Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Câu Chuyện Nghĩa Địa - Neil Gaiman

Bod Owens là một cậu bé bình thường! Bod Owens lẽ ra là một cậu bé tuyệt đối bình thường nếu cậu không sống trong một nghĩa địa cổ, không được nuôi dạy bởi những hồn ma và không có một người bảo trợ chẳng thuộc thế giới của người sống hay người chết. Trong nghĩa địa, có vô vàn hiểm nguy và những cuộc phiêu lưu dành cho Bod – một Người Da Chàm và các Sát thủ bảo vệ báu vật dưới lòng đồi, một cánh cổng dẫn ra sa mạc nơi có Thành Quỷ, bầy dạ điểu và những con quỷ nhập tràng… Nhưng nếu rời khỏi nghĩa địa, Bod sẽ phải đương đầu với một mối đe dọa khác – Hội Jack Đủ Nghề, những kẻ đã từng giết cả gia đình cậu…   Vừa kinh hoàng bí hiểm lại vừa trong sáng nên thơ, vừa đầy rẫy những cuộc phiêu lưu nghẹt thở lại vừa thấm đẫm những câu chuyện xúc động về tình yêu thương, Câu chuyện nghĩa địa chắc chắn sẽ mê hoặc độc giả đủ mọi lứa tuổi.  *** Nhận định   Sự sáng tạo vô tận, nghệ thuật kể chuyện bậc thầy và – như chính bản thân Bod – quá xuất sắc để có thể chỉ phù hợp với một nơi duy  nhất. Câu chuyện nghĩa địa là cuốn sách dành cho mọi người. Bạn sẽ yêu nó đến chết. - Holly Black, đồng tác giả Biên niên sử gia đình  Spiderwick   Khi đọc xong Câu chuyện nghĩa địa, trong đầu tôi chỉ có một suy nghĩ – hy vọng nó kéo dài hơn nữa. -Laurell K. Hamilton, tác giả của Anita Blake: Kẻ săn ma cà rồng   Bâng  khuâng, hài hước, khôn ngoan và sởn cả tóc gáy… Cuốn sách dành cho tất cả những ai đang là trẻ con hay đã từng có thời là trẻ con. - Kirkus Reviews   Giống như một miếng sô cô la đắng trong ngày Halloween, cuốn tiểu thuyết này mang đến một hương vị đậm đà, đắng nhưng vẫn ngọt ngào, và không thể nào chê được. - Washington Post *** TRONG BÓNG TỐI HIỆN RA một bàn tay, và bàn tay đó cầm một con dao. Con dao ấy có cán bằng xương đen bóng, với lưỡi dao sắc hơn bất kỳ lưỡi dao cạo nào. Nếu nó cắt vào da thịt, ta có thể thậm chí không biết là mình bị cắt, không biết ngay. Con dao đã thực hiện gần xong tất cả những việc nó được đem đến căn nhà này để thực hiện, và cả cán lẫn lưỡi dao dều ướt đẫm. Cánh cửa dẫn ra phố vẫn để ngỏ, hơi hé mở, qua lối này con dao cùng gã đàn ông đang cầm nó đã lách qua, và những dải sương đêm cũng theo đó luồn lách len lỏi vào trong nhà. Gã đàn ông tên Jack dừng lại trên chiếu nghỉ ở cầu thang. Bằng tay trái, hắn rút một chiếc khăn tay to trắng tinh từ trong túi áo choàng màu đen của mình, lau sạch sẽ cả lưỡi dao lẫn bàn tay phải xỏ găng đang nắm chặt con dao, rồi lại cất chiếc khăn tay đi. Cuộc săn lùng đã gần kết thúc. Hắn đã để người đàn bà nằm trên giường, người đàn ông trên sàn phòng ngủ, đứa bé lớn trong căn buồng màu sắc rực rỡ của nó, xung quanh đầy đồ chơi và những mô hình đang xây dở. Hắn chỉ còn phải lo liệu nốt đứa bé con, một đứa nhỏ mới lẫm chẫm biết đi. Chỉ một mạng nữa thôi, và nhiệm vụ của hắn sẽ được hoàn thành. Hắn co duỗi mấy ngón tay. Gã đàn ông tên Jack, trên hết, là tay chuyên nghiệp, hay ít ra thì hắn cũng tự nhủ như vậy, và hắn không cho phép mình được mỉm cười cho đến khi công việc đã xong xuôi. Hắn có mái tóc đen, cặp mắt đen, và hắn mang găng tay den làm bằng thứ da cừu mỏng nhất. Phòng của đứa bé nằm ở tầng trên cùng. Gã đàn ông tên Jack đi lên cầu thang, chân bước không một tiếng động trên sàn trải thảm. Rồi hắn đẩy cửa bước vào căn phòng áp mái. Hắn đi giày da đen, và chúng bóng lộn đến nỗi nom như hai chiếc gương tối sẫm: ta có thể thấy mặt trăng phản chiếu trên đó, một vầng trăng lưỡi liềm nhỏ xíu. Mặt trăng thật thì đang chiếu qua ô cửa sổ có hai cánh. Ánh trăng không sáng, lại bị màn sương che mờ, nhưng gã đàn ông tên Jack không cần nhiều ánh sáng. Ánh trăng là đủ rồi. Hắn chỉ cần có thế. Hắn có thể trông thấy hình dáng của đứa bé nằm trong nôi, đầu, chân tay, thân mình. Cái nôi có hai bên thành cao làm bằng các thanh gỗ mỏng, để ngăn đứa bé trèo ra ngoài. Jack cúi xuống, giơ cao bàn tay phải, bàn tay đang cầm con dao, và hắn nhằm vào vùng ngực... ... rồi hắn buông tay xuống. Hình thù trong cái nôi chỉ là một con gấu nhồi bông. Không thấy đứa bé đâu. Mắt gã đàn ông đã quen với ánh trăng mờ ảo nên hắn không muốn bật đèn. Và dù sao thì ánh sáng cũng chẳng quan trọng. Hắn có những kỹ năng khác. Gã đàn ông tên Jack hít ngửi không khí. Hắn phớt lờ những mùi đã theo hắn bay vào phòng, loại bỏ những mùi hắn có thể bỏ qua, chỉ tập trung vào mùi của thứ hắn đang tìm kiếm. Hắn có thể ngửi thấy mùi đứa trẻ: một thứ mùi như mùi sữa, giống như mùi bánh quy rắc sô cô la, cùng với mùi chua chua của cái tã ban đêm đã bị ướt. Hắn có thể ngửi thấy mùi đầu gội đầu trẻ em trên tóc đứa bé, và một thứ gì đó nho nhỏ, làm bằng cao su - một món đồ chơi, hắn tự nhủ, rồi sau đó nghĩ lại, không, một cái gì đó để ngậm - mà đứa bé đang cầm. Đứa bé đã ở đây. Nó không còn ở đây nữa. Gã đàn ông đánh hơi lần theo dấu vết xuống tầng dưới của căn nhà cao, hẹp. Hắn kiểm tra phòng tắm, bếp, tủ đựng khăn, và cuối cùng là gian sảnh ở tầng trệt, ở đó chẳng có gì ngoài mấy chiếc xe đạp của gia đình, một đống túi đi chợ trống không, một cái tã rơi, và những dải sương lạc đã lặng lẽ cuộn xoáy chui vào nhà qua cánh cửa mở ra phố. Gã đàn ông tên Jack liền thốt lên một âm thanh khe khẽ, một tiếng gầm gừ vừa bực tức vừa đắc thắng. Hắn tra dao vào cái vỏ ở túi trong chiếc áo choàng dài, rồi bước ra phố. Trời sáng trăng lại thêm cả ánh đèn đường, nhưng màn sương đã bao trùm tất cả, làm mờ ánh sáng, che lấp mọi âm thanh khiến cho màn đêm trở nên mờ ảo đầy nguy hiểm. Hắn nhìn xuôi xuống đồi về phía ánh đèn của những cửa hàng đã đóng cửa, rồi nhìn ngược lên phố nơi những ngôi nhà cao tầng cuối cùng chạy vòng quanh đồi và chìm dần vào bóng tối của khu nghĩa địa cũ. Gã đàn ông tên Jack hít hít không khí. Rồi, không chút vội vã, hắn bước lên đồi. º º º Ngay từ lúc mới biết đi, thằng bé đã trở thành niềm vui và nỗi tuyệt vọng của bố mẹ, vì chưa từng có thằng bé nào lại hay đi vơ vẩn, hay trèo lên các thứ, hay chui ra chui vào mọi chỗ như thế. Đêm đó, nó bị đánh thức bởi tiếng một vật gì đó ở tầng dưới đổ xuống đánh rầm. Khi đã thức giấc, chẳng mấy chốc nó đâm chán, và bắt đầu tìm cách chui ra khỏi nôi. Cái nôi có thành cao, giống như thành cái cũi của nó ở dưới nhà, nhưng nó dám chắc mình có thể trèo qua được. Nó chỉ cần một cái bậc... Nó liền lôi con gấu bông lớn màu vàng ra đặt ở góc nôi, rồi, nắm lấy thành nôi bằng hai bàn tay bé xíu, giẫm một chân lên bụng, một chân lên đầu con gấu, thằng bé đu mình đứng dậy, rồi nửa trèo, nửa rơi qua thành nôi ra ngoài. Nó ngã xuống đánh thịch một cái trên đống thú nhồi bông, có con là quà tặng sinh nhật của họ hàng nhân dịp nó đầy năm, cách đây chưa đầy sáu tháng, có con được thừa hưởng từ chị nó. Nó hơi ngạc nhiên khi bị ngã xuống sàn, nhưng nó không khóc: ta mà khóc thì sẽ có người đến đặt lại vào trong nôi liền. Nó bò ra khỏi phòng. Các bậc thang đi lên khá rắc rối, và thằng bé chưa nắm vững được cách trèo lên. Nhưng nó đã phát hiện ra rằng các bậc thang đi xuống lại rất đơn giản. Nó chỉ việc ngồi xuống và trượt từ bậc này xuống bậc kia trên cái mông đã được đệm bằng chiếc tã. Nó mút mút cái ti, chiếc núm vú giả bằng cao su mà dạo gần đây mẹ bảo nó đã lớn rồi, không cần đến nữa. Chiếc tã tuột ra trong quãng đường xuống cầu thang, và khi thằng bé đến được bậc cuôì cùng, trượt vào gian sảnh ở tầng dưới rồi đứng dậy, thì cái tã rơi mất. Nó bước ra khỏi cái tã. Nó chỉ mặc một chiếc áo ngủ trẻ em. Những bậc thang dẫn về phòng nó, phòng bố mẹ và chị nó dốc quá, nhưng cánh cửa dẫn ra phố lại đang mở và nom thật hấp dẫn... Thằng bé bước ra khỏi nhà, hơi ngập ngừng một chút. Màn sương cuộn quanh nó như một người bạn lâu ngày gặp lại. Và rồi, mới đầu còn loạng choạng, sau rồi với bước chân mỗi lúc một nhanh và vững vàng hơn, thằng bé chập chững đi lên đồi. º º º Càng gần đến đỉnh đồi, màn sương càng mỏng, vầng trăng lưỡi liềm tỏa sáng, tuy không thể so với ánh sáng ban ngày, nhưng ít ra cũng đủ để thấy được khu nghĩa địa, ít ra thì cũng đủ cho việc đó. Nhìn mà xem. Bạn có thể nhìn thấy ngôi nhà nguyện tang lễ bỏ hoang, hai cánh cổng sắt khóa chặt, dây trường xuân bám quanh cái mái hình chóp nhọn, một cây con mọc trên máng xối ngang mái nhà. Bạn có thể nhìn thấy những bia mộ, những cái huyệt, nhà mồ và những tấm biển tưởng niệm. Bạn có thể thỉnh thoảng trông thấy một con thỏ, chuột đồng hay chồn lủi đi rất nhanh khi nó chui ra khỏi bụi rậm và chạy ngang lối đi. Dưới ánh trăng, bạn sẽ nhìn thấy tất cả những thứ đó, nếu bạn có mặt ở nơi này vào cái đêm ấy. Nhưng có lẽ bạn sẽ không trông thấy người phụ nữ phốp pháp, nhợt nhạt, đang bước trên lối mòn gần cổng chính, và nếu bạn có nhìn thấy bà thì khi nhìn lại một lần nữa, kỹ càng hơn, bạn sẽ thấy rằng bà chỉ là ánh trăng, là màn sương, là một cái bóng. Nhưng người phụ nữ phốp pháp, nhợt nhạt ấy đang có mặt ở đó. Bà bước trên con đường dẫn đến cổng chính, đi qua một đống bia mộ đổ nát. Cổng đã khóa. Chúng luôn được khóa lúc bốn giờ chiều vào mùa đông, và tám giờ tối vào mùa hè. Những thanh rào sắt nhọn đầu bao quanh một phần nghĩa địa, và một bức tường gạch cao chắn phần còn lại. Chấn song ở cánh cổng được gắn sát nhau: người lớn không thể chui qua đó được, thậm chí một đứa trẻ mười tuổi cũng không... "Ông Owens!" người đàn bà da nhợt nhạt cất tiếng gọi, bằng một giọng có thể chỉ là tiếng gió xào xạc qua đám cỏ cao. "Ông Owens! Lại xem này!" Bà cúi xuống, chăm chú nhìn vật gì đó trên mặt đất, trong khi một mảng bóng tối hiện ra dưới ánh trăng và hiện rõ hình một người đàn ông tóc hoa râm, độ bốn mươi lăm tuổi. Ông nhìn bà vợ, nhìn vật mà bà đang ngắm nghía, và đưa tay lên gãi đầu. "Bà Owens này?" ông hỏi, bởi vì ông đến từ một thời kỳ trọng nghi thức hơn thời của chúng ta. "Đó có phải là cái mà tôi nghĩ không đấy?" Đúng lúc đó, cái vật mà ông đang nhìn hình như đã trông thấy bà Owens, vì nó mở miệng ra, để rơi cái núm vú giả đang ngậm xuống đất, và nó vươn nắm tay nhỏ xíu, mũm mĩm của mình ra, như thể đang cố hết sức nắm lấy ngón tay nhợt nhạt của bà Owens. "Nếu đó không phải một đứa bé," ông Owens nói, “thì tôi đúng là thằng ngốc rồi!” "Tất nhiên nó là một đứa bé," vợ ông đáp. "Và vấn đề là, chúng ta phải làm gì với nó đây?" "Đó đúng là vấn đề đấy, bà Owens à," ông chồng trả lời. "Thế nhưng nó không phải vấn đề của chúng ta. Vì đứa bé này rõ ràng là đang còn sống, và vì vậy nó chẳng liên quan gì đến chúng ta, nó không thuộc về thế giới của chúng ta." "Ông nhìn nó cười kìa!" bà Owens nói. "Nó có nụ cười mới đáng yêu làm sao," và bà đưa bàn tay trong suốt ra vuốt mái tóc vàng lơ thơ của đứa bé. Thằng bé cười khúc khích vẻ thích thú. Một cơn gió lạnh buốt thổi qua nghĩa địa, làm tan tác màn sương ở dưới những sườn đồi thấp hơn (vì nghĩa địa chiếm hết toàn bộ đỉnh đồi, và đường đi trong nghĩa địa uốn lượn lên xuống đỉnh đồi thành một vòng tròn). Có tiếng lách cách: ai đó ở cổng chính nghĩa địa đang nắm lấy cánh cổng, kéo, giật và lắc mạnh hai cánh cổng cũ cùng cái khóa và sợi xích nặng khóa hai cánh cổng lại với nhau. "Đấy," ông Owens nói, "gia đình thằng bé đến để đón nó vào vòng tay yêu thương của họ đây. Bà để cho nó yên đi," ông nói thêm, vì bà Owens đang vòng hai cánh tay trong suốt quanh đứa bé, âu yếm vỗ về nó. Bà Owens bảo, "Trông hắn chẳng có vẻ là gia đình của ai hết." Gã đàn ông mặc chiếc áo choàng đen đã thôi lắc cánh cổng chính, chuyển sang săm soi cánh cổng phụ nhỏ hơn. Cánh cổng này cũng khóa chặt. Năm ngoái ở nghĩa địa xảy ra mấy vụ phá hoại, và hội đồng thành phố đã có Biện pháp Giải quyết. "Thôi nào, bà Owens thân yêu. Để cho nó yên”, ông Owen nói khi trông thấy một con ma, và ông há hốc miệng, không nghĩ được câu gì để nói nữa. Bạn có thể cho rằng - và nếu bạn nghĩ như thế này thì bạn đã đúng - ông Owens lẽ ra chẳng nên kinh ngạc đến thế khi trông thấy một con ma, vì chính ông và bà Owens cũng là người chết, đã chết từ hàng trăm năm nay rồi; hơn nữa, toàn bộ, hoặc gần như toàn bộ sinh hoạt xã hội của họ đều là với những người cũng đã chết. Nhưng có sự khác biệt rõ ràng giữa đám dân cư của nghĩa địa với cái này: một hình thù kỳ lạ, chập chờn, thô sơ, có màu xam xám như màn hình ti vi lúc không có sóng, chỉ tuyền một nỗi kinh hoàng và những tình cảm trần trụi xuyên thẳng qua hai vợ chồng nhà Owens như thể đó là cảm xúc của chính họ vậy. Có ba hình thù tất cả, hai lớn, một nhỏ, nhưng chỉ có một hình là rõ nét, trông rõ hơn một đường viền mờ nhạt. Và hình thù đó đang kêu lên, Con tôi! Hắn đang muốn hại con tôi! Có tiếng rầm rầm. Gã đàn ông ở ngoài kia đang vần một cái thùng rác nặng bằng sắt ngang qua con hẻm đến bên bức tường gạch cao bao quanh một phần nghĩa địa. "Xin hãy bảo vệ con tôi!" con ma nói, và bà Owens đoán đó là một phụ nữ. Tất nhiên rồi, mẹ của đứa bé. "Hắn đã làm gì các vị thế?" bà Owens hỏi, nhưng bà không dám chắc con ma nghe được giọng bà. Mới chết, tội nghiệp, bà thầm nhủ. Bao giờ cũng dễ dàng hơn rất nhiều nếu được chết một cách nhẹ nhàng, để rồi đến đúng lúc thì sẽ thức dậy ở nơi mình được chôn, chấp nhận cái chết của mình và làm quen với những cư dân khác trong nghĩa địa. Nhưng con ma này chỉ toàn nỗi hoảng hốt và sợ hãi lo cho đứa con của mình, và nỗi hốt hoảng ấy, mà hai vợ chồng nhà Owens cảm thấy như một tiếng kêu lầm rầm, đã bắt đầu gây sự chú ý, vì những hình dáng nhợt nhạt khác đang từ khắp mọi nơi trong nghĩa địa kéo đến. "Ngươi là ai?" Caius Pompeius hỏi hình thù nọ. Tấm bia mộ của cụ giờ chỉ còn là một tảng đá dầm mưa đãi nắng, nhưng hai nghìn năm trước, cụ đã yêu cầu được chôn cất trên đỉnh đồi bên cạnh ngôi đền bằng cẩm thạch chứ không muốn thi thể mình được đưa về La Mã, và cụ là một trong những công dân lâu năm nhất của nghĩa địa. Cụ rất coi trọng các trách nhiệm của mình. "Ngươi có được chôn ở đây không?" "Tất nhiên là không rồi! Nhìn cũng biết chị ấy mới chết thôi." Bà Owens vòng tay ôm lấy hình người phụ nữ kia và khẽ nói với người ấy mấy lời, bằng giọng trầm trầm, bình tĩnh, an ủi. Có một tiếng thịch, rồi tiếng rầm rầm ở bức tường cao cạnh con hẻm. Cái thùng rác đã đổ xuống. Một gã đàn ông trèo lên nóc tường, hình dáng tối sẫm của hắn nổi bật hẳn lên dưới ánh đèn đường mờ sương. Hắn đứng yên một lát, rồi trèo xuống phía bên kia, tay bám nóc tường, chân đong đưa, rồi hắn buông tay để mình rơi tự do nốt vài mét xuống khu nghĩa địa. "Nhưng chị thân mến," bà Owens nói với hình người kia, trong số ba hình người đã hiện ra trong nghĩa địa, giờ chỉ còn một hình duy nhất ấy. "Hắn là người sống. Chúng tôi thì không. Làm sao chị lại cho rằng..." Đứa bé đang ngước nhìn họ vẻ tò mò. Nó với tay về phía một người, rồi người kia, nhưng chẳng quờ được gì ngoài không khí. Hình người phụ nữ đang mờ đi rất nhanh. "Được thôi," bà Owens nói, đáp lại một câu hỏi mà không ai khác nghe thấy. "Nếu làm được thì chúng tôi sẽ làm”. Rồi bà quay sang ông chồng đang đứng cạnh. "Thế còn ông thì sao, ông Owens? Ông có chịu làm bố thằng bé này không?" "Tôi có chịu làm cái gì cơ?" ông Owens hỏi, trán nhăn lại. "Chúng ta chưa bao giờ có con," vợ ông nói. "Và mẹ nó nhờ chúng ta bảo vệ nó. Ông có đồng ý không?" Gã đàn ông mặc áo choàng đen đã bị vấp ngã giữa đám dây trường xuân cùng đống bia mộ đổ vỡ. Giờ thì hắn đứng dậy, rồi đi về phía trước một cách thận trọng hơn, làm một con cú giật mình lặng lẽ bay lên. Hắn đã nhìn thấy đứa bé, và mắt hắn lóe lên vẻ đắc thắng. Ông Owens biết rõ vợ mình đang nghĩ gì khi bà nói bằng cái giọng như thế. Họ đã ở với nhau kể cả lúc sống lẫn lúc chết là hai trăm năm mươi năm rồi chứ có ít đâu. "Bà có chắc không?" ông hỏi. "Bà chắc chắn đấy chứ?" "Tôi chưa bao giờ cảm thấy chắc chắn hơn," bà Owens trả lời. "Thế thì được. Nếu bà làm mẹ nó thì tôi sẽ làm bố nó. "Chị đã nghe thấy chưa?" bà Owens hỏi hình người trong nghĩa địa, giờ chỉ rõ hơn chút xíu so với một đường viền mờ nhạt, giống như một tia chớp mùa hạ xa xăm, có hình dáng một phụ nữ. Hình người ấy nói gì đó với bà Owens mà không ai khác nghe được, rồi biến mất. "Chị ấy sẽ không quay lại đây đâu”, bà Owens nói. "Khi thức dậy thì chị ấy sẽ ở nghĩa địa của chính mình, hoặc là ở bất cứ nơi đâu mà chị ấy đang đến." Bà Owens cúi xuống bên đứa bé và chìa tay ra. "Lại đây nào”, bà âu yếm nói. "Lại đây với mẹ nào”. Khi gã đàn ông tên Jack bước trên lối đi cắt ngang nghĩa địa đến chỗ họ, dao lăm lăm trong tay, hắn thấy dường như dưới ánh trăng, một dải sương đã cuộn quanh đứa bé, rồi đứa bé biến mất: chỉ còn lại màn sương ẩm ướt, ánh trăng và lớp cỏ đang ngả nghiêng trong gió. Hắn chớp chớp mắt đánh hơi không khí. Có điều gì đó vừa xảy ra, nhưng hắn không biết là điều gì. Hắn gầm ghè trong họng như một con thú săn mồi, bực dọc và giận dữ. "Có ai ở đây không?" gã đàn ông tên Jack cất tiếng gọi, băn khoăn không biết có phải đứa bé đã trốn đằng sau một cái gì đó không. Giọng hắn khàn khàn, trầm dục, với một thoáng the thé kỳ lạ, như thể ngạc nhiên hay bối rối khi nghe thấy chính mình lên tiếng. Khu nghĩa địa vẫn giữ kín bí mật của mình. "Có ai ở đây không?" hắn lại gọi. Hắn hy vọng sẽ nghe thấy đứa bé khóc hoặc bi bô, hoặc nghe thấy tiếng nó cử động. Hắn không ngờ lại nghe thấy một giọng nói êm như nhung, hỏi lại. "Tôi giúp gì được ông không?" Gã đàn ông tên Jack vốn là người cao. Người đàn ông này còn cao hơn. Gã đàn ông tên Jack mặc quần áo sẫm màu. Quần áo của người đàn ông này còn sẫm màu hơn. Người nào để ý đến gã đàn ông tên Jack lúc hắn đang thực hiện công việc của mình - mà hắn không thích bị để ý - đều thường cảm thấy lo ngại, không yên, hoặc bỗng thấy sợ hãi không sao hiểu nổi. Gã đàn ông tên Jack ngước nhìn người lạ mặt nọ, và chính gã lại là kẻ cảm thấy lo ngại. "Tôi đang tìm một người," gã đàn ông tên Jack đáp, luồn tay phải vào túi áo khoác để giấu kín con dao, nhưng vẫn nắm nó trong tay phòng khi cần đến. "Trong một khu nghĩa địa bị khóa kín, giữa lúc đêm hôm ư?" người lạ mặt hỏi. "Chỉ là một đứa bé thôi," Jack nói. "Tôi đang đi qua đây thì nghe thấy tiếng trẻ con khóc, và khi nhìn qua cổng tôi đã trông thấy nó. Nếu là người khác thì họ cũng làm thế thôi, phải không?" "Tôi xin hoan nghênh tinh thần cộng đồng của ông”, người lạ mặt nói. "Nhưng nếu tìm được đứa bé này thì ông định đưa nó ra khỏi đây bằng cách nào? Ông không thể bế đứa bé trèo qua tường được”. "Tôi sẽ gọi cho đến khi có người đến giúp tôi ra," gã đàn ông tên Jack trả lời. Có tiếng chùm chìa khóa lách cách. "Vậy đấy, thế thì đó sẽ là tôi rồi," người lạ mặt nói. "Tôi sẽ phải mở cổng cho ông ra thôi." Người đó chọn một chiếc chìa lớn từ trong chùm rồi nói, "Đi theo tôi." Gã đàn ông tên Jack theo sau người lạ mặt. Hắn lôi con dao từ trong túi ra. "Hẳn ông là bảo vệ ở đây?" "Tôi ấy à? Nói theo một cách nào đó thì đúng thế”, người lạ mặt đáp. Họ đang đi về phía cánh cổng, và gã Jack dám chắc họ đang đi khỏi chỗ có đứa bé. Nhưng lão bảo vệ có chìa khóa. Hắn chỉ việc tặng cho lão một nhát dao trong bóng tối, rồi sẽ được tự do tìm kiếm đứa bé suốt đêm, nếu cần. Hắn giơ dao lên. "Nếu có một đứa bé thật," người lạ mặt nói, không hề ngoảnh lại, "thì nó sẽ không có trong nghĩa địa này. Chắn hẳn ông đã nhầm. Dù sao thì chuyện một đứa bé mò đến đây cũng khó có thể xảy ra. Có lẽ ông đã nghe thấy tiếng một con chim đêm, và nhìn thấy một con mèo hoặc con cáo. Ông biết đấy, ba mươi năm trước, khi lễ tang cuối cùng được tổ chức ở đây, họ đã chính thức tuyên bố nơi này là khu bảo tồn tự nhiên. Giờ thì hãy nghĩ cho kỹ, và cho tôi biết ông có chắc chắn là ông đã nhìn thấy một đứa bé không?” Gã đàn ông tên Jack ngẫm nghĩ. Người lạ mặt mở cánh cổng phụ. "Có lẽ là một con cáo," người ấy nói. "Chúng thường phát ra những tiếng kêu rất lạ, không phải là không có phần giống tiếng người khóc. Ông đã nhầm khi đến khu nghĩa địa này, thưa ông. Đứa bé ông tìm kiếm đang đợi ông ở đâu đó, nhưng nó không có ở đây”. Và người ấy để cho ý nghĩ đó bắt rễ trong đầu gã đàn ông tên Jack một hồi lâu, trước khi đẩy cánh cổng phụ mở ra bằng một điệu bộ hoa mỹ. "Rất vui đã được làm quen với ông” người đó nói. "Và tôi tin rằng ông sẽ tìm được tất cả những gì ông cần ở ngoài kia” Gã đàn ông tên Jack đứng ngoài cánh cổng nghĩa địa. Người lạ mặt đứng bên trong cổng, rồi người ấy khóa cổng lại và cất chiếc chìa đi. "Ông đi đâu vậy?" gã đàn ông tên Jack hỏi. "Còn có những cánh cổng khác” người lạ mặt đáp. "Ô tô của tôi đậu ở phía bên kia đồi. Đừng bận tâm đến tôi. Thậm chí ông còn không cần phải nhớ cuộc trò chuyện này nữa kia." "Không," gã đàn ông tên Jack thân thiện đáp lại. "Tôi không nhớ." Hắn chỉ nhớ rằng mình đã lang thang lên đồi, rằng cái mà hắn ngỡ là đứa bé hóa ra chỉ là một con cáo, rằng một người bảo vệ đầy thiện chí đã đưa hắn ra ngoài phố. Hắn đút con dao vào cái vỏ trong túi áo. "Thôi” hắn nói. "Xin chào ông." "Chúc ông buổi tối tốt lành," người lạ mặt mà Jack ngỡ là người bảo vệ đáp lại. Gã đàn ông tên Jack đi xuống đồi để đuổi theo đứa bé. º º º Từ trong bóng tối, người lạ mặt nhìn theo Jack cho đến khi hắn đã ra khỏi tầm mắt. Rồi người ấy đi xuyên qua bóng đêm, trèo lên cao hơn, đến tận khoảng đất bằng bên dưới đỉnh đồi, nơi có một đài tưởng niệm cùng một tảng đá phẳng đặt nằm trên mặt đất để tưởng nhớ hương hồn ngài Josiah Worthington, người nấu rượu của thành phố, chính trị gia, và sau này là nam tước, người mà ba trăm năm trước đã mua khu nghĩa địa cũ cùng khoảng đất xung quanh rồi đem tặng vĩnh viễn cho thành phố. Ngài Josiah đã tự dành cho mình vị trí tốt nhất trên đồi - một giảng đường thiên tạo, nơi người ta có thể nhìn thấy được toàn bộ thành phố và xa hơn thế - và đảm bảo chắc chắn rằng khu nghĩa địa luôn được duy trì làm nghĩa địa, mà chính vì điều đó các cư dân của nghĩa dịa hết sức biết ơn ngài, nhưng Nam tước Josiah Worthington luôn cảm thấy họ chưa bao giờ tỏ ra biết ơn cho đầy đủ. Tính cả thảy thì trong nghĩa địa có chừng mười ngàn linh hồn, nhưng phần lớn đều đang say giấc ngàn thu, không quan tâm gì đến những việc xảy ra hàng đêm ở đây, và trên giảng đường lúc này, dưới ánh trăng, chỉ có chưa đầy ba trăm người. Người lạ mặt đi đến chỗ họ một cách lặng lẽ chẳng khác nào màn sương, đứng quan sát cuộc họp từ trong bóng tối và không nói gì. Josiah Worthington đang phát biểu. Ngài nói, "Thưa bà thân mến. Sự ngoan cố của bà thật là... ờ, bà không thấy chuyện này nực cười đến thế nào ư?" "Không," bà Owens đáp. 'Tôi không thấy thế." Bà đang ngồi xếp bằng trên nền đất, đứa bé còn sống nằm ngủ trong lòng. Bà nâng niu đầu nó bằng hai bàn tay trong veo. "Thưa ngài, xin phép ngài, ý bà nhà tôi định nói là bà ấy không nhìn nhận chuyện này theo cách đó," ông Owens đang đứng cạnh bà nói. "Bà ấy chỉ coi đó là bổn phận của mình." Ông Owens đã từng gặp Josiah Worthington bằng xương bằng thịt khi họ đều còn sống, chính ông đã đóng mấy món đồ gỗ tinh xảo trong dinh thự của dòng họ Worthington ở gần Inglesham, và giờ ông vẫn còn thấy sợ ngài Nam tước. “Bổn phận của bà ấy?" Nam tước Josiah Worthington lắc đầu như muốn rũ một dải mạng nhện bám trên tóc. "Bổn phận của bà, thưa bà, là đối với nghĩa địa này, đối với cộng đồng này, cộng đồng những linh hồn, ma quỷ và các thứ khác đại loại thế, và bổn phận của bà là đem đứa bé này trả về nhà của nó càng sớm càng tốt - và nhà của nó không phải là ở đây." "Mẹ thằng bé đã trao nó cho tôi," bà Owens nói như thể đó là tất cả những gì cần được thốt ra. "Thưa bà thân mến..." "Tôi không phải là bà thân mến của ông," bà Owens nói và dứng dậy. "Thật tình tôi thậm chí còn không hiểu sao tôi lại phải ở đây, nói chuyện với mấy ông già xuẩn ngốc như các ông, trong khi thằng bé này sắp sửa tỉnh dậy, rồi nó sẽ thấy đói bụng và tôi biết tìm đâu ra thức ăn cho nó trong cái nghĩa địa này bây giờ?" "Đó chính là điều chúng tôi định nói đấy," Caius Pompeius nghiêm nghị nói. "Bà sẽ cho nó ăn gì đây? Bà sẽ làm cách nào chăm lo cho nó đây?" Mắt bà Owens lóe sáng. "Tôi có thể chăm sóc cho nó tốt không kém gì mẹ đẻ của nó," bà nói. "Mẹ nó đã trao nó cho tôi. Nhìn này: tôi đang ôm nó trong tay, phải không nào? Tôi đang chạm vào nó đấy thôi” "Nào, hãy tỏ ra biết điều một chút, Betsy," Má Slaughter, một bà già nhỏ bé với cái mũ to tướng và chiếc áo choàng mà má thường mặc khi còn sống và đã mặc khi được an táng. "Nó sẽ ở đâu bây giờ?" "Ở ngay đây” bà Owens đáp. "Chúng ta sẽ cho nó Quyền Tự do Đi lại Trong Nghĩa địa” Miệng Má Slaughter biến thành một chữ o nhỏ xíu. "Nhưng mà," má lên tiếng. Rồi má nói, "Thật là chuyện chưa từng thấy bao giờ”. "Thế thì sao nào? Đây đâu phải lần đầu chúng ta cho một người ngoài Quyền Tự do Đi lại Trong Nghĩa địa." "Đúng thế," Caius Pompeius nói. "Nhưng anh ta có phải người sống đâu." Khi nghe thấy vậy, người lạ mặt nhận ra dù muốn hay không mình đã bị kéo vào cuộc trò chuyện. Người ấy miễn cưỡng bước ra khỏi màn đêm, đứng tách xa khỏi những người khác như một mảng bóng tôi. "Không," người đó đồng tình. "Tôi không phải người sống. Nhưng tôi đồng ý với bà Owens." Josiah Worthington hỏi, "Thật thế sao, Silas?" "Đúng vậy. Dù vì điều tốt hay xấu - mà tôi tin chắc là vì lòng tốt - thì ông bà Owens cũng đã nhận bảo trợ đứa bé. Nhưng để nuôi dưỡng đứa bé này thì sẽ phải cần nhiều hơn hai linh hồn nhân hậu. Sẽ phải cần đến toàn thể nghĩa địa” Silas nói. "Thế còn thức ăn và những thứ khác thì sao?" "Tôi có thể ra khỏi nghĩa địa và quay lại. Tôi sẽ đem thức ăn về cho nó," Silas đáp. "Anh nói nghe hay lắm” Má Slaughter nói. "Nhưng anh đi đi về về, có ai biết được anh đi những đâu. Nếu anh bỏ đi cả tuần trời thì thằng bé chết đói mất." "Má quả là người khôn ngoan” Silas nói. "Tôi đã hiểu tại sao mọi người tôn trọng má đến thế." Anh ta không thể điều khiển trí não của người chết như từng làm với người sống, nhưng có thể dùng tất cả những lời tâng bốc và thuyết phục mà mình có được, bởi vì con người dù đã chết thì vẫn không miễn dịch được với hai thứ đó. Rồi anh đi đến một quyết định. "Được thôi. Nếu ông bà Owens nhận làm bố mẹ đứa bé thì tôi sẽ là người bảo trợ cho nó. Tôi sẽ ở lại đây, và nếu phải đi xa thì tôi sẽ đảm bảo có người thế chỗ tôi, đem thức ăn về và chăm sóc nó. Chúng ta có thể cho nó ở trong hầm mộ nhà thờ” "Nhưng mà," Josiah Worthington lớn tiếng. "Nhưng mà. Một đứa trẻ. Một đứa trẻ còn sống. Ý tôi là, ý tôi là, ý tôi là. Chết tiệt, đây là nghĩa địa chứ có phải nhà trẻ đâu." "Chính thế," Silas gật đầu. "Ngài nói rất đúng, thưa Nam tước Josiah. Chính tôi cũng không thể nói đúng hơn. Và nếu không vì lý do nào khác, thì chính vì lý do đó, điều tối quan trọng là đứa bé phải được nuôi nấng với sự hạn chế tối đa ảnh hưởng của nó đối với, xin nói mạn phép các vị, đối với cuộc sống của nghĩa địa." Nói đoạn Silas bước đến bên cạnh bà Owens, cúi nhìn đứa bé đang nằm ngủ trong vòng tay bà và nhướn mày. "Nó có tên chứ, bà Owens?" "Mẹ nó không cho tôi biết," bà đáp lại. "Cũng chẳng sao," Silas nói. "Dù gì thì bây giờ cái tên cũ của nó cũng chẳng có ích gì lắm. Có những kẻ ngoài kia đang muốn hại nó. Có lẽ chúng ta nên đặt cho nó một cái tên mới chăng?" Caius Pompeius bước đến ngắm nghía đứa bé. "Trông nó hơi giống ngài thống đốc Marctis của tôi. Hãy gọi nó là Marcus." Josiah Worthington nói, "Trông nó giống lão làm vườn Stebbins của tôi hơn. Nhưng tôi không gợi ý đặt tên nó là Stebbins đâu. Lão ta uống rượu như hũ chìm ấy." "Trông nó giống cậu cháu Harry của tôi” Má Slaughter nói, và đến lúc có vẻ như toàn thể nghĩa địa sắp sửa chêm vào, mỗi người góp một ý so sánh đứa bé với một người quen nào đó từ xa xưa lắm rồi, thì bà Owens lên tiếng. 'Trông nó chẳng giống ai cả, ngoại trừ chính nó” bà Owens nói. "Nó không giống ai cả." "Thế thì hãy gọi nó là Không Ai Cả, Nobody," Silas nói. "Nobody Owens." Đúng lúc ấy, như thể đáp lại cái tên mới, thằng bé mở to mắt thức giấc. Nó nhìn xung quanh, ngắm khuôn mặt những người chết, ngắm màn sương và vầng trăng. Rồi nó đưa mắt nhìn Silas. Cái nhìn của nó không hề dao động. Nó có vẻ hết sức nghiêm trang. "Nhưng ai lại đặt tên là Không Ai Cả!" Má Slaughter phẫn nộ kêu lên. "Đó là tên nó. Một cái tên hay” Silas nói với má. "Cái tên ấy sẽ giúp bảo vệ thằng bé." "Tôi không muốn gặp chuyện rắc rối đâu," Josiah Worthington nói. Đứa bé ngước lên nhìn ngài Nam tước, và rồi, vì đói, vì mệt, hay chỉ vì nhớ nhà, nhớ gia đình, nhớ thế giới cũ của mình, bộ mặt nhỏ xíu của nó co rúm lại và nó òa khóc. "Bà hãy để chúng tôi nói chuyện riêng," Caius Pompeius bảo bà Owens. "Chúng tôi sẽ bàn bạc việc này." Bà Owens đứng đợi ngoài nhà thờ. Bốn mươi năm trước, tòa nhà vốn là một nhà thờ nhỏ có mái nhọn này đã được tuyên bố là một công trình lịch sử được xếp hạng. Hội đồng thành phố quyết định rằng để tu sửa lại nhà thờ là quá tốn kém, vì nó chỉ là một nhà thờ nhỏ xíu trong một khu nghĩa địa đầy cỏ dại đã không còn hợp thời nữa, vậy là họ khóa cửa lại đợi cho nó sụp xuống. Dây trường xuân leo khắp tòa nhà, nhưng nó được xây dựng rất chắc chắn, và trong thế kỷ này thì vẫn chưa chịu đổ xuống. Thằng bé đã thiếp ngủ trong vòng tay bà Owens. Bà nhẹ nhàng đu đưa, hát cho nó nghe bài ru cổ mà mẹ bà đã hát ru bà khi bà còn bé, vào cái thời đàn ông mới bắt đầu đội tóc giả rắc phấn. Bài hát ấy như thế này: Hãy ngủ đi bé yêu của mẹ Ngủ cho đến khi con thức dậy Lớn lên con sẽ đuợc thấy thế gian Nếu mẹ không nhầm Hôn một người thương Nhảy một điệu vui Tìm thấy tên mình Cùng một kho báu đã bị chôn vùi... Bà Owens hát đến đó thì chợt nhận ra bà không còn nhớ bài hát kết thúc như thế nào nữa. Bà mang máng nhớ là câu cuối cùng có gì đó liên quan đến "mấy miếng thịt xông khói đầy lông” nhưng có lẽ đó lại là một bài hát khác hẳn, vì thế bà thôi không hát bài ấy nữa mà chuyển sang một bài về Chú Cuội ngồi trên Cung Trăng, rồi sau đó bà hát, bằng cái giọng nông thôn ấm áp của mình, một bài mới được sáng tác gần đây, về một chú bé mút ngón tay cái rồi rút ra một quả mận, và bà vừa bắt đầu bài balad dài dằng dặc về một chàng trai nông thôn không hiểu vì sao lại bị người yêu đầu độc bằng món lươn đốm, thì Silas đi từ cửa bên nhà thờ ra, mang theo một cál hộp các tông. "Đây, bà Owens," anh nói. “Cả đống thứ cần cho một chú bé đang lớn nhé. Chúng ta có thể để nó dưới hầm mộ, được đấy chứ?" Cái khóa móc bật mở trong tay Silas và anh đẩy cánh cửa sắt ra. Bà Owens bước vào trong, nghi ngại liếc nhìn những cái giá và những chiếc ghế gỗ dài cũ kỹ xếp đống dựa vào một bức tường. Ở góc nhà thờ có một đám hộp mốc meo chất đầy sổ sách cũ của giáo xứ, và ở góc khác, một cánh cửa mở ra cho thấy một bồn cầu giật nước thời Victoria, một cái chậu rửa chỉ có độc vòi nước lạnh. Đứa bé mở mắt nhìn quanh. "Chúng ta có thể cất thức ăn ở đây” Silas nói. "Dưới này mát, thức ăn sẽ để được lâu hơn” Anh thò tay vào trong hộp lôi ra một quả chuối. "Cái gì vậy?" bà Owens hỏi, liếc nhìn cái vật màu vàng đốm nâu vẻ nghi ngờ. "Đây là quả chuối. Một thứ quả miền nhiệt đới. Tôi nghĩ để ăn thì phải bóc vỏ ra," Silas nói, "như thế này này." Thằng bé - Không Ai Cả - cựa quậy trong tay bà Owens, vậy là bà đặt nó xuống sàn nhà lát đá. Nó lẫm chẫm bước nhanh đến bên Silas, túm ống quần anh và giữ chặt lấy. Silas đưa cho nó quả chuối. Bà Owens ngắm thằng bé ăn chuối. "Ch-u-ối," bà nói vẻ hồ nghi. "Chưa nghe bao giờ. Chưa bao giờ. Mùi vị của nó ra sao?" "Tôi có biết gì đâu” Silas đáp, anh chỉ dùng một thứ thức ăn duy nhất, và thứ ấy không phải là chuối. "Bà biết không, bà có thể dọn cho thằng bé một cái giường ở đây được đấy” "Tôi sẽ không làm thế trong khi ông Owens và tôi có một ngôi mộ nhỏ xinh ở ngay bên luống thủy tiên vàng. Ở đấy có khối chỗ cho thằng bé. Hơn nữa” bà nói thêm, sợ Silas sẽ nghĩ là bà đang từ chối lòng hiếu khách của anh, "tôi không muốn thằng bé làm phiền anh” "Có phiền gì đâu” Đứa bé đã ăn xong quả chuối. Những gì nó không ăn thì giờ nhoe nhoét khắp cả người. Nó toét miệng cười, má dính đầy chuối, ửng hồng như hai quả táo. "Chúi” nó vui sướng kêu lên. "Thằng bé mới tinh khôn làm sao” bà Owens nói. "Và bôi bẩn ra khắp nơi rồi! Nào, yên nào, thằng nhóc hay cựa quậy này..." và bà nhặt hết những mẩu chuối dính trên quần áo, tóc tai nó. Bà hỏi, "Anh nghĩ họ quyết định thế nào?" "Tôi không biết." "Tôi không thể bỏ nó được. Nhất là sau khi tôi đã hứa với mẹ nó." "Tuy đã từng làm rất nhiều việc trong đời," Silas nói, "nhưng tôi chưa bao giờ làm mẹ cả. Và tôi cũng không định bắt đầu làm mẹ vào lúc này đâu. Nhưng tôi có thể rời khỏi nơi này..” Bà Owens nói đơn giản, "Tôi thì không. Thân xác của tôi nằm ở đây. Cả ông nhà tôi cũng vậy. Tôi chẳng bao giờ rời đi đâu cả." "Có một nơi nào đó mà ta thuộc về kể cũng tốt" Silas nói. "Một nơi ta có thể gọi là nhà." Trong lời nói của anh không có vẻ khao khát. Giọng anh còn khô hơn cả sa mạc, và anh thốt ra những lời ấy như thể chỉ là đang nói lên một điều không thể tranh cãi. Và bà Owens cũng không tranh cãi. "Anh nghĩ chúng ta còn phải đợi lâu nữa không?" "Không lâu nữa đâu," Silas nói, nhưng anh đã nhầm. Ở giảng đường bên sườn đồi, cuộc tranh cãi vẫn tiếp tục. Việc hai vợ chồng nhà Owens, chứ không phải một con ma mới càn quấy nông nổi nào đó, lại vướng vào chuyện vớ vẩn này khiến mọi người rất chú ý, vì nhà Owens là những người đáng kính và được tôn trọng. Việc Silas tình nguyện làm người bảo trợ cho thằng bé cũng có một ảnh hưởng lớn - người dân trong nghĩa địa luôn có một nỗi kính sợ thận trọng đối với Silas, người có thể tồn tại ở vùng ranh giới giữa thế giới của họ và cái thế giới họ đã để lại phía sau. Thế nhưng, thế nhưng... Một khu nghĩa địa thường không theo chế độ dân chủ, nhưng cái chết lại là một nền dân chủ vĩ đại, và mỗi người chết đều có tiếng nói cùng ý kiến của riêng mình về việc đứa bé còn sống kia có được phép ở lại đây không, và đêm đó thì ai ai cũng muốn được phát biểu. Vào tiết thu muộn, trời thường lâu sáng. Dù trời vẫn còn tối, nhưng giờ đã có tiếng xe cộ đi từ dưới đồi lên, và khi người sống bắt đầu lái xe đi làm trong buổi bình minh tối đen mờ sương, thì những người chết lại bàn bạc về đứa bé đã lạc đến chỗ họ và họ nên làm gì với nó. Ba trăm giọng nói. Ba trăm ý kiến. Nehemiah Trot, thi sĩ, đến từ phía Tây Bắc đổ nát của nghĩa địa, bắt đầu hùng hồn trình bày suy nghĩ của mình, nhưng không ai có thể nói được những suy nghĩ ấy là gì vì một việc đã xảy ra; một việc khiến cho mọi cái miệng đang hùng hồn lên tiếng phải câm lặng, một việc chưa từng xảy ra trong lịch sử khu nghĩa địa này. Một con ngựa trắng khổng lồ, loại mà những người sành ngựa thường gọi là "ngựa xám” đi nước kiệu lên sườn đồi. Trước khi nhìn thấy, người ta đã nghe thấy tiếng vó nện cùng những tiếng rầm rầm khi con ngựa xông qua các bụi rậm nhỏ, xuyên qua đám mâm xôi, trường xuân và kim tước mọc trên sườn đồi. Nó to bằng một con ngựa thồ, ít nhất phải cao mười chín gang tay. Đó là con ngựa có thể chở trên lưng một hiệp sĩ giáp trụ đầy đủ xông vào giữa trận chiến, nhưng trên cái lưng không đóng yên của nó chỉ là một người phụ nữ mặc đồ xám từ đầu đến chân. Chiếc váy dài và khăn choàng của bà nom như được dệt bằng tơ cổ. Bà có gương mặt hế

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Hẹn Gặp Ở Samarra
Hẹn gặp ở Samarra là tác phẩm đầu tay nổi tiếng nhất đạt đến vẻ đẹp kinh điển của một tác phẩm hiện thực. Mùa Giáng sinh năm 1930, trong giới quý tộc ở Gibbsville người ta chỉ tiệc tùng và khiêu vũ, các dàn nhạc chơi đến sáng và rượu tuôn chảy suốt đêm. Hạt nhân của nhóm quý tộc là cặp vợ chồng trẻ Julian và Caroline English, họ nổi bật đến mức cả người quenn cũng như người lạ đều lấy làm ganh tỵ với họ. Nhưng trong một giây phút bộc phát với việc hắt một ly rượu vào mặt một người khác, Julian đã phá vỡ trật tự của giới này rồi bắt đầu đoạn trượt dài dẫn đến việc tự huỷ hoại mình chỉ trong vòng 48 tiếng đồng hồ. Hẹn gặp ở Samarra tái hiện một cách tài tình, sống động bi kịch cá nhân cũng như những mâu thuẩn cay đắng trong cuộc sống ở một tỉnh lẻ trong nửa đầu thế kỷ 20. Với tác phẩm này, John O’Hara đạt đến đỉnh cao trong bút pháp hiện thực châm biếm của một nhà văn lớn và đó là lý do tác phẩm này luôn có mặt trong danh sách 100 tiểu thuyết hay nhất trong mọi thời đại. Được Time Magazine xếp vào danh sách 100 tiểu thuyết tiếng Anh hay nhất từ năm 1923 tới năm 2005. Được Modern Library xếp ở vị trí thứ 22 trong danh sách 100 tiểu thuyết tiếng Anh hay nhất của thế kỷ 20. Bộ phim cùng tên do Robert Benton đạo diễn sẽ được ra mắt vào 31 - 12 - 2010. “…Ôi trời ơi, mẹ biết làm gì với con đây?”, bà Walker kêu lên. “Mẹ đáng thương”, Caroline kêu lên, giang hai tay ôm lấy mẹ. Cô thương cho bà, biết bà không đau đớn gì lắm trong chuyện này. Sự cố này chỉ khuấy động nỗi đau của riêng bà. Bà là người lúc nào cũng sẵn sàng biểu thị nỗi buồn, khiến bà chủ động hơn trong khi chia sẻ nỗi đau với con gái. Ngay từ đầu Caroline đã cố gắng không nghĩ đến Julian, nhưng mà trời đất ơi, ngoài anh ra cô còn có thể nghĩ đến chuyện gì được nữa? Cô nhớ đêm hôm ấy, mẹ đi vào phòng cô và bảo bố chồng cô đang ở dưới nhà muốn gặp cô. Thỉnh thoảng khi nghĩ lại điều này, cô muốn nói, “Mình biết điều này. Ngay lúc đó mình đã biết là có chuyện”, nhưng rồi cô trở nên trung thực và tha thứ cho mình bởi vì cô chẳng có cảm nhận gì hết. Có một cái gì không ổn, cô biết, nhưng sự thực là cô đã định từ chối không gặp ông già. Cô biết chuyện này thế nào cũng liên quan đến Julian mà cô thì không muốn nghe gì về anh nữa. Nhưng trí khôn, không phải là bản năng của cô, nhắc nhở rằng, trong khi cô đang nằm trong chăn ấm nệm êm thì chắc ông già chồng sẽ là người cuối cùng trên đời vào lúc đêm hôm buốt giá thế này lại đến đây mà không có lý do gì chính đáng. Ông nói mình mang đến một tin xấu kinh khủng - câu này nghe như lời dạo đầu cho một câu chuyện “Đây là điều tức cười nhất mà bạn từng nghe” hoặc “Điều này sẽ giết bạn mất thôi”. Nhưng chẳng có điều gì mà bác sĩ English nói lại giống với một lời mào đầu hết. Ông là một người kín kẽ và nói ngay vào chuyện mà không chờ cô hỏi. “Ông Harley tìm thấy Julian trong xe hơi ở garage lúc ấy nó đã chết mặc dù ông ấy không biết là nó chết lúc mấy giờ. Chết vì khí carbon monoxide, chất khí độc thoát ra từ xe. Máy vẫn nổ”. Ngừng một lát, ông tiếp. “Caroline à, có vẻ như đây là một vụ tự sát. Con không nhận được lá thư tuyệt mệnh hoặc bất cứ cái gì như thế chứ?” “Lạy Chúa. Ba cho rằng con vẫn ở đây được khi biết những chuyện như thế sao?” “Ba không có ý ám chỉ được gì hết,” ông bố chồng nói. “Ba chỉ muốn xác định cho rõ thôi. Phó thanh tra sẽ hỏi những chuyện như vậy. Ba không thấy có cách nào chúng ta tránh được phán quyết rằng đó là vụ tử tự, nhưng ba sẽ cố. Ba biết mình có thể làm được gì.” Giọng ông vang lên như giọng một chính trị gia không muốn thừa nhận là mình không thể có một địa chỉ gửi thư mới. “Sao ba lại muốn thế? Tất nhiên là anh ấy tự tử rồi”. Caroline kêu lên. “Caroline con yêu,” bà Walker xen vào. “Đừng nói thế cho đến khi con biết chắc mọi chuyện. Thật kinh khủng khi nói như thế”. “Tại sao? Có chuyện gì kinh khủng nào? Ai nói thế? Trời đánh thánh vật các người đi. Nếu anh ta muốn chết thì đó là việc của anh ta, liên quan gì đến ai nào?” “Nó điên mất rồi,” bà mẹ thì thào. “Con yêu…” “Thôi đi đi. Là ông đấy. Ông, ông đâu có yêu thương gì anh ấy. Ông đã làm chuyện đó. Ông già vênh vang tự đắc kia”. “Ôi Caroline, sao con lại có thể nói ra những điều như thế?” “Anh ấy đang ở đâu? Nói đi, anh ấy đang ở đâu? Ông đã đưa anh ấy đi đâu? Ông biết là anh ấy chết à? làm sao ông biết được? Thôi đi, tôi không nghĩ là ông biết được khi nào thì một người chết.” “Nó là con trai ta, Caroline. Làm ơn nhớ cho điều đó. Đứa con trai duy nhất của ta”. “Phải, con trai duy nhất của ông. Nhưng anh ấy không bao giờ yêu quý ông. Tôi nghĩ ông biết điều đó, đúng không? Ông cao quý quá mà, đầy quyền lực và khó chịu làm sao khi chúng tôi đến nhà ông hôm Giáng sinh. Đừng nghĩ là anh ấy không nhận ra điều đó nhé. Ông đã khiến anh ấy tự vẫn chứ không phải tôi”. “Tôi nghĩ tôi phải về thôi, Ella. Nếu bà cần gì thì ghé qua nhà tôi nhé”. “Được thôi, Will”, bà Walker nói. “Tại sao ông lại nói với mẹ tôi trước. Lý ra ông phải thông báo với tôi trước chứ?” “Thôi nào con. Chúc ngủ ngon Will. Tôi không tiễn ông đâu”. “Có phải ông đến để đưa tôi tới anh ấy? Có chuyện gì nào? Anh ấy có bị cháy hay dập nát hết không?” “Làm ơn con yêu,” bà Walker nói “Will, ông có chờ… một phút không?” “Phải, tôi nghĩ thế. Tôi nghĩ thật là kinh khủng với nó khi nghe tin này”. “Này con yêu, nếu con muốn nhìn mặt Julian tối nay”, bà Walker nói. “Ồ chúa ơi, con nhớ ra rồi. Con không thể. Con đã hứa với anh ấy, con không gặp đâu”, Caroline nói. “Con đã hứa với nó! Cái gì vậy? Con đã nói cái gì vậy? Con biết là nó sẽ tự tử à?” Bây giờ thì bác sĩ là người nổi giận. “Không, không,không. Đừng kích động như thế chứ. Cứ khoác cái áo trên người ông, ông già…”. Trong miệng cô là một từ mà Julian hay dùng, nhưng cô đang làm cho mẹ mình bị sốc. Cô quay sang nhìn bà. “Chúng con đã hứa khi làm đám cưới. Chúng con đã hứa sẽ không nhìn mặt nhau nếu một trong hai người chết trước người kia. Nếu anh ấy là người chết trước, thì con, ôi mẹ biết đấy”. Cô bắt đầu khóc. “Đi đi, ông bác sĩ. Tôi không muốn gặp ông nữa. Mẹ ơi”…” *** Hẹn gặp ở Samarra là tác phẩm đầu tay nổi tiếng nhất của nhà văn John O'Hara, được đánh giá là đạt đến vẻ đẹp kinh điển của một tác phẩm hiện thực trong thế kỷ 20. Tên cuốn sách được trích dẫn từ một truyện ngắn nổi tiếng của nhà văn W.Somerset Maugham.   Bản dịch tiếng Việt cuốn "Hẹn gặp ở Samarra" của nhà văn John O'hara do Youbooks thực hiện theo thỏa thuận liên kết xuất bản với Bank of America, N.A. Người dịch: Hồng Vân. Bối cảnh tiểu thuyết diễn ra vào mùa Giáng sinh năm 1930 ở Mỹ. Giới quý tộc ở Gibbsville đang say sưa trong tiệc tùng và khiêu vũ. Tâm điểm của nhóm quý tộc này là cặp vợ chồng trẻ, thành đạt Julian và Caroline English. Nhưng trong một giây phút bột phát vì say rượu và hoàn toàn không có lý do gì cả, Julian hắt nguyên một ly rượu vào mặt Harry Reilly giữa đám đông. Harry Reilly là nhân vật cộm cán trong giới quý tộc và là đối tác làm ăn rất quan trọng của anh. Hành động khiếm nhã này phá vỡ trật tự trong giới và dẫn Julian trượt dài theo con đường tự hủy hoại mình chỉ trong vòng 48 tiếng đồng hồ. Những ngày tiếp theo, Julian lại sa vào những chuyện vô bổ vì tính cách của anh đưa đẩy. Trong một lần uống say, Julian lại ngang nhiên rủ rê một phụ nữ khêu gợi đi cùng anh trên xe riêng trước mặt vợ và bạn bè. Không may cho anh đó lại là bạn gái của một tay xã hội đen. Hẹn gặp ở Samarra tái hiện một cách tài tình, sống động bi kịch cá nhân cũng như những mâu thuẫn cay đắng trong cuộc sống tỉnh lẻ vào nửa đầu thế kỷ 20. Với tác phẩm này, John O’Hara đạt đến đỉnh cao trong bút pháp hiện thực châm biếm của một nhà văn lớn và đó là lý do tác phẩm này luôn có mặt trong danh sách 100 tiểu thuyết hay nhất trong mọi thời đại. Nhà văn John O’Hara (1905-1970) là nhà văn xuất sắc của Mỹ. Ông nổi tiếng ngay từ tác phẩm đầu tay Hẹn gặp ở Samarra. Nhà văn này từng đoạt giải thưởng National Book Award với tiểu thuyết Ten North Frederick và là tác giả có nhiều truyện ngắn được đăng nhất trên tờ The New Yorker. Ông đã viết 14 tiểu thuyết cùng 400 truyện ngắn. Tờ New York Times nhận xét: "O’Hara chiếm giữ vị trí độc nhất trong nền văn học đương đại của Mỹ. Ông là nhà văn Mỹ duy nhất tái hiện xã hội Mỹ trong cái cách mà nó đã được thể hiện trong tác phẩm của Henry James về nước Mỹ, hay dưới ngòi bút của Proust về nước Pháp". Mời các bạn đón đọc Hẹn Gặp Ở Samarra của tác giả John O'Hara.
Torinoko City - Thành Phố Bị Bỏ Rơi
Tiểu thuyết “Torinoko City” được viết dựa trên nguyên tác nhạc phẩm vocaloid cùng tên của nhà sản xuất nhạc thiên tài 40mP, với chất giọng staccato Hatsune Miku, thể hiện cảm giác lẻ loi trong căng thẳng của các thiếu niên trên con đường trưởng thành. Đặc biệt, sách được tặng kèm 03 bookmark hình nhân vật và 01 postcard trong tất cả các cuốn. Ba cô gái cùng tên Asuka với ba tính cách, hoàn cảnh và nỗi khổ tâm khác nhau, vì cùng ngẫu nhiên tiếp xúc với trang web Torinoko City mà gặp nhau và cùng bước vào một chuyến phiêu lưu đầy lạ lùng để tìm về hiện thực, để đối diện với cảm xúc chân thật của bản thân mình. Câu chuyện dành cho những con người cô đơn trên con đường tìm kiếm lẽ sống của bản thân mình, để nhìn lại và biết rằng mình thực sự không hề cô độc. *** [REVIEW] TORINOKO - THÀNH PHỐ BỊ BỎ RƠI   Nếu bạn thích 1 thể loại nhạc nào đó nhưng trong lớp không ai giống bạn  Nếu bạn từng thấy lạc lõng giữa chốn bạn bè nhưng vẫn phải ra vẻ thích thú những câu chuyện mà mình đếch quan tâm  Nếu bạn từng phân vân không biết ước mơ, mục đích sống của mình là gì  Nếu bạn đang chịu áp lực học hành, mọi nỗ lực không mang lại kết quả hay bị người phía sau đuổi vượt  Bạn Muốn ở 1 mình...? Muốn có người chia sẻ...và nhiều điều khác bạn sẽ thấy có thể giống vs mình trong cuốn truyện này  Đây sẽ có thể là lựa chọn phù hợp vs bạn  Mình đã đọc và phải thốt lên rằng Ô sao Koide Asuka giống mình thế  Như là tìm được 1 sự đồng cảm trong những trang giấy, mình rất thích Torinoko City - Thành Phố Bị Bỏ Rơi  Cre: Thanh Xuân  *** “Chào mọi người”. Koide Asuka là một học sinh cấp ba cực kì bình thường. Mỗi ngày cô đều theo thói quen tới trường mà không thèm quan tâm gì tới mấy chuyện thích hay ghét đi học. “Asuka~, hôm qua cậu có coi phim đó không?”. Vừa vào lớp, tụi bạn chơi chung nhóm liền bắt chuyện với cô như mọi khi. Họ đang nói về bộ phim tình cảm ngọt ngào, bi lụy, hơi gay cấn, và có nam thần tượng đang là chủ đề bàn tán thủ vai chính. Thật ra, Asuka không hứng thú lắm với phim tình cảm, nhưng ngày nào cũng xem để tám chuyện với đám bạn xung quanh. “Coi rồi, coi rồi!”. Asuka giống như diễn viên, bắt đầu diễn vai “Nữ sinh trung học Koide Asuka”. Để hòa hợp với sự hưng phấn của tụi bạn, Asuka nói tới các tình tiết từ nội dung phim đã xem trước đó mà cô cho rằng sẽ nhận được sự đồng cảm của họ. Chẳng biết từ lúc nào mà tụi bạn chung nhóm đã tụ lại, càng lúc càng đông trong chốc lát nhờ bộ phim ngay trước giờ vào học. Mặc dù cô cảm thấy sai sai với tình cảnh này của mình, nhưng trong lòng mọi người chắc ai cũng thấy bình thường, thành ra ngày nào cũng như ngày nào. Tan học, cô đi karaoke cùng với nhóm bạn. Hôm nay là ngày trước kỳ thi nên câu lạc bộ được nghỉ sinh hoạt, cả nhóm có thể ra ngoài chơi. Mặc dù trong lòng Asuka nghĩ rằng đáng lẽ sắp tới kỳ thi thì phải về nhà ôn bài ngay chứ, nhưng nhóm bạn lại cư xử như thể đi chơi là chuyện tất nhiên. Nếu vậy thì nghỉ sinh hoạt câu lạc bộ để làm gì cơ chứ? Biết rằng nói ra sẽ làm tăng thêm kẻ thù nên cô chỉ nghĩ thầm chứ tuyệt đối không thốt ra lời. Tới quán karaoke, Asuka tiếp tục diễn vai nữ sinh bình thường ở đây. Là một nhóm toàn mấy đứa chạy theo trào lưu, tất cả liền nhào vào các bài hát của ca sĩ thần tượng nghe nói có thứ hạng cao, toàn mấy bài kích động hưng phấn. Cả đám đều đứng lên vừa nhảy vừa hát, dù thấy bầu không khí quái đản, Asuka cũng vừa nhảy vừa hát cho giống họ. Thật chả hứng với mấy bài dạng này… Chuyện này không thể nói với ai được. Asuka cũng rất thích hát và nghe nhạc. Gần đây cô hay nghe nhạc vocaloid. Tuy nhiên, cô đoán đám bạn sẽ chẳng thể hiểu về thể loại đó đâu. Mặc dù rất thích các xu hướng trên tạp chí hay tivi, nhưng họ lại đánh đồng tất cả những gì thịnh hành trên mạng với otaku, cô đã chứng kiến nhiều lần những tình huống đáng khinh, ngu ngốc, gây bực mình như thế rồi. Asuka hoàn toàn không có ý định nói ra chuyện mình thích nhạc vocaloid, và tất nhiên cũng không hát các ca khúc đó trong quán karaoke. Cô hát, nhảy, náo loạn theo nhóm bạn dù không thấy có gì thú vị. Asuka cho rằng như vậy mới là nữ sinh cấp ba. Bài hát chủ đề bộ phim bàn tán lúc sáng vừa nổi lên. Một đứa con gái từ tốn lấy micro và bắt đầu hát. Đương nhiên Asuka cũng hát được, nhưng cô chỉ yên lặng lắng nghe. Cô gái đang hát là fan bự của nhân vật chính phim đó. Mọi người trong nhóm đều ngầm hiểu bài hát này là của cô ta. Cả nhóm khen ngợi sau khi cô bạn hát xong. “Hay quá ~!”. “Giọng cậu trong thật đó~”. Nếu là nịnh nọt giả dối thì cỡ nào cũng bay ra khỏi miệng được. Thật lòng, mình muốn về nhà nghỉ ngơi hơn là làm mấy việc vô vị thế này. Ở nhà mình sẽ ngồi trước máy tính, vừa kết thêm bạn bè trên mạng qua Twitter, vừa dạo quanh trang Video ca nhạc. Trong lúc Asuka đang nghĩ vậy thì buổi karaoke kết thúc, cả nhóm rộn lên định đi cà phê. Muốn về nhà quá! Không thể nói câu đó được. Lúc Asuka đang phiền não thì có khoảng nửa thành viên trong nhóm đòi về, nên cô liền nhập hội phe về nhà. Chia tay với phe cà phê rồi đi chung phe về nhà tới nhà ga. “Aa! Vui thật!”. Có ai đó lẩm bẩm ra vẻ vui lắm, rồi cuộc trò chuyện về buổi karaoke ấy mau chóng nổ ra. “Nhưng mà này……”. Lúc mấy chuyện vui sắp kết thúc thì lại có ai đó phàn nàn về một đứa bên phe cà phê. Bắt đầu rồi. Đại hội kể xấu. Asuka cực ghét mấy chuyện thế này. Thế nhưng, cô cho rằng mấy đứa nói xấu chỉ là xả stress cho chính mình thôi, họ nói ra miệng sự bất mãn như vậy để giảm bớt căng thẳng. Và có lẽ bên phe đi cà phê cũng đang mở đại hội kể xấu phe này y vậy. Chuyện như cơm bữa mà. Asuka nghĩ để diễn vai nữ sinh trung học, thì chuyện này là không thể tránh khỏi. Cô vừa gật đầu đồng ý vô thưởng vô phạt, vừa trả lời cầm chừng. “Bái bai nha!”. Chia tay với đám bạn đi xe điện khác, cô lên xe cùng với đứa bạn duy nhất học cùng cô từ hồi cấp hai - Kajita Sayuki. Sayuki là kiểu người điềm đạm, mặc dù không biết rõ cô bạn đang nghĩ gì nhưng cô có ấn tượng cô ấy không hại ai cả. “Asuka, cậu hát hay lắm”. Sayuki bắt chuyện như đang nhớ lại buổi karaoke. Bản thân Asuka có tự tin với hát hò, tới mức cô đã tính lúc nào đó tự hát rồi đăng video lên mạng. Vậy nên cô tự nhiên thấy vui khi được khen hát hay. “Cảm ơn cậu. Sayuki đúng là cô bé luôn tử tế mà”. Tự nhiên Asuka lại phát ngôn như người bề trên, nhưng Sayuki ngượng ngùng, vui vẻ chấp nhận một cách ngoan ngoãn. Cô thấy Sayuki thế này thật dễ thương. Sayuki được rất nhiều nam sinh hâm mộ mặc dù trong trường không hề nổi bật. Có lẽ cô ấy tạo cảm giác khiến cho người khác muốn bảo vệ chăng? “Sayuki có gì phiền não không?” Asuka đột nhiên hỏi. Vì Sayuki trông có vẻ rất hạnh phúc. “Phiền não? Chắc là kỳ thi từ tuần sau”. Cô ấy vừa nói vậy vừa lấy sách tiếng Anh ra. Sayuki học yếu môn tiếng Anh. Nên chắc thi tiếng Anh là đau khổ với cô ấy. Sao thấy phiền não của cô ấy vụn vặt thế, ra vẻ đáng ghét một chút rồi đó. “Vậy à?”. Vừa tự hỏi vừa tự trả lời không chút hứng thú, rồi Asuka cũng lấy sách ra. Cô giả vờ như đang ôn bài và thở dài. Cũng không phải Asaka đang phiền não điều gì. Chỉ là, cô có cảm giác mãnh liệt rằng bản thân diễn vai nữ sinh cấp ba quá khác với bản thân thật sự của mình. Bởi vậy, bạn bè ở trường không phải là bạn thật sự. Cô không hề nói chuyện thật tâm, cũng không hề cảm nhận được đó là nơi thuộc về mình. Nói vậy cũng không có nghĩa là cô thân thiết với gia đình. Bố thì bận rộn, không mấy khi ở nhà. Mẹ làm y tá, đi ca đêm suốt. Chị gái điềm đạm đang học cao đẳng, mục tiêu thành giáo viên mẫu giáo, chị Minori. Dù lâu lâu cả gia đình ra ngoài ăn cơm, nhưng vì cả bố và mẹ đều bận rộn, nên hầu như chưa từng đi đâu du lịch cùng nhau cả. “Đâu mới là nơi mình thuộc về?…”. Asuka lẩm bẩm thật nhỏ giọng để Sayuki bên cạnh không thể nghe được. “Hả? Cậu nói gì?”. Sayuki thiệt tình hỏi lại. “Không có gì đâu”. Asuka trưng ra vẻ mặt như không có chuyện gì, mở sách ra. Về đến nhà, như mọi khi, cả bố và mẹ đều không ở nhà. Thêm nữa, hình như nay chị đi làm thêm nên vắng nhà luôn. Cô biết rằng phải học bài cho tuần sau thi. Tuy nhiên, hễ không có ánh mắt giám sát thì khó mà tự ép mình vào khuôn khổ được. Asuka không thay đồ mà ngồi ngay vào máy tính, mở trang video ca nhạc vẫn thường xem lên. Video của 40mP mà cô yêu thích đã lọt vào bảng xếp hạng rồi. Torinoko city. Cô lật đật bấm play video. Âm thanh tinh tinh tinh như tiếng đàn mộc cầm vang lên, chỉ với đoạn dạo đầu thôi mà Asuka thấy cả tâm hồn bị cuốn vào bài hát. – Nơi nào đó chỉ có mình tôi bị bỏ lại Một thế giới không âm thanh, một thế giới nhân tạo – Lời bài hát vang ầm ầm trong đầu cô. “Là mình…”. Bỗng nhiên cô lẩm bẩm ra tiếng. Nơi thuộc về mình là đâu? Rốt cuộc mình là ai? Đối với Asuka ngày nào cũng nghĩ đến điều đó thì không thể không nghĩ rằng bài hát này giống như đang hát về mình vậy. Cô liền mở Twitter lên. Tên tài khoản trên mạng là Toriko. Cô dùng Tori trong Asuka, Ko trong Koide, lấy Toriko làm tên*. Asuka tweet ngay. “Torinoko city của 40mP, hết sẩy…”. Bạn trên Twitter trả lời* lại liền. “Mộc cầm hả? Những ầm thanh giống thế nghe hay ha!”. Bạn bè trả lời tới tấp, cô vừa nói chuyện với bạn vừa suy nghĩ. Đương nhiên là cô cũng thích nhạc bài hát này. Thế nhưng, trên hết, lời bài hát mới là thứ vang dội mạnh mẽ trong trái tim Asuka. Cô không thể truyền đạt hết điều ấy cho bạn bè trên này được. Ở nơi này, Asuka cũng gặm nhấm nỗi cô độc không ai hiểu được bản thân mình. “Lời bài hát này, giống như nói về tôi vậy…”. Asuka vừa tweet lên là có hồi âm liền. “Xin lỗi vì tôi không phải người theo dõi bạn. Mình đâu thể cho bất cứ ai thấy bản thân thật sự được, đúng không?”. Là một người lạ. Icon là lá phong rất đẹp. Tên viết là maple. Asuka ấn nút reply lại ngay. “Tự dưng tôi thấy dường như chỉ mình mình bị bỏ rơi…”. Cô ấn nút reply một cách mạnh bạo. Asuka thấp thỏm trong lúc chờ maple trả lời lại. Lẽ nào là người có thể đồng cảm với mình. Vì lần đầu tiên bộc lộ bản chất thật với người khác, nên cô bất an không biết người ta có chấp nhận không. Ping. Lát sau, âm thanh thông báo có hồi âm vang lên. Cô vội refresh màn hình Twitter. “Lời bài hát Torinoko city khiến cho tôi phải suy nghĩ rất nhiều… dù chỉ 100 từ mà tôi không hiểu được lý do mình sống là gì. Tôi cứ không ngừng suy nghĩ rằng phải chăng là không có ai cần tới mình nữa”. Khoảnh khắc đọc câu trả lời đó, Asuka cảm thấy như đã gặp được thêm một chính mình nữa. Cô liền theo dõi maple, rồi gửi hồi âm. “Mình xin theo dõi bạn! Mình rất đồng cảm với câu trả lời. Hãy làm bạn với nhau nhé!”. Tay cô run run do hồi hộp. Đột nhiên làm thân vậy có bị ghét không ta? Lỡ bị chặn luôn thì làm sao. Cô toàn nghĩ tới những chuyện tiêu cực, nhưng lập tức có âm thanh thông báo được theo dõi lại. Ting. Chắc là maple trả lời. Asuka hơi phấn khích refresh màn hình Twitter. Cứ thế, từ ngày nói chuyện qua lại với nhau lần đầu tiên, Asuka và maple thành bạn thân trong nháy mắt. Hai người gọi nhau là “Toriko” và “Mei*”, kể cho nhau những suy nghĩ hằng ngày trên Twitter. Hình như maple là nam sinh cấp ba. Có điều Asuka cảm thấy cậu ấy thân quen tới mức không nghĩ cậu ấy thuộc dạng người giống với tụi nam sinh cùng tuổi khác. Hằng ngày cuộc sống trường học cứ bình bình, về nhà rồi vừa nói chuyện với maple trên Twitter, vừa xem video đã thành việc thường ngày của Asuka. Và, trái với việc quen được một người bạn có thể nói chuyện thực lòng, việc học ở trường lại dần dần trở nên khổ ải. Ở trường thì đóng vai Koide Asuka, ở nhà thì đóng vai Asuka, dù chỉ qua Twitter thôi nhưng khi để ý thì cô không ngừng nghĩ rằng phải chăng chỉ có Asuka diễn nhân vật Toriko giao tiếp với maple mới là chính mình thật sự. “Mei có ghét trường học không? Tớ khổ sở do không có người nào hiểu được con người thật của mình đó…”. Asuka nhiều lần than thở mấy câu yếu đuối với maple. “Tớ cũng thấy phải tạo ra một tớ khác ở trường đó. Tớ chỉ nói chuyện thực lòng được với mình Toriko thôi đấy”. Một câu thế thôi của maple đã khiến cô vui mừng khó tả. Mỗi lần chuông thông báo có tin hồi âm mới của Twitter vang lên là trống ngực Asuka đập rộn ràng. Một ngày nọ, bố và mẹ mặt mày nghiêm trọng, ngồi đối diện nhau trên bàn ăn cơm. “Bé Mi, bé A, lại đây chút được không?”. Mẹ cùng lúc gọi chị Minori và Asuka. Cho tới giờ Asuka vẫn chán ghét cách gọi bằng cái tên âu yếm này, nhưng cô vẫn ngồi xuống mặc cho mẹ gọi như vậy. Cả nhà im lặng một lúc. Nhìn bố có vẻ sưng sỉa sao đó, còn mẹ trông có vẻ đau khổ. “Mẹ, mẹ sao vậy?”. Minori lên tiếng. Xem xét bầu không khí bất ổn thì dĩ nhiên cô phải lo lắng cho mẹ rồi. “Ừm… thật ra là…”. Mẹ thông báo một chuyện động trời. “Bố tụi con, có người khác”. Một câu thôi, khiến cho cả Minori lẫn Asuka đều bất động như đóng băng. Không thốt ra được lời nào. Người khác?? Đã gần năm mươi tuổi rồi mà có người khác sao?… Asuka chuyển ánh mắt sang nhìn bố, bố vẫn tỏ vẻ bất cần thường trực. “Bố tụi con, hình như đã có người khác từ lâu, nhưng giờ người đó đã có em bé rồi”. Cô không nghe ra trong giọng mẹ có chút tình cảm nào. Mẹ nói chuyện giống như kể chuyện của người khác vậy, Asuka hoang mang bởi lời nói không truyền tải sự tức giận hay nỗi đau buồn nào của mẹ. “Hả, khoan đã. Bố, chuyện là sao!”. Bất giác Asuka hung hăng nói. Minori vẫn cúi đầu. Mẹ chặn Asuka lại, thở ra và nói. “Bố mẹ tính ly hôn”. Vai của Minori run run. Chắc chị đang khóc? Asuka đứng dậy, hét lên. “Bố! Bố lăng nhăng sao? Bố ngoại tình sao? Người ta đã có có bầu rồi sao… Phải vậy không!?”. Asuka tức điên lên, tay đập mạnh xuống bàn phát ra một tiếng rầm thật lớn. “Asuka, bình tĩnh đi con…”. Mẹ khuyên, nhưng cô lại thấy tức giận với cả bộ dạng đó của mẹ. “Sao mẹ lại bình tĩnh như không vậy? Gia đình mình sắp tan nát đó? Bố đã phản bội cả gia đình đó? Mẹ, vậy cũng được hả!?”. Lời nói bạt mạng tuôn ra phó mặc cho cơn nóng giận. Mẹ chạm vào người Asuka, nói. “Phải. Nhưng mẹ đã nhận ra chuyện này từ lâu rồi, mẹ chỉ giả bộ không thấy thôi. Tại mẹ muốn gia đình bốn người mình sống cùng nhau, vì bé Mi và bé A”. Mẹ nói tiếp. “Nhưng mà. Giờ người ta đã có em bé rồi, đâu còn cách nào khác nữa? Mẹ không thể ngó lơ giết chết một sinh mệnh mới hình thành được”. Asuka hiểu những gì mẹ nói, nhưng quả thật cô không thể chịu đựng được sự vô lý đó. “Bố! Bố thấy người đó quan trọng hơn tụi con sao? Đúng không!”. Asuka đứng bên cạnh, lắc người ông. Biểu cảm của ông vẫn không thay đổi, cứ im lặng suốt nãy giờ. Asuka tiếp tục chỉ trích một lúc nữa, nhưng cả bố và mẹ đều không nói gì thêm. “Tồi tệ… Con ghét cả bố và mẹ!”. Asuka nói vậy rồi giam mình trong phòng. Cô có thể nghe tiếng khóc của Minori, tiếng mẹ an ủi chị. Asuka tức tối không chịu được, ném liên tục máy cuốn tạp chí trong phòng ra cửa. Và, mấy ngày sau căn nhà chẳng khác gì chiến trường. Do bố bận rộn công việc thường không ở nhà nên cô ít giáp mặt ông, nhưng việc người bố máu mủ làm chuyện trái luân thường đạo lý, thậm chí còn có con, rồi vứt bỏ gia đình để kết hôn với nhân tình, đối với Asuka tất cả đều là việc làm bẩn thỉu. Không thể chấp nhận ở chung với bố dưới một mái nhà được. Dường như bố mẹ đang tranh cãi gì đó trong chuyện ly hôn. Tiền bồi thường… Tiền cấp dưỡng… Phân chia tài sản… Ngày nào ở trong phòng, cô cũng bịt tai lại vậy mà vẫn nghe được mấy từ đó. Đối với Asuka, chúng chẳng khác gì địa ngục. “Kịch như thế này là đủ rồi đó…”. Asuka nghe nhạc hằng ngày để làm mình phân tâm. Thật ra cô muốn chơi máy tính, nhưng do bố mẹ ở phòng khách - nơi có máy tính, nên dù có muốn cũng không thể được. Cốc cốc cốc. Có tiếng gõ cửa phòng. Asuka không trả lời, Minori liền lên tiếng. “Asuka… chị vào được không?”. Asuka lững thững đứng dậy, mở cửa. Tiếng của bố mẹ văng vẳng sau lưng Minori. Không hẳn là họ la lối nhau, nhưng cũng không phải trò chuyện vui vẻ, nên ngay khi Minori bước vào phòng là Asuka đóng cửa ngay lập tức. “Gì?”. Asuka nói cộc lốc. Cô cũng không định giận cá chém thớt lên Minori, tuy nhiên dù thế nào thì cô cũng không thể nói chuyện bình thường được. “Asuka… Nếu bố mẹ ly hôn, em sẽ ở với ai?”. Đột nhiên Asuka nhận thức rõ hiện thực bởi câu hỏi của Minori, phút chốc trước mắt cô tối sầm. Đúng rồi. Cả nhà không thể ở chung với nhau như thế này được nữa. Bố mẹ ly hôn tức là bắt đầu cuộc sống mới. “Em chưa nghĩ tới… Chị thì sao?”. Asuka hỏi thử Minori vậy thôi, chứ vốn cô đã ra quyết định rồi, vì cô không thể gạt bỏ cảm giác chán ghét với bố, nằm mơ cũng không có chuyện sống chung với bố hay bà nhân tình kia. “Chắc là ở với mẹ. Nếu được ở chung với Asuka luôn thì tốt quá”. Minori luôn luôn hiền lành. Asuka chỉ biết lo bản thân đau khổ thôi, còn Minori lại lo nghĩ cho cả mẹ và Asuka luôn. “Ừ. Em cũng muốn ở cùng với mẹ và chị”. Asuka ngoan ngoãn đáp. Sau đó Asuka với chị bàn bạc về chuyện tương lai một hồi lâu. Cô nghe từ Minori cả mấy chuyện chưa biết tới do bịt tai suốt từ đó tới giờ. Nghe nói ông ngoại tình gần ba năm nay rồi. Tính ra là từ hồi Asuka học cấp hai. Hai đứa con gái bước vào tuổi dậy thì, dần dần rời xa người bố. Mẹ làm y tá, kiếm tiền nhiều hơn bố làm nhân viên văn phòng, có vẻ như bố ôm ấp mặc cảm thấp kém hơn so với mẹ. Đúng lúc đó, ông đã say nắng người phụ nữ nhỏ hơn những mười tám tuổi làm cùng công ty. “Nhỏ hơn mười tám tuổi.”. Asuka thất kinh. Tuổi bà đó không chênh với tuổi Minori là mấy, nói gì tới tuổi bố. “Kinh thật…”. Asuka nói thẳng. Minori nhăn nhó mặt mày. Mặc dù người chị hiền lành tuyệt đối sẽ không nói ra miệng, nhưng chắc chắn trong lòng chị cũng cảm nhận giống Asuka. “Tụi mình chắc sẽ dọn ra khỏi nhà này”. Asuka lẩm bẩm, Minori khẽ gật đầu. “Mẹ đã nói là định dọn nhà đó. Mẹ đang tìm căn hộ trong khu vực Asuka có thể đi học ở trường hiện tại…”. Thông tin của Minori đã dồn Asuka vào thế buộc phải chấp nhận hiện thực đáng ghét này. “Chào các cậu…”. Asuka vui tươi bước vào lớp. Một ngày như mọi ngày lại bắt đầu. Cô nhập vai Koide Asuka - nữ sinh cấp ba. Dẫu trong nhà đang có nguy cơ gia đình ly tán do chuyện ngoại tình của bố, nhưng cô không để ai khác trong trường biết chuyện đó, một chút cũng không. “Này, cái phim hôm qua á…”. Tụi bạn cùng nhóm bắt đầu tụ lại bàn về phim. Asuka thường ngày vẫn luôn xem, nhưng mấy ngày này cô không thể ở phòng khách được nên cũng không xem tivi. Do không biết gì nên cô chuyên tâm giữ vai trò thính giả im lặng. Xung quanh đang hưng phấn bởi cảnh tình yêu nóng bỏng của bộ phim, cô ngồi nghe mà chẳng khác gì tra tấn. “Asuka nè, cậu có nghe không?”. Asuka đang bực mình bởi những chuyện nhạt thếch đó, nên cô hằn học trả lời khi có người hỏi. “Xin lỗi, tớ không xem nên không biết”. Nói rồi liền đi về chỗ ngồi. Asuka vẫn nghe được tiếng thì thầm bàn tán chuyện gì đó của nhóm bạn ở sau lưng. Chắc là đang nói xấu cô rồi. Trước giờ cô luôn lo sợ việc đó, nhưng hôm nay không hứng thú quan tâm nữa. Không ai biết được bản chất thật sự của mình. Chỉ có mỗi suy nghĩ đó càng lúc càng hằn sâu trong đầu. Lâu rồi mới không có ai ở nhà lúc Asuka về. Theo như Minori nói, bố mẹ đã quyết định chính thức ly dị, mẹ đang tìm nhà mới. Hình như Minori cũng không biết gì về bố hết. Có lẽ ông sắp sửa dọn ra khỏi nhà rồi. Trong căn phòng mờ tối vắng lặng, Asuka không bật đèn mà tới ngồi trước máy tính. Tinh. Máy tính khởi động, ánh sáng hắt vào Asuka. Vừa đăng nhập vào Twitter, cô thấy một loạt tin nhắn. “Toriko, sao vậy?”. “Cậu khỏe không?”. Kể từ ngày phát hiện chuyện bố ngoại tình, lâu rồi cô không lên Twitter, nên mọi người nhắn tin hỏi thăm. “A, lâu quá mới twitter lại!”. Asuka tweet lên, nhiều bạn bè trả lời lại liền. “Toriko! Sống lại rồi à! Mừng quá!”. “Ầy, lâu quá!”. Nhất quyết phải trả lời lại những giọng điệu vui vẻ kia mới được. Ting. Chuông lại báo có hồi âm mới. Cô kiểm tra ngay lập tức, là từ maple. “Toriko! Tớ lo lắm đó! Cậu khỏe không?” Câu văn không khác gì với những người khác, vậy mà Asuka lại đặc biệt vui vẻ. “Mei! Tớ vẫn khỏe. Tại có nhiều chuyện khó khăn thôi!”. Cô mới trả lời xong thì vang lên âm thanh thông báo khác với mọi khi. Một tin nhắn DM* được gửi tới. Cô vội mở ra thì thấy là maple gửi. “Cậu có chuyện gì à? Không sao chứ? Nếu khó nói trên dòng thời gian, thì hãy gửi DM cho tớ nhé?”. Asuka ngỡ ngàng. Cô dự định cư xử một cách bình thường trên Twitter. Do Asuka tweet với mức độ như mọi khi, nên các bạn khác xem ra có vẻ an tâm rồi. Dù bị truy hỏi sâu hơn cũng khó mà trả lời, cái cảm xúc méo mó ‘không ai hiểu được mình hết’ luôn đeo bám dai dẳng một cách xấu xí trong tim cô. Chính vì thế, tin nhắn DM của maple làm cô thấy dường như tư tưởng đó của mình đã bị cậu nhìn thấu, tâm trạng bỗng phức tạp vừa vui vừa sợ. Asuka đột nhiên suy tư, truy cập trang video ca nhạc rồi mở bài Torinoko city lên. Nhạc dạo vui tai bắt đầu vang lên. Asuka thẫn thờ xem video mà không nghĩ gì cả cho tới khi bài hát kết thúc. – Điểm giao nhau giữa lừa dối và sự thực. Cảm giác bế tắc tưởng như bóp nghẹt hơi thở. Tại sao tôi lại sống? Hãy cho tôi biết trong vòng 100 từ – Ca từ bóp nghẹt trái tim Asuka. Đúng lúc này đây cô muốn hỏi ai đó để xác thực ý nghĩa cuộc sống của mình. Mình sẽ nói với maple. Chẳng biết sao Asuka nghĩ vậy. Cồ liền gửi tin DM cho cậu. Chuyện bố mẹ ly hôn. Chuyện cô không thể cho bạn bè trong trường thấy bản thân thật sự của mình. Có một bản thân khác luôn coi thường tụi bạn ngốc nghếch. Chuyện cô luôn cảm thấy tách biệt với mọi người. Và chính cô cũng không hiểu rõ bản thân mình luôn. Asuka gửi tin DM làm bốn lần. Maple có hiểu nỗi lòng của mình không nhỉ? Dù hơi bất an nhưng Asuka có tự tin lạ lùng chắc chắn maple sẽ chấp nhận cô. Thời gian lặng lẽ trôi qua. Asuka nhắm mắt, nhẩm đi nhẩm lại lời bài hát Torinoko City trong đầu. Tâm hồn bình tĩnh một cách kì lạ. Ting. Chuông báo có DM mới. Là maple hồi âm lại. Cô chầm chậm mở mắt, hít sâu. Tay cầm chuột hơi run. Là sợ…sao? Asuka mở tin nhắn, những từ ngữ đồng cảm và khích lệ từ maple nhảy ra. “Vậy à? Khổ cho cậu rồi. Từ giờ về sau cậu tính sao? Có ổn không? Tớ cũng đóng giả bản thân khi ở trường. Toriko cũng vậy nhỉ?…”. Cô tiếp tục đọc, thấy maple thổ lộ cả cảm xúc trong việc học ở trường. Chuyện có thêm một bản thân khác đang nhìn chính mình đùa giỡn với bạn bè bằng con mắt lạnh lùng. Dù gặp khó khăn cũng không thể kể với bạn bè. Nói thật lòng có gì đó thật xấu hổ. Nhưng nhờ có đam mê với một việc, nên cậu đang âm thầm nỗ lực để đạt được nó. Asuka vừa đọc tin nhắn của maple, vừa gật gật đầu. Cô đọc đi đọc lại nhiều lần như để sưởi ấm tận nơi sâu thẳm dưới đáy con tim. Cứ thế, hai đứa nhắn tin trực tiếp qua lại với nhau một hồi, theo đề nghị của maple cô quyết định tạo tài khoản riêng tư khác với tài khoản Twitter hiện tại. Không theo dõi, không tương tác với ai hết. Chỉ hai đứa theo dõi nhau thôi, tạo ra một nơi có thể để lộ bản tính thật sự của mình. Asuka rất vui. Có người hiểu được mình rồi. Tâm trạng như thể đã tìm được nơi trú ẩn vậy. – Nơi nào đó chỉ mình tôi bị bỏ lại Một thế giới không sắc màu một thế giới trong mơ Có thể vứt bỏ vết thương lòng Một mình không thể làm được Tôi muốn bạn ở bên tôi – Mời các bạn đón đọc Torinoko City - Thành Phố Bị Bỏ Rơi của tác giả Shano & Hồng Trần (dịch).
Những Đứa Trẻ Đuổi Theo Tinh Tú
Đuổi theo tinh tú… Cũng không khác gì hái sao trên trời, ngụ ý những ước mơ không thể chạm tới. Biết không chạm tới mà vẫn mải miết theo đuổi, là hành động thường chỉ bắt gặp ở tâm hồn không chịu tuyệt vọng như trẻ thơ. Người ngoài nhìn vào thấy rất ngẩn ngơ, nhưng ấm lạnh ra sao chỉ người trong cuộc biết. Giống như người đàn ông vợ chết, cả quãng đời còn lại chỉ ráo riết tìm đường xuống địa ngục phục sinh nàng… Giống như cô bé vì chút tình mới chớm với một anh chàng, mà nồng nhiệt băng mình vào hành trình không thấy ngày mai dưới lòng đất… Bởi nếu không buông bỏ nhịp sống an toàn dù chỉ chốc lát, để đuổi theo những ước mơ dù vô vọng nhất và đối mặt với cảm xúc của mình ở chặng cuối hành trình, thì cuộc đời họ cũng không còn ý nghĩa gì nữa. Tiếp tục đề tài chia ly, nhưng không đẩy nhân vật lên trời cao như Tiếng gọi từ vì sao xa hay trải ra trên trần như 5 centimet trên giây, lần này câu chuyện của Shinkai Makoto lại dắt tất cả xuống lòng đất, sang thế giới đang mai một bên kia… *** Những đứa trẻ đuổi theo tinh tú hay câu chuyện về những con người tìm về một giấc mơ Trong quá khứ, đã từng có một Shinkai Makoto dịu dàng, dung dị và tối giản vô cùng vô tận ở những bộ phim, câu chuyện ngắn như Kanojo to kanojo no neko – Nàng và con mèo của nàng. Nhưng hiện tại, lại có một Shinkai Makoto khiến người ta đắm say với các thước phim tráng lệ như một bữa tiệc của tình tiết hòa quyện với đồ họa, âm thanh. Tuy nhiên, dù giản dị hay tráng lệ, dù hiện thực hay hư ảo, điều cuối cùng điều Shinkai Makoto hướng đến vẫn là tái hiện những cảm thức rất riêng của con người, xã hội Nhật Bản thời hiện đại. Và Những đứa trẻ đuổi theo tinh tú, bộ phim được công chiếu vào năm 2011, một trong các tác phẩm có thời lượng dài nhất của Shinkai cho tới hiện tại, cũng không nằm ngoài tư duy nghệ thuật ấy. Để từ đó, tiểu thuyết cùng tên được Akisaka Asahi chắp bút chuyển thể từ ngôn ngữ điện ảnh sang ngôn ngữ văn chương đã phần nào lưu giữ, tái hiện được trọn vẹn “chất Shinkai Makoto”. Những đứa trẻ đuổi theo tinh tú review sách Một áng văn đẹp tựa cổ tích Những đứa trẻ đuổi theo tinh tú, cuốn sách nhỏ chưa đầy 200 trang có một tựa đề đầy thơ mộng, rất gợi, rất thơ, đủ mang tới cho độc giả nhiều suy tư cùng liên tưởng. Tại sao lại là “những đứa trẻ”? “Những đứa trẻ” ở đây là chỉ những đối tượng nào? “Tinh tú” là gì? Là một ngôi sao cụ thể hay là hình ảnh mang ý nghĩa biể tượng nào đó. Và những đứa trẻ kia, vì lý do gì lại phải đuổi theo tinh tú, hành trình ấy sẽ diễn ra như thế nào, có thật thuận lợi, kết quả chúng có thể hoàn thành được tâm nguyện của mình? Quả thực, từ một tiêu đề đầy tính gợi hình, gợi tả, Shinkai Makoto đã mở ra cả một không gian truyện tựa như cổ tích. Ngay chính trong lòng đất nước Nhật Bản thời hiện đại, có một mảnh đất tựa rêu phong phủ kín: Mizonofuchi. Mảnh đất ấy, lại ở ngay phía trên một thế giới dưới lòng đất đang mỗi lúc một suy tàn: Agartha. Cho nên, Những đứa trẻ đuổi theo tinh tú, câu chuyện đấy cứ bảng lảng như thực như hư trong những lời kể, trong những dòng không gian xáo trộn, trong những dòng tâm trạng hay những kí ức, suy tưởng vụn vỡ của con người. Không gian sáng tác tựa như cổ tích, dòng thời gian chảy trôi của các tình tiết cũng như một câu chuyện huyền thoại được viết bằng bút pháp hiện đại. Bởi thời gian ở Những đứa trẻ đuổi theo tinh tú là một dòng thời lưu có nhiều xáo trộn, đan xen giữa hiện thực – quá khứ; vừa là sự tỉnh lược trong những lời trần thuật, vừa là sự kéo dài mỗi khoảnh khắc, mỗi đêm khó khăn, vất vả của cuộc trình giữa hai thầy trò Asuna – Morisaki. Từ đó, mà cốt truyện dần thành hình và độc giả, không chỉ hiểu về nội dung mà còn hiểu sâu về tư tưởng, tình cảm người viết gửi gắm vào tác phẩm, ngay từ các con chữ đầu tiên, xuất hiện trên tựa đề. Nhật Bản những năm đầu thế kỷ XXI, một thị trấn như bị lãng quên, dòng thời gian như ngưng đọng, nơi đấy, có một cô bé 11 tuổi tên Asuna, dịu dàng, tốt bụng nhưng luôn rụt rè, nhút nhát. Hàng ngày, sau khi tan học, Asuna đều đến mỏm đá cao nơi bìa rừng để bắt sóng cho chiếc radio tinh thể. Tại đây, ngày nọ, Asuna gặp gỡ một cậu bé tên Shun, cư dân của vùng đất dưới lòng đất Agartha. Tình bạn chớm nở giữa hai đứa trẻ và Shun đã cứu Asuna thoát khỏi nanh vuốt một con quái vật. Tuy nhiên, lần đầu gặp gỡ cũng là lần cuối chia tay, Shun chết ngay sau đêm ấy. Và trong buổi học sau đó, Asuna lại được nghe thầy giáo Morisaki nhắc tới mảnh đất Agartha, nơi có thể hồi sinh được người chết. Rồi như định mệnh, Asuna gặp gỡ em trai Shun – Shin, người đến mặt đất lấy lại viên tinh thể Shun để lại. Cô bé, vì quá đỗi kinh ngạc trước sự giống nhau giữa Shin – Shun và nhất là với khao khát cứu sống lại người bạn quá cố, đã cố gắng theo chân cậu bé tới mảnh đất xa lạ kia. Giữa đường, họ gặp cuộc tập kích của những kẻ cũng ôm ấp mưu đồ tới Agartha, trong đó có thầy Morisaki, người đang mang tâm nguyện hồi sinh vợ. Ba con người, mang ba nỗi niềm, tiến đến Agartha, miền đất trong truyền thuyết, nơi lưu dấu những tri thức cổ xưa, nơi cất giữ những bí ẩn cổ đại nhất của nhân loại, nơi ẩn chứa những sức mạnh nằm ngoài tầm với, sự hiểu biết của con người. Và cũng như rất nhiều câu chuyện cổ tích khác, Những đứa trẻ đuổi theo tinh tú, từ mảnh đất của truyền thuyết, với những huyền thoại được thêu dệt, mà con người gửi gắm vào đấy ước mơ, hi vọng. Ước mơ hồi sinh người đã mất, ước mơ được gặp người quá cố, ước mơ tìm về một phần ký ức đã xa, ước mơ được sống những giây phút chẳng còn cô đơn, phiền muộn. “Tinh tú”, vì thế, đâu chỉ tượng trưng cho bầu trời đêm lấp lánh ánh sao trong lần đầu Asuna và Shun gặp gỡ. Đó còn là biểu tượng cho những giấc mơ đẹp, có phần xa xôi nhưng người ta vẫn mãi kiếm tìm, mãi đuổi theo, mãi vươn đến. Bởi, còn đuổi theo tinh tú, con người còn mục đích để tiếp tục sống, tiếp tục hướng đến ngày mai. Những đứa trẻ đuổi theo tinh tú review Câu chuyện cổ tích, nhưng cũng là câu chuyện của thực tại Những đứa trẻ đuổi theo tinh tú, câu chuyện đẹp tựa giấc mơ cổ tích ấy như gieo vào lòng người đọc những xúc cảm rất thơ, rất mộng của một thời thơ bé ta vẫn từng mơ: xứ sở dưới lòng đất, nơi biến khát vọng con người thành hiện thực, những loài sinh vật chỉ là tưởng tượng hay các cuộc phiêu lưu căng thẳng, kịch tính. Nhưng khi tỉnh dậy từ trong giấc mộng được Shinkai Makoto cùng Akisaka Asahi chắp cánh, hẳn mỗi độc giả, mỗi chúng ta, đều nhận ra rằng: Những đứa trẻ đuổi theo tinh tú, tưởng như cổ tích mà lại là câu chuyện hết sức đời thường, đời thường đến nỗi quá đỗi dung dị. Như đã nói, những tác phẩm của Shinkai Makoto, dù trước kia hay bây giờ, dù hiện thực hay hư ảo, đều chuyên chở ở đó những tầm sâu văn hóa và tâm thức rất riêng của con người Nhật Bản thời hiện đại. Và Những đứa trẻ đuổi theo tinh tú cũng không nằm ngoài tư duy nghệ thuật ấy Shinkai. Dẫu rằng phần lớn dung lượng cuốn sách nhắc đến Agartha, một địa danh không có thực; nhưng không vì thế mà bóng hình Nhật Bản với vẻ đẹp cổ kính, trang nghiêm trong cảnh sắc thiên nhiên, trong những dấu tích văn hóa, sinh hoạt đời thường của con người trở nên phai nhạt. Quê hương cô bé Asuna sinh sống, thị trấn Mizonofuchi, nơi có trường tiểu học Mizonofuchi như ngưng đọng lại những trầm tích thời gian, lịch sử của một nước Nhật giàu truyền thống. “Ngôi trường bằng gỗ được dựng từ đầu thời Chiêu Hòa, cổ kính, đượm màu thời gian”. Và chính cái tên Mizonofuchi – nghĩa đen tức đáy sâu cũng như gói ở đó bao lắng đọng của cả vật chất lẫn tinh thần của mỗi bước chuyển thời gian ở xứ sở này. Ngọn núi ở Obuchi, mũi đất cô bé Asuna vẫn thường đến để thu bắt tín hiệu cho chiếc radio tinh thể có ý nghĩa biểu tượng như chiếc cổng Tori trong văn hóa Nhật Bản: nối liền hai không gian, gắn kết những chiều thời gian để mở ra hai thế giới vẫn luôn song song tồn tại. Và ngay chính vùng đất truyền thuyết Agartha, cũng mang dáng dấp một Nhật Bản cổ xưa, với những nét đẹp truyền thống, những tri thức cổ đang dần đến bờ vực mai một, thất truyền giữa dòng xoáy của thời gian, của lòng người. Những đứa trẻ đuổi theo tinh tú Trong một câu chuyện gợi nhiều liên tưởng tới không gian văn hóa đặc trưng của xứ sở mặt trời mọc, thì nhân vật hiện lên, cũng mang nét riêng. Đó là những con người hiện đại đều cùng chung tâm thức giữa cuộc khủng hoảng căn cước: cô đơn vô định giữa cuộc đời, mãi kiếm tìm cái tôi bản ngã hay một lẽ sống, tồn tại trong cuộc sống hay mọi người xung quanh. Họ khao khát được khẳng định chính mình, khao khát được công nhận nhưng đồng thời, họ cũng e sợ, rụt rè trong những mâu thuẫn, giằng xé nội tâm gay gắt giữa được và mất. Như cô bé Asuna đã cô đơn biết bao trong cuộc sống của hai mẹ con mà người mẹ luôn bận rộn công việc, không có thời gian dành cho cô bé. Asuna khát khao được kết bạn, được nói lên tiếng nói cá nhân từ thẳm sâu trái tim nhạy cảm. Nhưng mãi cô bé chẳng nói được, vì sợ hãi mà Asuna, cứ dần khép chặt lại cánh cửa con tim. Hay như cậu bé Shin, mãi đuổi theo bóng hình người anh trai thiên tài mà cậu bé như quên đi mất, bản thân cũng là một cá nhân độc lập, có suy nghĩ, có cuộc sống riêng. Và đấy còn là người thầy Morisaki, sẵn sàng đánh đổi tất cả, chỉ để hồi sinh người đã khuất; người thầy đó, như bao năm qua vẫn luôn ôm ấp một bóng ma để làm lẽ tồn tại cho cuộc đời nhiều thương đau. Mỗi con người, mỗi cảnh ngộ, dù già hay trẻ, dù trải đời hay chưa thì đó đều là một mảnh ghép để hoàn thiện bức tranh về Những đứa trẻ đuổi theo tinh tú. Hay có thể nói chăng, chính là con người, nên dù mãi đuổi theo niềm mơ ước riêng của cá nhân, dẫu có xa xôi, dẫu có viển vông, thì đấy vẫn là ước mơ, đích đến cho con người ta sống, tồn tại, vươn lên dưới bầu trời. Shinkai Makoto – từ ngôn ngữ điện ảnh đến ngôn ngữ văn chương. Điểm mạnh dễ nhận thấy nhất trong phim của Shinkai Makoto sau hàng loạt tác phẩm như Tiếng gọi từ vì sao xa, 5cm/s, Khu vườn ngôn từ… là ở mảng đồ họa trong ngôn ngữ điện ảnh. Các thước phim của ông, đều là bữa tiệc thịnh soạn của hình ảnh, âm thanh, ánh sáng, từ đó mà đầy cảm xúc của người xem đến cao trào. Đó là ưu điểm; song cũng là một sự thách thức cho các nhà văn, khi chuyển thể sáng tác của Shinkai Makoto từ ngôn ngữ điện ảnh sang ngôn ngữ văn chương. Bởi văn chương, chỉ có thể dùng ngôn từ để tái hiện lên những gì vốn là hình ảnh, âm thanh mà thôi. Và với Những đứa trẻ đuổi theo tinh tú, Akisaka Asahi đã phần nào đáp ứng được thử thách khó khăn đấy. Một cuốn sách dung lượng không quá dài nhưng lại để tái hiện một bộ phim có chiều dài gần hai tiếng. Ngôn từ cô đọng, kể, tả, tạo điểm nhấn vào những sự kiện khá đắt giá: lúc Asuna gặp Shun, Asuna và thầy Morisaki những ngày đầu ở Agartha, khoảnh khắc ba con người đem ba vọng ước trên mảnh đất huyền thoại đối mặt với điều ước cải tử hoàn sinh… Để rồi, dẫu không thể mang tới cho độc giả một bữa tiệc của hình ảnh, âm thanh như thế mạnh của điện ảnh; thì Akisaka Asahi, vẫn mang tới cho người đọc một tác phẩm, đủ gợi hình, gợi tả về những giấc mơ đã xa, và về cả những khát khao trong hiện tại lẫn tương lai. Mọt Mọt Mời các bạn đón đọc Những Đứa Trẻ Đuổi Theo Tinh Tú của tác giả Asahi Akisaka & Makoto Shinkai & Lan Hương (dịch).
Dạo Bước Phố Đêm
Một cậu con trai đặc biệt để ý một cô gái có mái tóc đen. Cậu đã lặng lẽ đeo đuổi cô từ một đêm ở Ponto-cho, đến hội chợ sách cũ tại đền Shimogamo, rồi đến cả lễ hội trường. Dù họ học cùng một trường đại học, là bạn bè khóa trên khóa dưới, nhưng cô gái không bao giờ nhận ra cảm xúc của cậu. Dù hai người họ “ngẫu nhiên gặp gỡ” bao nhiêu lần, cô vẫn chỉ nói, “Tình cờ quá anh nhỉ!” Hàng loạt sự kiện hiếm khi xảy ra đã xảy ra, bao nhiêu con người kì lạ đầy cá tính đã tụ tập lại, giúp cảm xúc hai phía tìm được đến điểm hẹn chung. Đây là một tác phẩm văn học đáng yêu thuộc thể loại huyền ảo và pop romance. Cũng là một tác phẩm xuất sắc đã đoạt giải Yamamoto Shuguro và xếp vị thứ 2 trong giải Honya. *** Dạo bước phố đêm Câu chuyện dưới đây không phải của tôi, mà của cô ấy. Để giành giật vai chính trên cõi đời đông đảo diễn viên này, người ta chẳng ngần ngại giở đủ mọi chiêu trò, trong khi cô ấy thì, không mất chút hơi sức nào cũng chiếm hết ánh đèn sân khấu của đêm đó. Bản thân cô chẳng hề nhận ra điều ấy, thậm chí đến tận bây giờ cũng không. Đây là thiên du kí về một đêm ngẩng đầu sải chân bước đi trong hơi men của cô, đồng thời là ghi chép về nỗi chua chát của tôi khi chẳng thể giành được vai chính, đành cam chịu với thân phận hòn đá ven đường. Thưa các bạn độc giả, hãy đọc kĩ và thưởng thức vẻ đáng yêu của cô ấy cũng như sự ngu ngốc của tôi, nhấm nháp hương vị quyến rũ hấp dẫn không thua gì thạch hạnh nhân của cuộc sống, cho đến khi chúng ngấm sâu vào tim nhé. Xin hãy cổ vũ cho cô ấy. Các bạn có biết “Nắm đấm thân thiện” là gì không? Ví dụ, khi có chuyện gì đó xảy ra mà phải đấm vào má người khác, người ta sẽ siết chặt nắm tay. Quan sát thật kĩ bàn tay ấy nhé. Có thể nói ngón cái bọc bên ngoài hệt như một phụ kiện kim loại giúp bốn ngón còn lại khít vào nhau. Chính nhờ ngón cái mà nắm tay đó mới trở thành một nắm đấm thực sự, hoàn toàn đập nát khuôn mặt cũng như lòng tự trọng của đối phương. Lịch sử đã chỉ ra một lẽ tất nhiên là bạo lực sẽ chỉ sinh ra bạo lực mà thôi. Sự thù ghét sinh ra dựa trên ngón tay cái sẽ lan rộng khắp thế giới như lửa cháy trên đồng cỏ. Trong hỗn loạn và đau thương kéo tới ngay sau đó, tất cả những điều tốt đẹp mà ta cần bảo vệ đều sẽ trôi đi theo dòng nước. Nhưng, hãy nới lỏng nắm đấm và chỉnh cho bốn ngón tay còn lại bọc lấy ngón cái mà xem. Khi ấy, nắm đấm vốn trông hung hãn, gồ ghề sẽ trở nên có vẻ rụt rè hơn, đáng yêu hệt như nắm tay của chú mèo mời khách. Chẳng ai có thể dồn hết nỗi căm hận vào một nắm tay nhìn hài hước như vậy cả. Từ đó, chuỗi bạo lực sẽ bị ngăn chặn, mang lại sự yên bình cho thế giới và gìn giữ những điều tốt đẹp ít ỏi còn sót lại. “Nếu nhét ngón cái vào trong thì dù có muốn cũng không siết chặt nắm tay được. Ngón cái bị giấu đi đó chính là tình yêu đấy anh.” Cô nói với tôi như thế. Ngày cô còn bé, chị cô đã dạy cho cô cách tạo “Nắm đấm thân thiện” và dặn, “Em nghe này, là con gái thì không được đụng đâu đấm đó. Song, trên thế giới rộng lớn này, người có đạo đức chuẩn mực và học thức cao lại chẳng được mấy ai, còn đâu chỉ toàn một lũ không ngu xuẩn cũng thối nát, hoặc vừa ngu xuẩn vừa thối nát, thế nên sẽ có những lúc dù em không muốn thì vẫn phải dùng đến nắm đấm, lúc ấy cứ dùng ‘Nắm đấm thân thiện’ chị đã dạy. Một nắm đấm bình thường không có tình yêu, nhưng ‘Nắm đấm thân thiện’ thì có. Sử dụng ‘Nắm đấm thân thiện’ tràn ngập tình yêu và cư xử dịu dàng với tất cả mọi người, em sẽ mở ra một cuộc sống tươi đẹp và hài hòa.” Một cuộc sống tươi đẹp và hài hòa. Những lời ấy đã khiến trái tim cô rung động. Vì thế, cô có một sở trường gọi là “Nắm đấm thân thiện”. Hôm đó là một ngày cuối tháng Năm, sắc xanh căng tràn của cây lá đã phần nào nhạt bớt. Một cựu thành viên câu lạc bộ hồi đại học của tôi là anh Akagawa quyết định tổ chức đám cưới. Nghe đâu tiệc chỉ mời những người thân quen. Tuy hầu như chưa nói chuyện với anh lần nào, tôi vẫn đến dự cưới coi như tỏ lòng kính trọng người thuộc hàng sư phụ mình. Ngoài tôi ra còn vài thành viên khác của câu lạc bộ, trong đó có cả cô ấy. Anh Akagawa hình như cũng là sư phụ của cô ở một môi trường khác. Trên con đường tăm tối từ ngã tư Shijo-Kiyamachi đi xuống dọc bờ sông Takase, có một nhà hàng ba tầng bằng gỗ mang phong cách cổ điển phương Tây đang hắt ánh sáng ấm áp lên hàng cây ven sông. Ánh đèn đã ấm áp, bên trong còn ấm áp hơn. Hoặc nên nói là nóng. Cô dâu chú rể trông rất xứng đôi. Họ thề ước sẽ bên nhau trọn đời, rồi chú rể bế cô dâu lên hôn để chụp ảnh. Sự nhiệt tình ấy lập tức đốt thành than tất cả những người có mặt ở đây, nóng bỏng đến mức ngay cả Chúa vốn điềm nhiên cũng phải e sợ. Nghe nói chú rể làm việc cho chi nhánh của một ngân hàng ở Karasuma Oike, cô dâu là nhân viên nghiên cứu của công ty chế biến rượu ở Fushimi, cả cô dâu lẫn chú rể đều là mẫu người không bận tâm ý kiến của cha mẹ nên đến tận bây giờ hai nhà vẫn chưa gặp nhau lần nào; nghe nói tình yêu của họ chớm nở từ những ngày đầu của năm nhất đại học, trải qua bao gian truân thăng trầm, vượt qua bao đồi núi mới đến được với nhau, vân vân. Các thiên tình sử thường tẻ ngắt, lại thêm chẳng hề quen biết cô dâu chú rể nên tôi càng thấy nhàm chán, đành giết thời gian bằng cách tập trung ăn uống và quan sát cô gái ngồi ở góc bàn. Cô đang nhìn chòng chọc vào một cái vỏ ốc sên cạnh chiếc đĩa lớn, ra chiều thích thú lắm. Dù không hiểu cái vỏ ốc ấy có gì hấp dẫn, việc ngắm cô vẫn làm tôi thấy vui. Cô ấy là đàn em của tôi trong câu lạc bộ. Có thể nói tôi đã yêu cô ngay từ cái nhìn đầu tiên, nhưng vẫn chưa có dịp nào nói chuyện thân thiết. Mặc dù đã nghĩ đêm nay chính là cơ hội trời cho, song, bởi thất bại trong việc tìm cách ngồi cạnh cô ấy nên bao nhiêu kế hoạch của tôi đều ngâm nước nóng cả. Bỗng nhiên người chủ trì đứng dậy, “Tiếp theo đây là bài phát biểu của chú rể Akagawa Yasuo và cô dâu Todo Naoko. Xin mời hai bạn.” Thì ra tên cô dâu là Todo Naoko à? Giờ tôi mới biết. Tiệc cưới ở nhà hàng kết thúc, khách khứa từ từ tràn ra đường. Trong dòng người đang vui vẻ chuẩn bị kéo nhau đi tăng hai, tôi đảo mắt như chim ưng săn mồi, tìm xem liệu sợi chỉ đỏ nối giữa tôi và cô ấy có rơi đâu đó trên đường hay không. Tiếc thay tôi phải thất vọng tràn trề khi thấy cô cúi đầu chào những người khác và rời đi một mình. Hình như cô đang định về nhà. Đã vậy thì tôi chẳng việc gì phải đi tiếp tăng hai cả. Thế là tôi rời khỏi đám người, đuổi theo cô. Tôi không nói nổi thành lời mấy câu như “Em ơi đừng về vội, ở lại uống với anh một ly đã nào”, nhưng cứ phải bám theo cô trước đã. Bên hông nhà ga Hankyu Kawaramachi gần Shijo-Kiyamachi, có một cậu thanh niên đang chơi guitar và khán giả say sưa lắng nghe, những gã đàn ông mặc Âu phục đen đi vòng quanh tán tỉnh các cô gái trên đường, già trẻ gái trai tấp nập tới lui với khuôn mặt đỏ bừng, mong muốn tìm được chỗ nghỉ chân tiếp theo. Tôi đã nghĩ cô sẽ rẽ về hướng cầu Shijo, không ngờ cô trầm ngâm một chút xong vẫn tiếp tục đi theo hướng Bắc. Đằng sau hàng cây xanh um tươi tốt rợp bóng bên bờ sông Takase hắt ra ánh sáng màu cam của một tiệm cà phê lâu đời tên Muse. Trước cửa tiệm, cô làm động tác giậm chân như một con robot, có vẻ đang thầm củng cố quyết tâm làm một điều gì đó. Rồi, cô ưỡn ngực và rẽ vào một hẻm nhỏ. Tôi mất dấu cô ở đấy. Trước mắt tôi là một con hẻm bé tẹo đáng ngờ với các cửa hiệu đèn mờ bị những tòa nhà cao tầng đa dịch vụ bao quanh. Chẳng thấy bóng dáng cô đâu nữa. Cứ bị làm phiền bởi lời mời mọc của những gã đàn ông ở các cửa hiệu hai bên đường, tôi đành phải ra khỏi con hẻm. Chỉ trong chớp mắt, tôi đã để vuột mất cơ hội bắt chuyện với cô ấy. Thế nên, bây giờ tôi sẽ rời khỏi sân khấu, để cô bắt đầu chuyến dạo chơi trong đêm của mình. Và từ đây, cô ấy sẽ là người kể chuyện. Mời các bạn đón đọc Dạo Bước Phố Đêm của tác giả Tomihiko Morimi & Đỗ Phan Thu Hà (dịch).