Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Vinh Quang Và Quyền Năng - Graham Greene

Graham Greene, nhà văn Anh nổi tiếng được công chúng Việt Nam biết đến với tiểu thuyết The quiet American (Người Mỹ trầm lặng) đã được dựng phim hai lần, ông được coi là người viết về chiến tranh Việt Nam ấn tượng nhất. Là người sống cuộc đời đầy phiêu lưu và mạo hiểm nên, Greene thích đưa các nhân vật người Anh dè dặt của mình vào những tình huống khắc nghiệt, ở những nơi chốn khác lạ. Trong thế kỷ 20, không nhà văn nào có được những nhìn nhận tinh tế hơn Graham Greene khi đưa ra sự so sánh giữa con người với con người. Khi mà ngày càng có ít các nhà văn cố gắng phân tích những đức tính tốt đẹp của con người rơi vào sự sa ngã, thì Greene là bậc thầy trong sự phân minh đầy tính phức tạp này. Nhân vật của ông tồn tại trong hệ thống phẩm hạnh được xác định rõ ràng… Với thành công đó, nhà văn nào cũng thèm muốn có được sức tưởng tượng chứa đầy sự đột phá vô cùng hấp dẫn như Greene - người không bao giờ thiếu chuyện để viết mà ngược lại, luôn ngập trong những áng văn không ngừng tuôn chảy trong mình. Greene từng nói rằng, thời niên thiếu không hạnh phúc là sự cân bằng vô cùng bổ ích cho ông. Tuổi thơ của ông là sự khổ cực ở trường học, những cuộc vật lộn với thầy hiệu trưởng lại là chính người cha của mình; tìm cách tự vẫn ở tuổi vị thành niên và rồi lại si tình đến mê muội người vợ của chuyên gia tâm thần học chữa bệnh cho mình; không đam mê thể thao và thường bỏ học để dành thời giờ đọc tiểu thuyết phiêu lưu của các nhà văn như Rider Haggard và R. M. Ballantyne… Chính những câu chuyện đó đã có ảnh hưởng sâu đậm tới Greene và giúp ông tạo được phong cách văn chương của mình. Graham Greene là người trầm lặng, kín đáo nhưng cuộc sống riêng tư của ông lại rối như tơ vò. Ông tự nhận mình là “một người chồng tồi và người yêu không kiên định” bởi có quan hệ với nhiều phụ nữ, chưa kể thú đam mê rượu đến mức trở thành huyền thoại. Năm 1925, khi mới 21 tuổi, Graham Greene phải lòng Vivienne Dayrell-Browning – một cô gái xinh đẹp theo đạo Công giáo. Nhà văn tương lai mất hai năm ròng với hàng trăm lá thư tình mùi mẫn mới chinh phục được người đẹp. Chưa hết, trước khi được Vivienne mở lời nói câu đồng ý trước bàn thờ Chúa, Greene còn phải cải đạo để vừa lòng ý trung nhân. Hai người kết hôn năm 1927. Họ đã có một thời gian khá mặn nồng, nhưng càng ngày, bất đồng giữa hai người càng lớn. Vivienne khá khắt khe và có cái nhìn cao đạo với vấn đề tình dục. Trong khi chồng cô lại là một người rất trần tục và luôn thẳng thắn thể hiện các nhu cầu bản năng. Họ có hai người con Lucy Caroline và Francis. Cuộc hôn nhân tan vỡ từ năm 1939 nhưng đến năm 1947, hai người mới chính thức chia tay. Cuốn “Vinh quang và quyền năng” có lẽ là một lời biện hộ muộn màng cho hôn nhân tan vỡ của mình. *** Là tài năng hiếm có trong thế giới văn chương ngày càng mang tính bản địa, một người theo chủ nghĩa quốc tế tài năng có nhận thức chính trị sắc bén, nhưng Graham Greene lại từ chối nhìn nhận mình là một nhà văn chính trị. Nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của ông, Thư viện Anh tổ chức một cuộc triển lãm các kỷ vật của Green; còn tại thành phố Berkhamstead quê bương ông thuộc Tây Bắc London diễn ra hội nghị kéo dài một tuần, trong đó bàn đến những đóng góp của Greene cho nền điện ảnh, món nợ văn chương của ông với Joseph Conrad và mối quan hệ với Vua hề Charlie Chaplin... Nếu còn sống, chắc chắn Graham Greene sẽ là người phản đối quyết liệt cuộc chiến của Mỹ ở Iraq, bởi ông từng lớn tiếng lên án cuộc chiến tranh của Mỹ ở VN: "Đây không chỉ là việc làm xấu xa mà là cuộc chiến xuẩn ngốc nhất...", Greene nói như vậy trong một cuộc phỏng vấn năm 1967. Ông còn chỉ trích về chính sách đối ngoại của Tổng thống Mỹ Ronald Reagan. Greene từng nói rằng, nhiệm vụ của ông là mô tả "nỗi cam go của sự việc theo tâm lý, và đôi khi theo quan điểm chính trị". Đọc sách , độc giả nhận thấy phần lớn trong hơn hai chục tiểu thuyết của ông bộc lộ sự xung đột giữa lòng trung thành và khát vọng, sự giao thoa đầy khó khăn giữa chính trị và đạo đức. *** Tác phẩm của một tiểu thuyết gia công giáo người Anh, một người Anh giáo trở lại, như cuốn “Vinh Quang và Quyền Năng” trước hết mang lại cho tôi cảm giác bỡ ngỡ. Chắc chắn là tôi tìm được trong đó môi trường tâm linh quen thuộc, chính trong sâu thẳm của màu nhiệm quen thuộc mà Graham Greene đã đưa tôi vào. Nhưng mọi việc diễn ra cứ như thể tôi đi vào một khu nhà cổ qua một cánh cửa bị che khuất sau những dây leo, cành cây, mà tôi không biết, và bỗng chốc tôi nhận ra cái lối đi lớn trong vườn nơi ngày xưa tôi thường nô đùa, và tôi nhẩm đọc những chữ viết tắt mà tôi đã khắc lên thân cây sồi trong những kỳ nghỉ hè năm nào. Một người công giáo Pháp chỉ đi vào giáo hội qua cổng chính; họ bị chi phối bởi lịch sử chính thức của giáo hội Pháp; họ dự phần vào những cuộc tranh luận đã từng phân hoá giáo hội Pháp trong nhiều thế kỷ, người ta khám phá ra người nào đó thuộc phe Port Royal hay Dòng tên, họ về phe Bossuet chống lại Fenelon hay họ về phe với Lamenais và Lacordaire hay với Louis Veuillot. Không thể không liên tưởng đến tác phẩm của Bernanos khi đọc “Vinh quang và Quyền năng”. Những tranh luận của giới công giáo trong suốt bốn thế kỷ qua như được phác hoạ lại nơi đây. Sau cha xứ Donissan trong “Dưới ánh mặt trời của Satan” xuất hiện cha sở xứ Ars. Những vị thánh của Bernanos, những linh mục có khuynh hướng tự do, những giáo dân ngoan đạo mà ông mô tả với giọng điệu cay cú nói ngược lại sự tôn kính và sự gớm ghiếc của ông. Phần mình, Graham Greene đã lén lút đi vào vương quốc bí nhiệm, trong vương quốc của thiên nhiên và ân sủng. Không có thiên kiến nào làm vẩn đục cái nhìn của ông. Không có luồng tư tưởng nào làm ông rời xa phát hiện của ông, cái bí quyết mà ông đã đột nhiên tìm thấy. Ông không có một định kiến nào về cái mà chúng ta gọi là “linh mục tội lỗi”. Có thể nói rằng, ông không có trong đầu óc một mô hình đạo đức nào cả. Có bản tính tự nhiên hay hư nát và có Ân sủng quyền năng; có con người khốn khổ, không đáng giá gì sất, ngay cả để làm điều tội lỗi và cái tình yêu nhiệm màu bao trùm con người trong cái khốn nạn cũng như trong cái hổ nhục để biến họ thành thánh, một vị tử đạo. Vinh quang và quyền năng của Chúa Cha toả rạng nơi bản thân một linh mục Mexico nghiện rượu và đã có con với một nữ giáo dân của mình. Mô típ lố bịch, tầm thường và tội trọng của ông chỉ làm cho người ta cười nhạo hay nhún vai và ông linh mục tội lỗi nhận biết điều đó. Cái mà cuốn sách này muốn chứng minh cho chúng ta là, nếu tôi nói không quá, là việc thánh hoá tội lỗi nhờ ân sủng. Vị linh mục phản động, bị chính quyền kết án tử hình, đầu ông bị treo giá (cuốn truyện mượn khung cảnh một nước Mexico bị thao túng bởi những người cầm đầu chống đạo) đã tìm cách đi trốn, như những linh mục khác đã làm, ngay cả những vị thánh thiện nhất. Ông chạy trốn, đã vượt được qua biên giới, nhưng lại quay về khi có người hấp hối cần đến ông hay cả khi ông biết sự hiện diện của ông không mang lại gì hay cả khi ông biết đó là một cái bẫy, rằng người đến kêu cứu ông là người chỉ điểm. Vị linh mục nghiện rượu, tội lỗi, run sợ trước cái chết, đã hiến dâng mạng sống mình nhưng không bao giờ quên cái cảm giác hèn hạ, nhục nhã của mình. Ông ta sẽ cho là chuyện tiếu lâm nếu ai đó nói ông là Thánh. Ông được bảo vệ cách lạ lùng chống lại thói kiêu ngạo, sự tự mãn. Ông đi tử đạo nhưng luôn mang trong mình ý thức về sự sa đoạ, phạm thánh của một linh mục đang trong tình trạng tội trọng, đến nỗi ông hy sinh thân mình nhưng qui chiếu tất cả cho Thiên Chúa, cho quyền lực và vinh quang của Ngài nơi con người khốn nạn nhất trong những con người: chính bản thân ông ta. Và càng đi đến hồi kết, chúng ta càng thấy con người tội lỗi tầm thường này càng hoá thân nên giống Chúa Kitô để nên giống Ngài, nhưng chưa đủ: đến mức đồng hoá mình với Chúa của mình. Mầu nhiệm Thương khó tái hiện nơi tội nhân này, tội nhân được lựa chọn trong cặn bã của nhân loại và đã lặp lại điều Đức Kitô đã làm, không phải ở trên bàn thờ dưới hình bánh hình rượu và mình thì chẳng mất gì, nhưng là hiến tế chính máu và thịt mình trên Thánh giá. Ở nơi con người vị “linh mục tội lỗi” này, không phải là những nhân đức đã tỏ rạng để đối lập với tội lỗi, nhưng chính là đức tin - đức tin vào cái dấu ấn vô hình ông đã lãnh nhận ngày thụ phong, vào cái kho tàng mà chỉ có mình ông (bởi vì những linh mục khác đã bỏ trốn hay đã bị sát hại) còn mang trên đôi tay bất xứng nhưng đã được Thánh hiến. Vị linh mục cuối cùng còn lại trong vùng, ông không thể tin được rằng sau ông sẽ còn linh mục để cử hành thánh lễ, để giải tội, để giúp kẻ liệt trước ngưỡng cửa đời sống vĩnh cửu. Và dù sao đức tin của ông đã không lay chuyển dù ông không biết rằng, ngay khi ông vừa gục ngã dưới làn đạn, một linh mục khác đã đột ngột xuất hiện. Qua đó, chúng ta cảm nhận sự hiện diện bí ẩn của Thiên Chúa trong một xã hội vô thần, cái giòng chảy ngầm của ân sủng đã làm Graham Greene choáng ngợp hơn là cái mặt tiền hoành tráng mà giáo hội trần thế trình ra trước mặt các dân tộc. Nếu có một ki tô hữu nào đó mà sự sụp đổ của giáo hội hữu hình không làm cho xao xuyến, chính là Graham Greene mà tôi nghe nói ở Bruxelles, trước mặt hàng ngàn tín hữu và sứ thần toà thánh, đã gợi lên hình ảnh vị giáo hoàng cuối cùng trong một Âu châu hoàn toàn mất đức tin, đứng xếp hàng trước quầy vé, mặc chiếc quần tây xoàng xĩnh, cầm trên tay, còn lấp lánh chiếc nhẫn của “người đánh cá”, cái cặp giấy carton. Có thể nói rằng, cuốn sách này là một thông điệp gởi đến thế hệ trong đó mọi cái đều bị xem là phi lý. Những người trẻ thời đại Jean Paul Sartre, Camus, những con mồi tuyệt vọng của cái tự do phù phiếm. Graham Greene hé lộ rằng, có thể, sự phi lý này thực ra chỉ là một tình yêu không bờ bến. Ông cũng gởi thông điệp cho những người ngoan đạo, những người chưa bao giờ nghi ngờ về những giá trị của chính mình và luôn mang trong đầu những mô thức thánh thiện, với những phương thế chuyên biệt để đạt được những mức độ đạo đức khác nhau. Ông đặc biệt nhắm tới những kitô hữu, linh mục và giáo dân, các tiểu thuyết gia đang rao giảng con đường thập giá nhưng phải nói là họ chưa chịu “đóng đinh” đủ. Bài học lớn cho những người bị ám ảnh bởi sự toàn thiện, những con người khốn khổ săm soi những khiếm khuyết của mình mà quên rằng ngày phán xét sau cùng, theo thánh Gioan Thánh giá, chính tiêu chuẩn tình yêu là tiêu chí phán xét. Cái đất nước ông mô tả truy lùng các linh mục và giết hại các ngài, đúng là cái đất nước mà chúng ta đang thấy hình thành trước mắt. Đây là giờ của “hoàng tử thế gian”, nhưng ông mô tả họ không chút hận thù: ngay với tên đao phủ, ông cảnh sát trưởng đều mang dấu ấn của lòng thương xót. Họ tìm kiếm chân lý; họ tin đã tìm thấy chân lý và đang phục vụ chân lý, cái chân lý đòi phải hy sinh một số đồng loại. Bóng tối bao trùm vùng đất mà ông mô tả, nhưng có một tia sáng nào đó đang xuyên qua. Dù gì đi nữa, chúng ta không nên sợ hãi, tác giả đã nhắc cho chúng ta rằng điều bí ẩn sẽ được nhận biết, cũng còn những giá trị cho thế giới phi lý này. Cái tự do mà Sartre đề nghị cho con người có những giới hạn: chúng ta biết rằng, những tạo vật được yêu thương như chúng ta không có tự do nào khác ngoài cái tự do từ chối tình yêu đó… Francois Mauriac. Mời các bạn đón đọc Vinh Quang Và Quyền Năng của tác giả Graham Greene.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Tiểu Thuyết Đàn Bà
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Tiểu Thuyết Đàn Bà của tác giả Lý Lan. Đàn bà! Rõ ràng không phải một con báo. Không phải một con cọp. Cũng không phải một con vượn, mà là một con đàn bà. Người đàn ông đứng sững lại sau đám dây mây chằng chịt. Con đàn bà trần trụi. Tóc nó đen, dợn sóng, dài tới thắt lưng, xoã loà xoà quanh thân thể săn chắc ngăm ngăm nâu. Nó đang nhón gót vói tay hái một trái chuối chín bói trên cái quày chuối mà người đàn ông đã tìm thấy mấy hôm trước, và hôm nay trở lại với mục đích mà con đàn bà đó đang làm. Nó rướn mình giơ cả hai tay vói lên quày chuối, một tay bợ đít quày, một tay cầm trái chuối chín vàng xoay nhè nhẹ. Cuốn trái chuối còn xanh không chịu lìa nãi. Con đàn bà cứ rướn mình lên, day day trái chuối cho đến khi hái được. Nó xoay mình lại, nhìn thẳng về phía đám dây mây bao bọc người đàn ông. Phản ứng tức thì của ông ta là giật mình, co lại trong thế thủ. Tim ông đập loạn lên, vừa sợ vừa xấu hổ. Con đàn bà bình thản lột vỏ trái chuối và thong thả ăn. Nó hất tóc ra sau lưng, hơi uỡn ngực lên, hai vú căng và đứng. Từ thắt lưng cho đến quá đầu gối của con đàn bà được quấn một tấm vải thô màu lam, phần bắp chân lộ ra và bàn chân trần đứng vững chãi trên nền đất pha cát do con sông bồi những khi triều cường. Ánh sáng còn loáng thoáng trên mặt sông ẩn hiện sau cây cỏ ven bờ. Con đàn bà đang đứng nơi khá trống, nên người đàn ông nhìn rõ từng đường nét thân thể nó... “Chiến tranh nghĩa là phân ly, thù hận, chết chóc… Nghĩa là người ta đánh mất mình, bị giết hoặc không được sống để thương yêu. Người ta thất lạc nhau trong cuộc đời rộng lớn, hận thù rộng lớn. Người ta cũng có thể thất lạc nhau dưới cùng một mái nhà. Và thất lạc chính mình ngay trong cuộc đời của riêng mình. Đi tìm nhau và đi tìm chính mình, đó là những người đàn bà của Lý Lan trong Tiểu thuyết đàn bà”. *** Tôi đọc “Tiểu thuyết đàn bà” của Lý Lan vào một ngày nào đó của tuổi 20 trôi qua tựa một đám mây nhẹ xốp, không âu lo, không vướng bận. Rồi đọc lại “Tiểu thuyết đàn bà” vào sinh nhật tuổi 25, khi bạn đem cuốn sách gói trong những lớp giấy màu xanh đỏ và viết nắn nót mấy lời đề tặng. Bạn bảo: “Hãy đưa tay nắm lấy số phận của chính mình”. Tôi cười bạn sao mà… sến. 30 tuổi, lại đọc “Tiểu thuyết đàn bà” trong một lần dọn dẹp tủ sách cũ. Chợt nhớ ngày 20 tuổi, lần nào ngồi chải mái tóc dài cho con gái, mẹ cũng thở dài: “Làm thân đàn bà khổ lắm con ơi…”. Chợt nhớ ngày 25 tuổi vẫn kiêu kì trước những chàng trai trồng cây si trước cửa, bố lại lắc đầu nhắc khéo: “Già kén kẹn hom”. Và 30 tuổi, như một chớp mi dài. 10 năm và 3 lần tái ngộ, vậy mà có lẽ ta vẫn chưa hiểu hết “Tiểu thuyết đàn bà”…   “Tiểu thuyết đàn bà” - ngay cái tên sách đã là một thành công. Khó có thể kiếm cho tác phẩm này một cái tên nào hay hơn thế, ngắn gọn hơn thế và bao trọn nội dung câu chuyện hơn thế. Đây là một cuốn tiểu thuyết, và không gì khác, nó viết về đàn bà, bằng một ngòi bút “rất đàn bà”. Một cuốn tiểu thuyết có thể khiến cô gái 20 tuổi dửng dưng, cô gái 25 tuổi đau đầu, cô nàng 27 tuổi lướt qua một chút rồi quên bẵng, nhưng một người đàn bà 30 tuổi sẽ rất nhớ và rất “thấm”. Cuốn tiểu thuyết như một cây phả hệ đầy phức tạp và rối rắm, về 4 thế hệ đàn bà trong một gia đình. Băt đầu từ “bà ngoại” – một người đàn bà không tên đã sống non một thế kỷ cuộc đời nhưng chưa từng có ngày vui vì phải lo lắng cho 10 người con. Rồi đến những cô con gái, mỗi người một số phận, nhưng tựu trung lại đều không thoát khỏi chữ “bạc” của kiếp người. Đến đời những cô cháu gái, người ta lại gặp lại những “vết xe đổ”: Đen theo các cậu đi làm cách mạng rồi mất tích, Thoa bị tù Côn Đảo sau khi thất bại trong nhiệm vụ cách mạng, Liễu lấy phải một người chồng nhu nhược, mẹ chồng đối xử hà khắc và bị buộc phải xa đứa con trai, chỉ được ôm theo đứa con gái chưa đầy 8 tháng tuổi rời khỏi nhà chồng với hai bàn tay trắng...   Thế hệ phụ nữ thứ tư trong gia đình tưởng rằng sẽ “sáng sủa” hơn khi Không Bé xuất ngoại, lấy chồng Tây, nhưng dường như cái mệnh đề “làm đàn bà thì khổ” vẫn không ngừng đeo bám. Cô sống trong nỗi cô đơn nơi đất khách quê người, lạ lẫm với những khác biệt văn hóa và lạc lõng trong chính ngôi nhà của mình. "Tiểu thuyết đàn bà" đã nằm im lìm suốt 16 năm trong chồng bản thảo của nhà văn Lý Lan. Mãi đến năm 2001, khi sang Mỹ học, trong nỗi khắc khoải của người xa xứ, chị viết lại cuốn sách. Lý Lan đã từng nói về tác phẩm của mình: “Đây là một cuốn tiểu thuyết nói về chiến tranh, ở một mặt trận không có tiếng súng, đó là thành phố, nhưng thực chất là chiến tranh vẫn diễn ra hết sức khắc nghiệt…Trong cuộc chiến tranh đó, những nhân vật của tôi chỉ là những con người hết sức bình thường. Họ là đàn bà con gái nhưng không than thân trách phận, cũng không so bì, than vãn, biện bạch… Họ cứ sống giữa cuộc đời như vậy thật bình thường…”.   Và quả là một cuộc chiến đúng nghĩa. Cuộc chiến của Thoa chống lại những ám ảnh về một quá khứ đã lùi xa. Cuộc chiến của Liễu chống lại những hà khắc của người đời để bảo vệ con mình. Cuộc chiến của Không Bé chống lại thói gia trưởng và cục cằn của người đàn ông mang tên “chồng”… Và còn biết bao những thân phận phụ nữ khác nữa không được nhắc tên. Những người đàn bà đau khổ và bất hạnh, nhưng là những người đàn bà không cam chịu. Như lời của Thoa khuyên cô cháu gái Không Bé: “Mình phải tự quyết định cho dù số phận hay thế lực này nọ luôn áp đặt hay xô lệch con đường đời mình chọn”. Không phải những cô gái tuổi teen vẽ cuộc sống màu hồng, Lý Lan viết “Tiểu thuyết đàn bà” bằng cái “đằm” của một người phụ nữ từng trải, một người đàn bà có chồng. Bởi thế, người đọc không chỉ tìm thấy trong cuốn sách những thân phận đàn bà, những cuộc đời đầy sống động, mà còn thấy cả những triết lý sống, những đúc kết mà chỉ một ngòi bút “thuần đàn bà” mới có thể viết ra: “Giáo dục chỉ cho chúng ta những lớp áo quần để mặc trong xã hội. Ai cũng mặc quần áo trước mặt người khác, dù là cha mẹ, anh em, bè bạn thân thiết. Chỉ có vợ chồng mới trần truồng với nhau. Chỉ có vợ chồng mới biết bản chất của nhau!” - Quả rất đúng và rất “thấm”!   30 tuổi, đọc “Tiểu thuyết đàn bà”, có lẽ ta mới nghiệm hết lời chúc năm nao của bạn ngày sinh nhật - “Hãy đưa tay nắm lấy số phận của chính mình”. Và ta tin, dù 20 hay 30, dù là một cô gái phơi phới tuổi xuân hay một người đàn bà đã ủ những nếp nhăn nơi khóe mắt, chẳng bao giờ là muộn cho một cái nắm tay. Mời các bạn mượn đọc sách Tiểu Thuyết Đàn Bà của tác giả Lý Lan.
Những Cuộc Hôn Thú Man Dại
Những Cuộc Hôn Thú Man Dại là câu chuyện một đứa trẻ vô tội bị nguyền rủa vì kẻ đáng nguyền rủa đã thành vô tội. Đây là câu chuyện thuơng tâm của lòng con yêu mẹ, một nỗi niềm mẫu tử. Con người có thể lưa chọn được mọi thứ, nhưng không ai lựa chọn được dòng giống để sinh ra. Đầu thai vào cõi người, dù trong hoàn cánh nào di nữa, chú bé Ludôvic củng phải được đối xử bình đẳng như mọi thành viên khác của xã hội. Phẩm chất người của Ludôvic quả có phần hoang dã mông muội vì nó không đuợc nền văn minh của xã hội khai thác phát triển, nó là chất người uyên nguyên sơ khởi mà tính trội là yêu thương và ham muốn hòa đồng. Vậy mà tâm hồn chú bé đã bị đánh rất đau vào chính hai mối người cơ bản đó: chú bị ghét bỏ ngay lúc còn là cái mồm trong bụng mẹ và suốt đòi chú bị dây vào cô đơn, biệt lập. *** "Con người có thể lựa chọn được mọi thứ, nhưng không ai lựa chọn được dòng giống để sinh ra. Đầu thai vào cõi người, dù trong hoàn cảnh nào đi nữa, chú bé Ludôvic cũng phải được đối xử bình đẳng như mọi thành viên khác của xã hội. Phẩm chất người của Ludôvic quả có phần hoang dã mông muội vì nó không được nền văn minh của xã hội khai thác phát triển, nó là chất người uyên nguyên sơ khởi mà tính trội là yêu thương và ham muốn hòa đồng. Vậy mà tâm hồn chú bé đã bị đánh rất đau vào chính hai mối người cơ bản đó: chú bị ghét bỏ ngay lúc còn là cái mầm trong bụng mẹ và suốt đời chú bị đẩy vào cô đơn, biệt lập. Đây là câu chuyện một đứa trẻ vô tội bị nguyền rủa vì kẻ đáng nguyền rủa đã thành vô tội. Đây là câu chuyện thương tâm của lòng con yêu mẹ, một nỗi niềm mẫu tử." Vũ Quần Phương giới thiệu​ *** Tóm tắt Câu chuyện bắt đầu khi Ludovic, một cậu bé sinh ra với hình dạng kỳ lạ, bị chính mẹ ruột của mình ruồng bỏ. Ludovic bị coi là một đứa trẻ con lai giữa người và thú, và bị mọi người trong làng xa lánh, ghẻ lạnh. Mẹ Ludovic, bà Marie, là một người phụ nữ xinh đẹp và sang trọng. Bà đã kết hôn với một người đàn ông giàu có và quyền lực, nhưng cuộc hôn nhân của họ không hạnh phúc. Bà Marie đã ngoại tình với một người đàn ông nghèo khổ, và Ludovic là kết quả của mối quan hệ này. Bà Marie đã cố gắng che giấu sự tồn tại của Ludovic khỏi chồng và gia đình mình. Nhưng khi Ludovic được sinh ra, bà Marie đã không thể chịu đựng được sự xấu hổ và đã bỏ rơi cậu bé. Ludovic được một người đàn ông nghèo khổ tên là Jean nhận nuôi. Jean yêu thương Ludovic và coi cậu như con đẻ của mình. Nhưng Ludovic vẫn phải chịu đựng sự kỳ thị và phân biệt đối xử của mọi người xung quanh. Ludovic lớn lên trong cô đơn và đau khổ. Cậu bé luôn khao khát được yêu thương và được chấp nhận. Nhưng cậu bé biết rằng điều đó là không thể. Một ngày nọ, Ludovic gặp gỡ một cô gái tên là Marie-Christine. Marie-Christine là một người con gái xinh đẹp và tốt bụng. Cô bé không quan tâm đến ngoại hình của Ludovic, và cô bé yêu cậu bé vì chính con người của cậu. Ludovic và Marie-Christine đã yêu nhau và họ quyết định kết hôn. Cuộc hôn nhân của họ đã gây ra một cuộc tranh cãi lớn trong làng. Nhưng Ludovic và Marie-Christine không quan tâm đến những lời chỉ trích của người khác. Họ chỉ muốn được ở bên nhau. Cuối cùng, Ludovic và Marie-Christine đã tìm thấy hạnh phúc. Họ đã sinh ra một đứa con gái, và họ sống hạnh phúc bên nhau. Review "Những Cuộc Hôn Thú Man Dại" là một câu chuyện cảm động về tình yêu, lòng dũng cảm và sự chấp nhận. Cuốn sách đã lên án sự kỳ thị và phân biệt đối xử, và ca ngợi sức mạnh của tình yêu. Cuốn sách được viết theo lối kể chuyện tự sự, với giọng văn nhẹ nhàng và sâu lắng. Tác giả Yann Queffélec đã khắc họa thành công hình ảnh của những nhân vật trong truyện, đặc biệt là Ludovic và Marie-Christine. Cuốn sách mang đến cho người đọc những bài học ý nghĩa về cuộc sống. Chúng ta cần học cách chấp nhận sự khác biệt của người khác, và chúng ta cần yêu thương và trân trọng những người xung quanh. Đánh giá "Những Cuộc Hôn Thú Man Dại" là một cuốn sách đáng đọc. Cuốn sách sẽ mang đến cho bạn những giây phút lắng đọng và suy ngẫm về cuộc sống. Một số nhận xét của độc giả: "Cuốn sách rất cảm động và ý nghĩa. Tôi đã khóc khi đọc đến đoạn Ludovic và Marie-Christine gặp nhau." "Cuốn sách đã mang đến cho tôi một cái nhìn mới về sự khác biệt. Chúng ta cần học cách chấp nhận những người khác, bất kể họ là ai." "Cuốn sách được viết rất hay. Tôi đã bị cuốn hút bởi câu chuyện và các nhân vật." Mời các bạn mượn đọc sách Những Cuộc Hôn Thú Man Dại của tác giả Yann Queffélec.
Người Đẹp Phi Châu
Nhà văn Henri Vernes tên thật là Charles-Henri Dewisme, sinh ngày 16/10/1918 tại Ath, thuộc vùng nói tiếng Pháp của Wallonia (Bỉ). Ông là người đã sáng tạo nên nhân vật nhà thám hiểm người Pháp Bob Morane - người đã xuất hiện trong 200 cuốn tiểu thuyết, bán được 40 triệu bản trên toàn thế giới. Ông Jacky Legge - phụ trách tại Bảo tàng Văn hóa Dân gian ở Tournai, nơi có một gian trưng bày cố định về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Henri Vernes, cho biết ông rất thán phục trí nhớ siêu phàm, cách nắm bắt và đặc tả chi tiết, cùng niềm đam mê kể chuyện của nhà văn Vernes. Tác phẩm: Bảy Cây Thánh Giá Bằng Chì Pho Tượng Thần Kâli Người Đẹp Phi Châu ... *** Tóm tắt Câu chuyện bắt đầu khi Bob Morane đang thực hiện một chuyến thám hiểm ở vùng rừng rậm Congo. Anh gặp gỡ một cô gái trẻ tên là M'Bona, người đang bị một nhóm thổ dân săn đuổi. Bob Morane đã giúp M'Bona thoát khỏi tay thổ dân và đưa cô đến một ngôi làng gần đó. Tại ngôi làng, Bob Morane biết được rằng M'Bona là một người con gái của một bộ tộc cổ đại. Bộ tộc này đã bị một nhóm kẻ xấu hãm hại và buộc phải sống ẩn náu trong rừng rậm. Bob Morane quyết định giúp M'Bona tìm lại bộ tộc của mình và trả thù cho những kẻ đã hãm hại họ. Review "Người đẹp Phi Châu" là một cuốn tiểu thuyết phiêu lưu hấp dẫn, với những tình tiết gay cấn và những nhân vật thú vị. Bob Morane là một nhân vật nhà thám hiểm tài giỏi và dũng cảm, luôn sẵn sàng giúp đỡ những người gặp khó khăn. M'Bona là một cô gái trẻ xinh đẹp và thông minh, với trái tim nhân hậu và gan dạ. Cuốn sách cũng mang đến cho người đọc những kiến thức thú vị về văn hóa và lịch sử châu Phi. Henri Vernes đã dành nhiều thời gian nghiên cứu để khắc họa chân thực và sinh động hình ảnh của châu Phi trong tác phẩm của mình. Đánh giá "Người đẹp Phi Châu" là một cuốn tiểu thuyết phiêu lưu đáng đọc, phù hợp với mọi lứa tuổi. Cuốn sách sẽ mang đến cho bạn những giây phút giải trí thú vị và những bài học ý nghĩa về tình yêu, lòng dũng cảm và tinh thần nhân đạo. Một số nhận xét của độc giả: "Cuốn sách rất hấp dẫn và kịch tính. Tôi đã rất hồi hộp khi theo dõi Bob Morane và M'Bona vượt qua nhiều thử thách để tìm lại bộ tộc của mình." "Cuốn sách mang đến cho tôi những kiến thức thú vị về văn hóa và lịch sử châu Phi." "Cuốn sách có một thông điệp ý nghĩa về tình yêu, lòng dũng cảm và tinh thần nhân đạo." Mời các bạn mượn đọc sách Người Đẹp Phi Châu của tác giả Henri Vernes.
Kể Xong Rồi Đi
Những khi ta còn sống, còn thở, ta thường nghĩ về cái chết như là một điều gì xa xôi lắm. Và cái điều xa xôi ấy chắc phải “chừa mình ra” độ vài chục năm nữa. Nhưng cuộc đời có ai lường trước được chữ “ngờ”? Có điều, cái chết cũng chẳng đợi đến khi ta “ngờ” xong. Chúng ta sẽ dễ dàng bắt gặp điều đó trong tiểu thuyết mới của nhà văn Nguyễn Bình Phương - tiểu thuyết Kể xong rồi đi. Tiểu thuyết là lời kể của Phong - cậu cháu bồ côi bồ cút mắt lác của vị đại tá về hưu. Cậu kể chuyện với một con chó tên Phốc, về những sự kiện xảy ra từ khi đại tá đột quỵ, nằm viện, được đưa về nhà và đi tới cái chết. Lấy điểm nhìn từ góc độ cái chết, tiểu thuyết đưa ra một bức tranh đầy đủ hơn về cõi nhân quần bề bộn. Phong không chỉ kể về cái chết của ông mình, mà còn kể về cái chết của những người xung quanh. Những cái chết đến mỗi ngày, trong bệnh viện mà Đại Tá nằm, tưởng như bất chợt, nhưng cũng lại là một lẽ tự nhiên. Các nhân vật chết theo nhiều cách khác nhau: vì chiến tranh, thù hận, tai nạn, bất đắc kỳ tử…  Chú Khoa chết vì đánh nhau với tay Voong người Hoa… Chú Khoa chết lúc tảng sáng, trước khi chết hay nói hoảng, van vỉ cầu xin đổ nước vào miệng mình vì thấy lửa hun rần rật trong người. Nhưng tớ chưa kịp mang bi tới thì thằng Tuấn đã chết. Nó chết đúng lúc lũ từ mạn ngược tràn về dìm lút cả vùng Tuyệt Sơn… Những thần chết tưởng như luôn chờ đến khi ta sống hết cuộc đời dài mới tới đón lại bất thình lình lao vào giữa cuộc sống của ta mà không một lời báo trước. Dù biết vậy, nhưng cuộc đời con người vẫn luôn xoay quanh những tranh cãi, hơn thua, những tư lợi tầm thường. Khi chết đi ai cũng chỉ còn bộ xương trắng, còn nắm tro tàn, vậy cớ sao lúc sống lại cứ phải cố tranh giành? Giọng văn Nguyễn Bình Phương trong Kể xong rồi đi có gì đó như hững hờ, bình thản lại ma mị huyền bí. Lời kể của nhân vật Phong - đại diện cho tác giả có đôi chút trẻ con, nhưng đôi khi lại ẩn chứa những triết lí sâu xa về người, về đời và về cái chết. Phong nhận ra mọi góc tối luôn được che đậy kĩ càng xung quanh mình, nhưng kì lạ là Phong cũng không can thiệp. Phong im lặng, quan sát, ghi nhớ và bàng quan như một người ngoài cuộc. Đó phải chăng cũng chính là thái độ của chính Nguyễn Bình Phương giữa chốn hỗn độn xô bồ này? Đây là một câu trả lời mà không ai có thể giải đáp ngoài chính bản thân tác giả. Phong cách của Nguyễn Bình Phương vốn luôn là như thế. Tác giả không lớn tiếng chỉ trích, không thẳng thắn phê bình; tác giả lặng lẽ giữ những ưu tư của mình trên trang chữ, chờ người đọc phân giải. Một cuốn sách thành công, là một cuốn sách khơi gợi được những suy ngẫm từ chính bản thân người đọc. Và đó cũng là lý do Kể xong rồi đi được chúng tôi lựa chọn. Cuốn sách khơi gợi ở người đọc những suy tư sâu lắng về điều “vô thường” trong cuộc đời bình thường, về cuộc sống mà chúng ta đang sống, và thậm chí có thể là về cả thái độ sống của mỗi người. Nhà thơ, nhà văn Nguyễn Bình Phương sinh năm 1965 tại một làng quê ở Thái Nguyên. Tốt nghiệp trường viết văn Nguyễn Du, Nguyễn Bình Phương bắt đầu viết văn từ năm 1986. Anh đã trải qua những năm tháng rèn luyện trong quân đội nên có một vốn sống rất phong phú.  Là nhà văn quân đội, Nguyễn Bình Phương vẫn không ngừng sáng tác, anh còn làm thơ. Dĩ nhiên, nhà xuất bản thơ của anh cũng cảnh báo trong lời nói đầu với độc giả: thơ của Nguyễn Bình Phương không phải dễ đọc. Nhưng người yêu thơ có thể tìm thấy trong đó, những vần thơ thoáng buồn, không như thế giới rờn rợn trong tiểu thuyết của anh. *** Nguyễn Bình Phương sinh tại Thái Nguyên từng nhiều năm công tác tại biên giới phía Bắc. Từng biên kịch tại đoàn kịch nói Tổng cục Chính trị, biên tập văn học tại Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân. Hiện công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội.  Nguyễn Bình Phương xuất thân lính. Thi đậu trường viết văn Nguyễn Du khóa 4 anh vẫn mang quân phục lính. Ra trường chuyển về đoàn kịch quân đội, và sau đó là Nhà Xuất bản QÐND. Ở cương vị này Nguyễn Bình Phương là bà đỡ cho nhiều nhà văn với mảng văn học chiến tranh.  Những năm 90, “Những đứa trẻ chết già” là một bước tiến vượt bậc của Nguyễn Bình Phương nhưng giới văn chương tiếp nhận dè dặt, cánh phê bình im tiếng. Chỉ khi Phương thành danh với một loạt tiểu thuyết không lẫn vào ai thì họ mới ào ạt tiếp cận với đủ chủng loại lý luận gán vào thậm chí là phong thánh cho tác giả một mình một ngựa một con đường này. Sau “Những đứa trẻ chết già”, Phương tiếp tục cho ra đời một loạt tiểu thuyết cùng một phong cách không lẫn vào người khác như “Người đi vắng”, “Thoạt kỳ thủy”, “Ngồi”…và mới nhất là cuốn tiểu thuyết có số phận kỳ lạ, “Mình và họ”. Ðây là cuốn tiểu thuyết được Phương viết xong năm 2010 nhưng bị các nhà xuất bản trong nước từ chối in ấn và nó được xuất bản ở Mỹ dưới cái tên “Xe lên xe xuống”. Mãi đến năm 2014 nó mới được nhà xuất bản Trẻ chấp nhận. Ngay lập tức “Mình và họ” nhận được hoan nghênh hưởng ứng của giới văn chương và độc giả.  Mời các bạn mượn đọc sách Kể Xong Rồi Đi của tác giả Nguyễn Bình Phương.