Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Cát Cháy

"Cát cháy" viết trực diện về chiến tranh, về cuộc chiến đấu của quân ta với quân địch, mà quân ta ở đây là những đứa trẻ của đội du kích thiếu niên ở Cô Sơn. Từ đây, tác giả đã viết nên một câu chuyện cảm động về sự can đảm, lòng quyết tâm, về tình bạn, tình đồng đội, tình thân vô cùng chân thực, dung dị. Chiến tranh còn nóng hổi mùi bom đạn, với những cuộc càn quét, dồn dân ráo riết của quân địch, nhưng ở đó có những đứa trẻ không sợ đánh giặc. Từ nhỏ đã ý thức được cần phải tham gia vào chiến tranh, phải bền gan bền chí chiến đấu với kẻ thù, để không bị bạn bè chê cười, và để cùng giúp sức với các chú bộ đội lớn hơn. Tuổi nhỏ mà kiên gan, như Ba, như bé Một, như Thấn... và rất nhiều những đứa trẻ khác nữa. Theo dõi hành trình hàng ngày giữa bom đạn ác liệt của những đứa trẻ này, người đọc vừa cảm phục vì sự thông minh, dũng cảm của chúng, lại vừa thót tim, lo lắng mỗi khi thấy chúng đối diện với hiểm nguy. Sự hy sinh của bé Một, cô bé giao liên tháo vát, nhanh nhạy và can đảm đã khiến cho mỗi đứa trẻ sững sờ. Chứng kiến cái chết của cô bạn nhỏ thân thiết, cô đồng chí anh hùng, mỗi đứa trẻ đều như lớn lên, trong đó người chịu tác động nhiều nhất là cậu bé Ba. Ba và Một đã cùng lớn lên và có những kỷ niệm thân thiết với nhau. Tác giả đã dành cho Ba và Một những trang văn vô cùng thơ mộng giữa bom đạn, để dệt nên những khoảnh khắc kỷ niệm đẹp đẽ của hai người bạn, hai người anh em, và đâu đó, tưởng như đã nhen nhóm những rung cảm sâu kín lạ lùng. “Từ phía bờ sông, có một mùi hương như mùi hương hoa dủ dẻ phảng phất theo làn gió bay vào. Mùi hương như tâm hồn con người, qua chiến tranh còn bền vững hơn chính bản thân sự sống của mỗi con người”. Mùi hương ấy, có lẽ Ba sẽ còn giữ mãi, để nhớ về Một. Và sự ra đi của Một khiến Ba trưởng thành hơn, và càng vững tin hơn nữa vào lý tưởng mà mình đang đi. Trong buổi lễ kết nạp thành viên mới của đội du kích thiếu niên, những đứa trẻ để tưởng nhớ về người đồng chí nhỏ nhắn Huỳnh Thị Một đã quyết định lấy tên cô bé đặt cho Đội. Câu chuyện ấy buồn bã nhưng cảm động đến chừng nào. Những đứa trẻ chiến đấu trong Cát cháy của nhà văn Thanh Quế, gợi nên biết bao nhiêu hình ảnh trẻ thơ đẹp đẽ kiên ngang trong chiến trường, như Lượm, Mừng, Quỳnh sơn ca trong Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán, hay cậu bé Gavroche trong Những người khốn khổ của văn hào Victor Hugo, hay cậu bé Ivan trong bộ phim Ivan's Childhood của đạo diễn nổi tiếng người Nga Andrei Tarkovsky... Chiến tranh và trẻ thơ vốn dĩ là hai phạm trù hoàn toàn trái ngược nhau. Trẻ thơ, với sự hồn nhiên, thơ ngây đáng lẽ nên được hưởng một đời sống yên bình, hạnh phúc, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy ra, và mỗi đứa trẻ, vẫn có thể trở thành những người anh hùng. Như những chú lính chì dũng cảm, chúng vượt qua sợ hãi, vượt qua mất mát, để sống cuộc đời phải sống. Mỗi nhà văn khi viết về trẻ con trong chiến tranh, đặc biệt khi chứng kiến khoảnh khắc ngã xuống của chúng, đều như trầm lại, ngậm ngùi, và đầy đau thương. Tác giả Thanh Quế đã có được những trang văn vô cùng cảm động, chân thành và dung dị về những đứa trẻ sống trong thời đại khói lửa buồn thảm ấy. Dù viết về một cuộc chiến trực diện, nhưng văn của Thanh Quế, vốn cũng là một nhà thơ, lại vô cùng mềm mại, uyển chuyển, và đầy những tâm tư. Ông đi sâu vào suy nghĩ trăn trở của mỗi đứa trẻ, như Ba, dù rất dũng cảm, luôn quyết tâm hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, nhưng trong lòng luôn đau đáu một nỗi buồn về người mẹ của mình. Như Thấn, vô cùng thông minh, nhưng lại luôn lo lắng sẽ thua kém bạn bè, bị bạn bè coi thường.... Và hơn hết, tác giả đã viết nên một khúc ca đẹp về tình bạn, tình đồng chí, tình thương mến giữa những đứa trẻ với nhau. Chúng tự đến bên cạnh nhau, an ủi, khích lệ, vun đắp và giúp nhau trưởng thành. Tác phẩm của Thanh Quế hôm nay đọc lại còn thấy vẫn nguyên cảm giác rùng mình vì sự phá hủy của chiến tranh, và vẫn thấy rưng rưng lòng bởi những mất mát, những khổ cực và chân tình mà những đứa trẻ dành cho nhau. Chuyện chiến tranh khép lại được chưa? Có lẽ, ở xứ sở đã chìm trong chiến tranh lâu đến thế, mất mát nhiều đến thế, chuyện chiến tranh vẫn chưa thể khép lại. Tiểu thuyết Cát cháy của Thanh Quế  được lấy chất liệu từ những hoạt động chân thật của Đội du kích thiếu niên Hòa Hải, vùng chân núi Ngũ Hành Sơn, giàu truyền thống cách mạng và văn hóa, vào những năm kháng chiến chống Mĩ ác liệt. Tập sách đã được giải nhì (không có giải nhất) của Hội Nhà văn Việt Nam và Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh năm 1981 và là một trong hai tác phẩm đoạt giải thưởng Nhà nước năm 2012 của nhà văn Thanh Quế… Nhà văn Thanh Quê vốn quê gốc ở Phú Yên. Tại đây ông còn mẹ già và các em gái. Nhưng ngay sau chiến tranh ông sống ở thành phố Đã Nẵng, nơi ông đã gắn bó và cầm bút gần nửa thế kỉ qua. Đà Nẵng chính là quê hương thứ hai nơi lưu giữ những hồi ức sống động bi thương và đẹp đẽ nhất của cuộc đời nhà văn. Ông từng là học sinh miền Nam ra Bắc học ở trường học sinh miền Nam số 24 Hà Đông, rồi vào học khoa sử Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1969 ông vào công tác ở chiến trường khu V. Hiện nay ông là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Tổng thư ký Hội Nhà văn Đà Nẵng. *** Thân tặng đội thiếu niên du kích Hòa Hải NHÀ THƠ THANH QUẾ Tên thật: Phan Thanh Quế. Sinh ngày 26/2/1945, tại xã An Chấn, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, trong một gia đình trí thức yêu nước. Cha là bác sĩ, lão thành cách mạng. Mẹ và các em đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ, có người là thương binh nặng. Hồi nhỏ học ở trường làng. Từ năm 1955 đến năm 1963  tập kết ra Bắc, học tại các trường học sinh miền Nam trên đất Bắc. Từ 1963 đến 1967, học khoa sử, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Từ năm 1967 đến năm 1969 là cán bộ Nghiên cứu, Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương. Từ 1969 đến 1975 là phóng viên chiến trường, tạp chí Văn nghệ giải phóng Trung trung bộ. Từ năm 1975 đến năm 1980 là cán bộ sáng tác, Trại sáng tác văn học Quân khu V. Từ năm 1980 đến năm 1983 là biên tập viên Tạp chí Văn nghệ quân đội (Tổng cục chính trị, Bộ Quốc phòng). Từ năm 1983 đến năm 2009 là phó chủ tịch Hội văn nghệ Quảng Nam-Đà Nẵng và Hội văn nghệ Đà Nẵng, Tổng biên tập tạp chí Đất Quảng và Non Nước, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (nhiệm kỳ 2000-2005). Từ năm 2009, nghỉ hưu và sáng tác tại Đà Nẵng. Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1977 và hội viên Hội Nhà báo Việt Nam từ 1980.   TÁC PHẨM CHÍNH   Về thơ Tên em khuôn mặt em (2 tác giả), NXB Giải phóng-1975; Tình yêu nhận từ đất (3 tác giả) NXB Tác phẩm mới-1977; Trong mỗi ngày đời tôi, NXB Đà Nẵng-1986; Giãi bày, Hội Văn nghệ Quảng Nam-Đà Nẵng-1988; Khi ta giở sách ra (thơ thiếu nhi), Sở Văn hóa Thông tin Bình Trị Thiên-1988; Hái tiếng chim (thơ thiếu nhi), NXB Đà Nẵng-1991; Những tháng năm vay mượn, NXB Đà Nẵng-1993; Mé biển đời tôi, NXB Hội nhà văn-2000; Người lính đi đầu (trường ca), NXB Quân đội Nhân dân-2003; Thơ Thanh Quế với tuổi thơ, NXB Kim Đồng-2004; Những tháng năm, NXB Quân đội nhân dân-2006; Một gạch và chuyển động, NXB Hội nhà văn-2006; Thơ Thanh Quế, NXB Hội nhà văn-2008; 72 bài thơ chọn, NXB Hội nhà văn-2012; Nơi phòng đợi, NXB Quân đội nhân dân-2006; Tuyển thơ; NXB Văn học-2016. Về văn xuôi Chuyện từ một truyền thuyết (truyện ngắn), NXB Kim Đồng-1978; Thung lũng Đắc Hoa (truyện ngắn 2 tác giả),NXB Phụ nữ-1980; Cát cháy (tiểu thuyết) NXB Kim Đồng -1983; Mai (truyện ngắn ), NXB Phụ nữ-1988; Người khách lạ (truyện ngắn), NXB Đà Nẵng-1990; 11 truyện ngắn, NXB Đà Nẵng-1994; Về Nam (hồi ký, chân dung văn nghệ), NXB Đà Nẵng-1996; Những gương mặt thân yêu (chân dung văn học), NXB Kim Đồng-1996; Bếp lửa làng Tà Băng (truyện ngắn), NXB Quân đội nhân dân-1998; Hai người bạn (truyện ngắn), NXB Kim Đồng-1998; Những kỷ niệm, những gương mặt (hồi ký, chân dung), NXB Đà Nẵng-2001; Từ những trang đời (hồi ký, chân dung văn nghệ), NXB Hội nhà văn-2001; Bà mẹ vui tính (truyện ngắn), NXB Kim Đồng-2002; Sao anh lại cảm ơn tôi (truyện ngắn), NXB Quân đội nhân dân-2002; Truyện và ký chọn lọc, NXB Hội nhà văn -2003; Dì Út (truyện ngắn), NXB Kim Đồng-2003, Thj trấn em kết nghĩa (truyện và ký), NXB Kim Đồng-2005; Ở giữa thời gian (truyện và ký), NXB Đà Nẵng-2007; Tuyển truyện Thanh Quế-chuyện ở miền Cát cháy, NXB Đà Nẵng-2009; Kẻ đào ngũ (tập truyện), NXB Quân đội nhân dân-2013; Tuyển truyện ngắn Thanh Quế, NXB Hội nhà văn -2011; Gương mặt và cảm nhận (chân dung văn học), NXB Đà Nẵng-2013; Ký và chân dung chọn, NXB văn học-2015; Hai người đàn ông và một người đàn bà (truyện), NXB Quân đội nhân dân-2016. Giải thưởng chính  Cát cháy (tiểu thuyết), giải nhì (không có giải nhất) của Hội nhà văn Việt Nam và Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh năm 1981; Những tháng năm vay mượn (tập thơ), giải B của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam năm 1994; Giải thưởng loại A hai lần (1975-1985) và (1985-1995) của UBND Quảng Nam-Đà Nẵng cho các tác phẩm trong giai đoạn. Bếp lửa làng Tà Băng (tập truyên), tặng thưởng của Bộ Quốc phòng năm 2000; Người lính đi đầu (trường ca), giải nhì (không có giải nhất) giải thưởng văn học (1997-2005) của UBND thành phố Đà Nẵng; Một gạch và chuyển động (tập thơ), giải nhì (không có giải nhất) giải thưởng văn học (2005-2010) của UBND thành phố Đà Nẵng; Tiểu thuyết Cát cháy và tập thơ Một gạch và chuyển động, giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2012. *** B a đứng sững trước sân, ngó trân trân vào ngôi nhà tranh thủng dột quen thuộc của mình. Nhà vắng tanh, cửa khép hờ, bên ngoài dựng một chiếc nia cũ. Chắc ông nội và mẹ vừa đi đâu đó.Trong một phút, những tình cảm trái ngược bỗng ùa đến: Ba vừa muốn gặp ông, gặp mẹ ngay cho đỡ nhớ, vừa muốn hai người về chậm lại để mình có thời gian sắp xếp mọi ý nghĩ đang bề bộn trong đầu. Ba cảm thấy vừa vui vừa lo. Ba đứng thẫn thờ một chút, sau đó, run run mở cửa bước vào nhà, hồi hộp nhìn khắp lượt những đồ vật như bao người đi xa về. Mọi thứ trong nhà: từ chiếc ảnh cha ố vàng trên bàn thờ, đến cái ghế, cái bàn, chiếc giường ọp ẹp, cả cánh cửa mở thông vào buồng trong không đóng lại bao giờ, vốn có ở những nhà nghèo, vẫn như cũ, mà lại không phải như cũ. Một mùi mốc thường có ở những ngôi nhà vắng chủ lan ra phả vào mũi Ba. Ba đứng lặng một chốc, cố nhớ lại một điều gì đó đã quên bẵng đi từ lâu. Nhưng mọi ý nghĩ cứ bay tuột khỏi đầu Ba. Hai ngày đêm đi đường, ngủ bờ ngủ bụi làm cho Ba mệt đừ, người bã ra, không còn cảm giác chính xác nữa. Ba lần đến chiếc chõng tre ông vẫn nằm, đặt mình lên chiếc chiếu rách đầy cát. Một cái gì đó không rõ tên cứ chạy rần rần từ đầu ngón chân lên mí mắt. Ba nhắm mắt lại. Lập tức những âm thanh mơ hồ quen thuộc bỗng rì rào xung quanh. Có thể đó là tiếng rắc rắc của mối mọt đang ăn cột kèo trong bóng tối trên đầu mình; có thể là tiếng gió nhẹ nhàng thổi cát trên cồn Quy sau nhà, bước chân mẹ đi lại sắp đặt đồ đạc gì đó trong đêm, ông khục khặc ho, những tiếng mơ hồ lan lan trong giấc ngủ không ai cắt nghĩa nổi, chỉ có ở những miền quê yêu dấu.  Một tiếng động ở đầu hè làm Ba bừng tỉnh. Không kịp nghĩ, Ba bò ngay xuống gậm giường, nằm im. Chốc nữa, ông hay mẹ bước vào, Ba sẽ chồm ra hù lên một tiếng. Ông thế nào cũng cười khà khà, nói: “Tổ cha mày, tao già nhưng thần kinh tao vẫn còn vững lắm”. Còn mẹ đứng sững lại, tay sờ nơi tim như xưa nay mẹ vẫn vậy khi sợ hãi điều gì. Nhưng một lúc lâu, Ba chẳng thấy mẹ hay ông bước vào nhà. Có lẽ, phải tối mịt hai người mới về. Ba lại leo lên giường, nằm mường tượng ra lúc gặp gỡ. Hẳn lúc đó, ông hỏi: “Tại sao cháu về ?”. Ba nói: “Cháu thích đánh Mỹ”. Ông nói “được” rồi ngồi im như tảng đá. Mẹ chắc càu nhàu. Nhưng mẹ sẽ cho Ba ăn một bữa bánh tráng cá ngừ thật ngon. Mẹ vừa ngồi cuốn bánh đưa tới tấp cho Ba, vừa âu yếm nhìn đứa con trai có khuôn mặt bầu bầu da sạm đen, mắt sáng, người chắc nịch như cha nó mà thầm lo nay mai nó sẽ ra sao. Ba ngồi với ông và mẹ một chút rồi chạy đi tìm bọn thằng Thấn, con Một.Tụi nhỏ thế nào cũng xúm xít lại bắt Ba kể chuyện chiến khu cho chúng nghe. Tất nhiên, Ba sẽ thuật lại mọi chuyện mà chị Bốn cấp dưỡng đã kể cho Ba nghe. Đó là chuyện anh Năm Cần ở văn phòng huyện ủy. Năm 67, bọn Mỹ càn căn cứ. Bắn hết đạn, các anh các chị rút sâu vào hang đá. Chúng truy kích theo. Anh đã đứng nấp ở cửa hang. Cứ mỗi tên mò vào, anh lại dùng báng súng gõ một cái cốc vào đầu nó rồi hất xác ra. Đó là chuyện chị Sáu Úc làm quản lý ở hội phụ nữ. Một hôm, đi cõng gạo về, nước sông Trà Ly lớn quá, cuốn băng chị cùng gùi gạo. Chị em tìm suốt hai ngày không thấy, đã làm lễ truy điệu chị. Giữa chừng, chị trở về, người ướt át, đứng ở đầu hè ngó vào nhà, tưởng ai đó vừa mất, khóc òa. Chị em quay lại, “ồ” lên, rồi đang khóc, họ xông đến đấm vào lưng chị bình bịch, cười khúc khích. Đó là anh Tám Nghề ở cơ quan binh vận. Một lần, địch vây cơ quan, mọi người trốn vào rừng sâu, đói vàng mắt. Đêm đến, anh bò qua đầu giặc đi nhổ sắn. Khi mang gùi sắn nặng trở lại bìa rừng, anh bị vấp đá, gây ra tiếng động. Một thằng ngụy ngồi phục, hẳn đang ngủ gật, giật mình hỏi: “Ai đó”. Anh nói: “Ông tổ nội mày đây” rồi cười hê hê phóng nhanh vào rừng, mặc cho chúng nổ súng theo. Sau đó, Ba sẽ thêm vào: trên đó có nhiều cọp lắm, mặc dù Ba chưa từng thấy. Đêm đêm, nó gầm lên, núi đá chao qua chao lại như bị bom B.52. Một lần, bước ra cửa hang, gặp con cọp to bằng con bò ụ, Ba nổ một phát súng, nó gãy một chân, bỏ chạy, xô đổ tảng đá bằng cái nhà. Một con trăn to vung mình làm cho nước sông Trà Ly trước cơ quan Ba sủi ục ục. Nhưng Ba cùng chị Bốn dùng một sợi sắn dây, cột nó, kéo về nấu cháo bồi dưỡng cho cả cơ quan mấy ngày liền. Bạn bè nghe chuyện sẽ phục Ba lắm. Thằng Thấn hẳn xuýt xoa, chặc lưỡi, vỗ đôm đốp vào đầu vì nó không được biết những chuyện như Ba. Còn con Một thì khỏi phải nói. Ba kể tới đâu, nó sẽ “a” lên tới đấy, mắt trợn ngược. Ba bỗng thấy buồn cười trước những khuôn mặt ngơ ngác của bạn bè mà Ba đã tưởng tượng ra. Rồi Ba cười thật. Ba bụm miệng cười hặc hặc một mình .   Một lúc sau, Ba lại thiếp ngủ…Nước sông Trà Ly bỗng sôi lên, đổ ầm ào qua con thác kề bếp ăn của cơ quan. Ba thấy mình ngụp lặn trong dòng nước mát, vẫy tắm thỏa thích sau hai ngày đi đường trở về nhà. Chị Bốn cấp dưỡng bảo Ba tắm mau lên để đem cơm cho chú Chín. Bưng cơm, Ba vấp phải hòn đá, mâm cơm đổ nhào xuống đất, ông nội hiện ra bảo: “Người nào quẹo quẳng, họ chẳng ưa đâu”. Chính lúc đó, mẹ “á” lên vì một phát rốc két của thằng máy bay OVI0 bắn xuống bên kia bờ Trà Ly, khi thấy chị Bốn cầm một mụn măng. Máu loang đỏ… Khi Ba tỉnh dậy thì mặt trời đã lặn, chỉ để lại trên dãy núi phía căn cứ một vầng ráng đỏ. Ba nhảy ra sân, vươn vai mấy cái rồi như ngày nào, Ba vòng phía sau nhà, phóng lên cồn Quy. Đứng ở đây, Ba có thể nhìn khắp một vùng rộng lớn trong xã. Cồn cát giống chiếc mai rùa, rộng chừng nửa cây số vuông này ngăn xã ra làm đôi. Nửa phía nam là cánh đồng đất cát pha chạy từ mí đường tỉnh lộ (đường này làm ranh giới phía tây của xã với các xã bạn) xuống phía đông, giáp với một cái làng hoang người ta gọi là Cô Sơn. Bên kia cánh đồng là con sông Bãi Dài, làm ranh giới phía nam của xã với các xã bạn, chằng chịt những lạch nhỏ, sáng lấp lánh đang đổ về phía biển. Ở nửa xã phía bắc, xen giữa những xóm làng xanh biếc bóng dừa bóng dương là những cồn cát to nhỏ. Chẳng biết từ lúc nào, hẳn người ta đặt tên theo hình dáng hay những nhà ở gần chúng, mà chúng có tên: cồn Kinh, cồn Nhà Lập, cồn Thằn Lằn, cồn Du. Trên một số cồn cát ấy, bọn Mỹ đã dựng lên những ngôi nhà tôn, những trạm gác. Cứ chiều đến chúng bắn những phát pháo sáng nghe “phụp phụp” và tiếp liền sau đó là những quả cối nổ oạch oành. Tít xa kia, sau những làng xóm, năm ngọn núi của cụm Ngũ Hành Sơn nhô lên như năm mái nhà in trên nền trời chiều mờ tím. Ngày nào, Ba đã cùng các bạn leo lên núi Non Nước (một ngọn của Ngũ Hành Sơn) thăm chùa, chơi trò trốn tìm trong các hang đá vôi hoặc rủ nhau vào hang Âm Phủ thả những quả bưởi non, để rồi, sau đó nhảy ùm xuống biển nhặt lại. Ngày nào, Ba cùng các bạn giả người mang lễ vật lên chùa, gánh vũ khí cho đơn vị anh Phan Hành Sơn (1) diệt đại đội Mỹ đóng trên chóp núi. Bây giờ, những khẩu pháo Mỹ đứng nghễu nghện trên các đỉnh núi trông như những con quái vật khổng lồ. Lâu lâu, chúng rướn cái cổ dài ngoẵng lên hét ầm ầm. Một rừng dương như bức tường xanh chạy từ Đà Nẵng vào Hội An ngăn cách xã Ba với mép biển, làm cho mặt biển cứ lúc ẩn lúc hiện như chơi trò trốn tìm. Ba đứng nhìn khắp xã một lúc rồi cởi áo, vắt vai, ngồi bệt xuống cát, hướng mặt về phía biển đón những làn gió mát rượi. Bỗng nhiên, Ba đứng bật dậy nghiêng tai lắng nghe như có ai vừa khẽ gọi tên mình. Làn gió mát vừa đi qua mang đến cho Ba mùi hương thoang thoảng như mùi đào chín sau một ngày nắng to. Có một cái gì đó, cứ ẩn ẩn hiện hiện ở đâu đó, như đã từng quen thuộc lâu rồi, như mãi mãi mới lạ mà ta phải tìm kiếm để gặp. Ba hít mùi hương vào lồng ngực, thẫn thờ một chút và nhận ra, đó là mùi hương của hoa dủ dẻ, loài hoa đậu trên những thân cây bé nhỏ, lá dày và cứng, rễ bám chặt vào mặt cát nóng bỏng của quê hương… – Ê nhóc mày về lúc nào? – Một người nào đó có giọng oang oang hỏi Ba ở phía sau. Ba quay lại thì thấy một anh người thấp thấp, to ngang, đôi tay săn như cái bắp chuối, dáng đi khuỳnh khuỳnh đang sóng bước bên một chị bé nhỏ, tóc dày và dài. Trông hai người thật không xứng đôi tý nào. Thế mà họ mê nhau. Đó là anh Bảy Kim và chị Hai Soan. Bảy Kim đã trên ba mươi tuổi mà chưa có vợ, anh không thích trẻ con gọi là chú mà gọi bằng anh. Bảy Kim là xã đội phó đánh giặc rất hăng nhưng chẳng hiểu vì sao Ba không thích. Có lẽ anh hay véo tai bẹo má Ba và các bạn. Trong những lần đi tắm biển, hễ thấy Bảy Kim là bọn trẻ vù chạy. Anh thường đứng tắm cách xa bọn trẻ, biến mất trong những lớp sóng trùng điệp rồi đột nhiên hiện lên bên một đứa trẻ nào đó, kéo chân nó, dìm cho nó uống nước rồi tung nó ra cười hê hê. Ba trả lời cộc lốc: – Mới về. – Mày biết chuyện gì xảy ra trong nhà mày chưa? – Chưa. Tui mới về hồi xế đây mà. Anh ta cười hố hố: – Cái nhà mày có phúc thiệt. Chồng chết, cha bị bắt, vợ ngại ác liệt vào Đà Nẵng làm đĩ . . . hố hố. Anh ta ngúc ngoắc đầu rồi kéo chị Soan về phía rừng dương liễu. Ba muốn chạy theo hỏi cho rõ sự việc nhưng có cái gì níu chân Ba lại, chôn chặt xuống cát. Cái giọng cười nói sống sượng của anh Bảy Kim làm Ba vừa buồn tức vừa xấu hổ. Cách đây sáu tháng, vào một ngày mưa cuối năm 1968, cha Ba, xã đội trưởng nổi tiếng của xã này đã hy sinh. Trong nhà Ba mọi việc lâu nay ngỡ êm xuôi bỗng xáo trộn lên. Hình như lúc vui sướng, mọi điều thường đến từ từ, lúc đau khổ, mọi lo toan, phiền muộn lại ập đến một lúc. Mẹ Ba ủ rũ, khóc suốt ngày. Đột nhiên, mẹ cấm Ba không được ở trong tổ du kích thiếu niên tham gia đánh giặc với các bạn nữa. Mẹ nói với Ba: “Con ạ, cái nòi chơi với lửa, có ngày cũng bị lửa thiêu. Mẹ có mình con làm giống, con cứ ở nhà, không đánh chác gì nữa”. Mẹ gặp chú Năm Hà, Bí thư xã, chị Bảy phụ trách Đội, xin đừng cho Ba làm những công việc “nguy hiểm” nữa. Mẹ bàn với ông nội gửi Ba ra Đà Nẵng cho yên. Nhưng ông bảo: – Tụi nhỏ ở đây chết hết hay sao mà mày lo quíu vậy mày? Mẹ nói dịu ngọt: – Nhà người ta có nhiều con cái nối dòng nối giống, còn cha, cha chỉ có một đứa cháu đích tôn đó, cha nghĩ coi. – Kệ nó, tao không muốn nó là đứa hèn nhát. Mẹ khóc. Ông nội cầm gậy vừa chọc bình bịch xuống đất, vừa hát: Người nào quẹo quẳng Đứa nào quẹo quẳng Họ chẳng ưa đâu Hát xong, ông nội gọi Ba: – Ba đâu, ra đây, nhìn vô mắt ông đây coi thử mày là đứa được hay đứa nhát. Ba vừa bước ra với ông, vừa nhìn mẹ đang khóc, lúng túng không biết làm sao. Một hôm, ông nội đi ăn giỗ ở Hội An, Ba cùng các bạn đi gài mìn về nhà thì thấy một chú lạ mặt đang ngồi uống nước với mẹ. Mẹ chỉ Ba nói với chú: – Con tôi đây anh Đức ạ – Rồi mẹ quay sang phía Ba – Chào chú đi con. Người kia mỉm cười: – Nghe nói cháu muốn đi bộ đội lắm phải không? – Dạ muốn. Cháu thích lắm. Nhưng sợ mẹ cháu không ưng – Thấy mẹ cười, Ba tiếp – Sợ Đội không đồng ý. – Được mẹ cháu sẽ cho cháu đi. Còn Đội chú sẽ bàn với các anh các chị. Chú cần một người như cháu. Ba mừng rơn. Điều mơ ước lâu nay của Ba là được đi bộ đội đánh Mỹ để trả thù cho cha nay đã thành sự thật. Ba nhảy vọt ra cửa, phóng lên cồn Quy, băng vào xóm để tìm bạn. Ngay lúc ấy, trước mắt Ba, bỗng hiện lên một cậu bé cũng giống như Ba, nhưng oai vệ hơn, mặc quần áo quân giải phóng, đội mũ tai bèo, nằm dưới một hầm cát, vụt đứng dậy chĩa B.41 vào một chiếc xe tăng địch, chiếc xe cháy bừng bừng. Chị phụ trách đã từng kể cho Ba nghe về anh Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai. Sau này người ta sẽ kể cho bọn trẻ rằng: Ngày xửa ngày xưa có một cậu bé tên là… Bây giờ, trở về đây, việc anh Bảy Kim vừa nói như cái tát vào mặt Ba. Có phải trước đây mẹ lừa mình lên căn cứ để mẹ tự do vào Đà Nẵng sống sung sướng không? Câu hỏi ấy cứ xoáy vào lòng Ba đau nhói. Ba đứng lặng, nước mắt ứa ra. Có tiếng bước chân ai sào sạo trên cát. Ba ngẩng lên, thấy một đứa bé thấp lũn cũn, mái đầu húi cua, đang vác một khẩu súng dài quá người. Trời ơi, thằng Tượng. Nó dừng lại bên Ba hỏi: – Anh về hồi nào? Sao lại đứng buồn vậy? – Tao mới về. Không gặp ai, tao chán quá. – Về công tác à? – Tao về ở luôn với tụi bay đây.           Tượng nhìn Ba chăm chăm rồi nói nho nhỏ, vẻ ái ngại: – Em vừa ăn cắp của tụi Mỹ được cây súng. Bây giờ em đem tặng du kích đây – Nó nhìn Ba nói tiếp – Còn anh, giờ anh đi đâu? Có đi họp thì theo em, em chỉ chỗ cho. Tối nay, các anh các chị thiếu niên họp ở làng đó. Anh đến đấy mặc sức mà vui.   (1) Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân.   Mời các bạn đón đọc Cát Cháy của tác giả Thanh Quế.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Minh Nhãn Mai Hoa
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Minh Nhãn Mai Hoa của tác giả Mã Bá Dung & Tố Hinh (dịch). TRIỀU PHỤNG LÀ MỘT DANH TỪ CỔ. Từ này xuất hiện sớm nhất vào thời Hán, vốn là tên một chức quan trong triều. Tới thời Đường, Tống, triều phụng trở thành tên gọi của một loạt các chức quan cố định, như triều phụng sứ, triều phụng lang, triều phụng đại phu v.v... Cách gọi này về sau truyền cả vào dân gian, ví như thư sinh, chủ hiệu buôn# lớn, lái buôn có tiếng tăm, cũng được gọi là triều phụng. Từ sau triều Minh trở đi, triều phụng trở thành cách gọi tôn kính của chủ tiệm cầm đồ, phụ trách mua hàng ra giá, là nhân vật chủ chốt của cửa hàng. Ai đem đồ tới cầm, đều phải chắp tay chào một tiếng “Triều phụng”. Theo dòng thời đại, từ này cũng dần rơi vào quên lãng. Với phần lớn mọi người, đây đã trở thành một từ xa lạ mà bí ẩn. Nhưng đối với tôi, “Lão Triều Phụng” lại là một cái tên không sao quên được, nó thuộc về một con người. Kẻ này đã bán đứng Hứa Nhất Thành ông tôi, khiến ông phải mang tai mang tiếng, ngậm oan mà chết; chưa hết, lão còn giăng bẫy ép bố tôi là Hứa Hòa Bình đâm đầu xuống hồ tự tử; cài người lừa gạt tôi, giết chết bạn tôi. Cái tên này giống như một con quỷ dữ, đeo đẳng ba đời nhà họ Hứa chúng tôi. Lão một tay gây dựng nên mạng lưới làm giả đồ cổ trên toàn quốc, biến nó trở thành khối u ác tính cực lớn của thị trường văn vật Trung Quốc. Về tư, tôi có thù nhà phải tính với lão, về công, không trừ bỏ thế lực của Lão Triều Phụng, thị trường cổ vật sẽ lẫn lộn thật giả, không thể yên ổn. Lão Triều Phụng rốt cuộc là ai? Tôi nhất định phải vạch mặt lão, bằng không cả đời sẽ canh cánh không yên. Trong vụ việc Thanh minh thượng hà đồ, tôi và lão đã tạm thời liên kết lật tẩy âm mưu của Bách Thụy Liên. Đổi lại, Lão Triều Phụng nhận lời sẽ gặp mặt tôi, giải quyết mối ân oán mấy chục năm nay. Giờ đây, sự thật đã ở gần tôi trong gang tấc. *** Tóm tắt Minh Nhãn Mai Hoa là một cuốn tiểu thuyết trinh thám của tác giả Mã Bá Dung, kể về câu chuyện của Hứa Nhất Kiệt, một nhà nghiên cứu cổ vật trẻ tuổi, quyết tâm truy tìm tung tích của Lão Triều Phụng, kẻ đã gây ra nhiều tội ác cho gia đình anh. Hứa Nhất Kiệt là cháu nội của Hứa Nhất Thành, một nhà nghiên cứu cổ vật nổi tiếng, bị vu oan làm giả đồ cổ và phải tự sát. Cha của Hứa Nhất Kiệt, Hứa Hòa Bình, cũng bị Lão Triều Phụng hãm hại đến chết. Bản thân Hứa Nhất Kiệt cũng bị Lão Triều Phụng gài bẫy, khiến bạn anh bị giết chết. Với quyết tâm báo thù cho gia đình và trừng trị kẻ ác, Hứa Nhất Kiệt đã bắt đầu cuộc điều tra của mình. Anh đã lần theo những manh mối nhỏ bé, từng bước tìm ra danh tính và tung tích của Lão Triều Phụng. Lão Triều Phụng là một nhân vật bí ẩn và quyền lực. Ông ta là người đứng đầu một mạng lưới làm giả đồ cổ trên toàn quốc. Lão ta đã lợi dụng thị trường cổ vật để kiếm lời, đồng thời cũng tham gia vào nhiều hoạt động phi pháp khác. Hứa Nhất Kiệt đã phải đối mặt với nhiều khó khăn và nguy hiểm trong cuộc điều tra của mình. Anh phải đối đầu với những kẻ hung ác, những thủ đoạn lừa lọc và những âm mưu thâm độc. Tuy nhiên, với sự giúp đỡ của những người bạn, Hứa Nhất Kiệt đã dần tiến gần đến mục tiêu của mình. Review Minh Nhãn Mai Hoa là một cuốn tiểu thuyết trinh thám hấp dẫn, với cốt truyện lôi cuốn, những tình tiết bất ngờ và những nhân vật được xây dựng thành công. Cốt truyện của cuốn tiểu thuyết xoay quanh những chủ đề như thù hận, báo thù, chính nghĩa và tội ác. Câu chuyện của Hứa Nhất Kiệt là một câu chuyện về lòng căm thù và sự kiên quyết. Anh ta đã không ngừng nỗ lực để tìm ra kẻ thù của mình và trả thù cho gia đình. Những tình tiết của cuốn tiểu thuyết được xây dựng rất hấp dẫn và lôi cuốn. Tác giả đã sử dụng nhiều thủ pháp kể chuyện như hồi tưởng, ẩn dụ,... để tạo ra những tình tiết bất ngờ và gây tò mò cho người đọc. Các nhân vật trong cuốn tiểu thuyết được xây dựng thành công. Hứa Nhất Kiệt là một nhân vật đáng yêu và đáng thương. Anh ta là một người thông minh, kiên cường và có ý chí mạnh mẽ. Lão Triều Phụng là một nhân vật phản diện đáng ghét. Ông ta là một kẻ thủ ác, gian xảo và tàn nhẫn. Nhìn chung, Minh Nhãn Mai Hoa là một cuốn tiểu thuyết trinh thám đáng đọc. Cuốn tiểu thuyết sẽ mang đến cho bạn những giây phút giải trí tuyệt vời và những bài học ý nghĩa về cuộc sống. Đánh giá cá nhân Theo tôi, Minh Nhãn Mai Hoa là một cuốn tiểu thuyết trinh thám rất hay và đáng đọc. Cuốn tiểu thuyết có cốt truyện hấp dẫn, những tình tiết bất ngờ và những nhân vật được xây dựng thành công. Tôi đặc biệt thích nhân vật Hứa Nhất Kiệt. Anh ta là một nhân vật đáng yêu và đáng thương. Anh ta là một người thông minh, kiên cường và có ý chí mạnh mẽ. Tôi cũng thích nhân vật Lão Triều Phụng. Ông ta là một nhân vật phản diện đáng ghét. Ông ta là một kẻ thủ ác, gian xảo và tàn nhẫn. Nếu bạn đang tìm kiếm một cuốn tiểu thuyết trinh thám hấp dẫn, thì tôi khuyên bạn nên đọc Minh Nhãn Mai Hoa. ***   DANH GIA CỔ VẬT (trọn bộ 4 tập): - Kỳ Án Đầu Phật - Bí Ẩn Thanh Minh Thượng Hà Đồ - Hôi Của Đông Lăng - Minh Nhãn Mai Hoa *** MÃ BÁ DUNG sinh năm 1980, tại Xích Phong (Ulankhad) thuộc khu tự trị Nội Mông. Ông là nhà văn nổi tiếng Trung Quốc với bút lực dồi dào, văn phong đa biến. Phạm vi sáng tác trải từ phê bình, tản văn, tiểu phẩm đến tiểu thuyết vừa và dài, thể loại sáng tác phong phú, bao gồm khoa học viễn tưởng, kỳ ảo, lịch sử, trinh thám v.v… Năm 2005, ông đạt giải thưởng Ngân Hà dành cho tác phẩm khoa học viễn tưởng Trung Quốc. Năm 2010, ông đạt giải thưởng Văn học Nhân dân, một trong những giải thưởng văn học uy tín nhất của văn đàn Trung Quốc. Mời các bạn mượn đọc sách Minh Nhãn Mai Hoa của tác giả Mã Bá Dung & Tố Hinh (dịch).
Giọt Máu Ái Tình (2 Tập)
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Giọt Máu Ái Tình (2 Tập) của tác giả Việt Đông. Tên sách: Giọt máu ái tình - Cuốn 1,2 Tác giả: Việt Đông Nơi xuất bản: Sài Gòn Năm xuất bản: 1935 *** Việt Đông là bút danh. Ông tên thật là Lưu Thoại Khải. Hiện vẫn chưa biết năm sinh và mất, thân thế cùng quê quán của ông. Căn cứ vào tư liệu hiện còn thì Việt Đông bắt đầu viết văn từ năm 1930. Từ năm 1931 về sau, ông cùng Ellen Anh Hoa viết chung một loạt tác phẩm với độ dày mỗi cuốn 32 trang và dự định ra mắt bạn đọc mỗi tuần một cuốn. Những tác phẩm này, ông tập hợp trong bộ Việt Đông văn tập ký tên là Văn khoa học sĩ. Chi tiết trên được nhà văn ghi rõ ở trang cuối cuốn tiểu thuyết Tiếng súng lục liên, do nhà in Đức Lưu Phương, Sài Gòn, ấn hành năm 1931. Theo thông tin quảng cáo ở một số bìa sách thì rất có thể ông là chồng của nữ sĩ Ellen Anh Hoa, tức Huỳnh Thị Anh Hoa và hai người có viết chung một số tiểu thuyết như Ai người hẹn ngọc; Duyên chàng nợ thiếp; Thân gái dặm trường; Con ở chúa nhà ...   Kể cả những tác phẩm viết chung với Ellen Anh Hoa thì Việt Đông đã góp mặt cho văn xuôi Quốc ngữ Nam bộ hồi trước 1945 một khối lượng tác phẩm truyện và tiểu thuyết có thể nói là thật đáng kể, đồ sộ với 67 cuốn lớn nhỏ (có thể còn nhiều hơn, vì hiện chưa tìm được hết, bởi trên trang cuối các tiểu thuyết đã xuất bản, nhà văn có quảng cáo những tác phẩm sẽ xuất bản), với dung lượng ngắn nhất là 12 trang và dài nhất đến 116 trang. Những tác phẩm này thuộc nhiều thể loại khác nhau, được viết trong khoảng 08 năm, từ 1930 đến 1938. Do ông có dự định và bước đầu đã thực hiện được dự định ấy là ra bộ Việt Đông văn tập, mỗi tuần một cuốn, ký tên là Văn khoa học sĩ, nhằm đáp ứng yêu cầu và thị hiếu của số đông công chúng độc giả bấy giờ nên có nhà nghiên cứu cho rằng ông là “nhà văn thị trường” Về cách dựng chuyện và kể chuyện trong tác phẩm của Việt Đông có thể nói là ít có gì đặc sắc; cốt truyện thường dung dị, giản đơn, có khi trơn tuột. Đây cũng là nét chung của nhiều ngòi bút văn xuôi Quốc ngữ Nam Bộ hồi đầu thế kỷ cho đến 1945. Bởi đối tượng tiếp nhận, người đọc phần đông là tầng lớp bình dân như phu xe, chị bán hàng… mà nhà văn có viết như thế thì mới phù hợp với thị hiếu công chúng. Việc xây dựng nhân vật và khắc hoạ tâm lý nhân vật trong nhiều tác phẩm cũng chưa được nhà văn chú tâm khai thác đúng mức. Đây là điểm hạn chế lớn nhất của ngòi bút Việt Đông. Ngôn ngữ kể chuyện trong nhiều tác phẩm thì thường kể với giọng văn không ổn định, mang nhiều giọng: lúc thì trơn tuột, mộc mạc, rất giản dị như lời nói thường ngày; lúc thì cầu kỳ gọt giũa, dùng nhiều điển cố, điển tích; câu văn có lúc viết theo lối biền ngẫu ngày xưa nên phần nào ít phù hợp với hiện thực và tính cách nhân vật được nhà văn phản ánh. Riêng về đoản thiên tiểu thuyết và chuyện thần tiên thì tình tiết tưởng tượng ly kỳ, gay cấn, éo le, ít nhiều cũng gợi được sự tò mò và hấp dẫn cho người đọc. Như trên đã giới thiệu, số lượng truyện và tiểu thuyết của Việt Đông thì nhiều, nếu không muốn nói là đồ sộ, nhưng tư duy nghệ thuật, bút pháp kể chuyện của ông thì không mấy nổi bật, chưa tạo được dấu ấn riêng. Đọc truyện và tiểu thuyết của ông, người đọc cảm thấy nhàn nhạt, có khi nhàm chán. Đó cũng là lý do để cắt nghĩa tại sao tác phẩm và tên tuổi của Viết Đông chưa được người đọc nhắc đến nhiều và ít được các nhà văn học sử, các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu nếu so với các cây bút khác cùng thời như Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Chánh Sắt, Phú Đức, Tân Dân Tử chẳng hạn. Nhìn chung, điều đáng quý là những tiểu thuyết của Việt Đông dù viết theo thể loại nào ít nhiều cũng đều có tính giáo dục, khuyến thiện trừng ác, sống đạo đức, khơi gợi lòng yêu nước, lòng tự hào về quê hương với những truyền thống đạo lý tốt đẹp. *** Tóm tắt Cuốn 1 Giọt Máu Ái Tình kể về câu chuyện của hai gia đình giàu có ở Sài Gòn trong những năm đầu thế kỷ 20. Gia đình Trần Văn Khải là một gia đình danh giá, có nhiều đất đai và nhà cửa. Gia đình Nguyễn Văn Hiếu cũng là một gia đình giàu có, có nhiều tiền bạc và quyền lực. Vào một ngày nọ, Trần Văn Khải và Nguyễn Văn Hiếu gặp nhau trong một cuộc đấu thầu. Cả hai đều muốn giành được quyền khai thác một khu đất vàng ở Sài Gòn. Trong cuộc đấu thầu, Trần Văn Khải đã giành chiến thắng. Nguyễn Văn Hiếu rất tức giận và muốn trả thù Trần Văn Khải. Ông ta đã sai người giết chết Trần Văn Khải. Sau khi Trần Văn Khải qua đời, vợ ông ta là bà Trần Thị Mai đã phải gồng gánh gia đình. Bà đã phải bán hết nhà cửa và đất đai để nuôi các con. Hai con trai của Trần Văn Khải là Trần Văn Liêm và Trần Văn Lợi đã trưởng thành. Trần Văn Liêm là một người đàn ông tài giỏi và có chí hướng. Ông ta đã thành lập một công ty xây dựng và trở nên giàu có. Trần Văn Lợi là một người đàn ông yếu đuối và nhu nhược. Ông ta đã bị Nguyễn Văn Hiếu lợi dụng và trở thành con rối của ông ta. Cuốn 2 Trong cuốn 2, Trần Văn Lợi đã kết hôn với con gái của Nguyễn Văn Hiếu là Nguyễn Thị Hoa. Ông ta đã bị Nguyễn Văn Hiếu ép buộc phải kết hôn với Hoa để đổi lấy một số quyền lợi kinh doanh. Trần Văn Liêm đã yêu Hoa từ lâu. Ông ta đã rất đau khổ khi biết tin Hoa sẽ kết hôn với Trần Văn Lợi. Sau khi kết hôn, Trần Văn Lợi và Nguyễn Thị Hoa đã có một đứa con trai. Tuy nhiên, hôn nhân của họ không hạnh phúc. Trần Văn Lợi vẫn yêu Hoa nhưng Hoa lại không yêu ông ta. Trong khi đó, Trần Văn Liêm đã kết hôn với một người phụ nữ khác. Ông ta đã có một cuộc sống hạnh phúc bên vợ và con cái. Cuối cùng, Nguyễn Văn Hiếu đã bị trừng trị vì những tội ác của mình. Ông ta đã bị bắt và bỏ tù. Review Giọt Máu Ái Tình là một tiểu thuyết tình yêu và báo thù. Tác phẩm đã khắc họa một cách chân thực những mâu thuẫn và xung đột trong xã hội Việt Nam thời kỳ đầu thế kỷ 20. Tác phẩm có những điểm mạnh sau: Truyện có cốt truyện hấp dẫn, lôi cuốn người đọc. Nhân vật được xây dựng sinh động, có tính cách và tâm lý phức tạp. Ngôn ngữ trong truyện giàu chất thơ, mang đậm màu sắc của văn học lãng mạn. Tuy nhiên, tác phẩm cũng có một số điểm hạn chế như: Một số tình tiết trong truyện còn thiếu logic. Nhân vật Nguyễn Thị Hoa được xây dựng chưa thực sự thuyết phục. Nhìn chung, Giọt Máu Ái Tình là một tác phẩm đáng đọc đối với những ai yêu thích thể loại tiểu thuyết tình yêu và báo thù. Đánh giá Giọt Máu Ái Tình là một trong những tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám. Tác phẩm đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng độc giả bởi cốt truyện hấp dẫn, nhân vật sinh động và ngôn ngữ giàu chất thơ. Tác phẩm đã phản ánh một cách chân thực những mâu thuẫn và xung đột trong xã hội Việt Nam thời kỳ đầu thế kỷ 20. Đó là mâu thuẫn giữa giai cấp giàu nghèo, giữa cái thiện và cái ác, giữa tình yêu và thù hận. Tác phẩm cũng thể hiện tư tưởng nhân đạo của tác giả. Tác giả lên án những thế lực xấu xa, những kẻ gây ra đau khổ cho người khác. Đồng thời, tác giả ca ngợi tình yêu chân chính, tình mẫu tử và tình cảm gia đình. Giọt Máu Ái Tình là một tác phẩm văn học có giá trị. Tác phẩm đã góp phần làm phong phú thêm nền văn học Việt Nam. Mời các bạn mượn đọc sách Giọt Máu Ái Tình (2 Tập) của tác giả Việt Đông.
Tạ Ơn Thượng Đế
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Tạ Ơn Thượng Đế của tác giả Jean Vautrin & Vũ Đình Phòng (dịch). Bức tranh thơ mộng này thuật lại cuộc đời của ba thế hệ người Cajun, những người tiên phong rời nước Pháp đến định cư ở Lousiana. Những nhân vật này rất mạnh mẽ, phóng khoáng, cực đoan: Edius Raqun, người tiên phong cứng đầu, bà vợ Bazelle và cô con gái Azeline. Rồi đến chàng rể tương lai, Farouche Ferraille Crowley, người sống ngoài vòng pháp luật. Còn cả Palestine Northwood, thủy thủ từ Nantucket, và còn nhiều nhân vật khác của câu chuyện bắt đầu ở những nhánh sông và kết thúc ở New Orleans, vào thời điểm nhạc jazz xuất hiện. Lối hành văn của tác giả mô phỏng thổ ngữ ở Lousiana. *** Giải Goncourt, giải thưởng văn học danh giá của nước Pháp, vừa được trao cách đây vài giờ cho tác giả Hervé Le Tellier với tác phẩm «L'anomalie», được xuất bản bởi Gallimard. Lần gần nhất nhà xuất bản này có sách đoạt giải Goncourt là vào năm 2016 với «Chanson Douce» (Người lạ trong nhà) của tác giả Leïla Slimani. --- Giải Goncourt (Prix Goncourt) là một giải thưởng văn học Pháp được sáng lập theo di chúc của Edmond de Goncourt vào năm 1896. Hội văn học Goncourt thành lập chính thức năm 1900 và giải đầu tiên được trao ngày 21 tháng 12 năm 1903. Giải Goncourt, được sáng lập để trao mỗi năm cho «tác phẩm văn xuôi xuất sắc nhất trong năm», nhưng hầu như chỉ trao cho tiểu thuyết. Nó là giải thưởng văn học Pháp được mong muốn nhất. Mặc dù tiền thưởng của giải chỉ là 10 euro, nhưng sự nổi tiếng mà Goncourt đem lại cho cuốn sách sẽ là một phần thưởng lớn thay thế. Các thành viên của viện Goncourt họp vào các thứ ba đầu tiên mỗi tháng trong phòng khách của họ tại tầng hai nhà hàng Drouant ở Paris (Place Gaillon, quận 2). Tên người được giải sẽ công bố ngày 3 tháng 11 sau bữa ăn trưa tại nhà hàng (Năm nay, do ảnh hưởng của Covid-19 nên thời gian công bố đã được lùi lại). Giải chỉ trao cho mỗi nhà văn một lần. Duy có Romain Gary năm 1956 nhận giải với tiểu thuyết «Racines du ciel» (Rễ trời) và năm 1975 nhận một giải nữa với «La vie devant soi» (Cuộc sống ở trước mặt), nhưng dưới bút danh Émile Ajar. --- Một số cuốn sách đoạt giải đã được xuất bản tại Việt Nam: 1905: Những kẻ văn minh (Les Civilisés) - Claude Farrère 1916: Khói lửa (Le Feu) - Henri Barbusse 1919: Dưới bóng những cô gái đương hoa (À l'ombre des jeunes filles en fleurs) - Marcel Proust 1933: Thân phận con người (La Condition humaine)- André Malraux 1936: Sự tha thứ muộn màng (L'Empreinte du dieu) - Maxence Van der Meersch 1948: Những gia đình cự tộc (Les Grandes Familles)- Maurice Druon 1951: Bờ biển Syrtes (Le Rivage des Syrtes) - Julien Gracq 1956: Rễ trời (Les Racines du ciel) - Romain Gary 1970: Chúa tể đầm lầy (Le Roi des aulnes) - Michel Tournier 1974: Cô thợ thêu (La Dentellière) - Pascal Lainé 1975: Cuộc sống ở trước mặt (La Vie devant soi) - Émile Ajar 1977: Câu chuyện New York (John l'Enfer) - Didier Decoin 1978: Phố những cửa hiệu u tối (Rue des Boutiques obscures) - Patrick Modiano 1984: Người tình (L'Amant) - Marguerite Duras 1985: Những cuộc hôn thú man dại (Les Noces barbares) - Yann Queffélec 1987: Đêm thiêng (La Nuit sacrée) - Tahar Ben Jelloun 1988: Triển lãm thuộc địa (L'Exposition coloniale) - Erik Orsenna 1989: Tạ ơn Thượng Đế (Un grand pas vers le bon Dieu) - Jean Vautrin 1990: Chiến trường vinh quang (Les Champs d'honneur) - Jean Rouaud 1991: Những người con gái dòng Chúa chịu nạn (Les Filles du Calvaire) - Pierre Combescot 1995: Di chúc Pháp (Le Testament français) - Andreï Makine 1996: Chiếc máy bay tiêm kích Zéro (Le Chasseur Zéro) - Pascale Roze 1997: Chiến trận (La Bataille) - Patrick Rambaud 1998: Nỗi niềm (Confidence pour confidence) - Paule Constant 1999: Tôi đi đây (Je m'en vais) - Jean Echenoz 2000: Ingrid Caven - Jean-Jacques Schuhl 2001: Brésil Đỏ (Rouge Brésil) - Jean-Christophe Rufin 2003: Người tình của Brecht (La Maîtresse de Brecht) - Jacques-Pierre Amette 2004: Mặt trời nhà Scorta (Le Soleil des Scorta) - Laurent Gaudé 2005: Ba ngày ở nhà mẹ (Trois jours chez ma mère) - François Weyergans 2006: Những kẻ thiện tâm (Les Bienveillantes) - Jonathan Littell 2007: Alabama Song - Gilles Leroy 2008: Nhẫn thạch (Syngué sabour. Pierre de patience) - Atiq Rahimi 2009: Ba phụ nữ can đảm (Trois femmes puissantes) - Marie NDiaye 2010: Bản đồ và vùng đất (La Carte et le Territoire) - Michel Houellebecq 2012: La Mã sụp đổ (Le Sermon sur la chute de Rome) - Jérôme Ferrari 2013: Hẹn gặp lại trên kia (Au revoir là-haut) - Pierre Lemaitre 2014: Không khóc (Pas pleurer) - Lydie Salvayre 2016: Người lạ trong nhà (Chanson douce) - Leïla Slimani 2017: Chương trình nghị sự (L'Ordre du jour) - Éric Vuillard   Mời các bạn mượn đọc sách Tạ Ơn Thượng Đế của tác giả Jean Vautrin & Vũ Đình Phòng (dịch).
Câu Chuyện New York
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Câu Chuyện New York của tác giả Didier Decoin & Viễn Nguyên (dịch). Didier Decoin sinh năm 1945, bắt đầu con đường cầm bút với nghề làm báo rồi trở thành nhà văn có tên tuổi ở Pháp. Năm 1995, Didier Decoin được bầu làm tổng thư ký Viện Hàn Lâm Goncourt. Tác phẩm mang tên "John l’Enfer" (John Địa Ngục) - qua bản dịch của chúng tôi - "Câu chuyện New York" - đã được giải thưởng Goncourt năm 1977. Một nhà phê bình văn học viết trên báo Aurore bấy giờ đánh giá: “... Đối với tôi, đó là một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất tôi đã đọc trong mùa ấy”. Dịch giả Viễn Nguyên​ *** Didier Decoin viết nhiều truyện dài và kịch bản đã chuyển thành phim. "Khi chiếc xe tải của hãng truyền hình NA đến hiện trường xảy ra tai nạn, đám đông đã tự động tản ra làm hai nhóm; trên lề đường nhốn nháo, ồn ào như thể một đàn ong vỡ tổ. Những người được "may mắn" chứng kiến tận mắt tai nạn - đứng hơi lùi về phía sau. Nhóm những kẻ chạy đến quá muộn đứng gần hơn, bàn tán dựng lại cảnh bi thảm bên chỗ nạn nhân nằm. Họ ước đoán những cơ may sống sót và đưa ra các lời khuyên: "Có thể y bị trật khớp, có phần dập nát" "Đừng đụng vào y, cứ như thế chờ cảnh sát cơ động đến; không được di chuyển, không được cởi mũ y ra." "Máu chảy từ các lỗ mũi thì đó là dấu hiệu xấu rồi! Sao không gập một chiếc áo vét-tông đặt dưới gáy kẻ khốn khổ ấy?"... Còi ôtô cảnh sát New York rú lên từ xa, phía đầu công viên Row, gió nóng hầm hập thổi, uốn cong các cần ăng-ten mềm dẻo."... Tác phẩm này mang tên John l'Enfer (John Địa Ngục) - qua bản dịch của Nhà xuất bản Lao Động - "Câu Chuyện New York" - đã được giải thưởng Goncourt năm 1977. Xin trân trọng giới thiệu. *** TÓM TẮT Câu Chuyện New York là một tiểu thuyết của nhà văn Didier Decoin, được xuất bản năm 1977 và giành giải thưởng Goncourt. Truyện kể về cuộc đời của John, một thanh niên người Pháp sinh ra ở New York. John là một đứa trẻ mồ côi, được một gia đình người Pháp nhận nuôi khi còn nhỏ. Anh lớn lên ở Pháp, nhưng luôn cảm thấy mình là người xa lạ ở đất nước này. Sau khi tốt nghiệp đại học, John quyết định trở về New York để tìm kiếm nguồn gốc của mình. Anh bắt đầu cuộc sống ở thành phố này với tư cách là một nhà văn. Tại New York, John gặp gỡ nhiều người, từ những người nghèo khổ đến những người giàu có, từ những người thành đạt đến những người thất bại. Anh bắt đầu hiểu được sự phức tạp và đa dạng của thành phố này. John cũng bắt đầu khám phá quá khứ của mình. Anh tìm hiểu về cha mẹ đẻ của mình, về những người đã nuôi nấng anh và về những người đã ảnh hưởng đến cuộc đời anh. Trải qua những trải nghiệm ở New York, John bắt đầu tìm thấy chính mình. Anh trở thành một người đàn ông trưởng thành, có bản sắc riêng. Nhân vật John: Nhân vật chính của truyện. Anh là một người đàn ông trẻ tuổi, đang tìm kiếm bản thân và nguồn gốc của mình. Madame de Saint-Sauveur: Bà là người phụ nữ đã nuôi nấng John khi còn nhỏ. Bà là một người phụ nữ giàu có và quyền lực, nhưng cũng rất yêu thương John. Monique: Một cô gái người Pháp mà John yêu. Cô là một người phụ nữ xinh đẹp và thông minh, nhưng cũng rất bí ẩn. Larry: Một người đàn ông người Mỹ mà John gặp ở New York. Anh là một người đàn ông thành đạt và phóng túng, nhưng cũng rất tốt bụng. Cốt truyện Câu Chuyện New York là một tiểu thuyết về sự tìm kiếm bản thân và nguồn gốc. Truyện kể về cuộc đời của John, một thanh niên người Pháp sinh ra ở New York. Anh lớn lên ở Pháp, nhưng luôn cảm thấy mình là người xa lạ ở đất nước này. Sau khi tốt nghiệp đại học, John quyết định trở về New York để tìm kiếm nguồn gốc của mình. Tại New York, John gặp gỡ nhiều người, từ những người nghèo khổ đến những người giàu có, từ những người thành đạt đến những người thất bại. Anh bắt đầu hiểu được sự phức tạp và đa dạng của thành phố này. John cũng bắt đầu khám phá quá khứ của mình. Anh tìm hiểu về cha mẹ đẻ của mình, về những người đã nuôi nấng anh và về những người đã ảnh hưởng đến cuộc đời anh. Trải qua những trải nghiệm ở New York, John bắt đầu tìm thấy chính mình. Anh trở thành một người đàn ông trưởng thành, có bản sắc riêng. Đánh giá Câu Chuyện New York là một tiểu thuyết xuất sắc của Didier Decoin. Truyện có một cốt truyện hấp dẫn, những nhân vật được xây dựng tốt và một thông điệp nhân văn sâu sắc. Truyện kể về một câu chuyện tìm kiếm bản thân và nguồn gốc. Truyện đã khắc họa một cách chân thực và cảm động hành trình của John trong việc tìm kiếm chính mình. Truyện cũng đã gửi gắm một thông điệp nhân văn sâu sắc về sự trưởng thành và tìm thấy bản thân. Review Câu Chuyện New York là một cuốn tiểu thuyết rất đáng đọc. Truyện có một cốt truyện hấp dẫn, những nhân vật được xây dựng tốt và một thông điệp nhân văn sâu sắc. Dưới đây là một số điểm nổi bật của truyện: Cốt truyện hấp dẫn: Truyện kể về một câu chuyện tìm kiếm bản thân và nguồn gốc. Cốt truyện của truyện được xây dựng một cách logic và chặt chẽ, với nhiều tình huống bất ngờ và hấp dẫn. Nhân vật được xây dựng tốt: John là một nhân vật được xây dựng rất tốt. Anh là một người đàn ông trẻ tuổi, có tính cách phức tạp và đa dạng. Những nhân vật khác trong truyện cũng được xây dựng rất tốt, với những tính cách và số phận riêng. Thông điệp nhân văn sâu sắc: Truyện gửi gắm một thông điệp nhân văn sâu sắc về sự trưởng thành và tìm thấy bản thân. Truyện cho thấy rằng, mỗi người cần phải trải qua những thử thách và trải nghiệm để có thể tìm thấy chính mình. Nếu bạn đang tìm kiếm một cuốn tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa thì đây chính là cuốn sách dành cho bạn. Mời các bạn mượn đọc sách Câu Chuyện New York của tác giả Didier Decoin & Viễn Nguyên (dịch).