Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Bà Chúa Hòn

Cuốn tiểu thuyết Bà Chúa Hòn mang màu sắc lịch sử và không khí miệt vườn Lối dẫn dắt tự nhiên, ngôn ngữ mộc mạc đậm chất Nam Bộ Không chỉ mang giá trị nghệ thuật, tác phẩm còn là những bài học sâu sắc về tình người *** Buổi chiều đầu mùa mưa, cảnh vật buồn bã làm sao! Ếch nhái kêu vang bên chòi, trong bóng tối chập chờn, xa lắm qua rặng cây tràm mới thấy vài ánh đèn. Ở trên hòn là đói, khó cày cấy trồng tỉa. Bởi vậy Tư Thính đến tận vùng sình lầy mà chịu đựng muỗi mòng. - Ngày mai cho con ra ruộng nghe ba! Tư Thính day lại. Đứa con gái vừa lên tám tuổi bưng chén cơm đến gần. Chú vuốt tóc con, bùi ngùi thương xót. Mẹ nó mất hồi năm ngoái. Ngày nào cũng vậy, trước khi ra ruộng, chú bới sẵn chén cơm, gắp khứa cá để trong cái đĩa nhỏ. Khi thức dậy, đứa con ăn cơm một mình rồi ra ngồi ở góc sân, trông ra ruộng. Cuốn tiểu thuyết  "Bà chúa hòn"  bắt đầu như thế với nhân vật cô bé tên Huôi. Số phận đã sắp đặt cho cô, khi lớn lên, sẽ trở thành bà chúa Hòn. Hòn Chông là dãy đồi thấy, sát mé biển vịnh Xiêm La. Dân chúng sống bằng nghề chái lưới ở mé biển nhưng nguồn lợi lớn nhất vẫn là nghề trồng hồ tiêu. Ông Xìn Phóc là người Triều Châu lai Cao Miên, trở thành ông Chúa Hòn đầu tiên, sau khi ông chết, người kế vị là con trai ông, Hai Minh. Bá Vạn là người nắm giữ sổ sách thu chi cho Hai Minh. Ông này là người Triều Châu lai Việt Nam, tuổi chừng 60, lắm mưu nhiều kế, có ý định giết ông Chúa Hòn, lật con bà cả để dành tất cả tài sản về tay mình. Mười mấy năm trôi qua, nay Huôi đã trở thành hoa khôi trong vùng, xinh đẹp tuyệt trần, vóc dáng cao ráo, nước da trắng mịn, trán cao, môi đỏ như thoa son... Bá Vạn muốn mượn sắc đẹp của Huôi để lung lạc ông Chúa Hòn... *** Sơn Nam  (1926 - 2008) là một nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam nổi tiếng với nhiều tác phẩm có giá trị. Với khối lượng tác phẩm đồ sộ, ông là người thành công ở nhiều lĩnh vực: lĩnh vực nghiên cứu, ông có nhiều biên khảo công phu, khoa học, khoảng 20 tác phẩm. Có những tác phẩm rất có giá trị cho việc tìm hiểu về vùng đất Nam Bộ, như: “Ấn tượng 300 năm, Bến Nghé xưa, Cá tính miền Nam, Danh thắng miền Nam, Đất Gia Định xưa, Đồng bằng sông Cửu Long - Nét sinh hoạt xưa, Giới thiệu Sài Gòn xưa, Lịch sử An Giang, Lịch sự khẩn hoang miền Nam, Người Sài Gòn... “Sơn Nam là một trong số những nhà văn từng sống ở đô thị miền Nam nhưng tác phẩm vẫn được in liền mạch sau giải phóng, điều đó không phải dễ. Trước hết, tác phẩm của Sơn Nam không thuộc dạng a dua. Sống dưới chế độ ấy mà tránh được lối viết ấy quả là rất cao tay. Có lần người viết bài này hỏi vậy, Sơn Nam cười nhẹ, cũng chẳng giỏi giang gì đâu mà tôi chủ yếu viết về phong tục, về lịch sử khai khẩn đất đai Nam Bộ, và nếu là truyện thì đi vào tầng lớp nông dân, dân nghèo thành thị. Hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghiệp sáng tác, những trang viết của ông không đơn thuần là sự giải trí cho độc giả mà còn là những khảo cứu, khám phá về mảnh đất phương Nam. Là người Nam Bộ chính gốc nên nhà văn Sơn Nam là người am hiểu quá trình hình thành dải đất này. Những sáng tác của ông mang hơi thở của thiên nhiên, của văn hóa và con người Nam Bộ được thể hiện qua giọng văn giản dị, mộc mạc...” *** HÀ TIÊN LÀ TỈNH XA XUÔI NHỨT của miền Nam thời xưa cũng như thời nay nếu ta lấy Huế hoặc Saigon làm tiêu chuẩn. Khác với vùng sình lầy mũi Cà Mau, Hà Tiên có khung cảnh khá ngoạn mục, trong đất liền là đồi núi trùng điệp, ngoài biển là năm bảy chu4c hải đảo lớn nhỏ, Hà Tiên còn là nơi ‘‘ba biên giới’’ :Việt Nam, Cao Miên và vượt qua eo biển là đến Thái Lan . Mỗi ngọn đồi, mỗi hải đảo đều có một ông Chúa hay bà Chúa thống trị, khi chết, các ông bà này được tôn thờ trong miếu nhỏ, giống như trường hợp mấy ông Thành Hoàng. Lẽ dĩ nhiên các ông bà đều là người phàm mắt thịt, nhờ mưu mô, nhờ tài kinh doanh mà gây được thế lực với đám dân chúng ở xung quanh. Vài ông bà Chúa nếu còn sống đến năm nay chỉ độ non trăm tuổi, bởi vậy thành tích của họ còn được nhắc nhở tỉ mỉ với bao nhiêu tánh tốt và thói xấu. Chúng tôi xin thuật lại những giai đoạn gay cấn và thơ mộng nhứt của bà chúa hòn Me, một ngọn đồi nhỏ dính vào đất liền sát mé biển phía Bắc chợ Rạch Giá. Trước kia, bà là con gái một nông dân nghèo tên là Tư Thính, có lẽ họ Huỳnh ; Tư Thính cất căn nhà nhỏ ở chân đồi, giữa tư bề rừng rậm. Như đã nói, hòn Me xưa kia là hải đảo, đất phù sa lấn ra biển, nối hòn vào đất liền. Vùng chung quanh hòn quá ẩm thấp chịu ảnh hưởng nước mặn ngoài biển tràn vào nên cây cối mọc xơ rơ. Hằng năm, Tư Thính cày chừng một mẫu ruộng, kiếm chút ít lúa gạo đủ ăn trong gia đình. Buổi chiều đầu mùa mưa, cảnh vật buồn bã làm sao! Ếch nhái kêu vang bên chòi, trong bóng tối chập chờn, xa lắm qua rặng cây tràm mới thấy vài ánh đèn. Ở trên hòn là đói, khó cày cấy trồng tỉa. Bởi vậy Tư Thính đến tận vùng sình lầy mà chịu đựng muỗi mòng. – Ngày mai, cho con ra ruộng nghe ba! Tư Thính day lại. Đứa con gái vừa lên tám tuổi bưng chén cơm đến gần. Chú vuốt tóc con, bùi ngùi thương xót. Mẹ nó mất hồi năm ngoái. Ngày nào cũng, vậy, trước khi ra ruộng, chú bới sẵn chén cơm, gắp khứa cá để trong cái dĩa nhỏ. Khi thức dậy, đứa con ăn cơm một mình rồi ra ngồi ở góc sân, trông ra ruộng. Chú từ chối khéo léo: – Con ở nhà, ra ruộng nắng lắm. Nhưng bé Huôi vịn vai chú, nói thật nhanh: – Ngoài ruộng có cây thị, bóng mát. Nghe qua, chú Tư Thính giựt mình. Đành rằng đến tám chín tuổi thì đứa bé có chút ít trí khôn, ghi nhớ những gì mà người lớn thường nói nhiều lần. Tại sao bé Huôi biết ở ngoài ruộng có một cây thị, cây ấy to lắm, ở xa nhà, bé Huôi chưa ra tới đó lần nào? Hồi năm ngoái trái thị sai quằn, chú với tay hái năm sáu trái đem về nhà cho bé Huôi, trái thị mầu vàng da láng tỏa ra mùi thơm kỳ diệu mà nhiều người cho rằng có thể quyến rủ ma quỉ hoặc thần thánh. Chú Tư Thính hơi e ngại: – Mùa nầy thị chưa có trái. Ra đó, làm sao con ngủ trưa? Bé Huôi nói rành rọt như người lớn. – Con đội nón, ngồi dựa vô gốc cây. Vì không muốn quở mắng vô lý đứa con thân yêu, Tư Thính tìm cách từ chối: – Bữa nào rảnh, ba cho con ra ruộng. Ngoài đó muỗi mòng, đủ thứ kiến lửa, kiến vàng. Lâu lâu, vài con rắn bò ra… Bé Huôi cười dòn: – Con đâu sợ rắn. Ba hứa lâu rồi. Ngày mai, con ra ruộng mới được. Ba không bồng con thì con đi một mình. Gương mặt bé Huôi lúc bấy giờ trông thật dễ thương, mà cũng dễ sợ. Mắt nó sáng lên, hai tròng mắt đen lánh, hàm răng đều đặn, chói màu trắng ngà. Tư Thính ngỡ rằng người khuất mặt đã thúc giục bé Huôi nói những câu quá khôn ngoan, dành riêng cho mấy đứa bé ít lắm là mười bốn, mười lăm tuổi. Chú đốt đèn lên. Bé Huôi nghiêm nét mặt, đôi môi ửng đỏ như tô son. Chú Tư Thính nhìn kỹ đứa con gái rồi tự trấn an: “Lớn lên, nó xinh đẹp nhứt làng nầy. Con nít khôn trước tuổi là sự thường”. Bé Huôi ngáp dài: – Con muốn đi ngủ, sáng mai con ra ngoài gốc cây thị để coi ba cày ruộng. Ngoài đó vui lắm. Hôm sau, Tư Thính cố ý thức thật trể. Chú vác cày trên vai, cho đôi trâu đi trước, bé Huôi lững thững theo sau, đến gốc cây thị, nó ngồi xuống. Mặt trời lên cao, chưa chi, chú đã đổ mồ hôi lưng, bao nhiêu ý nghĩ đen tối hồi chiều hôm qua đều tan biến. Chú được yên tâm vì bé Huôi đã dựa lưng vào gốc cây thị. Nó nằm yên, như đã ngủ. Đôi trâu đi tới rồi đi lui, được ba rồi đến bốn, năm, sáu, bảy luống cày. Trong khi đó, từ dưới hang sâu bên gốc cây thị, một con rắn hổ to tướng bò lên. Rắn quấn mình chung quanh bụng bé Huôi, quấn một vòng, hai vòng, ba vòng rồi đến bốn vòng. Sau rốt, rắn ngẫng cổ lên, cao khỏi đầu bé Huôi. Rắn quơ đầu, hất mạnh cái nón lá trên đầu con bé rồi nghiêng cổ tới, im lìm. Đột nhiên Tư Thính giựt mình. Đôi trâu đứng lại, không chịu bước tới. Chú quơ roi quất mạnh: – Xe! Pháo! Hai con trâu Xe và Pháo rống lên quậy chân sau xuống bùn. Cả hai day mặt về phía Tư Thính, mắt trợn tròn như giận dữ. Tư Thính hỏi: – Điên rồi sao chớ? Cái gì? Nhưng đôi trâu dường như nhìn xéo về gốc cây thị. Tư Thính chợt nhớ tới bé Huôi. Chú trố mắt: – Trời ơi! Rắn quấn con tôi! Rồi bỏ đôi trâu, chú cố gắng chạy đến gò đất. Chú lê lết như có sức mạnh nào níu đôi chân trở lại. Bé Huôi vẫn ngồi yên, con rắn hổ quá to, nào kém gì con trăn. Kỳ dị nhứt là cái đầu rắn, cái đầu vươn lên nghiêng tới như cố ý che nắng cho bé Huôi. Vì sợ con rắn nọ siết chặt khiến bé Huôi nghẹt thở hoặc gãy xương ngực, chú đành liều bước đến gần với dụng ý xua đuổi con rắn, nếu cần, chú sẵn sàng chịu chết thay con. Con rắn nọ day mỏ về phía Tư Thính. Dưới ánh nắng tỏ rõ buổi trưa, chú thấy nó trợn mắt, mớ vảy lấp lánh như hàng trăm miếng kiếng màu xanh đậm. Nó hạ cái đầu xuống rồi từ từ tháo ra. Trong lúc ấy, Bé Huôi vẫn ngồi xếp bằng, xuôi tay. Khi rắn tháo mình đến vòng chót, Tư Thính chẳng còn kiên nhẫn được nữa. Chú la lớn: – Con ơi, chạy cho mau! Nhưng Tư Thính không đủ can đảm và không còn đường nào để chạy. Nhanh như cơn gió lốc, con rắn to tướng nó phóng ngang mặt chú, như để chận đường. Chú té quị xuống bùn rồi lồm cồm đứng dậy, vuốt mặt. Bé Huôi từ từ cựa quậy: – Ba! Sao ba té? Chú mừng quýnh vì đứa con thân yêu vẫn mạnh khỏe và tỉnh táo. Để vững bụng hơn, chú hỏi đôi ba lượt: – Con! Biết ba đây là ai không? Tay chú véo mạnh vào lưng bé Huôi, miệng nói lia lia: – Con có đau không? Con thức hay ngủ? Bé từ từ đứng dậy, đôi môi đỏ thắm hé nụ cười: – Ba nói, con tức cười quá… Nhưng Tư Thính cứ tiếp tục mở nút áo đứa con gái, xem kỹ làn da. Bấy lâu chú nghe đồn đãi rằng rắn hổ có hơi độc từ trong miệng phun ra. Bé Huôi nói: – Đói bụng rồi, về nhà ba nấu cơm cho con ăn nghe ba. Lập lức chú cõng đứa bé sau lưng, bước nhanh về căn chòi, hai con trâu rống lên, kéo mạnh cái cày vô chủ. Mâm cơm dọn ra, chú ăn sơ sài vài miếng rồi tháo ách cho đôi trâu vào chuồng. Con rắn to tướng ấy là điềm lạ, chưa biết lành dữ thế nào. Chú muốn gặp ông đạo Đất ở trong cốc phía Đông hòn Me để nhờ giải đáp. Bé Huôi lại đòi ngủ. Chú khuyên lơn: – Con đi xóm với ba, nghe con? – Con muốn ở nhà. – Rủi con rắn tới đây thì ai cứu con? Ba cõng trên vai, con cứ ngủ. Phải con ở nhà thì nãy giờ ba cày xong công ruộng rồi. Từ rày về sau, con đừng đòi ra gốc cây thị nữa. Bé Huôi trả lời: – Hồi nãy đâu phải con rắn! Cốc của ông đạo Đất hiện ra. Đó là cái chòi nhỏ bé lợp bằng tranh. Theo chữ nho, cốc là hang đá. Vùng Hòn Me thiếu những hang đá thiên nhiên. Đá xanh mọc nhô ra từng tảng lớn chỉ vừa cho đôi người ngồi núp mưa nắng mà thôi. Mùa mưa đến, nước chảy tuôn tràn, thỉnh thoảng mấy tảng đá sụp xuống, mang theo mấy giề đất sỏi. Mấy ông lên non tầm đạo vì không tìm được cái hang thiên tạo nên cất tạm căn chòi nhỏ bằng cây. Gọi cốc cho có vẻ huyền bí của một đạo sĩ tu tiên. Ông đạo Đất gây được khá nhiều uy tín nhờ tài trị bịnh. Bất cứ bịnh nhân nào đến, ông cũng hốt cho một mớ đất để làm thuốc: bỏ cục đất trong một cái túi nhỏ, đeo dưới ngực để trị bịnh tà ma, đem cục đất nướng cho dòn rồi tán nhỏ, uống với nước nóng để trị bịnh ăn uống khó tiêu, đau bao tử. Gặp trường hợp trặc chân gãy tay, ông đạo vẫn dùng đất sét mà bó rịt vết thương. Tư Thính giữ thái độ im lặng kính cẩn khi đến cốc. Ông đạo nằm dài trên nền đất, không trải chiếu đắp mền gì cả. Khi Tư Thính lên tiếng: – Kinh chào thầy…. Ông đạo vẫn lim dim, hồi lâu mới chịu gật đầu. Bé Huôi nói khá to, phá rối sư yên tĩnh: – Ở đây buồn quá, ba ơi! Con muốn về nhà. Ông đạo Đất lồm cồm ngồi dậy, nhìn bé Huôi. Tư Thính bèn lên tiếng như để biện hộ cho đứa con: – Nó còn nhỏ, thầy tha thứ cho. Mấy ngày rày nó nói bậy bạ, lại xảy ra vài điều lạ. Bởi vậy tôi tới đây nhờ thầy giúp giùm. Sau khi sờ tay lên trán bé Huôi, ông Đạo nói: – Cháu nó vui chơi nhưng mà cặp mắt hơi khác thường. Không đợi Tư Thính trả lời, ông Đạo nói giọng bí mật: – Chắc là vừa xẩy ra chuyện gì xúc phạm tới…đất! ‘‘ Xúc phạm tới đất’’ là lời nói mà ông Đạo thốt ra trước tiên, khi gặp bất cứ bệnh nhân nào. Vì quá tin tưởng nên ai nấy đều nhìn nhận rằng ông nói đúng: đau bụng, trúng thực đều do sự ăn uống, thức ăn vẫn là cơm gạo, thịt cá, những món từ đất mọc lên, hoặc đứng trên đất, cảm mạo là do hơi đất ẩm ướt gây ra… Tư Thính nói: – Thầy ở trong cốc mà nói chuyện ngoài đời quá đúng. Vậy thì điềm lúc nãy tốt hay xấu đối với gia đình tôi? Con gái tôi sau nầy ra sao? – Điềm gì? Cứ nói đầu đuôi tự sự. Tôi thấy nó… ngồi trên đất, thiệt là lạ lùng, chú nói trước, tôi nói sau. – Dạ, nó ngồi trên mô đất cao, ỏ gốc cây thị ngoài ruộng. Tôi lo cày nên không chú ý, dè đâu… Thế là Tư Thính thuật lại tất cả chi tiết với sự tưởng tượng khá dồi dào của chú. Chú cho rằng con rắn nọ to bằng cây cột nhà, vảy lấp lánh ngũ sắc, khi biến mất thì gió thổi rung chuyển mấy gốc cây cổ thụ. Lúc rắn quấn vào bé Huôi, gió như ngừng thổi, chim trên trời như ngừng bay và hai con trâu như chết đứng trên mặt đất. Ông đạo Đất chắp tay xá bốn phía Đông, Tây, Nam, Bắc rồi nói: – Mô Phật! Cháu bé ngồi trên đất gặp con rắn hổ đất. Tất cả đều là đất. Nhưng con rắn hổ đất to lớn ấy là thuộc vào loại phi thường, tên nó là gì chú biết không? Tư Thính chắp tay thưa: – Dạ… chắc là mãng xà vương! Ông đạo lắc đầu: – Đó là con rồng đất! Trên mặt đất nầy nó là vua. Vua của đất phù hộ, chầu chực cháu bé chẳng khác nào con rồng vàng chầu chực ông vua ở chốn đế đô. Rồng đất là vua của đất. Rồng đến tìm cháu bé, đó là điềm mai sau có ông vua ông chúa nào đó đến ra mắt. Rồng quấn chung quanh cháu bé để che chở phò hộ, đó là sau nầy cháu bé trở thành một bà hoàng, bà chúa. Chú nên vui mừng đi, ráng chịu cực chừng năm bảy năm nữa. Tư Thính chắp tay lạy ông đạo Đất: – Thiệt vậy hả ông? Trời Phật giúp tôi, làm sao tôi tạ ơn? Dè đâu con tôi tốt phước như vậy? Ông vua nào, ông chúa nào tới đây cưới con tôi? – Ông chúa hòn hoặc ông chúa đảo, hoặc ông chúa tàu, tàu buôn Hải Nam. Tôi chưa biết rõ. Mai chiều, chú đưa cháu bé trở lại. Nghĩ một lát, ông đạo hỏi: – Cháu tên gì, năm nay mấy tuổi? Bé Huôi cất tiếng sỗ sàng: – Tên Huôi. Hỏi bao nhiêu tuổi để làm gì? Bộ tôi ngu dại phải không? Nãy giờ, tôi đâu làm điều gì sai quấy với thầy. Ông đạo càng tin tưởng nơi tài đoán điềm giải mộng của mình. Lập tức ông khều Tư Thính ra sân mà nói khẽ: – Thấy chưa? Nó là đứa khôn trước tuổi, ăn nói lanh lợi đâu thua gì người hai ba chục tuổi. Chú nên nuôi dưỡng tử tế. Nó có trí khôn, có nhan sắc. Tôi xem không lầm đâu. Năm bảy chục năm, con Rồng đất mới xuất hiện một lần. Rồng đất mà phò hộ che nắng che mưa cho con Huôi thì phải biết. Tư Thính chắp tay xá ông đạo; – Cám ơn ông, về sau nầy nếu may ra con tôi nên danh nên phận thì tôi chẳng bao giờ dám quên ơn lớn. – Kìa! Ngón tay ông đạo Đất chỉ ra ngoài sân. Lần nầy chú Tư Thính không khỏi kinh ngạc vì bé Huôi đứng xớ rớ bên bụi cây quỳnh hoa. Nó nâng niu từng lá dài rồi đột nhiên nói to: – Cây gì mà trồng hoài không trổ bông? Ông đạo giải thích: – Cháu ơi! Nhiều khi đôi ba năm nó mới trổ một lần. – Ông cho cháu vài lá, đem về trồng vài tháng thì nó trổ hàng chục cái bông cho ông coi. Để chiều theo ý bé Huôi và để biết thêm về tương lai của đứa con gái kỳ lạ nọ, ông đạo Đất hái một lá dài trao cho Tư Thính. Hai cha con lững thững về nhà theo con đường mòn sình lầy. Tư Thính nghe tim đập mạnh trong lồng ngực. Chú muốn kêu to: – Con tôi trở thành bà chúa! Thiệt vậy sao? Trời đất xui khiến hay ma quỷ xúi giục? Nhiều đứa bé khôn ngoan nhưng chết yểu hoặc là trở thành điên khùng, lên đồng lên bóng. Chú nắm tay con. Căn chòi hiện ra. Trong phút giây chú ngỡ là cung vàng điện ngọc. Chắc còn nhiều năm nữa bé Huôi mới trở thành bà chúa. Chừng đó chú già nua rồi. Chú chỉ muốn có căn nhà cao ráo để dưỡng già…   Hòn Chông là dẫy đồi thấp, sát mé biển vịnh Xiêm La. Dân chúng sống bằng nghề chài lưới ở mé biển nhưng nguồn lợi to nhứt vẫn là nghề trồng tiêu (hồ tiêu). Với mười lăm hay hai chục dây chăm bón kỹ lưỡng là một gia đình sống dễ dàng. Bao nhiêu đất tốt để trồng tiêu đều thuộc về ông Thần Phước cai quản, vì là người Triều Châu lai Cao Miên rồi lai Việt Nam nên tên ông được đọc là Xìn Phóc. Mấy người kỳ lão ở địa phương, nhứt là người tá điền, đều kiêng nể, gọi ông là ông Chúa Hòn, ông vua nho nhỏ giàu có và sang trọng nhứt của vùng Hòn Chông. Với số vốn tích trữ từ mấy đời trước, ông thuê nhân công để khai thác mấy ngọn đồi ở vùng kế cận: núi Còm, núi Mo So. Khi bán hồ tiêu cho bọn thương gia Mã Lai, ông chỉ lấy vàng, không dùng hình thức tiền bạc nào khác. Bọn gia nhân đồn đãi ông dùng số vàng ấy để trấn ếm một vài “linh huyệt” trên Hòn Chông, nơi có phủ thờ của tiên nhân – một người từ Triều Châu qua lập nghiệp ở Hà Tiên, theo chân họ Mạc vào thế kỷ thứ XVIII. Năm được 86 tuổi, ông Thần Phước giao cho đứa con trai đầu lòng là cậu Hai Minh cai quản tài sản. Cậu Hai chưa được bốn mươi tuổi nhưng đã có một vợ chánh và hàng chục tì thiếp. Ở vùng hẻo lánh, thú vui duy nhất của cậu Hai vẫn là uống rượu và tìm gái đẹp. Vợ chánh sanh đứa con trai duy nhất là cậu Hai Điền. Ăn ở với khá đông tì thiếp từ mười năm qua, cậu Hai Minh không hài lòng cho lắm, vì chẳng nàng nào sanh được con trai. Một buổi chiều, cậu Hai Minh ra lịnh cho gia nhân: – Đưa tao qua núi Mo So. Bọn gia nhân dạ rân lên, đem chiếu bông trải xuống chiếc ghe mui vuông sơn son thếp vàng. Bấy giờ là mùa hạn, sông rạch đều cạn ráo. Bọn gia nhân buộc bốn sợi dây luộc trước mũi và sau lái ghe, mỗi sợi dây chắc chắn ấy nối liền vào một con trâu đực to tướng, gọi là trâu cổ. Đáy sông quá cạn phơi lớp bùn sình. Ấy thế, mà chiếc ghe vẫn lướt nhanh. Bốn đứa bé mặc áo xanh cỡi trên lưng trâu, quất roi thật mạnh. Cậu Hai Minh nằm dài, dựa tay vào cái gối thêu: – Chừng nầy, ở núi Mo So…mình làm cái gì cho vui? Hai Ú trả lời: – Dạ, chừng nầy con gái trong xóm tới bờ mới gánh nước và tắm… – Hay quá! Vừa cười, cậu Hai vừa vỗ tay lia lịa. Lát sau, cậu gật đầu nhòm Hai Ú: – Mầy giỏi quá. Mầy chưa dở lần nào hết. Lát nữa tao tới đó bất ngờ. Mầy làm thế nào cho mấy cô gái cứ gánh nước tự nhiên, đừng chào đón. – Thưa cậu, vậy thì tôi phải đi trước mới được. – Họ biết trước thì mất vui. Phải tình cờ mới vui. Hai Ú chắp tay thưa: – Dạ, đón rước long trọng là chuyện dễ, đón rước tự nhiên là chuyện khó, cần sắp đặt trước. Không khéo mấy cô gái e lệ rồi hoảng chạy thì sao? Cậu cứ tin lời tôi. Lập tức, Hai Ú đến trước mũi ghe, nhảy lên bờ rất nhẹ nhàng. Anh ta giành lấy một con trâu cổ, cởi sợi dây ra rồi quất mạnh cho trâu chạy nhanh đến núi Mo So. Vì chỉ có ba con trâu kéo nên chiếc ghe tiến chậm. Cậu Hai khen ngợi: – Thằng Ú giỏi quá, nó biết lo trước lo sau. À! Cái gì mà chộn rộn ở chân núi? Bọn gia nhân phía sau reo lên: – Cậu Hai ơi, họ đốt đuốc… Xóm nhỏ ở chân núi Mo So hiện ra, náo nhiệt như buổi chợ phiên. Khi đến chân núi, cậu Hai Minh gặp ngay Hai Ú. Anh ta cầm bó đuốc đứng sẵn: – Thưa cậu, mời cậu đến bờ suối… – Ủa! Tại sao xóm giềng im lặng quá vậy? – Dạ, tôi ra lịnh cho ai nấy đóng cửa lại ngủ sớm để một mình cậu tới bờ suối, mặc tình nói chuyện với các cô. Tôi đã khuyên các cô cứ gánh nước tự nhiên. Các cô cười giỡn kìa! Cậu nghe không? Trong phút giây, cậu Hai ngỡ mình sống trong khung cảnh thần tiên nơi thượng giới. Ánh đuốc rọi chập chờn vào vách đá hai bên con đường dốc. Đêm mười bốn, trăng khá sáng tỏ. Lúc cao hứng, cậu Hai Minh ra lịnh: – Hai Ú cứ đi trước, thật xa. Tao đi dưới bóng trăng vui hơn. Cần gì qua bên Tàu mới hưởng được vui thú. Nhưng Hai Ú như còn ngập ngừng. Anh ta khoát tay đôi ba lần như làm dấu hiệu riêng với người phía sau. Cậu Hai Minh chẳng mảy may chú ý đến chi tiết đó, cứ hỏi đồn dập: – Tới chưa? Chà! Mấy cô cười nghe dòn quá. Còn ở phía sau, ai mà đông dữ vậy? Hai Ú đáp: – Cậu coi thử! Đó là mấy người khiêng rượu cho cậu uống. – Thằng nầy giỏi thiệt. Thật ra Hai Ú đã dàn cảnh khéo léo từ lúc nãy với Mười Hấu – người có khá nhiều quyền thế ở vùng núi Mo So. Mười Hấu rất tinh thông võ nghệ, con gái ông ta thuộc vào hàng đẹp nhứt trong vùng. Khi gặp Mười Hấu, Hai Ú đưa ra ý kiến: – Ông Mười muốn làm giàu không? Đây là dịp may hiếm có. Cậu Hai Minh tới để tìm gái đẹp. Nếu ông Mười vui lòng, làm thế nào cho cậu Hai được thỏa mãn thì… Mười Hấu nhớ đến đứa con gái tên là Ngó: – Con gái tôi chắc hạp nhãn với cậu Hai Minh. Hai Ú đáp: – Cậu Hai chỉ thích như vậy thôi! Ông Xìn Phóc già khú rồi. Bây giờ, cậu Hai Minh là ông Chúa Hòn chớ còn ai đâu xa lạ. Ngọn suối ở núi Mo So quá nhỏ hẹp. So với vùng cao nguvên thì đó là nơi dơ bẩn kém thơ mộng, nhưng ở chốn sình lầy nước mặn đồng chua thì quả là mạch nước tiên ngọt ngào và tinh khiết. Hai Ú dừng lại báo tin trước: – Mấy cô nên vui vẻ… bởi vì cậu Hai thương mấy cô, chịu khó lặn lội tới đây. Cậu tới kìa. Đừng làm cho cậu giận. Ngày mai các cô sẽ được ban thưởng, mỗi cô ít nhất được một lượng vàng. Đó là chưa nói sau nầy hễ túng thiếu tiền bạc thì các cô tới gặp tôi, tôi nói giùm một tiếng với cậu Hai là xong. Câu Hai Minh cười dòn: – A ha ha! Đêm nay là đêm vui sướng nhất của đời tôi! Mấy cô cứ tự nhién, đẹp quá. Hai Ú đâu rồi? Đốt thêm vài ngọn đuốc. Mười Hấu và đứa gia nhân để cần xé đựng hàng chục hũ rượu trên tảng đá rồi nói nhanh: – Thưa cậu, tôi có đuốc… Cậu Hai vỗ vai Mười Hấu: – Chú ở đâu? Tôi nhớ gặp mặt vài lần rồi. Đuốc ở đâu? Đốt lên. Ba ngọn đuốc cháy chập chờn. Trong đám thôn nữ rõ ràng cô Ngó là hoa khôi. Nàng mặc áo ngắn tay, đứng bỡ ngỡ trong dòng suối, nước ngập lên tận gối. Ánh sáng chói chang làm nàng giựt mình: – Ai làm chi vậy? Chỗ này… của người ta gánh nước. Mười Hấu hơi e ngại, nói khéo cho con nghe: – Ngó ơi! Cậu Hai tới thăm là vinh hạnh cho con. Con cứ vui cười. Cậu Hai Minh hơi xúc động. Mấy tháng qua, cậu chỉ lân la với mấy nàng hầu thiếp ở trong phòng kín đáo, toàn là những cô gái ăn mặc sạch sẽ và ốm yếu mảnh khảnh. Cô Ngó đúng là một pho tượng, căng đầy nhựa sống. Cậu Hai cầm ngọn đuốc, đến gần. Cô lính quýnh, bước ra giữa dòng. Cậu vói tới, nắm tay cô mà kéo lại: – Lên bờ cho vui. Tôi đã nói là cứ tự nhiên. Tôi tới đây để tìm cái… tự nhiên mà. Cô Ngó mỉm cười, để lộ hai hàm răng đều đặn: – Dạ, mắc cỡ lắm, cậu Hai! Mình mẩy ướt mem như vầy khó coi quá, thành ra vô lễ với cậu. Hai Ú nói: – Cô Ngó cứ lên bờ, ngồi bên tảng đá để nghe cậu Hai dạy việc. Cậu Hai dìu người đẹp lên bờ, Mười Hấu bèn đem bầu rượu trao tận tay: – Xin mời cậu… – Ngon lắm! Ngon Iắm. Tôi uống rượu một mình coi sao được? Xưa nay vua đâu uống ruợu một mình. Vua uống thì các quan đại thần và hoàng hậu đều uống. Đem rượu ra, uống không hết thì đổ bỏ xuống dòng suối tiên nầy. Hai ba cô gái gánh nước đứng gần cô Ngó cũng hưởng được chút ân huệ, nhưng làm sao các cô nuốt được thứ rượu đế quá cay, quá nồng! Hai Ú nhắc nhở từng chập: – Cứ uống. Uống không nổi thì cứ làm bộ đưa lên môi. Bầu rượu được cậu Hai đưa sát môi cô Ngó. Cô nhăn mặt liếc qua Mười Hấu như để hỏi ý kiến. Mười Hấu nói: – Uống đi con. Cậu Hai đoái tưởng tới con đó. Cậu Hai lim dim đôi mắt, một tay vuốt mái tóc người đẹp, một tay nghiêng bầu rượu. Rượu đổ tràn xuống ngực người đẹp. Cậu đưa tay ra phía sau: – Rượu nữa! Rượu nữa! Cô tên gì? Uống rượu không được thì chắc là tắm bằng rượu được… Cô Ngó ôm ngực van nài: – Lạnh lắm… Cho tôi về. – Tôi cho cô về… chiếc ghe của tôi. Hai Ú đâu rồi? Sửa soạn về. Nãy giờ tao cũng hơi lạnh. Muỗi cắn quá. Xứ nầy nhiều muỗi. Bây giờ cô Ngó cầm đuốc dẫn đường cho tôi xuống bến. Hai Ú đi sát bên cô Ngó mà nói khẽ: – Nên hầu hạ khéo léo cho cậu Hai vui. Tài sản của ông Chúa Hòn để lại cho cậu Hai, nghĩa là để cho cô. Cậu Hai nhiều khi khờ dại, cô nên hy sinh để cho cha mẹ và chòm xóm được nhờ. Dân chúng hai bên đường ngồi nép mình bên cánh cửa mà trông ra. Họ vừa mừng vừa sợ. Nếu cô Ngó được cậu Hai đem về Hòn Chông làm tì thiếp thì cha cô là Mười Hấu trở nên hách dịch, ai chịu cho nổi. Cô Ngó vào nhà, thay quần áo mới, trong khi cậu Hai Minh nằm trên ghe, thúc hối từng chập: – Trốn rồi sao chớ! Muỗi cắn chết. Tụi bây lo cho tao chớ.Tao hơi mệt rồi đó. Đắp mền cho tao. Con nhỏ đó sao chưa xuống đây quạt muỗi cho tao! Lát sau, chiếc ghe hầu trở về Hòn Chông, bốn con trâu kéo hì hục. Tội nghiệp cho mấy thằng bé cỡi trâu. Chúng nó ngủ gục từng chập, bị Hai Ú chửi rủa không ngớt mồm. Cô Ngó ngồi bên gối của cậu Hai, cầm cây quạt lông mà phe phẩy, cậu Hai khen ngợi từng chập: – Giỏi quá, khỏe quá! Quạt mạnh tay cho muỗi bay bớt thì ta mới ngủ được. Về Hòn Chông ít muỗi mòng hơn. Mỗi ngày, cô em cứ ở không mà quạt cho ta ngủ, khỏi gánh nước. Cậu Hai Minh đến Hòn Chông vào lúc hừng sáng. Hai Ú cõng cậu lên nhà. Cô Ngó hơi sợ vì lần đầu tiên trong đời, cô bước vào căn nhà sang trọng, đúng ra là ba bốn căn nhà cất chung trong vòng rào kiên cố. Năm sau cô Ngó hạ sanh một đứa con trai. Mấy nàng tì thiếp khác lấy làm bất mãn và ganh tị. Bà chánh thất lo ngại hơn ai cả, vì đứa bé nọ có thể tranh giành gia tài và ngôi vị với đứa con của bà. Bà đến gặp cậu Hai để cằn nhằn: – Ông làm như vầy còn gì thể diện! Cậu Hai đáp: – Tôi là… ông Chúa Hòn. Ba tôi đã trao quyền hạn cho tôi. Hằng ngày, nếu không đùa giỡn thì tôi làm gì bây giờ? Tôi thích đi đó đi đây, lâu lâu uống rượu say một lần. Bà chánh thất nói khẽ: – Con Ngó là đứa mà tôi không ưa. Nó làm mất thể diện dòng họ. – Trời ơi! Bà đừng vu cáo mà tội nghiệp nó. Nó là gái quê, là tì thiếp, hằng đêm cầm quạt đuổi muỗi cho tôi ngủ. Nhờ nó mà bà được rảnh rang, vả lại, hễ gặp bà là nó chắp tay xá… – Nó sanh đứa con trai. Nó là con của thằng Mười Hấu quê mùa dốt nát ở núi Mo So. Mười Hấu trở thành… cha vợ của ông Chúa Hòn, thiên hạ đàm tiếu nhiều lắm rồi. Cậu Hai bị chạm tự ái nên quát to: – Bà đừng nói vậy. Muốn tôi đuổi con Ngó sao? Tôi chưa đuổi nó được trong năm nay, nhưng tôi hứa là vài năm nữa nó không còn ở nhà nầy. – Nhưng thằng con của con Ngó! Nay mai nó tranh quyền hạn với con tôi thì sao? Ông nên suy nghĩ lại… Câu nói ấy khiến cậu Hai Minh bâng khuâng. Lập tức, ông vào phòng riêng nằm dài, vỗ trán cho bớt nhức đầu. Nãy giờ, cô Ngó đã nghe ngóng được câu chuyện. Chờ khi cậu Hai ngồi dậy uống chén trà, cô mới than thở; – Tội nghiệp em, nếu ở đây hoài, chắc có ngày em chết vì bà lớn. Tốt hơn, ông cho em bồng con về núi Mo So để rồi xin vô chùa, đi tu. – Đâu được! Đôi mắt đen huyền và làn da trắng mịn của cô Ngó khiến cậu Hai ngây ngất. Cậu vuốt ve cô nhưng cô ngồi lui ra, cầm cây quạt mà phe phẩy, cánh tay với tới. Những cảnh ghen tương giận hờn và tranh chấp quyền lợi đã xảy ra quá nhiều lần, nào riêng gì trong năm nay. Tin rằng thời gian trôi qua thì mọi việc đều tự dàn xếp êm thấm, cậu Hai uống thêm vài chén rượu rồi ngủ khò. Cô Ngó ngưng tay, không quạt nữa. Đến trưa, khi cậu mở mắt thức dậy thì cô lanh tay cầm cây quạt đứng thẳng người phía sau lưng. Đột nhiên cô buông tay. Cây quạt rơi xuống nền gạch, cán bằng ngà gây tiếng động vừa khô khan, vừa tức tối. Cậu day lại. Cô Ngó giả vờ như giựt mình, vội cúi mình lượm cây quạt đem lên, xem kỹ rồi run rẩy đến quì bên cạnh cậu Hai: – Ông tha cho tôi. Cán quạt nứt bể rồi. Cây quạt nầy quý giá lắm. Nói xong, nàng ngả người, quơ tay lên trời, kêu lên ú ớ mấy tiếng rồi nằm dài trên gạch. Cậu Hai đứng dậy quì bên cạnh đỡ nàng lên: – Em! Sao vậy? Tôi ở đây thì em cứ ở đây. Tôi chưa nói điều gì mất lòng em mà. Làm vậy tôi buồn… Cô mở mắt ra, nói khẽ: – Em chưa đủ sức để hầu hạ ông, ông nên tìm người khác. Em đâu dám hờn giận ai. Chẳng qua là em thức quá nhiều. Nãy giờ, em đứng mà quạt không nghỉ tay. Mấy ngón tay tê cóng, phần thì hồi sáng đến giờ em chưa rảnh để ăn món gì ráo… Lần đầu tiên trong đời, cậu Hai để rơi hai giọt nước mắt. Suốt đêm rồi, Ngó ngồi ngoài mùng mà quạt cho cậu được mát mẻ, đến canh ba, khi giật mình thức dậy, cậu vẫn thấy cô ngồi lì một chỗ, bảo đi ngủ thì cô trả lời rằng còn đủ sức quạt hầu. Rồi đến trưa nay, cô Ngó lại đứng quạt. Đúng là một cực hình mà cô chịu đựng không một lời than thở. Cậu Hai nói: – Mệt thì em lên giường tôi. Cô Ngó lắc đầu: – Em đâu dám. Rủị bà chánh thất bắt gặp, chắc em bị giết… – Tôi gọi đứa khác vô đây để em nghỉ tay. Từ rày về sau, em khỏi làm công việc cực nhọc nầy. – Thôi, cho em về mà nuôi con. Nó là con trai, em thương nó lắm. Hai tiếng ‘‘con trai’’ khiến cậu Hai thêm kiêu hãnh. Đây là đứa con trai thứ nhì của cậu, phải nuôi nó bằng được để dự phòng trường hợp đứa con trai của bà vợ lớn chết thình lình. Cậu đáp: – Em ở đây. Người chánh thất giận vì em có con trai, tôi biết. Bây giờ, em tìm cách gởi đứa con đó đi xa, đặt tên xấu xí. Hễ mang tên xấu thì làm sao nó trở về đây chia gia tài được? Thế là hôm sau, mọi sự thắc mắc trong gia đình cậu Hai Minh đều được giải quyết êm ái. Đứa con mới sanh phải mang tên là thằng Cẩu – nghĩa là con chó. Mười Hấu được mời đến Hòn Chông để lãnh đứa cháu ngoại đem về, nuôi tại núi Mo So. Cậu Hai ban cho Mười Hấu mười lượng vàng. Cô Ngó bị đày xuống nhà bếp, lo cơm nước cho cậu Hai. Mời các bạn đón đọc Bà Chúa Hòn của tác giả Sơn Nam.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Tình Khúc Chiều Thu
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Tình Khúc Chiều Thu của tác giả Quỳnh Dao. Năm giờ chiều tan sở, Đồng Chi Quyên vội vã rời khỏi văn phòng làm việc ở cao ốc Giao Tân. Nàng đi thẳng sang cửa hàng thực phẩm tận bên kia đường. Buổi sáng khi đi làm, bước ngang qua đây, Chi Quyên đã thấy nó được đựng trong những chiếc hộp xinh xắn. Vy mà thấy được hẳn vui lắm. Chi Quyên nghĩ điều đó chợt thấy lâng lâng niềm vui. Cách đây không lâu, Vy còn nói với nàng. - Chị Ơi, hôm nào mình đi đào củ năng nhé? Hôm nào? Chi Quyên không thể nói cho Vy biết là không bao giờ có cái ngày đó nữa. đào củ năng? đó là chuyện xảy ra đã lâu... Lâu lắm rồi. đến độ Chi Quyên cũng quên bẵng đi. Vậy mà Vy vẫn nhớ. Lúc đó, gia đình của Chi Quyên ở ngoại ô thành phố Đài Bắc. Chung quanh nhà toàn là những cánh đồng cỏ lau. Mỗi sáng, cha mẹ, Chi Quyên và Vy đều ra ngoài, chạy nhảy trên đồng cỏ, hái hoa, đào củ năng... Lúc đó Chi Quyên và Vy thường đua nhau xem ai đào được củ to.  Bấy giờ Chi Quyên 17 và Vy mới 16 tuổi, cha mẹ còn đầy đủ. Thế còn bây giờ, cha mẹ Ở đâu? Lúc đó ngoại ô Đài Bắc chỉ có cỏ dại, ruộng vườn. Còn bây giờ, ở những nơi đấy đã mọc đầy những ngôi nhà cao tầng. Thời gian trôi nhanh, mọi vật dời đổi... Vy có biết những điều đó không? Có cần cho nó biết không? Đến trước cửa hàng thực phẩm, Chi Quyên thấy rõ ràng hàng củ năng mới dược chào hàng. Từng hộp từng hộp xinh xắn bọc trong giấy nhựa, có cả băng vải cột bên ngoài trông thật dễ thương.  Chi Quyên cầm một hộp lên rồi xem giá tiền, 40 đồng! Chi Quyên giật mình. Số tiền to quá, phải 40 đồng mới mua được hộp củ năng nhỏ. Với 40 đồng đó. Chi Quyên có thể làm được biết bao việc. Có thể mua áo mới cho Vỵ à, đôi giày cũng đã thủng đế... Mà Chi Quyên cũng không biết tại sao Vy lại mặc áo hao như vậy, giày cũng mau mòn như vậy? Nhưng mà... Chi Quyên lại phân vân với hộp củ năng trên taỵ 40 đồng, mắc quá. Lương tháng cả tháng của Chi Quyên lại chỉ có 4000 đồng... Thế này... Chi Quyên lại lưỡng lự. Ông Chủ tiệm bước ra.  - Cô muốn mua mấy hộp hở cô? Mấy hộp à? Chi Quyên mở to mắt. một hộp còn không có tiền mua ở đó mà mấy hộp. Chi Quyên lắc đầu vừa định rời khỏi tiệm, thì sau lưng có tiếng kèn xe. Chi Quyên quay người lại chiếc Datsun quen thuộc đang ngừng trước cửa tiệm. Một người đàn ông trung niên bước xuống xe.  - Mua trái cây hở Chi Quyên? Chi Quyên giật mình, đó là ông Phùng Tính Lân và là ông chủ của nàng. Không hiểu sao mỗi lần đứng trước ông Lân là Chi Quyên bối rối. Cái thái độ từ tốn, chậm rãi mà chỉ có những người đàn ông từng trải mới có, dễ làm cho người đối diện lúng túng. Mỗi lần ông Lân nhìn Chi Quyên như vậy là nàng bối rối. Ngay trong tiềm thức, nàng đã thấy sợ Ông Lân. Tại sao lại sợ? Dư luận ư? Không biết. Chỉ biết một điều là... Công việc làm đối với nàng rất quan trọng. Sự quan trọng đó làm nàng rụt rè. Vâng, Chi Quyên sợ những lời đàm tiếu không đâu, có thể khiến nàng bị mất việc.. Nàng sợ cấp trên không hài lòng... Mà cũng sợ cấp trên "quá hài lòng" nữa. Tóm lại nàng sợ đủ thứ. Làm người quả khó khăn.  - Dạ, không... Tôi chỉ mua một hộp củ năng thôi.  Chi Quyên trả lời lí nhí rồi vội vã móc 40 đồng ra trả. Ông Lân hỏi. - Mua có một hộp thôi à? Thế có đủ ăn không? Chi Quyên lúng túng. nàng không biết phải giải thích làm sao, chỉ cúi đầu nói. - Dạ, không phải để ăn! Tại tôi thích củ năng.  ông Tính Lân nhìn Chi Quyên cười, không hỏi tiếp. con gái thường hay vậy. Mua một hộp củ năng, không phải để ăn, để làm gì? Thích thôi à? ông nhìn xuống những hộp năng đang trưng bầy. Những chiếc hộp nhỏ thắt nơ xinh xắn trông thật mộng mợ Ông Lân chăm chú nhìn Chi Quyên. Hàng lông mi dài cong vút, cái khuôn mặt sáng sủa, cái miệng nhỏ xinh xinh và cái cằm nhọn. Nhưng mà không hiểu sao tuổi thanh xuân kia lại như lúc nào cũng có nét buồn u uẩn nào đó... Ông Lân lắc đầu. Nguyên tắc làm việc bấy lâu nay của ông là không dính dáng gì đến chuyện riêng tư của nữ nhân viên. Duy chỉ có Chi Quyên là ngoại lệ cái cô bé mới vào làm có một năm, với thái độ rụt rè cố hữu, lúc nào cũng chăm chỉ với công việc. Không có nụ cười. Khoảng cách chủ tớ khá rõ ràng... Chi Quyên là một cái dấu hỏi. Nhưng dấu hỏi kia lại làm cho ông tò mò để ý. Cái đó ông Lân cũng không biết tại sao, ông chỉ cảm thấy nhiều lúc mình hay thắc mắc một cách kỳ cục. Tại sao vậy?  - Nhà cô ở đâu Chi Quyên? Tôi lái xe đưa cô về nhé?  Chi Quyên vội vã đáp với một chút ngại ngùng.  - Dạ khỏi tôi thích đáp xe buýt hơn.  Nói xong, nàng ôm hộp củ năng bỏ đi như chạy trốn. Mãi đến lúc tiếng xe của ông Lân xa dần, nàng mới thở phào, nàng đi chậm lại. Hướng về phía trạm xe buýt. Ôm chiếc hộp giấy trước ngực, Chi Quyên chợt bâng khuâng. Không biết ban nãy mình có làm gì cho ông Lân buồn không? chuyện đó có ảnh hưởng gì đến công việc làm của mình không? Tất cả những bứt rứt đó chỉ ngừng lại khi chiếc xe buýt trờ tói. Người sao đông thế? giành giật chen lấn lên xe, Chi Quyên bước lên mà lo lắng. Không biết hộp củ năng rồi có bị bẹp đi không? Nàng căng thẳng. 40 đồng đấy! mà chỉ có 20 củ. Bị đè nhẹp là đau vô cùng. Chi Quyên ôm cứng chiếc hộp trước ngực, cẩn thận bước lên xe.  Xe chạy chậm quá. Thật lâu mới đến được trạm gần nhà, Chi Quyên xuống xe, mình đẫm ướt mồ hôi. Nhìn chiếc hộp đựng củ năng còn nguyên vẹn, nàng thở phào nhẹ nhõm. Hoàng hôn của mùa hè. Mặt trời đỏ chói. Một buổi hoàng hôn đẹp. Có niềm vui thoảng nhẹ khi nàng nghĩ đến chuyện Vy sẽ mừng ra sao khi trông thấy chiếc hộp củ năng này. Chi Quyên bước nhanh hơn, đi về phía con hẻm dẫn vào nhà. Nhưng vừa đến đầu hẻm, nàng đã chựng lại nhìn chiếc hộp củ năng trên tay suy nghĩ. Thế này không được, ta không thể đưa cho Vy thế này. Những củ năng nhặt ở ngoài đồng không nằm trong hộp đẹp, Chi Quyên nhớ lại ngày trước, khi cùng gia đình đi đào xới. Nhiều khi còn có cả rễ... Nàng ngẫm nghĩ, rồi cắn răng xé bọc giấy kiếng bên ngoài ra, tháo cả băng vải và hộp carton ném vào sọt rác. Nàng dùng tay bụm lấy 20 củ năng, bước nhanh về hướng nhà. Chưa lách qua cái ngõ hẻm hẹp hơn, Chi Quyên đã nghe thấy tiếng ồn ào. Không cần nghĩ, nàng đã hiểu chuyện gì đang xảy ra. Nàng buồn bực bước nhanh hơn. Trước mắt nàng là Vỵ Dáng dấp cao lớn của Vy đứng giữa lòng hẻm. Mặt mày lem luốc. áo tả tơi với cây chổi trên taỵ Vy đứng chống nạnh như một vị thần giữ cửa, đám trẻ con thì vây quanh vừa cười vừa hét. Chi Quyên thấy cảnh đó, vừa giận vừa buồn. Nàng gọi lớn. - Vy! Vy nghe tiếng chị kêu. Nhưng vẫn đứng bất động, nhìn nàng cười. - Ồ, chị! Chị xem này, em là Trương Phi, em bận giữ thành, không thể đi đâu được hết. Chi Quyên giận dữ. - Vy! Em đã hứa với chị là không ra ngoài. em lại để rách hết áo thế này? Em đã làm sai, em biết không.  Vy tròn mắt nói. - Đâu có chị? Em là Trương Phi mà? Em mới đánh thắng một trận. Chị biết em đánh với ai không? Tào... Tào...  Thằng nhỏ đứng bên cạnh lên tiếng.  - Tào Tháo! Vy kiêu hãnh nói.  - Đúng rồi, Tào Tháo! Em đã đánh thắng trận.  Chi Quyên đau khổ nói.  - Túy Vy Em về nhà ngay cho chị.  Vy lắc dầu.  - Không được. Em là Trương Phi mà.  Chi Quyên nói và bước tới.  - Em tầm bậy quá, em nào phải là Trương Phi, em là Đồng Túy Vy! Túy Vy thấy chị định ngăn nên quay lưng bỏ chạy, vừa chạy vừa nói.  - Chị bắt không được em đâu, chị sẽ không bắt được em đâu.  Chi Quyên giậm chân.  - Túy Vy.  Nàng biết là sẽ gặp rắc rối. Nhưng nhớ sực lại những củ năng, nàng đưa lên: - Túy vy, em lại đây. Chị vừa mới hái củ năng về cho em nè. Quả nhiên vừa nghe nàng nói, Túy Vy đã dừng chân lại, nhưng nó có vẻ nghi ngờ. - Củ năng à? - Ờ. Đây nè. Túy Vy nghiêng nghiêng đầu.  - Chị không gạt em chứ? - Em nhìn thử xem cái này là cái gì? Chi Quyên xoè tay ra. Mắt Túy Vy chợt sáng. Đúng rồi củ năng. Vy hét lên mừng rỡ. Rồi chạy vù về phía Chi Quyên.  - Củ năng, ồ củ năng. Chị mới đi đào đấy à? Chúng ta cùng đi đi.  Ngay lúc đó một chiếc xe gắn máy chạy vụt đến, Chi Quyên sợ quá hét lên.  - Túy Vy, cẩn thận! Nhưng không còn kịp. Diễn biến xảy ra quá nhanh. đầu tiên cây chổi trên tay của Vy đã quơ về phía xe. Làm chiếc xe lách nhanh, đâm sầm vào người Túy Vỵ Chi Quyên sợ hãi, buông hết những củ năng trên taỵ Bổ nhào về phía Túy Vỵ Chiếc xe cũng vừa kịp thắng gấp, đầu xe bị quay đi. Túy Vy và Chi Quyên thì không sao, nhưng chiếc xe đã đổ kềnh. Người lái xe bị té văng mấy vòng. Hình như đã bị thương. Chi Quyên vội chạy đến, tái mặt hỏi: - Trời ơi, anh có sao không? Có bị thương chỗ nào không? Người lái xe nằm dài trên đường. Chiếc nón an toàn ụp xuống mặt. Anh ta chậm rãi ngồi dậy kéo chiếc mũ ra. Một khuôn mặt rất trẻ, rám nắng. Một đôi mắt đầy nghị lực đang trừng trừng nhìn Chi Quyên.  - Mấy người làm gì thế? đang diễn kịch "đánh cướp" ngoài đường ư? Còn nói chuyện được! Thế này hẳn vết thương không nặng lắm. Chi Quyên thở ra nhưng vẫn lo lắng.  - Anh bị thương ở đâu vậy? Gã Thanh niên đứng dậy dựng xe lên, lấy tay gõ gõ lên đầu gối nói. - Chưa biết. Chân và người còn dính liền nhau, tay chưa gãy vậy chắc không sao đâu.  Chi Quyên bứt rứt.  - Nhưng mà... Tay anh đang chảy máu kìa.  Đúng rồi, tay bị lát một miếng da khá lớn, đang chảy máu. Ngoài vết thương đó hình như không còn vết thương nào khác. Chi Quyên còn đang phân vân chợt thấy đám đông bu lại. Túy Vy lại chen vào, nắm lấy tay anh chàng thanh niên khóc.  - Không biết đâu, anh làm vỡ hết những củ năng của tôi, anh phải đền đi. Đền đi! Chi Quyên vừa giật mình vừa tức. Nàng chụp lấy em tức giận la lên...  - Túy Vy... Em đã gây chuyện thế này còn quậy gì nữa chứ? Em muốn chị phải làm sao đây? Túy Vy buông tay thanh niên ra, quay lại nhìn thấy chị khóc, nó có vẻ sợ hãi, lúng túng.  - Chị Quyên, chị đừng khóc, em biết em sai rồi, em sẽ không dám nữa đâu.  Chi Quyên ra lệnh.  - Vậy thì em về nhà tắm rửa cho sạch sẽ đi.  Túy Vy vội bỏ đi, vừa đi vừa nói. - Vâng em đi, em đi ngay đây.  Chi Quyên nhìn theo bóng Túy Vy đi khuất mới quay lại. Anh chàng lái xe mục kích sự việc xảy ra, anh có vẻ ngạc nhiên nhìn đám đông, rồi nhìn Chi Quyên đang khóc, anh ta có vẻ thương hại.  - Không sao đâu, tôi không sao đâu. Nhưng mà sao cô lại khóc? Chi Quyên không đáp chỉ nói.  - Anh đến nhà tôi nhé? Nhà tôi có thuốc, tôi sẽ giúp anh rửa vết thương.  Chợt có một thằng bé nói.  - Đừng có đi, em của chị ấy là thằng điên đấy. Gã thanh niên nghe nói hơi do dự, nhưng Chi Quyên lắc dầu.  - Anh đừng nghe lời chúng nó, em tôi không có điên đâu.  ánh mắt của nàng đen nháy, đôi mắt hơi buồn nhưng thành thật. Gã thanh niên nhìn Chi Quyên rồi quyết định: mặc, điên hay không thì chẳng phải vấn đề. Không lẽ chỉ nghe dọa là rút lui? Thế là vừa đẩy xe anh vừa nói với Chi Quyên.  - Được rồi, tôi sẽ theo cô.  Đám đông đứng qua một bên. Chi Quyên dẫn đường về nhà. Gọi là "nhà" chứ đấy giống như một chòi nhỏ không sân, mặt hướng ra hẻm, đa số những ngôi nhà ở khu này đều như nhau, những ngôi nhà gỗ cũ kỹ không lầu, chật hẹp. Có lẽ chẳng bao lâu nữa, một hoặc hai năm. Rồi tất cả sẽ bị thay bằng những nhà cao tầng. Lúc đó số người sống ở đây sẽ dọn đi đâu? Anh thanh niên trẻ nghĩ ngợi và nhìn quanh một cách hiếu kỳ. Dựng xe ngoài cửa, anh theo chân Chi Quyên bước vào nhà, vừa vào trong đã thấy Vy ngồi đàng hoàng trên ghế. Người đã được lau chùi sạch sẽ. Anh ta đang cắn móng tay, thái độ của kẻ phạm tội đang hối lỗi. Thấy chị và khách bước vào, Vy có vẻ sợ sệt. Quyên nhìn thấy em như vậy, không nỡ giận nữa, nàng thở ra bảo. - Đi tắm rồi thay áo quần đi, xong hãy vào phòng, bao giờ tới giờ cơm chị kêu thì mới được ra nhé. Chi Quyên nói với cậu ta như nói với một đứa bé mới lớn. Túy Vy cũng ngoan ngoãn đứng dậy làm theo, đến cửa, Vy quay lại nhìn chị với ánh mắt rụt rè. - Nhưng mà... Chị không giận em chứ? - Nếu em nghe lời chị, thì chị không giận.  Túy Vy cười rạng rỡ.  - Vâng, em sẽ vâng lời. mai chị sẽ đưa em đi nhặt củ năng nhé? Củ năng? Thàng bé không quên chuyện củ năng. Chi Quyên bứt rứt nhìn em gịuc.  - Ờ, chuyện ngày mai để mai tính. Bây giờ em vào đi.  Túy Vy vẫn rạng rỡ nụ cười, bước nhanh vào trong. Đợi Vy đi khuất, Quyên mới quay lại. Gã thanh niên xa lạ vẫn nhìn Quyên với ánh mắt tò mò. Anh chàng có vẻ không hiểu. Quyên thấy tức cười và nhìn kỹ. Anh ta cao lớn. Chiếc nón an toàn đã được cởi xuống cho thấy mái tóc đen dài. Một khuôn mặt có góc cạnh. Trán cao, mũi cao, mắt to đen, cằm nhọn. Cái "đẹp" của đàn ông hình như có nhiều loại. Chi Quyên thấy Túy Vy đẹp trai, nhưng cái đẹp của Vy là cái đẹp "sữa". Còn anh chàng này đây đẹp trai như một thanh niên thực thụ.  Chi Quyên chỉ chiếc ghế mây rồi do dự hỏi. - Mời anh ngồi. Anh có thể cho biết quý danh không? Gã thanh niên trẻ nói. Tôi họ âu. Tên Dương Phẩm. Còn cô? - Dạ. Tôi là Đồng Chi Quyên! Chi Quyên nói rồi bước tới xem xét vết thương trên tay Phẩm. Nàng giật mình, vết thương nặng hơn nàng tưởng. Ngoài một mảng da bị mất, còn có một vết toét dài và sâu. Vậy mà không hiểu sao anh chàng lại có vẻ bình thản, không trách móc, cự nự gì cả. Có lẽ chưa kịp chăng? Chi Quyên nói nhanh: - Anh ngồi đây nhé, để tôi đi lấy thuốc.  Bước vào phòng ngủ, Chi Quyên mang thùng thuốc ra. Ở nhà này, thuốc men gần như không thể thiếu vắng. bởi vì cứ cách mấy hôm là Vy bị thương... Băng bó vết thương là một việc làm thường xuyên của Chi Quyên.  Mở thùng thuốc, Chi Quyên lấy bông băng, nước oxy già. Đỡ lấy cánh tay của Phẩm lên, nàng tỉ mỉ chùi lấy vết thương.  - Có đau một chút thì... ráng chịu nhé.  Dương Phẩm có vẻ lạ lùng, chàng nhìn thùng thuốc, trong đó có đủ tất cả. Bông băng, kéo, thuốc rửa, thuốc sát trùng...  Phẩm buộc miệng.  - Thì ra cô là một y tá? Chi Quyên thành thật nói.  - Không phải, tôi tốt nghiệp ở cao đẳng thương nghiệp. Biết đánh máy và kế toán. Hiện đang làm việc ở một công ty trong thành phố. Còn cái thùng thuốc này đây... được chuẩn bị là vì cậu. em của tôi... nó cứ bị thương thường xuyên.  Lợi dụng lúc Phẩm phân tâm, Chi Quyên lấy bông nhúng vào oxy già, quét mạnh lên vết thương. Phẩm rát quá nhảy nhỏm lên. Chi Quyên ngưng lại một chút, rồi tiếp tục xức thuốc, vừa xức vừa nói để Phẩm quên đau, Giọng Chi Quyên như nghẹn lại.  - Anh biết không, đám trẻ con ở đây chúng cứ ức hiếp em trai tôi. Có một lần chúng đốt lửa, suýt tí đã thiêu sống thằng bé... Thật là tàn nhẫn... Cái số của mỗi người hình như đều có sướng có khổ, nhưng người ta chỉ biết cái khổ của mình, lại bình thản với cái khổ của người khác. Chi Quyên nói và bắt đầu băng lại vết thương cho Phẩm. Phẩm ngập ngừng rồi nói. - Nêú cô không cho là tò mò... Thì cô có thể cho tôi biết...  Chi Quyên nhìn lên, chớp chớp mắt. ánh mắt của nàng buồn buồn. Quyên nói. - Không có gì đâu. Anh cũng xui thật, anh đi ngang qua, rồi tay bay họa gởi. à anh thấy đấy Vy nó đâu có điên đâu? Có điều... trí óc của nó hơi kém phát triển một chút. bác sĩ nói chỉ số thông minh của nó chỉ ngang với một đứa bé năm tuổi. Và anh biết không, khi ba mẹ tôi còn... Có bao nhiêu tiền người đổ hết tìm thuốc men chữa chạy. Nhưng tất cả đều vô nghĩa. Dương Phẩm nhìn ánh mắt trước mặt.  - Cậu ấy bị thế sau một con kích động hay một bệnh nặng? - Không phải. Bác sĩ nói nó bị bẩm sinh... Mà cái chứng này thì như anh biết, có thể có nhiều nguyên dọ Chẳng hạn như lúc mang thai, mẹ tôi đã uống lầm một thứ thuốc nào đó làm ảnh hưởng đến bộ não nó... Hoặc cũng có thể do di truyền... Tóm lại dù bất cứ nguyên nhân gì, bịnh của nó cũng thuộc loại bất trị.  Chi Quyên vẫn tiếp tục công việc.  - Anh biết không, đám trẻ ở đây cứ ức hiếp, cứ mang nó ra làm trò cười. chế giễu, nhưng mà anh thấy đấy... Vy nó chỉ hơi khờ khạo, chứ tính nó khá lành. Nó không hề có ác ý với một ai. Thỉnh thoảng sự khờ khạo của nó gây ra chuyện không hay như hôm nay... thì cũng không phải là một sự cố ý. Chúng ta làm sao đòi hỏi một đứa có trí khôn 4, 5 tuổi làm như người lớn được phải không anh? - Năm nay cậu ấy bao nhiêu tuổi? Chi Quyên thu xếp cồn lọ bông băng vào thùng thuốc, rồi đứng dậy nói.  - 18 tuổi. Anh Phẩm này, tôi thấy để cẩn thận hơn, anh nên đến bệnh viện xem lại... cái vết thương này hơi sâu, tôi chỉ có khả năng tẩy trùng nhẹ thôi... sợ thế này... có thể gây biến chứng.  Dương Phẩm không quan tâm lắm đến cái vết thương. Chàng ngắm cô gái trước mặt, cái nét mặt hiền hòa, chịu đựng kia như thu hút lấy chàng. - Thế bây giờ cha mẹ cô đâu rồi? Chi Quyên lặng lẽ nói.  - Đều qua đời, định mệnh dường như lúc nào cũng cay nghiệt với những kẻ bất hạnh. Mẹ tôi qua đời khi tôi lên 12, Còn cha tôi thì mới cách đây ba năm. Người đã vì Túy Vy mà khá mệt mỏi.  Nàng nói tới đó, chợt như nhớ ra nên ngưng lại, nàng đẩy mái tóc ra sau, rồi cười nói.  - Xin lỗi nhé, anh Phẩm. Khi không rồi đem những chuyện đâu đâu ra kể cho anh nghe... Ồ mà áo quần anh cũng lấm lem rồi kià. Chiếc áo màu xanh, quần jean trắng của Phẩm gìơ lấm lem cả. Bùn có, mà máu cũng có. Nơi lại bị rách. Chi Quyên xuýt xoa.  - Thật là có lỗi với anh.  Phẩm không quan tâm lắm đến quần áo. Chàng mải bận quan sát ngôi nhà. Những dụng cụ gia đình thật đơn giản. Mấy chiếc ghế, một bàn học, một bàn dùng cơm, một bóng đèn tròn. Trên vách một bức tranh thủy mạc cho thấy chủ nhân cũng thuộc hạng người biết chữ nghĩa. Ngôi nhà khá nhỏ có lẽ chỉ có hai phòng sinh họat và một nhà vệ sinh. Một ngôi nhà với hai chị em nương tựa. Chợt nhiên Phẩm thấy có cảm tình. Xưa đến giờ Phẩm chưa hề tưởng tượng ra có một gia đình như thế...  Bóng tối từ bên ngoài đang lùa vào. trời sắp tối, Phẩm yên lặng và Chi Quyên cũng yên lặng.  Cửa phòng trong chợt mở. Túy Vy Y thò đầu ra.  - Chi ơi chị, em đói rồi.  Đói à? Chi Quyên chợt nhớ ra, chưa nấu cơm, nàng lúng túng nhìn Phẩm.  - Xin lỗi anh Phẩm. Tôi phải vào trong nấu cơm. Tôi xin phép và mong là vết thương của anh mau lành, cũng như xe anh không hư nhiều lắm.  Dương Phẩm chợt đưa tay ngăn lại, chàng cũng không hiểu tại sao mới quen mà chàng lại tự nhiên thế.  - Khoan đã nào? Ban nãy cô đã giúp tôi băng bó vết thương, tôi không biết lấy gì cảm ơn... Hay là thế này... Tôi xin phép được mời chị em cô đi ăn ngoài một bữa, được chứ?  Chi Quyên tròn mắt nhìn Phẩm.  - Ồ không được, không được. Chính chị em tôi làm anh ngã xe. Chuyện đó đã làm tôi áy náy lắm rồi... Làm sao, làm sao lại có thể... bắt anh mời cơm nữa chứ? Dương Phẩm cắt ngang.  - Có gì phải quan trọng vậy? Cũng bởi vì... Tôi cũng thấy đói... Tôi cũng định đi ăn cơm. Mà tánh tôi lại không thích ăn cơm một mình. Nếu mời được hai chị em cô là... tôi vui lắm. Từ xưa đến giờ chàng chưa hề bị ai từ chối, nên chàng nói mà hơi phân vân. Ngay lúc đó Phẩm quay lại bắt gặp ánh mắt trẻ thơ của Vy, chàng nói ngay.  - Túy Vy, đói rồi phải không? Thích ăn gì nào? Bánh xép nước? Há cảo, mì bò khỏ hay là thức ăn ngọt? Túy Vy nghe sáng hẳn mắt, quay sang chị.  - Mình có bánh xép nước ăn nữa hả chị? Dương Phẩm chợt nhớ đến những củ năng, bồi thêm.  - Còn có củ năng nữa.  - Củ năng nữa à?  Vy reo lên, Chi Quyên thở dài. - Anh thắng rồi đấy. Chúng tôi thật phiền anh.  Thế là cả ba ra khỏi nhà. Đèn đường đã bật sáng. Bầu trời chỉ có vài ánh sao. Chi Quyên quay sang Phẩm. Chợt thấy ngày tháng như không còn đơn điệu nữa. Gió đem mát lạnh mùa thu đã đến. Mời các bạn mượn đọc sách Tình Khúc Chiều Thu của tác giả Quỳnh Dao.
Thầy Thông Ngôn
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Thầy Thông Ngôn của tác giả Hồ Biểu Chánh. Ông Hương sư Trần Văn Sắc, ở Tầm vu, có một đứa con trai tên là Trần Văn Phong, cho lên Sài Gòn học, tuổi vừa mới hai mươi mà đã thi đậu Đíp lom và được cử về Bạc Liêu làm thơ ký học tập. Cả gia đình ông Hương sư kể cả Trần văn Phong hy vọng qua đó sẽ là bức thang danh vọng cho gia đình; Phong sẽ lấy được con gái nhà giàu có. Cũng vì vậy mà Phong đã bội ước với cô Hai Liền, người mà Phong hứa sẽ cưới sau khi học thành tài. Về Bạc Liêu làm việc, ngoài dự tính của Phong, thầy thơ ký mới tập sự gặp nhiều khó khăn trong công việc. Trên tình trường, Phong xém bị lừa gạt và bị làm nhục. Thời may đưa đến, Phong quen với Hội đồng Quản hạt ở Long Xuyên vừa mới đắc cử. Phong được Hội đồng Quản hạt giới thiệu cho cưới cô Như Hoa là con gái của một nhà cực giàu trong tỉnh Châu Ðốc. Do liên hệ của Hội đồng Quản hạt, Phong được chuyển về Châu Ðốc làm thông ngôn cho chủ tỉnh. Trong khi danh vọng được lên cao thì cuộc tình duyên của Phong đưa đến đổ vở vì Như Hoa hách dịch và ngoại tình. Cuối cùng xảy ra cuộc án mạng. Như Hoa bị chết để lại một đứa con cho Phong nuôi. Buồn chán Phong trở về Tầm vu và hy vọng lập lại cuộc tình duyên với cô Hai Liền, nhưng nhiều chuyện lại xảy ra ngoài sự dự tính của Phong... *** Tóm tắt Tiểu thuyết Thầy Thông Ngôn kể về câu chuyện của Trần Văn Phong, một chàng trai trẻ tuổi, học giỏi, được gia đình gửi lên Sài Gòn học. Sau khi thi đỗ Đíp lom, Phong được cử về Bạc Liêu làm thơ ký học tập. Về Bạc Liêu, Phong gặp nhiều khó khăn trong công việc và tình trường. Phong xém bị lừa gạt và bị làm nhục. May mắn thay, Phong quen với Hội đồng Quản hạt ở Long Xuyên và được giới thiệu cho cưới cô Như Hoa, con gái của một nhà giàu có ở Châu Đốc. Phong được chuyển về Châu Đốc làm thông ngôn cho chủ tỉnh. Cuộc sống của Phong trở nên sung túc và danh vọng. Tuy nhiên, cuộc hôn nhân của Phong với Như Hoa không hạnh phúc. Như Hoa là người hách dịch, ngoại tình và cuối cùng đã bị giết chết. Phong trở về Tầm vu và hy vọng lập lại cuộc tình duyên với cô Hai Liền, người mà Phong từng hứa sẽ cưới. Tuy nhiên, cô Hai Liền đã lấy chồng khác. Phong đau khổ và quyết định đi tu. Đánh giá Tiểu thuyết Thầy Thông Ngôn là một tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao. Tác phẩm đã thể hiện được những nét đặc trưng của văn học Nam bộ giai đoạn giao thời 1900-1930. Thứ nhất, tác phẩm đã thể hiện được sự giao thoa của văn học trung đại và văn học hiện đại. Trong tác phẩm, ta vẫn thấy được những yếu tố của văn học trung đại như lối kể chuyện truyền thống, những lời bình luận của tác giả,... Tuy nhiên, bên cạnh đó, tác phẩm cũng có những yếu tố của văn học hiện đại như việc khắc họa tâm lý nhân vật, xây dựng tình huống truyện,... Thứ hai, tác phẩm đã phản ánh được những vấn đề của xã hội Nam bộ giai đoạn giao thời. Đó là những vấn đề như vấn đề người trí thức, vấn đề hôn nhân gia đình,... Thứ ba, tác phẩm đã thể hiện được tài năng của Hồ Biểu Chánh trong việc xây dựng nhân vật. Các nhân vật trong tác phẩm đều được xây dựng một cách chân thực, sinh động, có cá tính riêng. Nhân vật Trần Văn Phong là một nhân vật tiêu biểu cho thế hệ trí thức trẻ của Nam bộ giai đoạn giao thời. Phong là một người học giỏi, có chí cầu tiến nhưng lại thiếu bản lĩnh, dễ bị tha hóa bởi danh vọng và tiền bạc. Nhìn chung, tiểu thuyết Thầy Thông Ngôn là một tác phẩm đáng đọc. Tác phẩm đã góp phần làm phong phú thêm cho nền văn học Việt Nam. Đánh giá chi tiết Cốt truyện: Cốt truyện của tiểu thuyết Thầy Thông Ngôn được xây dựng theo lối truyền thống, theo mô-típ "từ thiện đến ác, từ thiện đến khổ". Tuy nhiên, tác giả đã khéo léo lồng ghép những yếu tố hiện đại vào tác phẩm, khiến cho cốt truyện trở nên hấp dẫn, lôi cuốn hơn. Nhân vật: Các nhân vật trong tiểu thuyết Thầy Thông Ngôn đều được xây dựng một cách chân thực, sinh động, có cá tính riêng. Nhân vật Trần Văn Phong là một nhân vật tiêu biểu cho thế hệ trí thức trẻ của Nam bộ giai đoạn giao thời. Phong là một người học giỏi, có chí cầu tiến nhưng lại thiếu bản lĩnh, dễ bị tha hóa bởi danh vọng và tiền bạc. Nhân vật Như Hoa là một nhân vật phản diện, là nguyên nhân dẫn đến bi kịch của Phong. Tình huống truyện: Tình huống truyện trong tiểu thuyết Thầy Thông Ngôn được xây dựng một cách hợp lý, logic. Tình huống truyện đã góp phần đẩy nhanh mạch truyện, tạo nên những xung đột, mâu thuẫn giúp cho nhân vật phát triển tính cách, thể hiện được quan điểm của tác giả. Ngôn ngữ: Ngôn ngữ trong tiểu thuyết Thầy Thông Ngôn được sử dụng một cách linh hoạt, phù hợp với từng hoàn cảnh, nhân vật. Ngôn ngữ của tác phẩm cũng được sử dụng một cách uyển chuyển, giàu hình ảnh, giúp cho tác phẩm trở nên hấp dẫn, lôi cuốn hơn. Kết luận Tiểu thuyết Thầy Thông Ngôn là một tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao. Tác phẩm đã thể hiện được những nét đặc trưng của văn học Nam bộ giai đoạn giao thời. Mời các bạn mượn đọc sách Thầy Thông Ngôn của tác giả Hồ Biểu Chánh.
Thầy Chung Trúng Số
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Thầy Chung Trúng Số của tác giả Hồ Biểu Chánh. Năm 1944, đầu tháng 5, trời tối một lát thì có tiếng còi báo động thổi rang tất cả vùng Sài-Gòn, Chợ-Lớn, Gia-Định. Tuân theo luật phòng-thủ thụ-động, ai cũng lo đóng cửa tắt đèn đặng xuống hầm. Tiếng còi dứt rồi thì quang cảnh im-lìm, châu thành vắng hoe chẳng khác nào bãi sa-mạc. Cách chẳng bao lâu, mấy đoàn phi-cơ tiếp nhau bay ù-ù trên không-phận Sài-Gòn thả bom xuống nổ tưng-bừng từ Xóm-Chiếu qua phía chợ Bến-Thành làm cho nhơn-dân đều kinh hồn khiếp vía. Đến sáng người ta đồn vang có nhiều nhà tang hoang, có nhiều người vong mạng. Tôi tò-mò đi xem. Ôi thôi ! Tôi rất đau đớn mà nhận thấy tai-nạn chiến-tranh tàn khốc của thiên-hạ gây ra cho lương-dân Việt-Nam phải gánh chịu. Vừa đau lòng, vừa tức trí, tôi thả bước đi cho giải khuây, không cần tính đi đâu. Tình-cờ vô tới khúc đường Frère Louis, tôi chợt thấy một dãy phố cũ-kỹ, thấp thỏi, tôi dừng bước và ngó vào. Đây là chỗ tôi ở một thời gian, cách 34 năm về trước. Những kỷ-niệm xưa phát hiện rõ-ràng trước mắt tôi. Dãy phố 10 căn tuy cũ song vẫn còn nguyên như xưa. Căn bìa đây là căn nhà của bà Phán Lý ở. Bà là một sương phụ tuổi lối 50, bà ở với cô Thiên-Hương, con gái của bà chừng 20 tuổi, tuấn-tú dung-nhan, đoan-trang hạnh-kiểm. Bà Phán Lý luôn luôn mặc y-phục trắng bằng lụa trắng. Bà ít khi ra đường, lại cũng ít tới nhà ai mà chơi. Còn cô Thiên-Hương thì ngày như đêm cô cứ cặm-cụi thêu khăn lụa và thêu mặt giầy để gởi cho mấy tiệm bán. Căn kế đó là căn của thầy Chung ở. Thầy trẻ tuổi, đẹp trai, học đã có bằng Thành-chung mà chưa có vợ, lại mồ-côi cha mẹ, cũng không có anh em. Thầy ở đây một mình, thầy làm việc trong một nhà in lớn ở đường Kinh-Lấp, lương mỗi tháng 25 đồng. Thầy nói thầy ăn cơm tháng tại quán dì hai ở đường hẻm d’Ormay, không ai biết dì tên chi, thấy dì mập-mạp nên gọi tên dì là «Dì Hai phì lủ». Ăn cơm hai bữa, trưa được nghỉ trên lầu, phải trả cho dì mỗi tháng 10 đồng. Căn kế nữa thì vợ chồng chú thợ Tư ở. Chú làm thợ mộc trong một nhà thuốc tây ngoài đường Catinat, chú chuyên đóng thùng để gởi thuốc xuống lục tỉnh. Tôi ở căn khít với chú thợ Tư đây, ở gần hai năm êm ấm vô cùng. Còn 6 căn kế thì thầy giáo, thầy ký, thầy thông thuộc các sở ở, ai cũng có vợ như tôi, có thầy lại được mụn con nhỏ ban đêm khóc chói-lói. Hồi đó số lương của mấy thầy chỉ có vài ba chục, mỗi tháng phải trả tiền phố hết 5 đồng. May nhờ giá sanh-hoạt rẻ, lại cũng nhờ biết tiện-tặn. không coi hát bóng, không ngồi nhà hàng, nên ai cũng sống được. Lần bước về nhà, những cảnh trông thấy hôm nay, với những tưởng nhớ ngày xưa cứ trạo-trực trong trí tôi hoài, làm cho tôi ngẩn-ngơ lơ-lửng. Tối lại, ngoài sân nước mưa hè rỉ-rả không dứt. Trên án thắp đèn dầu phộng bủa yến sáng tuy không tỏ, song cũng đủ đọc sách viết văn được. Ngồi bên bóng đèn leo-lét, tôi hồi tưởng đến mấy người quen năm xưa cùng tôi chung sống trong dãy phố đường Frère Louis. Tôi nhớ chuyện thầy Chung với mẹ con bà Phán Lý, tôi bắt tức cười. Tôi cười là vì ba người nầy mường-tượng như nhơn-vật trong chuyện «La Cure de Misère“ của nhà văn-hào Pháp là François Coppé. Tôi liền lấy giấy ra viết chuyện thầy Chung, viết đặng quên thảm-họa của lương-dân vô tội mà bị sát hại rất đau, rất ức. *** Tóm tắt Tiểu thuyết Thầy Chung Trúng Số kể về câu chuyện của thầy Chung, một thanh niên trẻ tuổi, đẹp trai, học giỏi nhưng mồ côi cha mẹ, sống một mình. Thầy Chung làm việc trong một nhà in với mức lương 25 đồng/tháng. Hàng ngày, thầy ăn cơm trưa tại quán của dì Hai phì lủ. Một ngày nọ, thầy Chung đi mua sắm ở chợ thì gặp bà Phán Lý, một góa phụ có con gái xinh đẹp là Thiên Hương. Bà Phán Lý bị thu hút bởi vẻ ngoài lịch lãm của thầy Chung nên đã ngỏ ý muốn gả Thiên Hương cho thầy. Ban đầu, thầy Chung không đồng ý vì nghĩ rằng mình không xứng đáng với Thiên Hương. Tuy nhiên, sau khi nghe bà Phán Lý kể về hoàn cảnh của Thiên Hương, thầy Chung đã đồng ý. Hai người kết hôn và sống hạnh phúc bên nhau. Thầy Chung tiếp tục làm việc trong nhà in, còn Thiên Hương ở nhà chăm lo cho gia đình. Một ngày nọ, thầy Chung trúng số độc đắc với số tiền 100.000 đồng. Thầy Chung quyết định dùng số tiền này để giúp đỡ những người nghèo khó. Thầy Chung mở một trường học miễn phí cho những trẻ em nghèo. Thầy cũng quyên góp tiền để xây dựng cầu cống, đường xá, giúp đỡ những người gặp khó khăn. Sự tốt bụng của thầy Chung đã khiến cho mọi người yêu mến. Thầy được mệnh danh là “Thầy Chung trúng số”. Đánh giá Tiểu thuyết Thầy Chung Trúng Số là một tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao. Tác phẩm đã thể hiện được những nét đặc trưng của văn học Nam bộ giai đoạn giao thời 1900-1930. Thứ nhất, tác phẩm đã thể hiện được sự giao thoa của văn học trung đại và văn học hiện đại. Trong tác phẩm, ta vẫn thấy được những yếu tố của văn học trung đại như lối kể chuyện truyền thống, những lời bình luận của tác giả,... Tuy nhiên, bên cạnh đó, tác phẩm cũng có những yếu tố của văn học hiện đại như việc khắc họa tâm lý nhân vật, xây dựng tình huống truyện,... Thứ hai, tác phẩm đã phản ánh được những vấn đề của xã hội Nam bộ giai đoạn giao thời. Đó là những vấn đề như vấn đề nghèo đói, vấn đề hôn nhân gia đình, vấn đề người phụ nữ,... Thứ ba, tác phẩm đã thể hiện được tài năng của Hồ Biểu Chánh trong việc xây dựng nhân vật. Các nhân vật trong tác phẩm đều được xây dựng một cách chân thực, sinh động, có cá tính riêng. Nhìn chung, tiểu thuyết Thầy Chung Trúng Số là một tác phẩm đáng đọc. Tác phẩm đã góp phần làm phong phú thêm cho nền văn học Việt Nam. Đánh giá chi tiết Cốt truyện: Cốt truyện của tiểu thuyết Thầy Chung Trúng Số được xây dựng theo lối truyền thống, theo mô-típ "tình yêu - sóng gió - hạnh phúc". Tuy nhiên, tác giả đã khéo léo lồng ghép những yếu tố hiện đại vào tác phẩm, khiến cho cốt truyện trở nên hấp dẫn, lôi cuốn hơn. Nhân vật: Các nhân vật trong tiểu thuyết Thầy Chung Trúng Số đều được xây dựng một cách chân thực, sinh động, có cá tính riêng. Nhân vật thầy Chung là một người tốt bụng, hào phóng, luôn muốn giúp đỡ những người nghèo khó. Nhân vật Thiên Hương là một người phụ nữ xinh đẹp, dịu dàng, biết lo toan cho gia đình. Tình huống truyện: Tình huống truyện trong tiểu thuyết Thầy Chung Trúng Số được xây dựng một cách hợp lý, logic. Tình huống truyện đã góp phần đẩy nhanh mạch truyện, tạo nên những xung đột, mâu thuẫn giúp cho nhân vật phát triển tính cách, thể hiện được quan điểm của tác giả. Ngôn ngữ: Ngôn ngữ trong tiểu thuyết Thầy Chung Trúng Số được sử dụng một cách linh hoạt, phù hợp với từng hoàn cảnh, nhân vật. Ngôn ngữ của tác phẩm cũng được sử dụng một cách uyển chuyển, giàu hình ảnh, giúp cho tác phẩm trở nên hấp dẫn, lôi cuốn hơn. Kết luận Tiểu thuyết Thầy Chung Trúng Số là một tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao. Tác phẩm đã thể hiện được những nét đặc trưng của văn học Nam bộ giai đoạn giao thời 1900-1930. Tác phẩm đã góp phần làm phong phú thêm cho nền văn học Việt Nam.   Mời các bạn mượn đọc sách Thầy Chung Trúng Số của tác giả Hồ Biểu Chánh.
Sống Thác Với Tình
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Sống Thác Với Tình của tác giả Hồ Biểu Chánh. Sống Thác Với Tình là tiểu thuyết thứ 63 của nhà văn Hồ Biểu Chánh, sáng tác vào năm 1957. Mời thưởng thức tác phẩm. Tóm tắt Tiểu thuyết Sống Thác Với Tình kể về câu chuyện tình yêu đầy éo le giữa hai nhân vật chính là Thanh và Mẫn. Thanh là một cô gái xinh đẹp, tài năng và có học thức. Mẫn là một chàng trai nghèo nhưng có chí cầu tiến. Hai người yêu nhau say đắm nhưng lại gặp phải nhiều trắc trở. Thanh là con gái của một gia đình giàu có. Mẹ cô là một người phụ nữ độc đoán, luôn muốn gả Thanh cho một người giàu có, có địa vị. Mẫn là con trai của một gia đình nông dân nghèo. Anh phải đi làm thuê để kiếm sống. Hai người yêu nhau nhưng không dám công khai vì sợ bị gia đình Thanh ngăn cản. Họ chỉ có thể gặp nhau trong bí mật. Một ngày, Mẫn quyết định bỏ đi để tự lập. Anh muốn có một cuộc sống ổn định để có thể cưới Thanh. Thanh đau khổ khi biết Mẫn bỏ đi. Cô tìm mọi cách để tìm gặp anh nhưng không được. Mẹ Thanh vì muốn ép Thanh lấy chồng giàu nên đã bắt cô uống thuốc độc. Thanh may mắn được cứu sống nhưng cô bị câm. Mẫn sau khi tự lập đã trở thành một người giàu có. Anh tìm gặp Thanh nhưng Thanh không nhận ra anh. Mẫn đau khổ nhưng vẫn không bỏ cuộc. Anh tiếp tục tìm cách giúp Thanh lấy lại giọng nói. Cuối cùng, nhờ sự giúp đỡ của một thầy lang, Thanh đã lấy lại được giọng nói. Cô nhận ra Mẫn và hai người đã đoàn tụ. Đánh giá Tiểu thuyết Sống Thác Với Tình là một tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao. Tác phẩm đã thể hiện được những nét đặc trưng của văn học Nam bộ giai đoạn giao thời 1900-1930. Thứ nhất, tác phẩm đã thể hiện được sự giao thoa của văn học trung đại và văn học hiện đại. Trong tác phẩm, ta vẫn thấy được những yếu tố của văn học trung đại như lối kể chuyện truyền thống, những lời bình luận của tác giả,... Tuy nhiên, bên cạnh đó, tác phẩm cũng có những yếu tố của văn học hiện đại như việc khắc họa tâm lý nhân vật, xây dựng tình huống truyện,... Thứ hai, tác phẩm đã phản ánh được những vấn đề của xã hội Nam bộ giai đoạn giao thời. Đó là những vấn đề như vấn đề hôn nhân gia đình, vấn đề người phụ nữ,... Thứ ba, tác phẩm đã thể hiện được tài năng của Hồ Biểu Chánh trong việc xây dựng nhân vật. Các nhân vật trong tác phẩm đều được xây dựng một cách chân thực, sinh động, có cá tính riêng. Nhìn chung, tiểu thuyết Sống Thác Với Tình là một tác phẩm đáng đọc. Tác phẩm đã góp phần làm phong phú thêm cho nền văn học Việt Nam. Đánh giá chi tiết Cốt truyện: Cốt truyện của tiểu thuyết Sống Thác Với Tình được xây dựng theo lối truyền thống, theo mô-típ "tình yêu - sóng gió - hạnh phúc". Tuy nhiên, tác giả đã khéo léo lồng ghép những yếu tố hiện đại vào tác phẩm, khiến cho cốt truyện trở nên hấp dẫn, lôi cuốn hơn. Nhân vật: Các nhân vật trong tiểu thuyết Sống Thác Với Tình đều được xây dựng một cách chân thực, sinh động, có cá tính riêng. Nhân vật Thanh là một cô gái xinh đẹp, tài năng và có học thức. Cô là hiện thân cho những người phụ nữ Việt Nam thời xưa, luôn khao khát được yêu thương và hạnh phúc. Nhân vật Mẫn là một chàng trai nghèo nhưng có chí cầu tiến. Anh là hiện thân cho những người đàn ông Việt Nam thời xưa, luôn kiên trì, nỗ lực để đạt được ước mơ của mình. Tình huống truyện: Tình huống truyện trong tiểu thuyết Sống Thác Với Tình được xây dựng một cách hợp lý, logic. Tình huống truyện đã góp phần đẩy nhanh mạch truyện, tạo nên những xung đột, mâu thuẫn giúp cho nhân vật phát triển tính cách, thể hiện được quan điểm của tác giả. Ngôn ngữ: Ngôn ngữ trong tiểu thuyết Sống Thác Với Tình được sử dụng một cách linh hoạt, phù hợp với từng hoàn cảnh, nhân vật. Ngôn ngữ của tác phẩm cũng được sử dụng một cách uyển chuyển, giàu hình ảnh, giúp cho tác phẩm trở nên hấp dẫn, lôi cuốn hơn. Kết luận Tiểu thuyết Sống Thác Với Tình là một tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao. Tác phẩm đã thể hiện được những nét đặc trưng của văn hóa Nam Bộ.   Mời các bạn mượn đọc sách Sống Thác Với Tình của tác giả Hồ Biểu Chánh.