Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Biệt Thự Longbourn

Những nhân vật chính trong Biệt thự Longbourn chỉ hiện diện về mặt tinh thần trong Kiêu hãnh và Định kiến. Họ tồn tại để phục vụ gia đình Bennet. Họ gửi thư và đánh xe ngựa; họ làm việc vặt khi không ai muốn ra khỏi nhà - họ là “những người được ủy thác” để đi lấy những bông hồng đính giày cho buổi dạ hội ở Netherfield dưới cơn mưa rào. Nhưng họ - ít nhất trong tâm trí tôi - cũng là con người.  Biệt thự Longbourn đào sâu vào quá khứ của các nhân vật này, và kéo dài sau cả cái kết hạnh phúc của Kiêu hãnh và Định kiến; nhưng ở những sự kiện trùng lặp trong cả hai cuốn sách, chúng được mô tả chính xác như trong cuốn sách của Jane Austen. Khi một bữa ăn được dọn ra trong Kiêu hãnh và Định kiến, nó đã được chuẩn bị ở gian bếp của Biệt thự Longbourn. Khi những tiểu thư nhà Bennet đến dự vũ hội trong cuốn sách của Austen, họ đã rời cỗ xe ngựa trong cuốn sách này. Tôi chỉ đặt tên cho những nhân vật vô danh - người hầu, người đánh xe, cô hầu gái - và dành vai trò nấu nướng kiêm quản gia cho bà Hill; sự sắp xếp như vậy là khá phổ biến trong những gia đình với quy mô và vị thế như vậy. Nhưng những gì xảy ra ở gian nhà dưới giữa các gia nhân, khi Elizabeth và Darcy còn bận rộn yêu đương trên nhà chính, thì tôi nghĩ hoàn toàn tùy thuộc vào họ. - Jo Baker - *** BIỆT THỰ LONGBOURN (JO BAKER) - NGOẠI TRUYỆN ĐẶC SẮC CỦA "KIÊU HÃNH VÀ ĐỊNH KIẾN" Không ai có thể nói trước được rằng cuộc đời chúng ta, những chọn lựa của chúng ta là sai hay đúng, và sai đúng ấy ở mức độ như thế nào... Nhưng cuộc tình giữa Elizabeth Bennet và Fitzwilliam Darcy trong Kiêu Hãnh và Định Kiến đã thành công, không chỉ nhờ sự vượt qua các rào cản từ phía họ, mà chính còn bởi những xung lực ngầm, những sự trợ giúp, những tác động rất nhỏ theo hiệu ứng cánh bướm, từ những người thân chung quanh. Trong đó, có các gia nhân của Biệt Thự Longbourn. Nhưng đồng thời, một người đọc không phải là độc giả của Jane Austen vẫn có thể đọc Biệt Thự Longbourn mà không cần quan tâm hay biết trước về cốt truyện của Kiêu Hãnh và Định Kiến. Đó chính là điểm độc đáo của một cuốn sách tiếp nối sự sáng tạo và thành công của một kiệt tác trước đó. *** Cuộc đời những nhân vật vô danh trong 'Kiêu hãnh và định kiến. Khi Elizabeth và Darcy trong "Kiêu hãnh và định kiến" đang mải tán tỉnh nhau trên lầu, những người hầu cận cũng đang bận rộn với chuyện tình cảm của riêng họ. Biệt thự Longbourn của tác giả Jo Baker đã đưa ra những góc nhìn khác về các sự kiện trong Kiêu hãnh và định kiến thông qua câu chuyện của hai người hầu vô danh.  Cuốn sách xoay quanh một phần cuộc đời của Sarah - cô hầu gái ở Longbourn, biệt thự của gia đình Bennet. Gia đình Bennet có 5 con gái và họ là nhân vật chính trong tiểu thuyết nổi tiếng Kiêu hãnh và định kiến của Jane Austen. Sarah đem lòng cảm mến chàng người hầu kỳ lạ có tên James. Cuộc tình của họ diễn ra song song với cuộc tình của Elizabeth và Darcy. Tuy nhiên, vì bí ẩn thân thế của James, cuộc tình của hai người hầu gặp nhiều sóng gió hơn. Quá khứ phức tạp của James dẫn anh đến nhiều rắc rối. Khi Wickham, một sĩ quan quân đội, người mà sau này trở thành chồng của Lydia (cô em út nhà Bennet) phát hiện ra quá khứ của James, anh phải lặng lẽ rời đi mà không để lại lời từ biệt cho Sarah.  Cô nàng Sarah, vì tình yêu của đời mình, đã từ bỏ công việc hầu gái cho cô chủ Elizabeth ở biệt thự của Ngài Darcy để bước vào cuộc hành trình đầy gian khổ đi tìm James.  Cuốn sách Biệt thự Longbourn được Jo Baker xuất bản năm 2013, bao gồm đủ cốt truyện của Kiêu hãnh và định kiến để một người dù từng đọc tác phẩm kinh điển này hay chưa đọc, đều không cảm thấy bị lạ lẫm. Thậm chí, một người say mê Jane Austen cũng có thể hài lòng với những gì được miêu tả trong cuốn sách này. Khi được hỏi về ý tưởng viết nên cuốn sách, tác giả Jo Baker đã chia sẻ: "Những nhân vật chính trong Biệt thự Longbourn chỉ hiện diện về mặt tinh thần trong Kiêu hãnh và định kiến. Họ tồn tại để phục vụ gia đình Bennet.  Họ gửi thư và đánh xe ngựa. Họ làm việc vặt khi không ai muốn ra khỏi nhà. Họ là "những người được ủy thác" để đi lấy những bông hồng đính giày cho buổi dạ hội ở Netherfield dưới cơn mưa rào. Nhưng họ - ít nhất trong tâm trí tôi - cũng là con người. Biệt thự Longbourn đào sâu quá khứ của các nhân vật này, và kéo dài sau cả cái kết hạnh phúc của Kiêu hãnh và định kiến. Nhưng ở những sự kiện trùng lặp trong cả hai cuốn sách, chúng được mô tả chính xác như trong cuốn sách của Jane Austen.  Khi một bữa ăn được dọn ra trong Kiêu hãnh và định kiến, nó đã được chuẩn bị ở gian bếp của Biệt thự Longbourn. Khi những tiểu thư nhà Bennet đến dự vũ hội trong cuốn sách của Austen, họ đã rời cỗ xe ngựa trong cuốn sách này.  "Tôi chỉ đặt tên cho những nhân vật vô danh - người hầu, người đánh xe, cô hầu gái - và dành vai trò nấu nướng kiêm quản gia cho bà Hill. Sự sắp xếp như vậy là khá phổ biến trong những gia đình với quy mô và vị thế như vậy. Nhưng những gì xảy ra ở gian nhà dưới giữa các gia nhân, khi Elizabeth và Darcy còn bận rộn yêu đương trên nhà chính, tôi nghĩ hoàn toàn tùy thuộc vào họ", tác giả cho biết. *** Người quản gia… Bà Hill và hai người giúp việc. Quần áo thì chắc chắn phải được giặt trước khi mặc, cũng như không thể ra ngoài đường mà không mặc đồ, ít nhất là ở Hertfordshire này, đặc biệt là vào tháng Chín. Ngày giặt giũ là không thể tránh khỏi, nhưng viễn cảnh gột rửa đống đồ vải của gia đình hằng tuần vẫn khá ảm đạm trong mắt Sarah. Trời vẫn lạnh buốt vào lúc bốn giờ ba mươi sáng, khi cô bắt đầu làm việc. Cần gạt nước bằng sắt lạnh như băng, mặc dù đã đeo găng nhưng những vết nẻ trên tay cô vẫn nhói đau khi cô bơm nước từ dưới lòng giếng tối om lên và đổ vào cái xô để sẵn bên cạnh. Còn cả một ngày dài phía trước, và công việc này mới chỉ là khởi đầu mà thôi. Mọi thứ xung quanh đều tĩnh lặng. Đàn cừu chậm rãi đi thành từng cụm trên sườn đồi; những con chim nấp trong bờ rào xù lông như những nùi bông kế; trong rừng, một con nhím bò qua đám lá vàng tạo nên tiếng kêu sột soạt; dòng suối phản chiếu ánh sáng lấp lánh lên những tảng đá. Dưới kia, trong khu chuồng gia súc, lũ bò đều đặn phả ra những làn hơi trắng mờ, còn ở chuồng bên, cô lợn nái nằm khụt khịt trong lúc đàn con tranh nhau bú mẹ. Bà Hill và chồng bà đang chìm trong giấc ngủ vì kiệt sức trên căn gác xép nhỏ bé; và ở dưới đó hai tầng, trong phòng ngủ chính, ông bà Bennet đang ngáy đều đều dưới tấm chăn thêu. Những tiểu thư trẻ, năm người cả thảy, đều đang ngủ trên giường, mơ về những gì mọi cô gái trẻ vẫn mơ. Và từ trên cao kia, ánh sao lạnh lùng chiếu xuống mái nhà lợp đá, khoảng sân lát đá, căn nhà phụ, bụi dâu và cả khu đất hoang nhỏ bên kia bãi cỏ, xuống bầy gà lôi đang túm tụm với nhau, và xuống Sarah, một trong hai gia nhân ở Longbourn, người đang kéo cần gạt nước, đổ đầy xô và vần nó sang một bên. Lòng bàn tay cô lúc này đã nhức nhối, nhưng cô vẫn kéo một cái xô khác sang để đổ đầy nó. Trên những ngọn đồi phía đông, bầu trời đã chuyển sang màu chàm trong trẻo. Sarah ngước nhìn lên, kẹp hai bàn tay vào nách, vừa thở ra khói vừa mơ về vùng đất hoang dã cuối chân trời kia, nơi mà mặt trời đã lên chiếu sáng rực rỡ, và khi ngày của cô kết thúc, nó vẫn tiếp tục chiếu sáng ở một nơi nào đó khác, như Barbados, Antigua và Jamaica, nơi những người đàn ông da đen cởi trần làm việc; chiếu lên toàn bộ châu Mỹ, nơi những người da đỏ hầu như không mặc quần áo, và do đó có rất ít đồ phải giặt; và một ngày nào đó, cô sẽ đến những vùng đất ấy và không bao giờ phải giặt đồ lót cho người khác nữa. Bởi vì, cô nghĩ trong khi đang móc những xô nước vào hai đầu đòn gánh, cúi xuống đỡ lấy nó rồi loạng choạng đứng thẳng lên, thực sự là không ai đáng phải giặt đống quần áo bẩn của người khác. Các tiểu thư có thể cư xử như những bức tượng thạch cao mịn màng và kín kẽ dưới lớp quần áo lượt là, nhưng khi họ vứt những bộ đồ lấm lem chờ được đem đi giặt xuống sàn phòng ngủ, bản chất yếu đuối, dơ dáy, cộc cằn của họ sẽ bị phơi bày. Có lẽ đó là lý do vì sao họ thường ra lệnh cho cô từ phía sau khung thêu hay khi đang cúi mặt đọc sách; cô là người đã vò sạch những mảng ố do mồ hôi, vết bẩn hay máu đến tháng của họ; cô biết họ không phải là những thiên thần tinh khôi như người ngoài vẫn nghĩ, và vì thế họ không dám nhìn thẳng vào mắt cô. Đống xô nước chao nghiêng khi Sarah loạng choạng đi qua sân; cô vừa bước tới bên cánh cửa phòng giặt thì trượt chân và mất thăng bằng. Khoảnh khắc ấy như được kéo dài, đủ để cô nhìn thấy đống xô nước vụt bay lên và văng ra, tuột khỏi đòn gánh, hất hết nước ra ngoài, khiến những gì cô làm nãy giờ bỗng chốc trở về số không, và cô còn kịp nhận ra khi sắp tiếp đất, cơn đau đang đón chờ cô. Rồi thì những cái xô rơi xuống đất và nảy lên, làm cho những con quạ đậu trên mấy cây dẻ gai giật mình kêu quang quác, còn Sarah thì đập mạnh người xuống nền sân lát đá. Cô đã đánh hơi ra thủ phạm làm cô trượt chân: bãi phân lợn phía dưới. Con lợn nái đã xổng ra ngày hôm qua, cả đàn lợn con đã chạy theo nó và chưa ai kịp dọn dẹp sau đó vì chẳng ai có thời gian. Công việc mỗi ngày đều bị dồn ứ đến ngày hôm sau, và không có việc nào được hoàn thành cả, vì vậy chẳng ai có thể nói câu: “Xem này, công việc hôm nay đã xong hết rồi.” Mọi việc cứ dồn ứ lại, uể oải và ngổn ngang để khiến bạn giẫm lên chúng và trượt chân vào buổi sáng. Sau bữa sáng, bên bếp lửa, Lydia vừa thu hai chân lên xếp bằng, vừa nhâm nhi ly sữa có đường và phàn nàn với bà Hill. “Bà không biết bà may mắn thế nào đâu, bà Hill. Được giấu mình ở nơi ấm áp và đẹp đẽ thế này.” “Đấy là cô nghĩ vậy thôi, cô Lyddie.” “Ồ, tôi nghĩ vậy thật đấy! Bà có thể làm gì tùy thích đúng không, mà không có ai lượn lờ xung quanh và chỉ trích bà. Chúa ơi! Nếu như tôi phải nghe thêm giọng điệu cảnh cáo của Jane một lần nữa - và đấy là tôi mới chỉ thử quậy một chút…” Ở phòng kế bên, cạnh những bậc thang dẫn lên phòng giặt đồ, Sarah đang còng lưng trên tấm ván giặt, vò sạch phần viền áo đã bị ố. Chiếc váy lót ngập sâu ba thước trong bùn mà cô nhặt lên từ sàn phòng ngủ của các cô gái đã được ngâm một đêm trong dung dịch kiềm. Xà phòng không lay chuyển được vết bẩn, nhưng lại gặm nhấm đôi bàn tay giờ đã nẻ và nứt toác của cô, khiến chúng nhức nhối. Sarah vẫn nghĩ, nếu Elizabeth phải tự giặt váy lót của mình, thì chắc chắn cô ấy sẽ cẩn thận hơn khi mặc chúng. Chiếc thùng hấp bốc hơi nghi ngút, một lô quần áo đang được ngâm trong đó, ngay cạnh khung cửa sổ mờ hơi nước trước mặt cô. Sarah cẩn thận bước từ ván giặt cạnh chậu rửa sang ván giặt cạnh nồi hấp, qua sàn đá trơn trượt và xỉn màu. Cô thả bộ váy lót vào thùng nước đang nổi bong bóng, nhấc cái gậy giặt lên và nhấn bộ đồ lót chìm xuống để những bóng khí thoát ra, rồi khuấy đều. Cô đã được dạy - và cô cũng phải tin như thế - rằng những bộ đồ lót cần phải được tẩy cho thật trắng trước khi chúng lại bị vấy bẩn trong lần mặc tiếp theo. Polly đang nhúng ngập khuỷu tay trong bồn rửa lạnh buốt, chà mạnh những cái nơ áo của Ngài Bennet trong nước, sau đó nhấc từng chiếc ra rồi lại nhúng vào nước lạnh lần nữa để giũ sạch chúng. “Ta còn bao nhiêu đồ phải giặt nữa nhỉ, chị Sarah?” Sarah nhìn quanh và ước lượng. Những cái chậu đang ngâm đầy đồ vải, những đống đồ sũng nước ở các công đoạn giặt giũ khác nhau. Ở một số nơi khác, người ta thuê thêm người phụ việc trong ngày giặt giũ. Nhưng ở đây thì không. Tại biệt thự Longbourn, họ luôn tự giặt đồ vải bẩn. “Vẫn còn ga trải giường, vỏ gối, và cả quần áo của chúng ta nữa…” Polly lau tay vào tạp dề và giơ tay lên đếm những đống đồ còn lại, nhưng khi thấy tay mình đã ửng đỏ, cô bé cau mày và xoay bàn tay lại, xem xét chúng như thể chúng rất thú vị và không hề liên quan đến cô. Hẳn là chúng đã tê dại rồi, ít nhất là vào lúc này. “Và còn cả đống khăn ăn nữa.” Sarah nói thêm. Giờ đang là khoảng thời gian khó khăn nhất của mỗi tháng, khi mọi người phụ nữ trong nhà đều trở nên nóng nảy, hậu đậu và dễ khóc hơn, chưa nói tới việc đến tháng. Những chiếc khăn ăn đang được ngâm trong chậu riêng, bốc lên thứ mùi đặc trưng không hề dễ chịu - cửa hàng bán thịt; chúng sẽ được đun sôi cuối cùng, lẫn với đống cặn trong thùng đồng trước khi bị đổ đi. “Chị nghĩ chúng ta còn năm chồng đồ nữa cần giặt.” Sarah thở dài rồi kéo kéo phần đường may dưới ống tay áo. Dưới lớp váy mà cô rất ghét, mồ hôi của cô đang tuôn ra như tắm. Đó là bộ váy vải thô mà bà Hill cho là có màu xanh của nước sông Nile, nhưng theo Sarah, nó có màu dịch mật thì đúng hơn; nhưng màu sắc khó chịu của bộ váy này không phải là vấn đề lớn, bởi sẽ chẳng có ai nhìn ngắm cô trong bộ đồ này cả, vấn đề nằm ở các đường may ấy. Nó vốn được may cho cô Mary, để quấn quanh cánh tay mềm mại, chuyên dùng để thêu thùa hoặc đánh đàn dương cầm. Nó không thoải mái và linh hoạt để phù hợp với những công việc đòi hỏi sức lực, và Sarah chỉ mặc bộ váy này bởi bộ đồ còn lại của cô, bộ bằng vải bông pha len xám xịt đã bị ngâm sũng nước và đang được treo trên dây phơi để chờ mùi phân lợn hôi thối bay đi. “Bỏ lượt tiếp theo vào đi.” Cô nói. “Em khuấy nhé, còn chị sẽ vò.” Như thế sẽ đỡ cho đôi bàn tay nhỏ của em, Sarah nghĩ bụng, mặc dù tay của cô cũng mất hết cảm giác rồi. Cô lùi lại khỏi thùng đồng, bước lên ván giặt cạnh bồn rửa để nhường lối cho Polly đi qua. Rồi cô dùng cái kẹp quần áo để lôi một chiếc nơ áo ra khỏi đống bột hồ và quan sát nước keo nhỏ giọt lại vào trong chậu. Polly vừa khuấy cây gậy trong thùng bằng đồng, vừa bóc da môi bằng phần móng tay đã bị cắt cụt lủn. Mắt cô bé vẫn còn sưng đỏ sau khi bị bà Hill mắng vì đã không dọn sân cẩn thận. Buổi sáng ấy, cô đã phải dậy nhóm lửa, xách nước, rồi thì chuẩn bị cho bữa tối ngày Chủ nhật; và khi mọi người ăn xong thì trời đã tối rồi, ai có thể dọn đống phân lợn dưới ánh sao mờ mịt được chứ? Mà chẳng phải lúc đó cô cũng đang phải ngồi cọ đống xoong chảo đấy thôi? Mười đầu ngón tay của cô đã xước hết sau khi cọ những vết cháy sém. Hơn nữa, nếu nghĩ lại thì chẳng phải đó là lỗi của người đã không khép cửa chuồng cẩn thận, khiến cho con lợn nái chỉ cần huých nhẹ là thoát được ra sân hay sao? Họ cũng không nên đổ lỗi cho Polly đáng thương việc Sarah bị ngã và công việc thì bị đình trệ - cô nhìn quanh rồi hạ giọng thì thầm để ông Hill không nghe thấy - mà nên trách chính ông ta, người chịu trách nhiệm trông coi chuồng lợn. Ông ta mới phải chịu trách nhiệm dọn dẹp sân sau chứ? Nhiệm vụ của ông già lôi thôi đó là gì? Tại sao khi cần thì chẳng thấy mặt ông ta đâu? Chẳng phải họ vẫn cứ càm ràm chuyện cần thêm người phụ giúp đấy thôi? Sarah gật đầu đồng tình và thở dài, mặc dù cô đã không còn lắng nghe nữa rồi. Lúc đồng hồ ở sảnh đánh lên tiếng chuông thứ tư, ông bà Hill đang phục vụ mọi người món ăn nhẹ vào ngày giặt giũ: thịt quay còn thừa từ Chủ nhật; hai cô hầu gái thì đang đứng ngoài bãi cỏ để phơi đồ, những tấm vải ướt vẫn còn bốc khói trong khí chiều mát mẻ. Một trong những vết nẻ của Sarah đã nứt toác và đang chảy mủ, khiến cô phải đưa lên miệng và liếm máu đi để không làm bẩn đồ vải. Cô đứng lặng người mất một giây để cảm nhận rõ cái nóng từ lưỡi mình chạm vào làn da lạnh tái, cái nhức nhối của vết nẻ, vị mặn của máu và hơi ấm của môi; vì vậy cô đã không thấy rõ, và có thể cô đã nhìn nhầm, nhưng trong thoáng chốc, cô nghĩ mình đã thấy thứ gì đó di chuyển trên con đường cắt ngang ngọn đồi đối diện, con đường nối giữa đường vận chuyển gia súc cũ tới London và làng Longbourn, và xa hơn nữa là trạm đóng quân Meryton mới. Mời các bạn đón đọc Biệt Thự Longbourn của tác giả Jo Baker & Phương Anh, Việt Anh (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Đám Cưới Không Có Giấy Giá Thú - Ma Văn Kháng
Đám cưới không có giấy giá thú là đứa con tinh thần mới của nhà văn Ma Văn Kháng. Cũng như những tác phẩm trước, Đám cưới không có giấy giá thú nhận được nhiều sự quan tâm không chỉ từ độc giả mà còn từ những nhà văn lớn khác của Việt Nam. *** Nhà văn Ma Văn Kháng (sinh ngày 1 tháng 12 năm 1936 tại làng Kim Liên, Đống Đa, Hà Nội) tên thật là Đinh Trọng Đoàn. Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, học trường Sư phạm Hà Nội. Ông từng là giáo viên cấp hai, dạy môn Văn và là hiệu trưởng trường cấp 3 thị xã Lao Cai nay là tỉnh Lào Cai. Ông cũng là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1974. Từ năm 1976 đến nay ông công tác tại Hà Nội, đã từng là Tổng biên tập, Phó Giám đốc Nhà xuất bản Lao động. Từ tháng 3 năm 1995 ông là Tổng biên tập tạp chí Văn học nước ngoài của Hội Nhà văn Việt Nam. Ông đã 8 lần đệ đơn xin thôi vị trí này. Tác phẩm Đồng bạc trắng hoa xòe (tiểu thuyết, 1979 Vùng biên ải (tiểu thuyết, 1983) Trăng non (tiểu thuyết 1984) Phép lạ thường ngày Thầy Thế đi chợ bán trứng Mưa mùa hạ (tiểu thuyết 1982) Mùa lá rụng trong vườn (tiểu thuyết, 1985) Võ sỹ lên đài Thanh minh trời trong sáng Hoa gạo đỏ Côi cút giữa cảnh đời (tiểu thuyết 1989) Đám cưới không giấy giá thú Đám cưới không có giấy giá thú (tiểu thuyết, 1989) Chó Bi, đời lưu lạc (tiểu thuyết 1992) Ngày đẹp trời (truyện ngắn 1986) Vệ sĩ của Quan Châu (truyện ngắn 1988) Giấy trắng (tiểu thuyết) Trái chín mùa thu (truyện ngắn 1988) Heo may gió lộng (truyện ngắn 1992) Trăng soi sân nhỏ (truyện ngắn 1994) Ngoại thành (truyện ngắn 1996) Truyện ngắn Ma Văn Kháng (tuyển tập 1996) Vòng quay cổ điển (truyện ngắn 1997) Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương (hồi ký 2009) Một mình một ngựa (Tiểu thuyết 2007) Một Chiều Dông Gió Một Nhan Sắc Đàn Bà Trốn Nợ *** Đám cưới không có giấy giá thú VĂN NGHỆ Số 6. 10/2/1990 Để triển khai kết quả của Đại hội nhà văn lần thứ IV, sáng ngày 11.1.1990, Tuần báo Van nghệ tổ chức một cuộc thảo luận về cuốn tiểu thuyết “Đám cưới không có giấy giá thú” của nhà văn Ma Văn Kháng. Đây là buổi họp, mở đầu cho những cuộc sinh hoạt phê bình dưới nhiều hình thức khác nhau sẽ thường xuyên được tổ chức trong thời gian tới nhằm nâng cao chất lượng trang phê bình trên mặt báo, góp phần đẩy mạnh việc đổi mới công tác lý luận phê bình chung của chúng ta. Tới dự cuộc thảo luận có các nhà văn, nhà phê bình quen biết: Xuân Cang, Nguyên Ngọc, Nguyễn Kiên, Xuân Thiều, Huy Phương, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Từ Sơn, Phan Hồng Giang - Đồng chí Lê Thanh Tùng, và đồng chí Xuân Du đại diện Nhà xuất bản Lao động cùng tới dự. Ban biên tập có gửi giấy mời nhà văn Bùi Hiển, nhưng đến phút cuối vì có việc bận đột xuất, nhà văn không đến dự được. Có mặt trong buổi họp còn có nhà văn Ma Văn Kháng, tác giả cuốn tiểu thuyết. Về phía chủ nhà, ngoài anh Hữu Thỉnh, nhà thơ, Tổng biên tập báo Văn nghệ, còn có các anh chị: Ngô Ngọc Bội, Nguyễn Vinh, Phạm Tiến Duật, Hoàng Minh Tường, Phạm Đình Ân, Thiếu Mai. Sau lời đề dẫn của anh Hữu Thỉnh, cuộc hội thảo bắt đầu. Sau đây là ý kiến của từng đồng chí. Xuân Cang: Tôi cùng với anh Lê Thanh Tùng và anh Xuân Du là những người chịu trách nhiệm chính trị về cuốn sách của anh Kháng. Thú thật là khi mới được đọc qua một lần, tôi hơi hoảng. Tất cả các đảng viên cộng sản trong cuốn sách là những con người tồi tệ - tồi tệ thực sự chứ không chỉ là suy thoái. Vậy có phải là cuốn sách phủ nhận những người cộng sản, phủ nhận Đảng không? Sau khi đọc kỹ hơn, bình tâm suy nghĩ, tôi khẳng định là không phải như vậy. Thái độ đối với các tác phẩm văn học, nhất là những tác phẩm đa dạng, đa nghĩa là một sự thử thách mới đối với người đọc. Trước đây khoảng chục năm, một cuốn sách như kiểu cuốn sách này ra đời quả là một sự gay go. Nhiều độc giả ở ngành giáo dục cũng chấp nhận tác phẩm này. Họ nói rằng cuốn sách đã nói đúng sự thật. Sự thật trong ngành giáo dục còn có những con người, những đơn vị suy thoái hơn nữa kia. Tuy vậy, họ tỏ ra băn khoăn, vì trong ngành còn có những nhân tố tích cực nữa. Miêu tả như thế này có phải là bôi bác không, có sợ người đọc hiểu nhầm ngành giáo dục Tôi nói với anh em là cuốn sách này viết về ngành giáo dục, nhưng không phải chỉ đề cập đến những vấn đề của giáo dục mà là những vấn đề nhức nhối chung của xã hội. Ở đây có cuộc hôn phối không đúng quy luật giữa chúng ta và chủ nghĩa xã hội. Các bạn ấy còn băn khoăn: Vậy vai trò giáo dục của văn học là ở đâu? Tôi nói văn học còn có chức năng cao cả là phát hiện, khám phá, dự báo, báo động nữa. Có thể khai thác vai trò giáo dục của nó ở đấy. Đọc cuốn sách của anh Kháng không thể đọc một mạch. Từng trang, từng trang, nó cho người đọc nhận thức dần những điều tác giả muốn gửi gắm. Tôi đồng ý với Phan Hồng Giang, Ngô Ngọc Bội trước đây người sáng tác còn phải che chắn, rào đón quá nhiều. Ví dụ khi muốn xây dựng một nhân vật cộng sản, nhà văn thường tự hạn chế mình nhân vật này “đại diện” cho xã hội mới, nếu có khuyết phải có ưu, ưu là cơ bản, xây dựng một nhân vật tiêu cực là chỉ dám xếp anh ta vào chức phó. Ở đây anh Kháng đã mạnh dạn đưa ra những nhân vật chịu trách nhiệm chính để người đọc phán xét một cách bình đẳng. Nếu đọc theo lối truyền thống thì khó chấp nhận. Riêng tôi, tôi tán thành sự chuyển hướng về phương pháp này, sắp tới, hội đồng văn học công nhân khi xem xét vệc tặng thưởng các tác phẩm văn học đề tài công nhân không thể không tính tới cuốn sách này. Vừa ra đời, có ý kiến này ý kiến nọ, nhưng rồi cuốn sách đã đứng được, điều đó nói lên rằng cuốn sách đáp ứng với tình hình của xã hội chúng ta trong thập kỷ này. Nhà văn đã góp những suy nghĩ nghiêm túc về những vấn đề bức thiết đang đặt ra trong xã hội hiện nay. Phan Cự Đệ: Trong tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú, nhà văn Ma Văn Kháng đã phản ánh được cái bi kịch của một nhà giáo, một tri thức: anh ta lúc thì đóng vai một nhà hiền triết, một nhân cách cao cả và thánh thiện nhưng lại bị ném vào một môi trường mà các giá trị tinh thần đang bị đảo lộn: một môi trường bị ô nhiễm, bị băng hoại về đạo đức và nhân phẩm: lúc thì hiện ra như một con người mơ mộng và lãng mạn, hay đỏ mặt vì mặc cảm và sĩ diện nhưng lại bị nhúng chìm trong cái biển đời thường dung tục, ở đó hàng ngày diễn ra cái cảnh chen lấn, cướp đoạt một cách trâng tráo, vô sỉ: lúc là một người say mê nghề nghiệp, nhiều hoài bão và khát vọng, muốn chiếm lĩnh các đỉnh cao khoa học nhưng lại bị vây bủa bởi một xã hội thực dụng và cơ hội, một xã hội tiêu thụ đang lên cơn sốt với những đam mê và khoái lạc, với khát vọng làm giàu, khát vọng chiếm đoạt quyền lực bằng bất cứ giá nào! Nhân vật anh giáo Tự phảng phất một mô-típ đã quen thuộc trong văn xuôi Việt Nam và thế giới: lúc là Đôn Ki-hô-tê một mình một dáo dũng cảm xông lên đánh nhau với lũ yêu quái, lúc lại là ông giáo Thứ đang sống mòn và chết mòn trong sạch một cách thụ động ở cái trường tư ngoại ô, lúc là một Hoàng thân Mưt-skin, một Pi-e Bô-du-khốp nhưng nhuốm màu sắc triết học phương Đông. Ma Văn Kháng đã viết về cái “bi kịch vỡ mộng” của một “bữa tiệc dang dở, một đám cưới không thành, một cuốn sách hay để lầm chỗ” đó một cách rất tâm huyết, với tất cả suy nghĩ và trăn trở, niềm khát vọng và nỗi đau của một nhà văn trước thời cuộc, trước tình trạng xuống cấp về trình độ tư duy và phẩm chất đạo đức ngay trong một số người tự cho mình là cán bộ lãnh đạo, là trí thức hoặc kỹ sư của tâm hồn. Ma Văn Kháng đã nói lên được cái tâm sự có thật của những trí thức có tâm huyết, có hoài bão. Cách lý giải có thể còn phải bàn cãi, nhưng điều đáng trân trọng là tấm lòng trung thực và trong sáng của người cầm bút, là những trang viết chân thành và xúc động. Cuốn tiểu thuyết cũng bộc lộ khá rõ một số nhược điểm. Trước đây ta hay lý tưởng hóa một chiều các nhân vật đảng viên hoặc cán bộ lãnh đạo, gần đây lại có khuynh hướng biến họ thành những con rối, thành con người máy hoặc con người của dục vọng tầm thường (Những thiên đường mù, Ly thân, Những mảnh đời đen trắng). Tác phẩm của Ma Văn Kháng không rơi vào hai thái độ cực đoan đó. Tuy nhiên, cách nhìn những “nhân vật tiêu cực” trong hàng ngũ lãnh đạo ở đây có lúc còn đơn giản và phiến diện, đôi khi biến họ thành nhân vật của hài kịch, thành những tính cách bị phóng đại trong nghệ thuật biếm họa. Tính khái quát của loại nhân vật này chưa cao. Trong số này ngoài đời tôi thấy có những người xấu nhưng biết ngụy trang một cách thâm hiểm hơn hoặc có người tốt, chân thành, ngay cả trong sự ấu trĩ, máy móc của họ. Tác phẩm có nhiều trang sinh động, hấp dẫn trong đối thoại, tranh luận hoặc dựng người, dựng cảnh nhưng cũng có nhiều trang chìm sâu một cách nặng nề vào những suy tư, vào những lời biện giải mang màu sắc duy lý của tiểu thuyết luận đề. Xuân Thiều: Nghe đồn cuốn sách “có vấn đề” tôi liền đọc ngay, hai đêm thì đọc xong. Và bây giờ, tôi sẵn sàng tranh luận với những ý kiến cho rằng cuốn sách “có vấn đề chính trị”, thậm chí tôi còn nghe có ý kiến nói cuốn sách “đi ngược lại nghị quyết 7” nữa kia. Theo tôi thì cuốn sách đã thể hiện được tâm huyết của tác giả, ấy là lòng tha thiết mong mỏi được sống trong một xã hội tốt đẹp lý tưởng. Thấy rõ nỗi đau đớn của tác giả: mình yêu chủ nghĩa xã hội như vậy mà sao trong thực tế xã hội lại có chiều ngược với suy nghĩ, mong ước của mình. Tôi khẳng định là tính tư tưởng của tác phẩm rất cao. Tính hiện thực cũng rất cao, vì tác giả đã mạnh dạn phơi bày không né tránh những vấn đề gay cấn nóng bỏng của xã hội. Trước đây dăm bảy năm, người viết chúng ta phải né tránh nhiều vấn đề, nhiều sự việc. Có muốn xây dựng nhân vật tiêu cực để phê phán thì cũng chỉ dám đưa ra anh “phó”: phó chủ tịch, phó chính ủy, phó bí thư huyện ủy... Tóm lại, anh phó lãnh đủ những đòn phê phán trong lúc anh chính bao giờ cũng nghiêm túc, sáng suốt, đúng đắn. Bởi vì nếu phê phán anh chính thị sợ bị hiểu lầm là nói xấu Đảng, thì chính mình sẽ bị đánh! Ở đây anh Ma Vãn Kháng đã gọi thẳng những người chịu trách nhiệm chính ở môi trường mà anh miêu tả: hiệu trưởng, bí thư chi bộ nhà trường, bí thư thị ủy. Tác giả đã nói thẳng sự thật mà không sợ bị hiểu là nói xấu Đảng. Dựng lên những nhân vật lãnh đạo dốt nát, thô thiển như vậy, anh tha thiết mong muốn những người lãnh đạo ở các ngành, các cấp có văn hóa hơn, trí tuệ hơn, sáng suốt, thông minh hơn. Đọc xong, ngẫm nghĩ về các nhân vật Dương, Cẩm, Lại, tôi lấy làm tiếc là các nhân vật này của anh còn giản đơn, chưa có chiều sâu. Chưa thấy bóng dáng của những nhân vật sai một cách chân thành, có ý đồ tốt, tưởng là đúng, là trung thành với lý tưởng cộng sản hóa ra lại sai lầm và mang lại những tác hại lớn cho xã hội. Nhân vật Tự là một người tri thức đầy bi kịch, suốt đời thất bại. Đáng buồn là nhân vật nàyquá yếu đuối, quá bất lực, suốt đời chịu đựng. Người như anh mà không tự sát là lạ! Đoạn viết về bộ đội có lẽ là chỗ yếu nhất, và hơi suy diễn đôi chút, chứng tỏ vốn hiểu biết về đời sống bộ đội của tác giả chưa nhiều và chưa sâu. Nói chung tôi thích cuốn sách này, một cuốn sách nhiều trăn trở ... Mời các bạn đón đọc Đám Cưới Không Có Giấy Giá Thú của tác giả Ma Văn Kháng.
Theo Đuổi - Phạm Thanh Thuý
Phạm Thanh Thúy là cây bút nữ có lối viết già dặn, không xa lạ với độc giả yêu văn chương. Tác phẩm của cô thường đăng trên các báo, tạp chí văn uy tín trong nước. Nhân vật chính của Theo đuổi là Hàm Yên - một nhà văn trẻ. Suốt thời thanh xuân, Hàm Yên ôm ấp mối tình từ thuở thơ bé với người bạn thiếu thời tên Phố. Tình cảm đó trở thành một nỗi nhức nhối, ám ảnh cô trên mỗi bước đường đời. Duyên phận đưa Hàm Yên và Phố đến những cuộc gặp gỡ tình cờ. Hết lần này đến lần khác, họ để lỡ nhau. Hàm Yên luôn muốn gợi cho Phố nhớ về những ký ức thời thơ bé, trong đó có cả ký ức đau buồn về cái chết của bố mẹ anh. Ngược lại, Phố tìm cách quên đi. Họ cứ thế đi tìm bóng hình nhau. Khi đã ở bên nhau, họ lại làm tổn thương nhau bằng ký ức. *** Tôi đến Cẩm Xuyên vào giữa mùa mưa. Mưa suốt ngày suốt đêm, mưa gối ngày này sang ngày khác. Bầu trời gần như lúc nào cũng sũng nước. Vào những khi mưa ngớt, từ trên cung đường quanh co uốn lượn theo dáng núi, thấy phía xa xa những thác nước huyền ảo như những áng tóc buông dài của nữ chúa thượng ngàn. Rồi thình lình, hàng trăm con thác ấy đột ngột băng qua đường, tuyệt đẹp và hung hãn, dường như muốn ngốn ngấu lấy tất cả những vật thể bé nhỏ đang trườn trên lằn chỉ vắt ngang núi kia. Con đường nhỏ chìm lút trong làn mưa trắng xóa. Vượt qua hàng trăm con thác trữ tình ấy thì đến Cẩm Xuyên. Cẩm Xuyên nằm trên độ cao 1500 mét so với mực nước biển. Cảm nhận đầu tiên chính là lạnh. Cái lạnh của gió, của hơi nước khi những đám mây trườn trên những ngọn núi, luồn sâu vào từng kẽ lá, băng qua những cây cầu treo chênh chao bắc ngang lòng những con suối mùa mưa sục sôi gầm gào bất tận. Ở xứ này, lúc nào người ta cũng có thể nghe thấy tiếng thác nước tuôn ở đâu đó. Khu nhà cũ, tường vôi trắng loang lổ tróc từng mảng thảm hại, rêu xanh phủ dày trên mái ngói. Và căn phòng, vì lâu không có người ở, toát lên một mùi đặc trưng ẩm mốc, sự cô đơn, lạnh lẽo và nỗi buồn. Nỗi buồn dường như trú ngụ ở đó từ rất lâu, thấm vào từng mi-li-mét không khí. Có hai cửa sổ, tất cả đều sơn xanh, có sẵn một số đồ đạc thiết yếu, hẳn nhiều người đã từng sống ở đó. Phía sau là một đồi thông. Tôi nhận lời viết tự truyện cho một cựu quan chức. Một người đàn bà quyền lực, nay đã nghỉ hưu và hưởng thụ cuộc sống nhàn nhã sau cả một đời lăn lộn với chính trường. Tài liệu đã thu thập đầy đủ từ một năm trước, giờ tôi chỉ cần tìm một nơi gợi cảm xúc để viết thành một cuốn sách. Một thời gian dài chìm trong nỗi buồn sâu thẳm, tôi muốn đến Cẩm Xuyên. Và tôi đã đến, giữa mùa mưa, sẽ ở lại một thời gian nào đó, tùy thuộc vào tôi quyết định. ... Mời các bạn đón đọc Theo Đuổi của tác giả Phạm Thanh Thuý.
Phúc Lành Của Đất
Phúc lành của đất đã đoạt giải Nobel Văn học năm 1920. Tác phẩm đồ sộ này viết về những người nông dân Na Uy gắn bó hàng đời với đất đai, trung thành với những truyền thống cổ xưa. Tác giả kêu gọi con người trở về với đất. Con người cá nhân chủ nghĩa kiêu hãnh trước kia tưởng có thể "làm rung chuyển thế giới bằng sự va chạm của vài tư tưởng phi lý" đã kết thúc đời mình trong chủ nghĩa bi quan và bị cái chết ám ảnh. Với văn phong trong sáng, cách diễn đạt gây bất ngờ, Knut Hamsun được coi là một trong những người cách tân văn xuôi Na Uy. Trong bài phát biểu tại lễ trao giải, đại diện Viện Hàn Lâm Thụy Điển nói: "Những ai muốn tìm trong văn học sự mô tả chân thật hiện thực đều tìm thấy trong Phúc lành của đất câu chuyện về cuộc đời của mỗi một con người, dù anh ta ở nơi đâu, lao động ở nơi đâu". *** Nhà văn Knut Hamsun (4/81859 – 19/2/1952) tên thật là Knud Pederson. Ông chào đời tại xã Lom, huyện Gudbrandsdalen, (nay thuộc tỉnh Oppland) miền Nam Na Uy; là con thứ tư trong một gia đình nghèo đông con (bảy người con). Năm ông lên bốn, cả gia đình chuyển tới sinh sống tại quận Hamarøy, tỉnh Nordland, miền Bắc Na Uy. Từ năm lên chín, ông phải tới giúp việc cho ông chú đang làm việc tại một bưu cục, thường xuyên bị đánh và bỏ đói. Những chấn thương tinh thần và thể xác này đã khắc sâu dấu ấn trong ông và là nguyên nhân của những di chứng thần kinh mãn tính về sau. Năm 1874, ông bỏ trốn trở về Lom, và từ đó bắt đầu một cuộc sống lang thang phiêu bạt khắp đó đây, hai lần sang Mỹ (1882-1884 và 1886-1888); nếm trải đủ mùi khổ ải, làm đủ mọi thứ nghề ngỗng trên đời: thư ký tiệm tạp hóa, bán hàng rong, phụ chữa giày, phụ tá cho quan chức hành chánh xã, giáo viên tiểu học, và hàng chục thứ nghề không tên khác. Từ năm mười bảy tuổi, ông cũng bắt đầu tập tành viết lách. Năm 1890, tác phẩm Sult (Đói) của ông được xuất bản, gây chấn động lớn trong văn giới bấy giờ với một bút pháp lạ lùng sâu thẳm, mô tả rất xác thực, tinh vi, nhưng đôi khi cũng khá hài hước những cảm xúc và ý tưởng của một nhà văn trẻ đang hồi khốn khó. Có lẽ đây là tác phẩm gây ấn tượng sâu sắc nhất cho giới phê bình học giả cũng như bạn đọc toàn cầu kể từ ngày nó ra đời cho tới nay. Tác phẩm này cũng đã được dựng thành phim hai lần. Lần thứ nhất năm 1966, do Henning Carlsen (sinh 1929) nhà sản xuất phim lừng danh người Đan Mạch đạo diễn; lần thứ hai năm 2001 do đạo diễn, biên kịch người Mỹ Maria Giese đạo diễn. Từ đó trở đi, bút lực của ông ngày càng dồi dào sung mãn. Về mặt bút pháp, ông là một trong những nhà văn cùng thời khác như James Joyce (1882-1941), Marcel Proust (1871-1922) và Virginia Woolf (1882-1941)… đã khai thác một cách tài tình thủ pháp Dòng ý thức ; hình thành nên trào lưu văn học hiện đại. Tổng cộng ông đã viết trên ba mươi cuốn tiểu thuyết và nhiều tác phẩm kịch, thơ… Trong đó nổi bật nhất là: Đói (Sult-1890); Những điều bí ẩn (Mysterier-1892); Pan (Pan-1894); Victoria (Victoria -1898); Dưới ánh sao thu (Under Høststjærnen -1906); Gã lang thang chơi đàn không dây (En Vandrer spiller med Sordin-1909) ; Niềm vui cuối cùng (Den sidste Glæde-1912); Phúc lành của đất (Markens Grøde-1917); Trên lối mòn hoang (Paa gjengrodde Stier-1949)… Năm 1917, ông mua một điền trang ở Nørholm, miền Nam Na Uy, lui về đó sống một cuộc đời ẩn dật, viết văn và làm việc nông điền. Năm 1920, ông đoạt giải Nobel văn chương nhờ bộ tiểu thuyết Phúc lành của đất . Xuất phát từ chủ nghĩa cá nhân, sự oán ghét chủ nghĩa tư bản hiện đại của bản thân và do hâm mộ truyền thống tư tưởng Nietzche trong chủ nghĩa Phát xít cũng như đã có sẵn cảm tình với Đức do chính nghĩa của nước này trong Thế chiến I, trong lúc đó công luận tại Na Uy lại nghiêng về Anh và Pháp, dần dần trong ông đã hình thành một cảm tình sai lệch với chủ nghĩa xấu xa này. Năm 1932, ông gặp Hitler và Joseph Goebbels – Bộ Trưởng Tuyên truyền của Đức Quốc Xã. Dù không bao giờ gia nhập Đảng Phát xít, ông đã có những hành động và phát ngôn bày tỏ rõ rệt thái độ ủng hộ Đức của mình, chẳng hạn như tuyên bố với những người đồng bào rằng: “Tất cả chúng ta đều là người Đức” trong thời gian Đức chiếm đóng Na Uy, hoặc công khai viết lời ca tụng Hitler khi nghe tin ông này chết rằng: “Ông ấy là một chiến binh, một chiến binh của nhân loại, và một nhà tiên tri của nền công lý đối với mọi quốc gia.” Sau Thế chiến II, ông bị công chúng ghét bỏ; do được coi là bị bệnh tâm thần nên ông không phải ngồi tù mà chỉ bị phạt tiền 80.000 đô la Mỹ (1947). Kể từ đó cho tới khi lìa đời, ông sống trong cảnh lẻ loi nghèo khổ, bị mọi người xung quanh xa lánh. Ngày 19-2-1952, Knut Hamsun qua đời ở thị trấn Grimstad, miền Nam Na Uy, hưởng thọ 92 tuổi. Hồi đầu năm 2009, khi Na Uy phát hành đồng tiền mệnh giá 200 Kroner (khoảng 500.000 đồng VN) in hình ông và tiếp sau đó là những hoạt động trọng thể tưởng niệm 150 năm ngày sinh của Hamsun, đã có nhiều quan điểm gay gắt phản đối từ nhiều nước trên thế giới. Dĩ nhiên, bên cạnh đó cũng có nhiều ý kiến đồng tình, biện minh cho những hoạt động nói trên. Nếu không xét tới quan điểm chính trị của Knut Hamsun – vốn đã trăm phần trăm sai trái, không có gì cần bàn cãi nữa (có lẽ bản thân Knut Hamsun cũng đã nhận ra những sai lầm của ông trong quãng thời gian cuối đời), có thể khẳng định đa phần những di sản văn học mà ông để lại cho nhân loại là vô cùng quý báu. Và người đọc chúng ta có thể tri ân ông ở khía cạnh này. Sài Gòn, 3-2010 Nguyễn Thành Nhân Mời các bạn đón đọc Phúc Lành Của Đất của tác giả Knut Hamsun.