Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Di Chúc Pháp

Ký ức tuổi thơ trong một số tác phẩm được giải năm 1995 ở Pháp   (trích)      Đặng Thị Hạnh     Hầu hết các giải thưởng văn học lớn ở Pháp đều được trao vào cuối mùa thu hàng năm, còn được gọi là mùa khai diễn lại.   Năm nay, cuốn Di chúc Pháp của Andrei Makine, giải Goncourt, được giới báo chí khen ngợi nhiệt liệt: “Di chúc Pháp mùa thu năm nay sáng ngời lên với một ánh rạng rỡ đặc biệt. Một cuốn tiểu thuyết hay”. (Báo Le Figaro). “Một sự tráng lệ yên bình, chắc chắn đó là một trong những tiểu thuyết vào đời hay nhất của những năm gần đây. (Báo Le Croise). “Andrei Makine đã viết một kiệt tác. Một kỳ công về văn xuôi, một tiếng nhạc khiến ta sững sờ, như thể Tchékhov viết bằng tiếng Pháp” (Báo Elle).   *   Gần mười năm sau khi rời khỏi đất Nga sang Pháp, người kể chuyện hồi tưởng lại về thời thơ ấu và tuổi mới lớn của mình, sống chia sẻ giữa một thành phố lớn bên bờ sông Volga (nơi bố mẹ ở) và thị trấn Saranza ở vùng Ukraine là nơi người bà ngoại gốc Pháp ở.   Trong nhiều năm, theo một tập quán không thay đổi, trên một ban công giữa vườn, mỗi chiều hè, người bà lại kể cho hai chị em cậu bé những mẩu chuyện về nước Pháp, quê hương của bà, những mẩu chuyện rời rạc, có khi lặp đi lặp lại, điều mà cả người kể lẫn người nghe đều không mấy quan tâm, đối với đứa trẻ, mỗi chuyện kể hay đều có thể nghe đi nghe lại mà không biết chán. Cùng với an bom gia đình, những bài dân ca, thơ văn các nghệ sĩ nổi tiếng, rồi những kỷ vật, vài hòn cuội, một mẩu kim loại bí ẩn... các câu chuyện kể cứ làm hình thành dần trong đầu óc cậu bé, một hình ảnh về nước Pháp, giống như những mẩu trong một bức tranh ghép mảnh. Mở đầu của mọi chuyện, chắc chắn là chuyện kể về Paris vụ lụt mùa đông năm 1910: sông Seine biến thành biển, dân Paris lênh đênh trên những con đò, và nước Pháp của bà ngoại đi lên từ sóng nước như một hòn đảo Atlantide. Nhưng liền ngay sau đó lại là một Paris khác, rực rỡ ánh xuân, đang chờ đón Sa hoàng Nicolas đệ nhị và Hoàng hậu Alexandra. Cả hai xuất hiện trẻ măng, đẹp đẽ Nhiều năm sau, người kể chuyện (lúc ấy còn là người nghe chuyện) mới biết là sự kiện ngoại giao lớn, Paris đón Sa hoàng, là xảy ra vào năm 1896, trước vụ lụt hàng chục năm. Nhưng mọi sự sai niên đại đều chẳng quan trọng gì. Điều quan trọng là trên ban công ngôi nhà của Charlotte, tên người bà, mỗi chiều hè “giống như cái bình cầu cổ dài của một nhà luyện kim, trong đó diễn ra sự chuyển vi nguyên tố của quá khứ”: điện Elysée xuất hiện trong ánh lấp lánh những đèn chùm gương soi, nhà hát Opéra sáng rực vì những đôi vài trần phụ nữ, còn Nhà thờ Đức Bà lại khiến ta cảm thấy rợn người vì chất đá lạnh toát dưới bầu trời vẩn mây...   Cứ như vậy, cho dù các giấc mộng chiều hè đó mỗi năm một lần lại lùi ra xa, mờ đi sau đám sương thu và những cơn bão tuyết đầu tiên- cậu bé trở về với cuộc sống học sinh và thành phố - thì cái mà sau này cậu sẽ gọi là Francité (tính Pháp) vẫn cứ đọng lại như những “địa tầng” trong tâm hồn cậu, cùng với cái đó là những xung đột giữa hai bản ngã khó dung hòa. Cũng như chính tác giả, người kể chuyện cảm thấy “mình vừa là Pháp, lại vừa là Nga: và không ở đâu, tính đối nghịch đó lại biểu hiện rõ như trong ngôn ngữ: “Khi tôi đọc (từ Tsar) bằng tiếng ngan thì một tên bạo chúa tàn ác đứng sừng sững trước mặt tôi, trong khi đó từ “Tsar” trong tiếng Pháp lại tràn ngập ánh sáng, tiếng động, gió, ánh đèn chùm, những vai trần phụ nữ lấp lánh...” Ngôn ngữ, cái mầm ghép hoang đường… Rất lâu sau này, người kể chuyện mới có dịp thể nghiệm cái chất liệu bí ẩn này, nhưng chắc anh sẽ khó thành công nếu ngay từ thời thơ ấu, trong con người anh, trong ngôn ngữ anh, đã không mang tính kép, cái mà có lúc anh đã muốn rũ bỏ cho kì được. “Thói ủy mị Pháp đã ngăn trở không cho tôi sống”: lớn dần lên, cậu bé đã nhận ra như vậy, khi cảm thấy mình lạc lõng giữa cái xã hội mini là trường học, bạn và thầy. Vào một mùa hè, khi cậu đã 14 tuổi, cậu trở về Saranza với “ý định kết thúc với cái nước Pháp của Charlotte”, thì một lần nữa, cậu lại ra đi với bao nhiêu khám phá về bản thân mình, về ngôn ngữ, nhất là về người bà của mình, đơn giản chỉ vì bà xuất hiện dưới bầu trời Nga “như một con người- ngoài trái đất” nhưng lại đã “hội tụ được trong cuộc đời mình các thời điểm mấu chốt của lịch sử nước chúng tôi”.   *   Từ ngày ấy, gần hai mươi năm đã trôi qua. Bị cuốn theo những biến động xã hội người kể chuyện nay đã ở trên đất Pháp. Và điều gì đã xảy ra? Về những tháng dài nghèo khổ và lang thang trên đất Pháp, anh sẽ rất ít lời. Xuống đến tận cùng của tuyệt vọng, có lúc anh đã nghĩ đến cái chết, nhưng chính một hồi ức của tuổi thơ lại đã cứu anh. Vào một sáng tinh mơ, khi anh gần như quỵ xuống cạnh một bức tường: Lũ tháng giêng 1910, những dòng chữ trên xuất hiện như nhờ phép lạ trên một tấm kim loại đã gỉ, đen xì. Và ngay tức thì, cả một quá khứ ùa trở lại: “… Sức nóng của một thành cầu thang gỗ trên cái ban công treo giữa không trung vào một chiều hè. Những mùi hương cỏ, khô và cay cay. Tiếng kêu xa xôi và buồn bã của một đầu tàu… Tiếng giấy nhẹ sột soạt trên lòng người đàn bà đang ngồi giữa hoa. Mái tóc đã điểm bạc. Giọng nói của bà…”Đến đây điểm nhìn của người kể chuyện đã đảo ngược lại, thời ấy còn là nước Pháp nhìn từ nước Nga qua truyện kể của bà, bây giờ lại một hồi ức về đất Nga nhìn lại từ nước Pháp.   Cũng như vậy, trong hai mươi trang cuối chuyện, tình huống sẽ bị rạt lại. Trong hơn hai trăm chín mươi trên ba trăm linh bẩy trang của cuốn tiểu thuyết, người kể chuyện chỉ làm có một việc là vẽ lại cho chúng ta sự hình thành của tính Pháp trong con người anh. Vậy mà khi anh tưởng như đã có điều kiện để đưa người bà trở về thăm nước Pháp thì một bức thư của Charlotte viết trước khi và mất: Di chúc Pháp lại là để nói với anh về đời một người đàn bà Nga, mẹ của anh: bà đã đón từ tay của một phụ nữ Nga bị chết trong trại tập trung, và đã hứa với người đó chỉ báo cho anh biết điều này vào thời điểm chậm nhất. Vậy là tất cả những gì mà suốt thời gian qua anh coi như biểu hiện của tính Pháp di truyền trong anh đều không có, hoàn toàn không có.Nhưng đấy cũng là điều kiện để anh nghĩ tới sự hiện diện của người bà, “kín đáo và tự nhiên như chính cuộc sống vậy. Đối với tôi, duy nhất chỉ còn thiếu các từ để nói lên điều đó”.   Cũng giống như kiệt tác của Proust, khi chuyện kể đóng lại là lúc báo hiệu cuốn tiểu thuyết sẽ bắt đầu.   *   Trên đây chỉ là tóm tắt sơ lược của truyện kể và khó có thể hình dung một tác phẩm hay nếu không biết đến văn viết. Nhưng đấy là việc của người đọc, không ai có thể làm thay. “Mỗi độc giả trước tiên là độc giả của chính mình. Với văn phong trong sáng, dễ hiểu, với cốt truyện giản dị. Di chúc Pháp vẫn là một tác phẩm phức hợp, có thể được đọc ở nhiều tầng. Trong phạm vi bài này không thể nói tới các âm hưởng khác nhau có thể tìm thấy trong tác phẩm. Nhưng một điều có thể nhận thấy ngay, là người độc giả Việt Nam đã quen với tiểu thuyết Na và Xô viết trước đây (tuy bây giờ dường như chúng đã bị xếp xó) sẽ nhận thấy trong người đàn bà gốc Pháp nhiều nét gợi nhớ tới các nữ nhân vật trong tiểu thuyết cổ điển Nga, và cả trong các tác phẩm Xô viết họ đã đọc. Còn một số độc giả khác sẽ nhạy cảm với “tiếng nhạc nhỏ của các hồi ức Proustienm cứ đệm theo dòng chuyện kể, gợi nhớ “những giây lát không trôi qua”, cái sẽ còn lại mãi mãi phía trên dòng thời gian luôn chảy./.   “(…) tôi ghi lại đây tên thật những người ấy với một niềm thích thú trẻ nít cùng niềm xúc động sâu xa, trong khi không thể kể hết tên bao người khác nữa hẳn cũng đã từng hành động tương tự và nhờ họ mà nước Pháp vẫn tồn tại đến ngày nay (…)”      MARCEL PROUST      Thời gian tìm lại được     “Người dân Xibêri có bao giờ xin ông trời cây ôliu, hoặc người dân cứ Provence cây klukwa?”      JOSEPH DE MAISTRE     Những tối đàm luận ở Saint Petersbourg     “Tôi hỏi nhà văn Nga cách thức ông làm việc và lấy làm ngạc nhiên là ông không tự dịch bản viết, mặc dù ông nói một thức tiếng Pháp hết sức trong sáng, hơi chậm rãi tí chút do lối suy nghĩ tinh tế của ông.   Ông thú thật là Viện Hàn lâm với pho từ điển của nó khiến ông buốt cóng.      ALPHONSE DAUDET     Ba mươi băm ở Paris  *** Andreï Makine sinh ngày 10/9/1957 tại Krasnoyarsk, Xô Viết.   Năm 1987, ông sang Pháp là thành viên của chương trình trao đổi giáo viên và quyết định ở lại. Quyển tiểu thuyết đầu tiên của ông La fille d'un héros de l'Union soviétique (A Hero's Daughter) được xuất bản năm 1990, khi ông trình bày rằng nó đã được dịch từ tiếng Nga, vì không nhà xuất bản nào tin rằng ông có thể viết bằng tiếng Pháp. Với quyển tiểu thuyết thứ ba, Au temps du fleuve Amour (Once Upon Love River), ông mới được công nhận là một nhà văn Pháp. Và đến quyển tiểu thuyết thứ tư, Le Testament Français (Dreams of My Russian Summers), năm 1995, ông trở thành tác giả đầu tiên chiến thắng được cả hai giải thưởng văn học hàng đầu nước Pháp Prix Goncourt và Prix Médicis.   Năm 2001, Andreï Makine bắt đầu bí mật xuất bản dưới bút danh Gabriel Osmonde với tổng cộng 4 quyển tiểu thuyết trong hơn 10 năm. Đây là một bí ẩn của nền văn học Pháp. Mãi đến năm 2011, một học giả nhận thấy quyển Les 20 000 Femmes de la vie d'un homme của Osmonde được lấy cảm hứng từ Le Testament Français (Dreams of My Russian Summers) của Makine, sau đó sự việc mới được sáng tỏ. Khi được hỏi tại sao lại sử dụng bút danh, ông đã trả lời rằng: “Tôi muốn tạo ra một người sống xa sự ồn ào náo nhiệt của thế giới”.   Các tác phẩm:   - La fille d'un héros de l'Union soviétique , 1990 (A Hero's Daughter , 1996)   - Confession d'un porte-drapeau déchu , 1992 (Confessions of a Fallen Standard-Bearer , 1996)   - Au temps du fleuve Amour , 1994 (Once Upon the River Love , 1996)   - Le Testament français , 1995 (Dreams of My Russian Summers , 1997)   - Le Crime d'Olga Arbelina , 1998 (Crime of Olga Arbyelina , 2000)   - Requiem pour l'Est , 2000 (Requiem for a Lost Empire , 2001)   - La Musique d'une vie , 2001 (A Life's Music , 2004; also published as Music of a Life)   - La Terre et le ciel de Jacques Dorme , 2003 (The Earth and Sky of Jacques Dorme , 2005)   - La femme qui attendait , 2004 (The Woman Who Waited , 2005)   - L'Amour humain , 2006 (Human Love , 2008)   - Le Monde selon Gabriel , 2007   - La Vie d'un homme inconnu , 2009 (The Life of an Unknown Man , 2010)   - Cette France qu'on oublie d'aimer , 2010   - Le Livre des brèves amours éternelles , 2011   Dưới bút danh Gabriel Osmonde:   - Le Voyage d'une femme qui n'avait plus peur de vieillir, 2001   - Les 20 000 Femmes de la vie d'un homme, 2004   - L'Œuvre de l'amour, 2006   - Alternaissance, 2011   Mời các bạn đón đọc Di Chúc Pháp của tác giả Andrei Makine.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Thằng Quỷ Nhỏ - Nguyễn Nhật Ánh
Bạn bè thân của Nguyễn Nhật Ánh vẫn gọi anh bằng biệt danh “thằng quỷ nhỏ”, theo tên một truyện dài cùng tên của anh, đã được in lần thứ 11 và được dựng thành kịch, thành phim. Thằng quỷ nhỏ trong truyện là một cậu học trò nghèo, chăm học, tinh nghịch và có đặc điểm “hai vành tai ve vẩy như hai cánh bướm”. Ở ngoài đời anh không có đặc điểm đó, nhưng anh biết cách kể chuyện khiến người nghe phải “ve vẩy” đôi vành tai. Ông Lê Hoàng, Giám đốc NXB Trẻ, cho biết: “Trong năm 2003, NXB Trẻ sẽ tái bản toàn bộ truyện của Nguyễn Nhật Ánh, mỗi tuần một tập (phát hành vào ngày thứ hai) theo nhu cầu của các em thiếu niên”. 50 tập truyện sẽ được tái bản với số lượng 7.000 cuốn/tập. Một số lượng sách tái bản và tiền nhuận bút thật “đáng nể” đối với một nhà văn Việt Nam. Một số nhà phê bình có thể không thích truyện của Nguyễn Nhật Ánh vì cho rằng truyện viết cho tuổi mới lớn chưa phải là những tác phẩm “lớn”. Nhưng họ cũng phải công nhận rằng truyện của Nguyễn Nhật Ánh có độc giả và anh là một trong số ít nhà văn Việt Nam hiện nay sống được bằng chính tác phẩm của mình. Đối với một nhà văn, điều quan trọng nhất là viết (chứ không phải nói) để có tác phẩm. Nguyễn Nhật Ánh đang làm công việc đó một cách xuất sắc. *** Nguyễn Nhật Ánh là tên và cũng là bút danh của một nhà văn Việt Nam chuyên viết cho tuổi mới lớn. Ông sinh ngày 7 tháng 5 năm 1955 tại huyện Thăng Bình, Quảng Nam. Thuở nhỏ ông theo học tại các trường Tiểu La, Trần Cao Vân và Phan Chu Trinh. Từ 1973 Nguyễn Nhật Ánh chuyển vào sống tại Sài Gòn, theo học ngành sư phạm. Ông đã từng đi Thanh niên xung phong, dạy học, làm công tác Đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh. Từ 1986 đến nay ông là phóng viên nhật báo Sài Gòn Giải Phóng, lần lượt viết về sân khấu, phụ trách mục tiểu phẩm, phụ trách trang thiếu nhi và hiện nay là bình luận viên thể thao trên báo Sài Gòn Giải Phóng Chủ nhật với bút danh Chu Đình Ngạn. Ngoài ra, Nguyễn Nhật Ánh còn có những bút danh khác như Anh Bồ Câu, Lê Duy Cật, Đông Phương Sóc, Sóc Phương Đông,... *** Rốt cuộc rồi Nga cũng phát hiện ra bí mật quanh những bông hoa, điều mà Nga tưởng sẽ không bao giờ khám phá nổi. Chuyện xảy ra hoàn toàn tình cờ. Tối đó, đã lên giường nằm rồi, Nga sực nhớ mình bỏ quên thỏi chocolat trên đầu tủ buýp-phê. Thỏi chocolat hồi chiều ba mua cho, Nga vội đi mua dầu lửa cho chị Ngàn, không kịp ăn. Suốt buổi tối, Nga quên bẵng. Thỏi kẹo vẫn nằm yên trên đầu tủ. Thoạt đầu, làm biếng chui ra khỏi mùng, Nga định thôi. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, sợ chuột tha mất, Nga lồm cồm ngồi dậy đi ra phòng khách. Nga rón rén đi từng bước một. Nga không sợ chị Ngàn hay thằng Ngoạn thức giấc. Chị Ngàn và Ngoạn hề đặt lưng xuống giường là ngủ say như chết. Nhưng tối nay ba về ngủ nhà. Mà ba lại có tật khó ngủ. Vì vậy, Nga làm con mèo. Nga nín thở đi trên những đầu ngón chân. Vừa ra khỏi phòng ngủ, Nga ngạc nhiên thấy phòng khách còn sáng đèn. Tưởng ba không không ngủ được, ra ngồi đọc sách, Nga nhẹ nhàng bước lại. Hóa ra không phải ba, mà là thằng Ngoạn. Nó đang làm trò gì đó chỗ tủ buýp-phê, thấy Nga đột ngột xuất hiện, nó giật mình rụt phắt tay lại và giấu ra sau lưng. Nga nhướng mắt: - Ủa, giờ này sao em chưa đi ngủ? Bị bắt gặp bất thần, Ngoạn chưa kịp trấn tĩnh. Nó đứng đực ra, môi mấp máy nhưng không thốt được tiếng nào. Vẻ lúng túng của Ngoạn khiến Nga đâm nghi. Nga tính cao giọng xét hỏi nhưng sực nhớ có ba ở nhà nên nó đành nói khẽ, giọng nghiêm nghị: - Em làm gì ở đây? ... Mời các bạn đón đọc Thằng Quỷ Nhỏ của tác giả Nguyễn Nhật Ánh.
Quán Gò Đi Lên - Nguyễn Nhật Ánh
Chuyện diễn ra ở quán Đo Đo, quán ăn do tác giả sáng lập để nhớ quê nhà, nơi có chợ Đo Đo – chỗ Quán Gò đi lên ấy. Bởi thế, trong câu truyện tràn ngập những nỗi nhớ, nhớ món ăn, nhớ giọng nói, nhớ thói quen, nhớ kỉ niệm… Dẫu là câu chuyện ngập tràn nỗi nhớ, vẫn nghe trong đó những tiếng cười rất vui.   *** Nguyễn Nhật Ánh là tên và cũng là bút danh của một nhà văn Việt Nam chuyên viết cho tuổi mới lớn. Ông sinh ngày 7 tháng 5 năm 1955 tại huyện Thăng Bình, Quảng Nam. Thuở nhỏ ông theo học tại các trường Tiểu La, Trần Cao Vân và Phan Chu Trinh. Từ 1973 Nguyễn Nhật Ánh chuyển vào sống tại Sài Gòn, theo học ngành sư phạm. Ông đã từng đi Thanh niên xung phong, dạy học, làm công tác Đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh. Từ 1986 đến nay ông là phóng viên nhật báo Sài Gòn Giải Phóng, lần lượt viết về sân khấu, phụ trách mục tiểu phẩm, phụ trách trang thiếu nhi và hiện nay là bình luận viên thể thao trên báo Sài Gòn Giải Phóng Chủ nhật với bút danh Chu Đình Ngạn. Ngoài ra, Nguyễn Nhật Ánh còn có những bút danh khác như Anh Bồ Câu, Lê Duy Cật, Đông Phương Sóc, Sóc Phương Đông,... *** Con Cúc trở vô, cô Thanh giao cái chức "bếp trưởng" lại cho nó. Con Cúc cai quản cái bếp, cai quản luôn con Hường. Điều đó làm con Hường chẳng thích thú chút xíu nào. Chẳng phải con Hường tị nạnh gì, chỉ có điều nó và con Cúc là bạn bè ngang lứa ngoài quê, vô đây tự nhiên con Cúc làm sếp nó, con Cúc phụ trách phần nêm nếm, ra tô ra bát, còn nó suốt ngày loay hoay rửa hết đống chén này đến đống chén khác, chuyện đó làm nó thấy quê quê. Một hôm, con Hường khều con Cúc, nói: - Cúc ơi, mai tao về. - Í, mi đừng có điên! Răng lại về? - Con Cúc nhảy dựng. Con Hường chu mỏ: - Tao tưởng vô trong ni làm thứ chi, ai ngờ vô ngồi rửa chén! Nghe cái giọng bất mãn của con Hường, con Cúc hiểu ngay. Nó vỗ vai bạn: - Mi đừng có nghĩ bá láp! Hồi mới vô, tao cũng suốt ngày ngồi rửa chén y như mi vậy. Cặp mắt con Hường tròn xoe: - Mi nói thiệt đó hả? ... Mời các bạn đón đọc Quán Gò Đi Lên của tác giả Nguyễn Nhật Ánh.
Phòng Trọ Ba Người - Nguyễn Nhật Ánh
Phòng trọ ba người là nơi dành cho ba chàng sinh viên Chuyên, Nhiệm, và Mẫn trú ngụ, là nơi họ chia sẻ việc học hành, những trò nghịch ngợm và chia sẻ cả những buồn vui trong đời sống tình cảm. Mẫn, chàng trai nhút nhát vốn quan niệm tình yêu là thứ “xa xỉ phẩm”, đến lúc phải dựng lên vở kịch tình yêu với sự trợ sức của Thu Thảo, cô học trò tinh nghịch của anh. Trò chơi tưởng chỉ để góp vào không khí sôi động của căn gác trọ ấy, không ngờ đã thực sự cuốn hút chàng trai chuyên “dị ứng với phụ nữ” ấy. Khi buộc lòng phải chấm dứt với trò chơi, cũng là lúc Mẫn cảm thấy bâng khuâng như phải chia tay với tình cảm thực sự.  *** Nguyễn Nhật Ánh là tên và cũng là bút danh của một nhà văn Việt Nam chuyên viết cho tuổi mới lớn. Ông sinh ngày 7 tháng 5 năm 1955 tại huyện Thăng Bình, Quảng Nam. Thuở nhỏ ông theo học tại các trường Tiểu La, Trần Cao Vân và Phan Chu Trinh. Từ 1973 Nguyễn Nhật Ánh chuyển vào sống tại Sài Gòn, theo học ngành sư phạm. Ông đã từng đi Thanh niên xung phong, dạy học, làm công tác Đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh. Từ 1986 đến nay ông là phóng viên nhật báo Sài Gòn Giải Phóng, lần lượt viết về sân khấu, phụ trách mục tiểu phẩm, phụ trách trang thiếu nhi và hiện nay là bình luận viên thể thao trên báo Sài Gòn Giải Phóng Chủ nhật với bút danh Chu Đình Ngạn. Ngoài ra, Nguyễn Nhật Ánh còn có những bút danh khác như Anh Bồ Câu, Lê Duy Cật, Đông Phương Sóc, Sóc Phương Đông,... *** Thu Thảo hỏi Mẫn: - Chuyện của anh tới đâu rồi? - Chuyện gì? - Chuyện anh với chị Thủy đó! - À, nói chung là tốt. - Chỉ có đọc thấy mấy lá thư em viết cho anh không? - Có. - Chỉ có nói gì không? - Nói. - Nói sao? - Nói "đồ cà chớn". Thu Thảo giật mình: - Nói em hả? Mẫn cười: - Không. Nói tôi. Thu Thảo cũng cười: - Rồi anh trả lời sao? Mẫn hấp háy mắt: - Tôi bảo: "Cà chớn gì đâu! Con bé Thanh Hương này nó yêu anh chứ anh... đâu có thèm yêu nó". ... Mời các bạn đón đọc Phòng Trọ Ba Người của tác giả Nguyễn Nhật Ánh.
Những Chàng Trai Xấu Tính - Nguyễn Nhật Ánh
Từ những lần gặp gỡ thường xuyên ở hồ bơi, có một cuộc chiến tranh tưởng bùng nổ giữa hai chàng trai vốn là “chiến hữu”. Tất cả chỉ là vì một cô gái có hành tung khó hiểu và tính nết thay đổi liên tục. Sự hiểu lầm ấy may thay không kéo dài lâu quá, bởi vì sau cùng hai chàng trai xấu tính ấy hiểu ra, họ đang yêu hai chị em sinh đôi.  *** Nguyễn Nhật Ánh là tên và cũng là bút danh của một nhà văn Việt Nam chuyên viết cho tuổi mới lớn. Ông sinh ngày 7 tháng 5 năm 1955 tại huyện Thăng Bình, Quảng Nam. Thuở nhỏ ông theo học tại các trường Tiểu La, Trần Cao Vân và Phan Chu Trinh. Từ 1973 Nguyễn Nhật Ánh chuyển vào sống tại Sài Gòn, theo học ngành sư phạm. Ông đã từng đi Thanh niên xung phong, dạy học, làm công tác Đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh. Từ 1986 đến nay ông là phóng viên nhật báo Sài Gòn Giải Phóng, lần lượt viết về sân khấu, phụ trách mục tiểu phẩm, phụ trách trang thiếu nhi và hiện nay là bình luận viên thể thao trên báo Sài Gòn Giải Phóng Chủ nhật với bút danh Chu Đình Ngạn. Ngoài ra, Nguyễn Nhật Ánh còn có những bút danh khác như Anh Bồ Câu, Lê Duy Cật, Đông Phương Sóc, Sóc Phương Đông,... *** Chính vì cái chữ "hai đứa" mà Quỳnh Như vô tình buột miệng trong buổi chiều định mệnh kia, tôi càng cương quyết "tẩy chay" những lời cảnh giác của Biền. Thứ ba thứ năm thứ bảy, những "ngày của tôi", tôi tiếp tục lân la trò truyện với Quỳnh Như. Bây giờ, ngay cả khi xuống nước, tôi cũng tìm cách mon men lại gần nó. Càng gần gũi Quỳnh Như, tôi càng nhận thấy nó đáng yêu khủng khiếp. Tôi chưa từng thấy đứa con gái nào thùy mị như nó. Tôi cũng chẳng thấy một chút giả trá nào trong cách nó đối xử với tôi. Tình ý của nó dành cho tôi thật nhẹ nhàng đằm thắm. Tôi chỉ cần có vậy. Còn thì tôi bất chấp. Tôi chưa bao giờ gặng hỏi tại sao mỗi tuần nó chỉ thân thiết với tôi có ba ngày, những ngày còn lại nó thích đi đấu hót với Biền. Tôi không hỏi và cũng không lấy thế làm phiền muộn. Thỉnh thoảng nghĩ đến chuyện đó, tôi cho rằng Quỳnh Như bản tính vui vẻ, hoạt bát, khi cần đùa cợt lếu láo ắt nó phải tìm đến Biền để giải khuây. Nó không thể và cũng không nỡ trêu ghẹo, đốp chát với một đứa khù khờ chậm chạp như tôi. Nhưng nó muốn làm gì mặc nó, miễn là khi trở về bên cạnh tôi, nó thu móng vuốt lại để trở thành một con mèo hiền lành ngoan ngoãn là đủ khiến tôi cảm thấy một tuần lễ vẫn nguyên vẹn bảy ngày. Biền khó chịu ra mặt khi thấy tôi phớt lờ mọi khuyến cáo của nó. Những ngày đầu, thấy tôi cứ lẽo đẽo đi theo Quỳnh Như, nó nhìn tôi bằng nửa con mắt, vẻ khinh bỉ. ... Mời các bạn đón đọc Những Chàng Trai Xấu Tính của tác giả Nguyễn Nhật Ánh.