa tới ga gần nhất sẽ đưa xuống. Thì chúng xô họ, ùa sang toa bên, sau khi phanh ngực áo, nghiến răng: “Tao nhớ cái bản mặt chúng mày nhé. Còn gặp nhau nhiều, nghen”. Ngồi ở tầng giường trên, người trung niên ngó xuống, như nói với Điền: “Thời kỳ mạt thế là đây. Đám dân Việt này hỏng từ gốc rồi, đến Khổng Tử cũng chẳng giáo dưỡng được chúng đâu, có phải không, các vị?”.   * *          *   Ngoài trời, bóng đêm đang rã ra từng mảng. Và tình trạng hỗn độn hình như đã bớt đi. Vậy mà con tầu thi thoảng vẫn giật đùng đùng. Có lúc nó như một linh hồn bất an, chợt rít ré lên, chợt hùng hùng hổ hổ rồi sau đó lại uể oải lờ ngờ lê dịch từng vòng bánh xe, như một kẻ kiệt lực. Đèn trong khoang tầu đã tắt. Người trung niên và mấy người ở tầng giường trên sau một hồi uống trà, chơi bài đã nằm ngủ lại. Điền nằm lắng nghe tiếng bánh xe quay vòng, cố tìm thấy ở đó một tiếng nói nội tâm của chính mình. Điền rất thích sự yên tĩnh. Có lẽ vì đối với Điền, sự ồn ào là quá thừa thãi rồi. Điền cần yên tĩnh để thư giãn, để lập lại thế cân bằng giữa thân thể và trí óc. Để có được sự yên hòa giữa cái hỗn tạp, nhộn nhàng, để nhận ra cái mênh mang, thăm thẳm của đời sống tinh thần và cái bến bờ bí ẩn của cuộc đời mỗi người. Điền có cảm giác đã tìm được sự yên tĩnh và thấy mình đang ở trong cuộc phiêu du của con tầu, đang đi tới cái bến bờ xa xăm trừu tượng và rất khó hiểu nọ. Chính lúc ấy, Điền đã phải bật dậy. Ở tầng giường trên Điền, người trung niên vừa giật thột mình, chồm dậy, giọng mê hoảng như vừa qua cơn chiêm mộng. - Cái gì thế? - Tôi... tôi... Mấy người ở tầng giường trên đã thức cả, và sau câu hỏi với người trung niên, họ liền vội vàng kiểm tra mấy bọc hành lý của mình. May, không ai bị mất mát gì. - Tôi nghe thấy, ông kêu la cái gì kinh hoảng lắm? - Tôi mơ mà hình như không phải chỉ là mơ. Tôi thấy, rõ ràng là thấy như là có một con bướm. Một con bướm rất to, lọt qua cửa sổ toa tầu, vào khoang tầu này. Con bướm đậu lên mặt tôi. - Bật đèn lên xem nào! Tiếng công tắc bật khô khan tiếp ngay sau tiếng một ông già. Con tầu vọt tăng tốc trên quãng đường thẳng. Dàn bánh thép dội lên từ nền đường làn âm thanh như đá đổ. Qua môt cây cầu dài, có cảm giác con tầu đang bị hút xuống một chiều dốc thăm thẳm và mọi người như mất tri giác, cũng bị lôi theo và phó mặc. Bóng đêm đã tan loãng trong những dao động nọ. Ngoài cửa sổ đã thấy lờ mờ khung cảnh miền trung du đồi đất trập trùng, cùng những vạt mây xám nặng nề như những nỗi buồn đau vón cục không thể tiêu tan. - Tôi có bà cô chết trẻ thiêng lắm. Cứ mỗi khi tôi sắp gặp tai nạn, bà lại hiện về để báo trước. Lần thì bà hiện thành hoa, lần bà hóa thành bướm. Bà hiền lắm. Từ nhỏ đến lớn không cãi nhau với ai một lời. - Bác năm nay đã bảy mươi chưa? - Tôi già đến thế kia ư? - Xin lỗi bác. - Vừa tròn sáu chục. Nhưng tôi về hưu được năm năm rồi. Vừa rồi là lên Lao Cai thăm đơn vị cũ. Nghề coi tù mệt mỏi, chóng kiệt lực lắm. Anh tính: suốt ngày tiếp xúc với cái bẩn tưởi. Ông Các Mác chia người thành giai cấp, là căn cứ vị trí của mỗi người trong hệ thống kinh tế - chính trị. Đúng! Còn tính khí con người thì có thể chia hai bậc chính: quân tử và tiểu nhân, hiền lành và độc ác. Tôi không phủ nhận hoàn cảnh xã hội. Còn bất công thì còn nổi loạn. Nhưng, có những người tiên thiên hiền hậu, hảo tâm, thánh thiện như bà cô tôi. Lại có những kẻ vốn sinh ra đã ác độc rồi kia. Cạnh nhà tôi có một thằng bé mà từ lúc nó sáu bảy tuổi tôi đã thấy nó là đứa trẻ tàn bạo. Đồ chơi nào vào tay nó, nó cũng đập phá tan tành mới thỏa thích. Không con mèo con nào sống nổi với nó. Lớn hơn gặp dịp là nó đánh đập bè bạn không tiếc tay. Bố nó nuôi một con béc giê để giữ nhà. Mới mười bốn tuổi đầu mà nó đã nhiễm có cái thú tính tàn ác là đánh chó. Nó xích con chó lại rồi cứ cái roi da đầu có mấu quất. Chuých! Bụp! Chuých! Bụp! Trăm phát không sai phát nào! Con chó sợ rúm lại, thậm chí phát điên mà nó cứ lì ra, như không. Ngày nào không đánh con chó một trận là nó ăn không ngon. Sau này, tôi gặp nó ở xà lim tử hình. Tội nó là giết vợ, giết nhân tình. Hỏi nó, nó cứ nhơn nhơn, chẳng chút ân hận. Mặt nó cũng dị hình dị tướng lắm. Độc ác hiện ra từ cái đầu hói khi mới có ba chục tuổi. Mắt thì mắt rắn. Mũi thì khoằm khoặm. Lại rỗ nữa mới kinh! Chết! Chết! Nó thuộc loại nhân chi sơ, tính bản ác, các anh ạ.   * *          *   Vậy là ngay ở trong khoang tầu có mấy người nằm, chạy từ Lao Cai về Hà Nội đêm nay đã có ít nhất là hai người làm công việc có quan hệ hàng ngày với bọn tội phạm, với cái ác. Điền cũng là nhân viên của ngành công an nhưng khác với ông già giám thị trại tù, Điền đóng vai người trinh sát, điều tra các tội phạm hình sự tức bọn cướp của giết người, gây rối loạn trật tự xã hội và gây nguy hiểm cho đời sống người dân. Hai mươi tư tuổi, Điền tốt nghiệp khóa đào tạo đại học chuyên ngành, tới nay Điền đã già hai tuổi nghề. Câu chuyện của người giám thị Trại giam vừa rồi, khiến Điền nhớ đến vụ án giết người mà tội phạm là một kẻ vị thành niên. Đây là vụ án đầu tiên anh giữ vai đảm trách chủ yếu trong đời. Anh đã tóm được nó. Đúng thế! Nó là một thằng nhóc, nói đúng hơn là một thân xác vừa trẻ con vừa còi cọc. Nó mới mười sáu tuổi. Người nhỏ tóp, chân tay ống sậy. Mặt choắt, trán dô, mắt lỗ đáo. Thằng lỏi này gọi người lái xe Honđa ôm tên là Ngạc, hai mươi tám tuổi, bảo anh chở nó từ Gốc Riếu đi Cam Đồng. Đi được chừng tám cây số, nó rút búa đập liên tiếp vào đầu anh. Anh chết, nó hất xác anh xuống vực, lấy xe đem về Yên Bái bán lấy tiền ăn chơi. Điền hỏi. Nó kể, kể rất thản nhiên. Rằng em ngồi sau anh ấy. Đến cây số tám, đường xấu, xe bị xóc, nên đi chầm chậm. Trời lúc này đã tối. Em bảo: “Cho xe dừng lại đi, em đánh rơi dép rồi!”. Xe vừa dừng, em liền rút cái búa để sẵn ở túi áo Natô đập mấy nhát vào sọ anh ấy. Anh ấy kêu ối. Em nghĩ: chưa chết đâu. Thế là em đập mấy cái nữa cho chết hẳn! Uất tức, Điền quát và bật đứng dậy, hai con mắt như hai tia lửa điện phóng thẳng vào mặt tên hung thủ trẻ con. Nó cũng giật mình đứng dậy, sợ hãi run lẩy bẩy. Nó choắt cheo, lép kẹp một khúc xương khô, đứng chỉ đến vai anh. Chỉ cần một quả đấm của anh là nó có thể nằm liệt cả tuần. Thế mà nó lại có thể giết người! Nó cần tiền, nó vốn hư đốn, quen ăn chơi lêu lổng? Không! Không chỉ có vậy! Còn một nguyên nhân nào nữa khiến thằng ranh nổi cơn hung đồ và tợn tạo như thế? Hay nó là đứa lãnh cảm, vô hồn, vì sau khi xác định nó là thủ phạm, theo dõi nó suốt mấy hôm, anh vô cùng kinh ngạc vì thấy nó quá thản nhiên, không hề lộ ra mảy may mặc cảm, áy náy gọi là, điều mà những tên sát thủ già đời cũng khó tránh khỏi. Lúc dẫn nó đi qua mộ người lái xe ôm ở bên đường, anh hỏi nó: “Mộ ai đấy?”. Nó đáp thản nhiên: “Mộ anh lái xe Hon đa ôm đấy mà!”. “Mày có biết là anh ấy người Hải Dương, đi bộ đội về, gia đình nghèo khổ, phải đem thân lên tận miền rừng núi này làm nghề lái xe ômđể kiếm tiền nuôi vợ con không? Tại sao mày lại giết anh ấy?”. Điền đã gào thét và túm cổ áo nó giật. Nó giẫy, nó kêu: Đau quá! Mặt nó nhăn nhúm. Má nó vạc hai nét vạc sâu hoắm. Điền nhìn hai nét vạc ấy, bỗng sợ hãi, buông tay, sờ lên mép mình. Nó ngồi xuống lí nhí: Em không hiểu tại sao em lại giết anh ấy ạ. Nó đã khai thật. Vì lúc ấy, như có một linh hồn xa lạ nào đó nhập vào nó. Nó bỗng thấy người nó nổi gai xù xì rồi phồng lên to tướng và chân tay bỗng ngứa ngáy, bứt rứt, chỉ muốn đập phá giết chóc. Thế là nó rút cái búa đóng đinh buổi chiều đi làm thuê ở phòng triển lãm thị xã còn để trong túi. Giang tay Điền đã cho nó một cái tát. Nó ngã nghiêng xuống đất, tay đưa lên che má, người co rúm lại, không dám đứng dậy. Còn Điền bỗng thấy người rơn rởn như chạm phải lông sâu róm. Thằng khốn! Một hồn ma bóng quỷ đã nhập vào nó, điều khiển nó, xui khiến nó. Nó không nhận thức được nó. Nó chỉ nhận ra cái bóng chạy ở phía trước nó và lưu lại ở sau nó thôi. Nó là một thực thể chưa hoàn chỉnh, một quái trạng, một thai nhi lọt lòng chưa đủ năm đủ tháng, một thể xác lỏng lẻo hồn vía, trống rỗng và bỏ ngỏ. Nó là đứa trẻ bị đẻ non. Nó chưa hoàn thiện. Và anh lái xe Hon đa ôm buồn thay, con người là vậy đó, cuộc đời thì quá ngắn ngủi, bến đợi thì xa tắp mịt mùng mà cái chết lại rập rình ngắt đoạn bất cứ lúc nào. Mời các bạn đón đọc Bến Bờ của tác giả Ma Văn Kháng.
Quãng Đời Đánh Mất
Quãng Ðời Ðánh Mất” là quyển tiểu thuyết thứ ba của Dương Thu Hương do nhà xuất bản Hải Phòng in năm 1989, sau “Bên Kia Bờ Ảo Vọng” (1987) và “Thiên Ðường Mù” (1988) – hai tác phẩm đã đưa tên tuổi của bà lên vị trí sáng chói nhất trên văn đàn Việt Nam suốt mấy năm qua. Bộ ba tiểu thuyết này tạo thành một bức tranh hoành tráng công phu của xã hội Việt Nam ngày nay, với biết bao khung cảnh, hình ảnh, nhân vật, tình tiết…Nghệ thuật miêu tả và phê phán hiện thực sắc bén và can đảm, cùng với nỗ lực phản kháng và giải ảo trong các tác phẩm của Dương Thu Hương, đã giúp bà trở thành nhà văn được tìm đọc nhiều nhất, và nổi tiếng nhất cả trong và ngoài nước… sống cuộc đời mình một cách độc lập, can đảm đối diện và chống lại những quyền lực phi lý, nhìn cho đúng và phá vỡ những ảo tưởng xa lạ, yêu thương cuộc đời và con người chân thành…Ðó là một vài thông điệp chính mà “Quãng Ðời Ðánh Mất” gửi đến người đọc…” Nhà văn Dương Thu Hương sinh năm 1947 tại Thái Bình, cư ngụ nhiều năm tại Hà Nội, sau đó lưu trú tại Paris, Pháp. Dương Thu Hương là đảng viên Ðảng Cộng Sản Việt Nam, nhưng đã bị khai trừ ra khỏi Ðảng năm 1989, vì đấu tranh cho dân chủ, vì phê bình nhà nước. Những tác phẩm của Dương Thu Hương không được phép lưu hành tại Việt Nam, vì lý do chính trị. Bà từng bị vào tù vì viết sách, vì phê bình việc áp dụng chủ nghĩa Marx-Lenin tại Việt Nam, vì phản đối độc quyền của Ðảng Cộng Sản. Năm 1994, Bộ Trưởng Văn Hóa Pháp Jacques Toubon trao tặng nhà văn Dương Thu Hương Huân Chương Văn Hóa Nghệ Thuật Chevalier Des Arts Et Des Lettres. Năm 2008, bốn tác phẩm “Bên Kia Bờ Ảo Vọng, Những Thiên Ðường Mù, Tiểu Thuyết Vô Ðề, Chốn Vắng” của bà được đưa vào bộ sách Bouquins. Năm 2009, Giáo Sư Tiến Sĩ Joseph Pivato dạy môn Văn Chương Anh Ngữ tại Ðại Học Athabasca ở Alberta, Canada, đề cử nhà văn Dương Thu Hương vào danh sách xét duyệt Giải Nobel Văn Chương. Dương Thu Hương nhận định: “Lịch sử cận đại của người Việt Nam đã diễn ra trong khói bom và tiếng nổ của đạn pháo. Cuộc chiến tranh Việt-Mỹ chia cắt đến tận lòng sâu của mỗi gia đình. Sự nhầm lẫn, sự bất khả tri không chỉ xảy ra giữa hai nền văn hoá Ðông-Tây mà còn xảy ra ngay giữa lòng dân tộc Việt, giữa các thành viên trong một gia đình, một giòng họ, giữa miền Bắc và miền Nam, giữa bên thắng cuộc và bên thua cuộc, giữa người trong nước và những người sống ngoài biên giới. Tóm lại, những người Việt cũng bị chia cách bởi những con sông. Những con sông thiếu vắng những cây cầu. Khoảng cách giữa người với người có thể còn dài rộng hơn sông, sâu hơn vực thẳm, thế nên, dù trên địa hạt văn chương, tôi coi Albert Camus cao hơn hẳn Jean Paul Sartre, tôi vẫn phải công nhận câu nói nổi tiếng của Sartre là một nghiệm sinh có tính nhân loại, “Tha nhân là địa ngục của ta.” [“Sức Mạnh Của Chủ Nghĩa Ngu Dân.”] “Quãng Ðời Ðánh Mất” của hai nhân vật Trọng và Bích để lại âm hưởng vi diệu trong lòng độc giả: “…Khi con người đã quen sống kiếp mù lòa, ai vạch ra sự ngu dốt tối tăm trong kiếp sống của họ sẽ bị họ coi là quỷ dữ, vì điều đó chứng tỏ cái hèn kém của bản thân họ, và đặt ra những lời thách đố nguy hiểm. Mà chắc chắn họ không đủ khả năng vượt qua…Tình yêu cũng cần lòng can đảm. Giữa bao nhiêu dục vọng của đời sống phải chọn lấy một thứ, phải dập tắt mọi đám cháy để nuôi dưỡng duy nhất ngọn lửa của riêng mình. Tình yêu, hơn mọi thứ tình cảm khác, cần lòng hy sinh và sự trung thực…” (trích) *** Mặt trời mù sau lớp mây bạc, nhưng vòm trời và mặt đất trắng ánh lên. Các đồi cây đan tiêu hớn hở nô giỡn trước gió, ném vào không trung ngọn lửa cuồng nhiệt và thất thường của những vòm lá đỏ như đồng. Trên con lộ chạy vắt qua những trái đồi ngoại ô, chợt xuất hiện một cỗ xe thổ mộ. Nó tiến thẳng vào thành phố, tiếng vó ngựa và tiếng lục lạc mỗi lúc mỗi rõ dần. Lão già Ngạn dỏng tai nghe. Rồi từ trong bếp, hấp tấp lao ra sân, đưa mắt dõi theo, cỗ xe ngựa vượt qua tòa biệt thự trắng, xưa là nhà nghỉ của quan công sứ Pháp, nay lũ trẻ đọc sách và chơi đu quay. Rồi cỗ xe lăn qua khuôn viên, khu trường phổ thông, nhà trẻ... Vượt qua hai cánh cổng để ngỏ của lão, nó đi hút về cuối phố. Lão già bất giác thở dài, đôi vai như còng xuống. Từ mảnh sân bên kia, phân cắt bởi hàng đỗ leo, một ông già cao lớn bước sang. Đưa mắt nhìn khuôn mặt ủ ê của lão Ngạn, ông cất tiếng: - Thôi đi, đừng mất công vô ích. Về được, nó khắc về. - Nhưng tôi nóng ruột... Lão Ngạn đáp, vẻ hằn học không che đậy: Ông có con đâu mà ông biết xót?... Ông già hàng xóm không mảy may phật ý, đáp: - Tôi không có con nhưng trên đời này chẳng riêng ông được quyền làm cha. Không người cha nào xử sự như ông cả...Nhưng thôi, đừng cãi cọ nhau buổi sớm. Pha ấm trà đi. Nói xong, ông kéo ghế ngồi, đôi chân bắt chéo lại. Lão Ngạn súc ấm, bỏ trà pha nước mới. Vừa làm, lão vừa nghĩ: Lúc nào hắn cũng đàng hoàng, mạnh mẽ hơn ta. Dù ngồi ở xó rừng hay ngồi trên ghế của người khác...Trông kìa, dường như chính hắn mới là chủ nhân ngôi nhà này, bộ bàn ghế mây đáng tiền này, cả bình trà bằng sứ đời Thanh này nữa. Đến con trai ta cũng thuộc về hắn. Nó tin hắn như dân đạo tin Chúa Jesu. Cái thằng khốn... Ông già láng giềng vẫn ngồi yên lặng, mắt đăm đăm nhìn dãy đồi đan tiêu nơi chân trời. Tóc ông dày và đen, lưng thẳng. Lão Ngạn đặt bình trà xuống bàn: - Được rồi đây. Ông già rót nước: - Ông uống luôn cho nóng. Lão Ngạn gật đầu: - Phải...Nhưng tôi vào bếp đã. Chặn lại cái thớt kẻo sổng mấy con cua. Chúng nó cạo nồi cả đêm, không ngủ được. Lão vào bếp vì không muốn người láng giềng đọc được ý nghĩ của mình. Thực tình, lão căm ghét ông Hai đến mức thầm ước rằng bỗng dưng có cơn gió độc thổi tới, ông Hai trúng phong ngã lăn quay trên mảnh sân này, lão sẽ hả hê bao nhiêu. Trong chiếc nồi đồng lớn, lũ cua biển giương những đôi mắt lồi tí xíu nhìn lão. Móng cua sắc cạo xào xạo nghe rợn tai. Bất chợt, lão già đập chiếc thớt gỗ lên miệng nồi: - Lũ khốn, trưa nay ta đem luộc ráo. Lão quay ra sân. Ông già Hai đã uống xong chén trà, khoan thai bước về mảnh sân bên kia. Lão Ngạn nhìn theo, nghẹn cổ. Trưa hôm ấy, lão luộc cả mớ cua biển. Một mình, ăn mãi tới nửa đêm mới hết. Dù uống nửa lít rượu, lão vẫn bị đau bụng. Từ hai giờ rưỡi đêm, lão chạy đi chạy lại từ nhà trên xuống chuồng tiêu như con thoi. Lũ nhặng đêm kêu như ong trong không, gian hôi thối. Lão đành uống năm viên rửa có á phiện. Rồi sau đó, khoảng bốn giờ sáng, lão ngủ thiếp đi cho tới non trưa ngày hôm sau. Giữa đám sương bồng bềnh, lãng đãng những vệt nắng vàng. Lão già nghe tiếng xe lăn ngoài phố. Lần này, xe dừng lại trước cổng. Đứa con trai bước xuống, nện gót giày trên sân: - Chào ba, con đã về. Nó giơ cao chiếc mũ dạ xanh thẫm, đính mỏ neo vàng. Mắt lão hoa lên. Lão ngắm nghía bộ đồng phục bó sát tấm thân trai trẻ của nó, nước mắt rớt xuống má... - Thình thình...thình...Thình thình... - Ba ơi i i... Hai cánh cửa rung bần bật. Và giọng một người đàn bà: - Chú Hai, ba cháu ốm à? - Không rõ. Đêm qua tao thấy ông ấy chong đèn tới ba giờ sáng. - Mọi ngày ông cụ tỉnh ngủ lắm, ho khẽ đã trở dậy rồi. - Có thể ngủ mệt không nghe được. - Cháu phá cửa đây. - Hãy gọi thêm lát nữa xem sao?... Tiếng gọi cất lên: - Ba ơi, ba ơi i i... Lão Ngạn rùng mình. Không phải tiếng nói của thằng Cường, đứa con trai lão chờ đợi. Giọng của một người đàn bà, như từ cõi âm vọng tới. Lão già cố mở mắt, nhìn thấy cánh tay xanh nhợt của mình vắt trên ngực. Lão cố định thần, lắng nghe tiếng gọi: - Ba ơi... Lão Ngạn thầm kêu: - Con Bích. Rồi chống tay ngồi lên, lão lê từng bước ra mở cửa. Bàn tay lão lạnh ngắt, run run đặt trên quả đấm sứ: - Tao đây. Cánh cửa bật mở. Cô con gái kêu: - Ba làm sao vậy? Thay vì trả lời con, lão Ngạn quay sang người hàng xóm: - Tôi bị tháo dạ, vì lũ cua biển hôm qua. Ông Hai hỏi: - Ông có cần thuốc không? - Không. Giờ cầm rồi. - Có cần gì thì gọi tôi. Người láng giềng quay đi. Lão Ngạn lần về giường nằm, chút nữa bật tiếng rên thất vọng: - Mình mong thằng bé. Lại hóa ra con trời đánh này. Mời các bạn đón đọc Quãng Đời Đánh Mất của tác giả Dương Thu Hương.
MM - Chuyện Về Cô Gái Ấy
“Khi tịch dương chạm vào đường chân trời, chúng tôi trao nhau nụ hôn đầu tiên. Một nụ hôn như trong ước nguyện. Hành tinh xanh vẫn yên lặng chuyển động, màn đêm dần kéo đến từ phía trời Đông. Chúng tôi cùng hẹn ước tình yêu giữa khoảnh khắc giao nhau của ánh sáng và bóng tối. Tình yêu tuổi mười lăm vẫn còn quá non nớt, nhưng chúng tôi đều vô cùng chân thành. Cả hai đều cố gắng tìm ra những gì có thể làm cùng nhau. Phát minh ra một tình yêu mới, khắc sâu mối quan hệ này vào tâm khảm. Chỉ cần mình đủ mạnh mẽ, tôi nghĩ, nhất định sẽ chiến thắng vận mệnh. Có đúng không?” *** 3.5/5 sao. Lâu rồi mình không đọc tiểu thuyết tình cảm, vài tháng trước đọc lại "Mắt biếc" đã quá chán, tiểu thuyết ngôn tình thì ôi thôi đọc xong quên sạch không nhớ tí gì. Nhưng không ngờ rất lâu sau "Bí mật của Ella và Micha" lại có 1 cuốn truyện lãng mạn làm mình thích được. Lúc đầu mình hứng thú với quyển này vì đọc giới thiệu của Nhã Nam có câu "Chỉ cần mình đủ mạnh mẽ, tôi nghĩ, nhất định sẽ chiến thắng vận mệnh. Có đúng không?", chắc câu chuyện sẽ liên quan đến bói toán, tử vi, vượt lên hoàn cảnh,... đại loại là thể loại gay cấn. Nhưng mà không, nhầm hoàn toàn, nó chẳng liên quan gì đến những chuyện mà mình đề cập. Đó cũng là lý do mình khá hụt hẫng khi đọc xong. Nhưng bỏ qua cái kỳ vọng của mình thì nội dung câu chuyện rất ổn. Minamikawa Momo - nàng thơ của câu chuyện, và nam chính (nhân vật tôi) - Sasa Tokio (Momo gọi là Jiro) học chung lớp cấp 2, đều là học sinh chuyển trường nhưng Jiro đến trước Momo vài năm. Tất cả các nhân vật đều liên quan đến xưởng may chi phối đời sống của cả thị trấn vì hầu như học sinh ở đây đều là con em của cán bộ và công nhân trong xưởng may. Momo là con gái của giám đốc xưởng, nghiễm nhiên trở thành nữ hoàng, Jiro sống với mẹ để trốn nợ ở thị trấn này, bà làm thêm ở quán ăn chứ không phải ở xưởng. Hai người chẳng liên quan gì đến nhau bắt đầu mối quan hệ từ lúc Momo nhờ Jiro viết hồi ký 15 năm cuộc đời cho mình (có trả lương), từ đó dần dần hai người hiểu về nhau hơn. Tình cảm trong truyện được miêu tả rất ngây ngô, trong trẻo đúng chất mối tình đầu, không lẩn tránh ngại ngùng mà vô cùng bộc trực, cũng có những hiểu lầm cãi vã, giận dỗi nhưng vô cùng trong sáng. Ngoài cặp chính còn có cặp phụ rất đáng yêu (đoạn cuối truyện họ có thể sắp làm đám cưới) là Tobio và Kikuchi - nữ sinh chuyển trường người ngoại quốc. Kết thúc mở nhưng với mình đấy là Happy ending rồi vì Momo đã trở về trường của Jiro và đọc cuốn sách hồi ký về cô mà Jiro đã hoàn thành, trở nên vô cùng nổi tiếng trong trường. Chuyện gặp lại nhau chỉ là vấn đề thời gian. Câu chuyện xoay quanh Momo nên tác giả xây dựng nhân vật này có vẻ quá hoàn hảo và hơi điêu. Đấy là một điểm trừ. Momo xinh đẹp, cao ráo, con nhà giàu, có bố là giám đốc lắm tiền đẹp trai và mẹ là nữ diễn viên kiêu sa đỏng đảnh, lại vô cùng hào phóng và thông minh. Nhưng chuyện một cô gái 15 tuổi hiểu được bố mình vi phạm pháp luật và dám đứng ra tố cáo bố, đòi quyền lợi cho công nhân, cuối cùng bỏ nhà ra đi và lẩn trốn truyền thông vô cùng hoàn hảo thật khó tin, chưa kể cô gái này còn có suy nghĩ rất sâu sắc về quyền lực, về nghề nghiệp và tương lai. Jiro may mắn hơn vì dù 2 mẹ con phải trốn nợ khắp nơi do bố phá sản nhưng hóa ra ông bao năm vẫn làm mọi cách trả hết nợ nần và âm thầm bảo vệ 2 mẹ con, chuyện đoàn tụ chỉ là sớm muộn. Giọng văn của Ichikawa Takuji rất giàu chất thơ, diễn biến câu chuyện nhanh nhưng không bị gượng, cũng không buồn ngủ. Tuy vậy mình thấy xuất sắc hẳn thì chưa mà phù hợp đọc để thư giãn thôi nên chỉ cho 3.5/5. *** Mỗi lần mỏi mệt tôi lại tìm về với những tác phẩm của Ichikawa Takuji, để được trải lòng, để được bình lặng. “Chuyện về cô gái ấy” vẫn mang nét đặc trưng của tác giả, cái nét trầm trầm, buồn buồn, nhè nhẹ. Momo và Jiro gặp nhau trong một hiệu sách nhỏ, từ đó, hai người trở thành tâm điểm trong mắt nhau, cuộc sống của họ chầm chậm xoay quanh nhau, có những sự việc xảy ra xung quanh, có cảm xúc ngây ngô, vụng dại. Tất cả mọi thứ xảy đến, diễn ra, để viết nên một một câu chuyện không thể quên, về một cô gái dũng cảm và một anh chàng gan dạ, về sự bóc lột giữa các tầng lớp trong xã hội ngày ấy, về những ngày xưa cũ, về những mảnh ký ức nhạt dần theo thời gian. Một tác phẩm êm đềm và nhẹ nhàng, ấm áp. Câu chuyện cứ chầm chậm trôi, thời gian cứ lặng lẽ lướt qua, có hai con người dừng lại, trái tim đập chung một nhịp đập yêu thương. Dù chỉ là những cô cậu bé, dù không mang tầm vóc lớn lao, thế nhưng tâm hồn và suy nghĩ của họ đủ rộng, đủ bao la để khiến bản thân tôi ngưỡng mộ, trầm trồ. Giọng văn của tác giả dịu dàng nhưng không hề nhàm chán mà vẫn luôn cuốn hút. Câu chuyện về cô gái ấy có thực sự chỉ là một câu chuyện bình thường hay chất chứa trong đó có biết bao nhiêu ý nghĩa tác giả muốn gửi gắm?, từng trang giấy, từng câu chữ có chứa đựng nỗi buồn sâu lắng, trầm lặng như bao tác phẩm khác của Ichikawa? Đó là những câu hỏi tôi đặt ra trước khi đọc tác phẩm, may mắn là MM không bi lụy, và buồn như các tác phẩm khác của ông, câu chuyện có nét tươi sáng và vui vẻ hơn, thế nhưng, khép lại tác phẩm, vẫn đọng lại trong lòng sự tiếc nuối mơ hồ và những cảm xúc loáng thoáng chẳng thể gọi tên. |  Trần Lan Hương *** Đôi lời mở đầu Gửi tới các bạn độc giả một ngày nào đó sẽ đọc cuốn sách của tôi. Ngày xửa ngày xưa, xưa rất là xưa, khi nàng còn đang theo học ở ngôi trường này. Cái “ngày xưa” đó cách đây bao lâu, còn tùy thuộc vào việc bạn đọc cuốn sách tại thời điểm nào. Nếu bạn cầm nó lên vào ngày kế tiếp (hay “ngày hôm sau”) cái ngày tôi khẽ khàng đặt nó lên giá sách thư viện (ở góc Hồi ký, nằm giữa cuốn Vua phát minh Edison và Cuộc đời Marie Curie), thì đó mới là chuyện của năm năm về trước mà thôi. Phải rồi, chỉ mới có năm năm thôi đấy, vậy mà tôi lại có cảm giác đã là chuyện xa xưa lắm rồi, tựa như những câu chuyện cổ tích hay thần thoại từ thời tiền sử vậy. Có lẽ vì lý do đó mà trong câu chuyện này, tôi đã tự ý cho thêm vào cả những “hồi ức tưởng tượng” do chính tôi tạo nên. À không, đương nhiên tôi cũng muốn viết cho thật chính xác chứ. Có điều việc hồi tưởng lại quá khứ cũng giống như sáng tác mới vậy, ngay cả những người cùng sống ở thời ấy lúc đọc truyện có khi cũng phải ngạc nhiên, cứ như thể được nghe một câu chuyện hoàn toàn khác. Chúng ta làm đẹp quá khứ, phóng đại mọi chuyện và thổi phồng sự việc lên. Chúng ta tỉa tót thêm cho hồi ức trong vô thức, rồi cứ thế dựng lên cái gọi là “kỷ niệm thời xưa”. Ví dụ như khi viết lại các cuộc đối thoại chẳng hạn, dù cho đã cố tái hiện một cách trung thực nhất có thể, không hiểu sao tôi vẫn cứ trộn lẫn cách nói chuyện của tôi hiện tại vào trong câu thoại của họ. Nếu bạn đọc để ý thấy lời nói của nhân vật có cảm giác già dặn quá, xin cứ xem như đó là lỗi của việc “vô thức tỉa tót thêm cho hồi ức” nhé (nói vậy nhưng thực sự chúng tôi là những đứa trẻ lớn trước tuổi. Chính “hoàn cảnh gia đình phức tạp” đã buộc chúng tôi phải trưởng thành sớm). Nói ra thì giống như lấy cớ vậy, nhưng phải viết lại hết tất cả những chuyện mình đã biết, dưới góc độ khi chưa biết gì cả, quả là khó khăn lắm thay! Phần lớn tôi sẽ viết theo kiểu vờ như mình chưa hề biết đến diễn biến tiếp theo, nhưng có đôi khi tôi vẫn nhịn không nổi, lỡ thốt ra những lời thoại như nhà tiên tri. Nếu bạn đọc tới khúc ấy, xin đừng suy nghĩ nhiều quá, hãy cứ nhẹ nhàng lướt qua là được. Mà thôi, gì thì gì tôi cũng đã cố gắng làm tốt nhất rồi. Cũng một phần vì thế mà thành ra mất tới tận năm năm. Nói sao nhỉ, đây là “công việc” của tôi, mà đã là công việc, thì tuyệt đối không được phép qua loa. Chỉ cần bạn đọc cuốn sách này, nhất định sẽ thấy được tôi đã cố gắng đến nhường nào. Mặc dù nó chẳng có vẻ gì giống một quyển hồi ký, nhưng tôi chỉ có thể dùng lối viết như vậy thôi (nói đúng ra đây không phải “hồi ký” theo ý nghĩa thông thường, cũng chẳng phải thứ gì đó giống như hồi ký, dù tôi đã được nhờ cậy viết như thế. Lý do chủ yếu nằm ở chỗ cuốn sách này viết ra cho ai, điều này sẽ được làm rõ hơn trong tác phẩm, vì thế xin các bạn cố chờ thêm một chút). Hy vọng tôi có thể kể lại cho các bạn một cách chân thật nhất về nàng. *** 1 Hôm ấy là một ngày hè nóng nực, độ ẩm cũng cao kinh khủng khiếp. Tôi đang ở trong một hiệu sách nho nhỏ nằm trên con phố trước nhà ga. Mặc cho máy lạnh vẫn đang chạy, phát ra âm thanh như tiếng thở dài của loài khỉ rú (có lúc lại giống như tiếng bị mắc đờm), nhiệt độ trong cửa hàng cũng chẳng đỡ hơn bên ngoài là bao. Tôi vừa dùng vai áo lau đi từng dòng mồ hôi chảy dài trên má, vừa đứng đọc một quyển sách. Một bản dịch tên Con đường ngắn nhất để trở thành biên kịch tại Hollywood. Dù rằng cái tiêu đề nghe như đùa, nội dung bên trong quả thật có viết rất nhiều điều cần thiết để trở thành một biên kịch, nên từ tận đáy lòng tôi cực kỳ muốn có nó. Có điều, đối với quyển sách 600 trang thì cái giá của nó đắt đến mức lố bịch. Vì lẽ đó mà kể từ ngày đầu tiên của kỳ nghỉ hè, hôm nào tôi cũng ghé qua đây (không tới 30 phút mỗi ngày - thì tôi cũng chưa muốn bị cấm cửa mà. Ông cụ chủ hiệu sách tạo cho người ta cảm giác lầm lì bảo thủ, hẳn không phải là người dễ tính thân thiện gì cho cam), và vùi đầu cố gắng đọc xong hết tất cả các trang sách (tiện thể học thuộc hết luôn nếu có thể). Đang giữa lúc tập trung ấy, tôi bỗng giật mình khi bị ai đó vỗ vào vai. Và hình như tôi còn bật thốt lên thành tiếng nữa, “Oái”, chỉ một tiếng rất khẽ thôi. Mình bị ông chủ hiệu sách để ý tới rồi sao, tôi nghĩ. Có lẽ ông cụ sắp hết kiên nhẫn với mình rồi. Dè dặt quay đầu nhìn lại, tôi trông thấy nàng ở đó. Minamikawa Momo. Điều này lại càng đáng ngạc nhiên hơn. Tôi cảm thấy có chút bối rối. Bởi vì mặc dù cùng học chung một lớp, chúng tôi chưa lần nào bắt chuyện với nhau. “Nói chuyện chút được chứ?” Nàng đề nghị. Không hiểu sao trong giọng nói của nàng có vẻ gì đó như tức giận. Nàng mặc một chiếc áo khoác đen tuyền bên ngoài áo sơ mi trắng (đến cả chiếc quần bò bó nàng mang cũng màu đen nốt). Mùa hè mà ăn mặc thế này ư? Ấy vậy mà trông nàng vẫn rất thong dong, thậm chí còn chẳng vương giọt mồ hôi nào. “Nói chuyện ấy à?” Mình có từng làm gì khiến nàng khó chịu không nhỉ? Tôi vắt óc lục lọi ký ức, nhưng tuyệt nhiên không nhớ ra được điều gì. Mà cũng phải thôi, giữa hai chúng tôi hoàn toàn chưa từng có một tiếp điểm nào, tính đến giờ phút này. “Ừm, mình có việc muốn nhờ Sasa.” Nhờ? Nhưng nhờ cái gì nhỉ? Tôi càng thấy khó hiểu hơn. “Việc gì thế?” Tôi hỏi lại nàng. “Đi nơi khác nhé?” Nàng vừa nhìn quanh hiệu sách vừa đáp lời, “Ở đây không tiện cho lắm.” “Ừ, được thôi.” Tôi nói, và thế là chúng tôi cùng nhau tới quán cà phê cách hiệu sách ba căn nhà. Mời các bạn đón đọc MM - Chuyện về cô gái ấy của tác giả Ichikawa Takuji & Mai Mai (dịch).