Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Người Chưa Bao Giờ Thấy Biển - Jean-Marie Gustave Le Clézio

Daniel hầu như ko nói chuyện với ai và cũng ko có bạn bè. Người ta thấy nó thường mơ mộng với đôi mắt mở to. Nó có dáng vẻ như đến từ nơi khác. Đáng lẽ nên gọi nó là thuyền trưởng Sinbad, bởi nó đọc nhiều những chuyện phiêu lưu ấy, và đó là cuốn sách duy nhất nó thuộc nằm lòng: mắt nó sáng rỡ chỉ khi nói chuyện về biển cả và việc du hành. Nhưng, nó chưa bao giờ nhìn thấy biển. Rồi một ngày tháng mười một, chẳng bảo ai, nó ra đi và không bao giờ trở lại… *** Jean-Marie Gustave Le Clézio, một trong những nhà văn lọt vào danh sách để xét giải Nobel văn học năm 1999, đã thành danh từ khá sớm. Những năm 60 của văn học Pháp là những năm khó khăn với các cuộc tìm tòi thí nghiệm, những quan niệm mới và những khuynh hướng mới. Chính vào thời kỳ ấy, cụ thể là vào năm 1963, “một chàng trai trẻ, cao lớn, đẹp trai, có mái tóc vàng”, ít nói, đã "trình làng" với cuốn tiểu thuyết Biên bản (Le Procès - verbal), in tại Gallimard, một nhà xuất bản lớn hàng đầu, có uy tín ở Pháp. Cuốn tiểu thuyết lập tức thu hút sự chú ý của bạn đọc cũng như giới phê bình không những vì nó đoạt giải thưởng Renaudot, mà chủ yếu vì nó đã đặt ra nhiều vấn đề lý thú cho thể loại tiểu thuyết dường như đang ngắc ngoải. Thế là, mặc dầu anh còn quá trẻ (23 tuổi) để thành tên tuổi, người ta vẫn cứ “xếp hạng” và anh “có chỗ” trong làng văn Pháp đương đại đang khá là nhốn nháo. Tính đến nay, cầm bút được hơn 30 năm, Le Clézio đã có 47 đầu sách gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận và dịch thuật, trong đó có 4 cuốn viết chung. Ðó là chưa kể đến rất nhiều bài viết ông đăng trên các tạp chí, các báo... và hoạt động giảng dạy của ông ở các trường đại học tại Pháp, Mỹ, Mexique, Thái Lan.   Bảo vệ xuất sắc khoá luận cao học về H.Michaux vào năm 1964, sau đó Le Clézio bảo vệ luận án tiến sĩ về Lautréamont. Le Clézio và những tác phẩm của ông đã là đề tài nghiên cứu của 21 cuốn sách và 29 luận án cao học và tiến sĩ (riêng ở Nice, thành phố quê hương ông có 7 luận án). Năm ông 49 tuổi (1989) tạp chí Sud đã ra số chuyên san về sự nghiệp sáng tác của ông. Năm 1994, tạp chí Lire mở cuộc điều tra xã hội học với câu hỏi “Ai là nhà văn Pháp ngữ lớn nhất trong số hiện đang còn sống?” đã có 13% độc giả trả lời đó là Le Clézio.   Cùng một số nhà văn khác, Le Clézio đã làm cho bức tranh toàn cảnh của văn học Pháp thế kỷ XX đỡ màu ảm đạm: “Suốt cả thế kỷ, người ta nói đến “cái chết của văn học”, bị giết bởi báo chí, điện ảnh, truyền hình, những trò giải trí đại chúng v.v… Vậy mà, nó không chết. Người ta viết và công bố nhiều hơn. Thành công của những tác phẩm cách tân, những tác phẩm hay và có giá trị (chúng đa dạng biết bao) của Claude Simon hay Marguerite Duras, của Jean-Marie Gustave Le Clézio hay Georges Perec đã làm cho chúng ta trở nên lạc quan”.   Thói quen của các ngòi bút phê bình nghiên cứu hay dẫn chúng ta đến việc “xếp loại” “sắp đặt” các nhà văn ngồi chỗ này, chỗ kia... hoặc thuộc trường phái này, khuynh hướng nọ... Đối với Le Clézio và các sáng tác của ông, việc này quả là không dễ dàng (có thể nói là không thể). Bởi vì, hình như ông thuộc về nhiều trường phái và hình như cũng chẳng thuộc về khuynh hướng nào cả.   Cuốn tiếu thuyết đầu tay xuất hiện khi ông còn rất trẻ đã khiến người ta xếp ông vào “chủ nghĩa hiện thực mới”. Có lẽ đó là một cách nói để làm rõ vấn đề và để đối sánh với các khuynh hướng “Tiểu thuyết Mới” “Phê bình mới” đang rất rầm rộ lúc đương thời. Vậy thì “Chủ nghĩa hiện thực mới” của Le Clézio không phải như chủ nghĩa hiện thực thời Balzac. Muốn hiểu cho rõ ngọn ngành vấn đề này, ta không thể nói trong phạm vi một hoặc vài trang giấy. Để tham khảo, chúng tôi chỉ xin nêu ở đây ý kiến của các tác giả trong cuốn Văn học Pháp từ 1945 đến 1968. Khi viết về Le Clézio họ đã dùng một cái tít lạ thường “Cách viết địa chấn học” (Une écriture sismographique). Đó là cách viết tuân theo quy luật tự nhiên, ghi theo kiểu máy đo độ rung của trái đất, ghi lại “những độ rung nhỏ nhất của những điều nhạy cảm, đem lại sự sống náo nhiệt của thế giới”. Bởi vì theo Le Clézio, thế giới vô cũng sống động. Trong tiểu luận Thế giới sống động ông đã viết: “Đây chính là điều cần phải làm: đi về nông thôn, như một họa sĩ đi vào ngày chủ nhật, cùng với một tờ giấy lớn và bút chì. Hãy chọn một nơi thanh vắng, một thung lũng xung quanh là đồi núi, ngồi trên mỏm đá và ngắm nhìn thật lâu xung quanh mình. Và rồi, khi đã nhìn thật kỹ, cầm lấy giấy, và miêu tả bằng chữ những gì ta đã thấy”. Đó là đoạn mở đầu tác phẩm. Đọc tiếp những câu cuối, ta có cảm giác như là “nghệ thuật thơ ca” của Le Clézio, một quan niệm thật giản dị: “Đó. Thế giới sống động như thế, trong những tiếng động nhỏ xíu, những cú trượt, tiếng rả rích của dòng nước. Trong những lùm cây, trong hang động, trong đám cây cối chằng chịt, rối rắm, thế giới hát ca, cùng ánh sáng hoặc bóng tối, nó sống một cuộc sống nổ tung, không ngừng nghỉ, đầy tai biến và chết chóc. Cần phải sống cùng nó, như thế, hàng ngày, nằm áp má xuống đất, tai nghe ngóng, sẵn sàng lắng nghe tất cả những tiếng ồn ào và tất cả những tiếng thì thầm. Dây thần kinh cắm sâu vào đất như rễ cây và tự nuôi dưỡng bằng sức mạnh quật khởi khó mà hiểu nổi; cần phải uống thật lâu ở suối nguồn của sự sống và cái chết, rồi sẽ trở thành vô địch không ai thắng nổi”.   Xét về mặt nội dung các tiểu thuyết của Le Clézio đều có thể kể được, có nhân vật, cùng với các “phụ tùng” của nó: Adam Polo trong cuốn Biên bản (1963), Franois Besson trong Cơn hồng thủy (Le déluge, 1966), cô gái Lalla trong tiểu thuyết Sa mạc (Désert, 1980), tác phẩm đoạt Giải Lớn Paul Morand, Alexis trong Người tìm vàng (Le chercheur d'or, 1997) v.v... Có vẻ như những lời tuyên ngôn hùng hồn của N. Sarraute trong tác phẩm nổi tiếng Thời đại hoài nghi cùng các quan điểm cách tân táo bạo của Tiểu thuyết Mới hầu như chẳng thấy có khúc xạ nào qua sáng tác của Le Clézio.   Chính bản thân ông từng kể lại: “Khi tôi đưa bản thảo tiểu thuyết đầu tay của tôi đến Nhà xuất bản Gallimard, tôi đã nói rõ rằng tôi không có quan hệ gì với Tiểu thuyết Mới”. Thế nhưng, không phải hoàn toàn không có những điểm tương đồng nào đó giữa ông và các nhà Tiểu thuyết Mới. Thậm chí người ta còn tìm thấy sự tiếp nhận những tư tưởng từ Roland Barthes trong Lời tựa cho cuốn sách thứ hai của ông có tên là Cơn Sốt.   Trong một cuộc phỏng vấn P.Lhoste có nói với Le Clézio về những từ được lặp đi lặp lại trong các tác phẩm của ông. Nhà văn đồng ý với nhận định đó và cho rằng đó “là những điểm mốc” để có thể khẳng định là mỗi người đều có một “huyền thoại cá nhân” (mythologie personelle). Ðề cập đến vấn đề này có thể Le Clézio có liên hệ gì đó với khái “huyền thoại cá nhân” (mythe personnel) của Ch.Mauron, nhà phê bình phân tâm học đã nhấn mạnh đến việc nghiên cứu quá trình vô thức trong sáng tạo của nhà văn.   Cũng trong cuộc nói chuyện ấy, Le Clézio đã gợi lên sự hàn gắn giữa nhà văn và thầy phù thủy. Cả hai đều có một “thao tác ma thuật”, có một “mã” (code) và những ký hiệu để “hành nghề”, tất nhiên là những ký hiệu khác nhau, thầy phù thuỷ với những ký hiệu của cây lá, của rắn... nhà văn với “những ký hiệu chính xác của từ ngữ gắn bó với các hình ảnh đặc biệt sẽ cho phép độc giả thực hiện thao tác có tính chuyển đổi thành một hiện thực khác, cao hơn”. Nghe đến những “ký hiệu”, đến “mã”, chúng ta có cảm giác như lại sắp bước sang một lĩnh vực khác…   Là một người đọc rất nhiều, ngay từ đầu Le Clézio đã quan tâm đến những vấn đề thuộc lý luận văn học. Ở Lời tựa với hình thức như một bức thư nho nhỏ gửi đến bạn đọc trong tiểu thuyết Biên bản, nhà văn đã dành nhiều dòng cho độc giả, một nhân tố tạo thành quan trọng được chú ý đặc biệt ở văn học thế kỷ XX với tư cách là người tiếp nhận. Ngay cách viết Lời tựa với hình thức hoàn toàn như một bức thư gửi đến bạn đọc có lẽ cũng là một cách để nói rõ thêm quan điểm này của nhà văn.   Như vậy có thể thấy một quan niệm mở của Le Clézio, chấp nhận cùng lúc mọi lối biểu hiện của thực tiễn sáng tác văn học đa dạng và phong phú. Đó là xét về mặt lý luận, còn trong sáng tác, nhà văn đã thể hiện điều đó, trước hết trong tiểu thuyết. Về mặt hình thức được trình bày trên trang giấy, bản thân các tiểu thuyết của ông không phải toàn các con chữ bình thường theo lối viết xưa nay. Văn bản được gài xen vào đủ thứ: từ các bức họa, các công thức toán, lý, hoá, các con số, các đoạn thơ, nhật ký, các mẩu quảng cáo, các mẩu báo chí (có khi được in ở giữa những trang đầu hoặc cuối), có cả những đoạn chữ bị xóa vẫn còn nguyên dấu gạch chéo X… Với cách đó, dường như ông đã thu hẹp lại khoảng cách giữa hư cấu và hiện thực. Hiện thực tràn vào trang giấy bằng của bản thân nó, chứ không phải bởi uy quyền tối cao và độc đoán của nhà văn. Các sáng tác của Clézio vào những năm đầu thể hiện rõ điều này; Biên bản (1963), Cơn hồng thủy (1966), Những người khổng lồ (Les géants, 1973)... Thậm chí có những đoạn tác giả còn để nguyên tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc xen lẫn giữa toàn bộ văn bản bằng tiếng Pháp. Những tiếng vọng đến từ xa được thể hiện thành nhiều con chữ trên mặt giấy: i i i i i i i i i i i…, woou woou woou…, hom! hom!, hom!, hom!, hom!, v.v…   Ðọc tiểu thuyết của Le Clézio chúng ta thấy ông một mặt vẫn ràng buộc với tiểu thuyết truyền thống qua những đặc điểm cơ bản nhất, mặt khác, ông đã tạo ra một lối của riêng mình. Điều đó được thể hiện không chỉ ở việc làm “vỡ tung" văn bản, thay đổi hình thức trình bày của nó, mà chủ yếu là “việc xâm nhập các thể loại trong tác phẩm” của ông, Trong tiểu thuyết của ông có cả thơ, có tiểu luận, có sử thi, huyền thoại cả cổ tích. ... Mời các bạn đón đọc Người Chưa Bao Giờ Thấy Biển của tác giả Jean-Marie Gustave Le Clézio.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Khu Rừng Hoang Vu - Từ Kế Tường
Từ Kế Tường là một nhà văn tại miền Nam Việt Nam và hiện là nhà báo. Từ Kế Tường tên thật là Võ Tấn Tước, sinh ngày 2 tháng 3 năm 1946; quê quán tại xã Phú Vang, Bình Đại,Bến Tre. Ông là Hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Từ Kế Tường sống ở Sài Gòn trước 1975. Từ 1969 đã bắt đầu viết văn, làm báo. Tính đến 1975, ông đã xuất bản nhiều sách gồm: Thơ, tập truyện ngắn, tiểu thuyết, trong đó có các sách viết cho thiếu niên và nhi đồng. Tháng 5 năm 1975, gia nhập Hội Văn nghệ Giải phóng Sài Gòn-Gia Định. Từ 1979 đến 1986: làm việc trong ngành Văn hóa thông tin. Từ 1986 đến 2003: Thư ký tòa soạn báo Công an TP Hồ Chí Minh. Hiện nay, ông làm việc tại tuần báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh. Từ Kế Tường viết tác phẩm "Đường phượng bay" trước 1975; sau 1975 lại viết thêm đoạn cuối rồi sửa thành "Bờ vai nghiêng nắng". Nhiều người cứ tưởng lầm đây là truyện của Nguyễn Nhật Ánh - có lẽ vì bút pháp hai nhà văn này có phần giống nhau; tuy vậy tác phẩm "Đường phượng bay" mang dáng dấp bút pháp riêng của Từ Kế Tường, bút pháp khá quen thuộc với thanh thiếu niên từ trước. Từ Kế Tường đã xuất bản khoảng 50 đầu sách gồm tiểu thuyết, tập thơ và truyện cho thiếu nhi. Những tác phẩm nổi tiếng khác: Áo vàng qua ngõ. Hoa lưu ly không về. Mùa áo vàng Một mình tôi bước đi Từ Kế Tường là nhà tiểu thuyết, nhà thơ được thanh thiếu niên trước và sau 1975 yêu thích. *** Phiến đang giũ những chiếc áo ngắn và xả xong lượt nước cuối cùng phơi lên sào kẽm giăng chếch một góc sân thì Hài đạp xe tới, chiếc xe đạp của Hài mới được ráp trên tỉnh mang về tuần trước. Đó là phần thưởng của chú Truy cho Hìa khi biết tin Hài đã đậu Tiểu học. Chiếc xe sơn màu xanh lá cây, phụ tùng toàn nhôm, mỗi lần đi ra nắng thì lấp lánh. Hài có một tật kỳ cục là bất cứ lúc nào ở đâu, khi thắng xe lại cũng bóp chuông inh ỏi. Phiến vốn không thích nghe tiếng chuông xe đạp. Mỗi ngày khi tan học Phiến đã phải khó chịu đứng nép sát vào lề đường tránh cho bọn con trai đi qua. Bọn con trai đã thi nhau bóp chuông và vù xe đạp qua mặt con gái. Hình như họ cố ý bóp to để chọc tức, và đạp xe vù vù khiến người khác phải lé mắt. Phiến đã tức anh ách trong lòng khi nghe tiếng chuông xe đạp của Hậu. Nhưng không lé mắt gì hết khi Hậu biểu diễn chạy xe lòn từ đòn gánh để lên yên rồi lại lái bằng hai chân. Hai bàn tay Hậu lúc đó kẹp hai bên màng tang. Chiếc xe sẵn chớn chạy vo vo không hề ngã. Nhiều đứa bạn của Phiến đã thầm phục tài lái xe đạp của Hậu. Chúng nó đã lé mắt, bặm môi hít hà mỗi lần con nhà Hậu biểu diễn lái xe bằng hai chân. Nhưng Phiến vẫn tỉnh bơ, chẳng them để ý lại thầm mong cho Hậu vấp phải cục gạch nào đó ở giữa đường lăn cu lơ một lần cho bõ ghét. Hài vừa đạp xe vào tưới sân đã bóp chuông ầm ĩ. Phiến mắc xong chiếc áo cuối cùng lên sào kẽm quay lại lườm bạn gắt: - Hài vào im lặng không được sao mà ầm ĩ thế. Nhức óc quá chừng. ... Mời các bạn đón đọc Khu Rừng Hoang Vu của tác giả Từ Kế Tường.
Hãy Chăm Sóc Mẹ - Shin Kyung-Sook
Sẽ không bất ngờ nếu bạn đã đọc xong rồi nhưng vẫn bị ám ảnh bởi hình ảnh người mẹ đi lạc, chân đi dép lê màu xanh, ngón chân bị toạc ra đến nỗi “ruồi bu quanh”. Nhẹ nhàng, lắng đọng và buồn đến nao lòng – cuốn tiểu thuyết Hãy chăm sóc mẹ của Shin Kyung-sook là câu chuyện về một người mẹ giản dị, mộc mạc với đức hy sinh lớn lao và tình yêu thương vô bờ bến dành cho gia đình. Với những ai chưa đọc Hãy chăm sóc mẹ của Shin Kyung-sook, thì khi nghĩ về nó, hãy tạm quên đi tất cả những số liệu về doanh số cũng như những danh hiệu vẻ vang mà nó mang về cho nền văn học Hàn Quốc lúc bấy giờ. Đứng trên cương vị một người đam mê đọc sách và đam mê những vẻ đẹp cao thượng mà một cuốn sách có thể mang lại, nên chỉ nghĩ đến Hãy chăm sóc mẹ như một cuốn sách của tâm hồn, cuốn sách ấm áp và lấp lánh những giá trị thuần Á Châu của tình mẫu tử, tình thương và sự cao cả của hình ảnh người mẹ - hình ảnh chân phương và đáng ngưỡng mộ nhất. Kể cả khi cuốn sách đã gấp lại, bạn cũng sẽ nhận được một âm hưởng của thứ cảm xúc để lại dư vị xúc động mãi không nguôi… Có thể nói, Hãy chăm sóc mẹ là tiếng nói thức tỉnh của tác giả dành cho tất cả mọi người. Đó là sự thức tỉnh ấm áp, sự thức tỉnh mang cả nước mắt và nỗi đớn đau, ngấm lâu và ngấm sâu vào tận trong tiềm thức. Cuốn sách đã trở thành một hiện tượng văn chương Hàn Quốc vào năm 2009, được dịch và xuất bản sang 19 nước khác ngay sau khi phát hành. *** Những lời khen tặng dành cho cuốn sách: “Cuốn sách của tác giả nổi tiếng nhất Hàn Quốc này có thể làm mọi độc giả phải rơi nước mắt” - Library Journal. “Cảm động và ám ảnh”  - Newsday. “Phần là câu chuyện về sự chuyển dịch của xã hội Hàn Quốc từ nông thôn ra thành thị, phần là khúc ca về sức mạnh của mối ràng buộc gia đình được hình thành từ sự quên mình của người phụ nữ; đây là một tác phẩm vô cùng cảm động” - Kirkus Reviews. “Nao lòng… Thấm thía… Người đọc sẽ tìm thấy sự đồng cảm trong câu chuyện về gia đình bán chạy nhất Hàn Quốc từ trước tới nay này” - Publishers Weekly. *** Shin Kyung-sook sinh năm 1963 trong một gia đình nghèo sống tại một ngôi làng nhỏ ở miền Nam Hàn Quốc. Không có điều kiện vào trường trung học, mười sáu tuổi cô lên Seoul lao động kiếm sống. Shin Kyung-sook khởi nghiệp viết văn năm 1985 và sớm gặt hái thành công. Các tác phẩm của cô luôn có lượng độc giả lớn và nhận được nhiều giải thưởng văn học trong nước cũng như trong khu vực. Với Hãy chăm sóc mẹ Shin Kyung-sook trở thành nhà văn châu Á nổi bật nhất năm 2009. Tác phẩm: Chuyện kể trăng nghe Cô gái viết nỗi cô đơn Hãy chăm sóc mẹ *** Mẹ bị lạc đã một tuần. Cả gia đình cô tập trung ở nhà anh cả Hyong-chol. Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, mọi người quyết định soạn tờ rơi để đi phát ở nơi có người nhìn thấy mẹ lần cuối cùng. Việc đầu tiên là thảo tờ rơi. Tờ rơi là giải pháp quen thuộc trong trường hợp này. Gia đình có người lạc vốn chẳng làm được gì nhiều, huống hồ người bị lạc không phải ai khác mà chính là mẹ. Tất cả những gì gia đình cô có thể làm là đăng tin tìm người thân bị lạc, chia nhau đi tìm kiếm khắp nơi, dò hỏi khách qua đường xem có ai nhìn thấy người nào giống mẹ không. Cậu em cô đang kinh doanh quần áo qua mạng đã đăng tin mẹ mất tích, miêu tả địa điểm, tải ảnh của mẹ lên mạng, đề nghị nếu ai thấy người nào giống như vậy thì xin hãy báo cho gia đình. Cô muốn tìm đến những nơi mẹ có thể đã đến, nhưng cô biết rằng mẹ không thể tự đi tới bất cứ nơi nào trong thành phố này. Anh Hyong-chol bảo cô soạn nội dung tờ rơi bởi cô sống bằng nghề viết lách. Cô đỏ dừ mặt như thể vừa bị phát hiện làm một việc xấu xa nào đó. Cô không chắc những gì mình viết liệu sẽ có ích trong việc tìm mẹ hay không. Khi cô viết ngày sinh của mẹ là ngày 24 tháng 7 năm 1938, bố cô nói rằng mẹ sinh năm 1936. Mặc dù trên giấy tờ đều ghi năm 1938 nhưng thực tế mẹ sinh năm 1936. Lần đầu tiên cô được nghe tới điều này. Bố cô bảo ngày xưa tất cả mọi người đều làm như thế. Có rất nhiều đứa trẻ sinh ra chưa đầy trăm ngày đã chết, vì vậy người ta thường nuôi con được vài ba tuổi rồi mới làm giấy khai sinh. Cô sửa số 38 thành 36, nhưng anh cả bảo phải viết năm sinh của mẹ là 1938 theo đúng như trên giấy tờ. Cô thầm nghĩ không biết có cần phải chính xác tới thế không khi đây chỉ là tự soạn tờ rơi chứ không phải khai báo với cơ quan chức năng, nhưng cô vẫn sửa số 36 thành 38, trong lòng tự hỏi không biết đến cả ngày sinh của mẹ cũng có thật là ngày 24 tháng 7 không. ... Mời các bạn đón đọc Hãy Chăm Sóc Mẹ của tác giả Shin Kyung-Sook.
Dưa - Marian Keyes
Claire Webster đã có được một cuộc đời mơ ước: anh xã tên James tuyệt vời, căn hộ London tiện nghi tuyệt vời, và một công việc hấp dẫn tuyệt vời. Nhưng chỉ vài giờ sau khi cô sinh đứa con đầu lòng, giấc mơ đã tan vỡ khi anh xã tuyệt vời bước tới tuyên bố cần phải bỏ rơi cô vì một phụ nữ khác già hơn. Với đứa con còn chưa biết đặt tên là gì, trái tim tan nát và một tủ quần áo chật hơn hai cỡ, trông Claire như một trái dưa tròn xoe xanh lét với lòng tự tin tụt xuống tận gót chân. Không nơi bấu víu, cô quyết định chạy khỏi London về với gia đình thân yêu ở Dublin. Tại đó, được bao bọc trong tình yêu của gia đình tuy kỳ quặc nhưng đầy che chở, chỉ số tinh thần của Claire lại dần nhích lên. Cũng tại đó, một anh chàng kém tuổi quá đẹp trai đã xuất hiện, theo đuổi cô với một động cơ đáng ngờ. Và cũng tại đó, anh xã tuyệt vời lại xuất hiện. Cùng một đề nghị có-vẻ-tuyệt-vời: Về với anh! Vấn đề là mọi chuyện không hề kết thúc tại đó… *** Marian Keyes, Sinh năm 1963 tại Dublin, sau khi tốt nghiệp trường Luật, bà tới London làm phục vụ bàn, sau đó làm nhân viên tại một văn phòng kế toán. Suốt những năm tháng tuổi 20, bà từng gặp nhiều vấn đề về tâm lý, từng nghiện rượu và có ý định tự sát. Sau đợt điều trị tâm lý, từ năm 1993, Marian Keyes bắt đầu viết văn và ngay lập tức trở thành một hiện tượng xuất bản và được gọi là nữ hoàng của dòng tiểu thuyết lãng mạn. Các tác phẩm của bà - thường kể về những người phụ nữ mạnh mẽ, phải vượt qua rất nhiều trở ngại để vươn tới hạnh phúc đích thực - đã bán được hơn 5 triệu bản ở 35 nước trên thế giới.  Về cây bút này, Independent on Sunday bình luận: “Marian Keys mang lại thanh danh tốt cho tiểu thuyết đại chúng, một chiến công không dễ gì đạt được trong một lĩnh vực đầy rẫy những kẻ đạo văn và bất tài được trả quá nhiều tiền so với những gì họ bỏ ra.” *** Vào trong nhà Kate vui hơn rất nhiều. Cười nắc nẻ, bi bô luôn miệng, bàn chân ngúc ngoắc liên tục lúc tôi đặt bé vào cũi. Tôi nắm bàn chân tí xíu còn ấm nóng của bé, quay quay cẳng chân, con bé khoái chí. Ừ thì tôi hy vọng con bé khoái chí vì tôi rất thích làm thế. Tôi bỗng nghe có tiếng gõ cửa. Gì thế nhỉ? Ở nhà này có ai gõ cửa phòng ai bao giờ đâu. Cửa mở. Cái dáng cao lớn của Adam choán hết khung cửa. Mọi thứ bỗng thành ra tí hon, như một ngôi nhà búp bê vậy. Ôi Chúa ơi, tôi hoảng hốt, bỏ bê cả hai chân bé tí của Kate. Cậu ta muốn gì đây? Chắc cậu không tin vào mắt mình là cái quần soóc của tôi trông bê bối đến vậy nên đến nhìn lại cho rõ. - Claire, - cậu dè dặt. - Tôi có thể nói chuyện với chị một chút không? Cậu vẫn đứng yên. To lớn, đẹp quyến rũ, và khuôn mặt điển trai của cậu đầy vẻ lo lắng, chờ đợi. Tôi nhìn cậu. Một cái gì đó đang xáo động bên trong tôi (Không! không phải thứ ấy!). Một cái gì đó tuyệt diệu. ... Mời các bạn đón đọc Dưa của tác giả Marian Keyes.
Cá Thu - Gong Ji Young
Câu chuyện bắt đầu từ Myeong Woo và Eun Rim rủ nhau đi trốn, thật xa khỏi những người quen biết, xa khỏi phong trào sinh viên, và quan trọng nhất, là xa khỏi chồng của Eun Rim.   Nhưng rồi, đến phút cuối, Myeong Woo lại bỏ cuộc. Anh cũng bỏ lại Eun Rim trơ trọi trên con phố đầy gió heo may, một mình đối diện với tất cả những chỉ trích của mọi người. Những tưởng mối tình giữa hai người sẽ đặt dấu chấm hết ở đó, như vô vàn dang dở trong thời đại ấy. Nào ngờ bảy năm sau, dĩ vãng một lần nữa được khơi lại...   Cá Thu khắc họa lại những nỗi đau và mộng tưởng của cả một thế hệ sinh ra vào thập niên 60, trưởng thành trong thập niên 80 của thế kỷ XX đầy biến động. Và khi thời đại đó qua đi, những con người ấy trở nên lạc lõng, không ngừng trăn trở kiếm tìm bản ngã, trong một xã hội giờ đây đã không còn cần đến nhiệt huyết và hy sinh.  *** Gong Ji Young bắt đầu hoạt động sáng tác từ năm 1988 sau khi cho xuất bản tập truyện ngắn mang tên Bình minh đang hé trên tạp chí Sáng tác và phê bình số mùa thu. Các tác phẩm chính Tiểu thuyết: Không có sự lang thang nào tươi đẹp hơn; Và, sự khởi đầu tốt đẹp của họ; Đi một mình như sừng tê giác; Cá thu; Cô gái hiền lành; Chị Bong Soon. Tập truyện ngắn: Lễ nghĩa về con người; Sự tổn tại rơi nước mắt; Cánh đồng của những vì sao. Các tập tản văn: Linh hồn không có vết thương; Hành trình cầu nguyện của Gong Ji-Young. Các giải thưởng Giải thưởng Văn học thế kỷ 21. Giải thưởng Văn học của Hiệp hội tiểu thuyết gia Hàn Quốc. *** Nghĩ đi nghĩ lại thì tôi cũng chẳng thể nhớ rõ trong suốt những năm qua tôi đã mải miết với cuộc đời này ra sao. Lúc nào cũng có gì đó bất an như ngồi trên đống lửa, và đọng lại sau đó chỉ là những ký ức đơn côi của riêng mình… Khoảng mùa hè năm ngoái, có một thời gian ngắn tôi tham gia thuyết giảng trong chương trình đào tạo sinh viên với chủ đề “Thêm một văn hóa khác” do Viện hàm lâm Cơ Đốc đồng tổ chức. Có lẽ những ấn tượng mạnh mẽ tôi nhận được trong quãng thời gian đó đã khởi đầu cho cuổn tiểu thuyết này. Tồi thấy những con người trẻ tuổi của thập niên chín mươi hiện nay, đúng như cái tuổi đôi mươi của họ, thật xinh đẹp và khỏe mạnh hơn tôi tưởng. Ý nghĩ này khiến tôi thấy vui, nhưng sau đó dường như trong tôi lại có chút gì tiếc nuối, trống trải đến lạ kỳ… Ngắm nhìn những người trẻ tuổi hôm nay mà nghĩ về chuyện xưa thì hẳn là tôi cũng đã có tuổi rồi, ý nghĩ đó khiến tôi cười một mình và đồng thời cũng khiến cảm xúc trong tôi lại trào dâng mãnh liệt. Quyết tâm viết nên cuốn tiểu thuyết này có lẽ cũng bắt đầu hình thành từ khi đó. Nhưng nói vậy không có nghĩa là tôi đã bắt tay ngay vào viết. Tôi không thể chỉ rõ theo thứ tự thời gian cái gì diễn ra trước, cái gì diễn ra sau nhưng vào mùa hè năm ngoái tôi đã đến viếng lễ tang một người đàn anh chết trẻ. Khoảng bảy năm trước thì phải, trong số những đàn anh đàn em thường hay đến nhà tôi thì anh ấy là người khi đến sẽ luôn mang theo bên mình một chai rượu, và đến sáng hôm sau thức dậy luôn gấp chăn gọn gàng, ngồi thật nghiêm chỉnh… Tôi cùng anh ấy đã vài lần chứng kiến sự ra đi của một số người trẻ tuổi, nhưng giờ đây chỉ còn mình tôi. Đến khi đó dường như tôi nhận ra, ngay ở giữa thập niên chín mươi này người trẻ tuổi cũng có thể bất ngờ ra đi như thế. Tôi nhận ra rằng họ có thể phải rời bỏ thế gian này, nơi họ vẫn còn nhiều việc phải làm, nhiều việc muốn làm, vẫn còn thật nhiều người để họ yêu thương, vì những tai nạn bất thường rất điển hình của thời đại. Ở một góc nào đó của những lễ tang này, tôi không còn cách nào khác vẫn cứ phải đối mặt với thời xa xưa của chính mình. Những khách khứa, đeo cà vạt, mặc đồ Tây, đến nói với tôi, mong rằng tôi sẽ viết tiểu thuyết về người đã mất, hoặc không thì người đó khi còn trẻ, hoặc không nữa thì là về một người khác vẫn còn đang ở trong bệnh viện tâm thần, nhưng nói thật tâm can là tôi cũng mệt mỏi lắm. Những năm chín mươi tăm tối khiến tôi giờ đây chỉ muốn được tự do với ký ức của thập niên tám mươi. Khi đó tôi đã mong họ đừng nhờ tôi mà hãy giao cho những nhà văn khác, hay những người có tài viết lách hơn, có nhiệt huyết hơn chẳng hạn. Và tôi cũng đã quên mất. Tôi gặp một người bạn đang chực khóc ở quán rượu, khi cậu ta còn ảo tưởng rằng vẫn còn hy vọng. Lúc đó tôi cũng tự cười mỉa trong lòng, rằng đúng là sai lầm của cả một thế hệ. Tôi cũng cho một đồng nghiệp vay tiền khi anh ta bị đuổi khỏi công ty, bỏ dở con đường đảm bảo tiền tài danh lợi lẫn tương lai của anh ta vì lý do không thể thỏa hiệp với bọn bất nghĩa. Lúc đó tôi thật muốn nói với anh ta là, thôi thì bây giờ cứ thỏa hiệp đi vậy. Nói thật, tôi là người dường như rất dễ quên tất cả mọi thứ. ... Mời các bạn đón đọc Cá Thu của tác giả Gong Ji Young.