Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Dị Chủng

Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Khoa huyễn Dị Chủng của tác giả Guillermo Del Toro & Chuck Hogan. Bác sĩ Ephraim Goodweather chẳng muốn gì hơn một kỳ nghỉ cuối tuần với con trai mình. Thế nhưng khi được gọi đến điều tra về một chiếc máy bay đột nhiên ngưng hoạt động vài phút sau khi hạ cánh, cả thế giới của anh bỗng chốc đảo lộn. Giờ đây, anh phải đối mặt với một chủng loài cổ xưa nhăm nhe trỗi dậy thôn tính trái đất. Một trận đại dịch có thể tiêu diệt toàn bộ loài người. Được xuất bản lần đầu năm 2009 và chuyển thể thành series phim truyền hình ăn khách năm 2014, Dị Chủng không những đã trả lại cho những sinh vật bóng đêm chất kinh dị, vốn bị biến tấu và lãng mạn hóa quá mức những năm gần đây, mà còn giúp khôi phục lại một tượng đài của loài ác quỷ khát máu nhất trong những cơn ác mộng của con người. *** Không lãng mạn hóa hình tượng ma cà rồng mà thể hiện đúng bản chất của chúng, ‘Dị chủng’ đã khẳng định tên tuổi trong dòng truyện kinh dị nước ngoài. Kể từ khi ‘cơn sốt’ Twilight bùng nổ, hình tượng ma cà rồng dường như đã bị lãng mạn hóa trở thành những anh hùng đầy bi trang vì tình yêu mà nguyện hi sinh. Cũng chính bởi vậy, hình ảnh ma cà rồng dần bị hạ thấp trong những tác phẩm truyện kinh dị nước ngoài nói riêng và dòng truyện kinh dị nói chung. Thế rồi ‘Dị chủng’ (tựa gốc: The Strain) của bộ đôi Guillermo del Toro và Chuck Hogan xuất hiện và đưa mọi thứ trở về đúng quỹ đạo của nó. Không còn hình ảnh đầy ‘soái ca’ của những chàng ma cà rồng, ‘Dị chủng’ đã khôi phục tượng đài ác quỷ bóng đêm khát máu – cơn ác mộng kinh hoàng đối với loài người. ‘Dị chủng’ được bộ đôi tác giả del Toro và Chuck sử dụng kết hợp nhiều yếu tố truyện: một chút truyền thuyết, một chút khoa học viễn tưởng, một chút kinh dị giật gân và một chút hình sự trinh thám. Bốn trong một – đó là điều đã tạo nên thành công trong việc tái hiện hoàn hảo hình ảnh ma cà rồng chân thực đến gai người là những con quái vật bước ra từ địa ngục. Mọi chuyện bắt đầu từ chiếc máy bay Boeing 777, khi nó đột ngột tắt lịm ngay lúc vừa hạ cánh và hàng trăm hành khách xấu số bên trong đều chết một cách bí ẩn không lưu lại chút dấu vết. Ngay từ giây phút chiếc máy bay bung những bánh xe xuống cũng là lúc con quái vật kia chạm những móng vuốt xuống mặt đất. Mạch truyện gay cấn, hồi hộp ngay từ những câu từ đầu tiên. Đó vừa là câu chuyện về âm mưu thôn tính thế giới, thống trị loài người của loài sinh vật hiểm ác; vừa là cuộc chiến của những nhân vật chính trên con đường bảo vệ nhân loại. Với yếu tố khoa học viễn tưởng, loài ma cà rồng hiện lên như một dịch bệnh: chúng ủ bệnh, rồi thay đổi cơ thể người bệnh, cách chúng lây lan và bùng phát, hủy diệt ghê gớm đến bao nhiêu… Cho dù được gọi là một tác phẩm truyện kinh dị, ‘Dị chủng’ không khiến người đọc sợ hãi theo cái cách mà những bộ truyện kinh dị hơi hướng máu me, ma quỷ khác. Đổi lại, ‘Dị chủng’ lại đem đến một cảm giác rờn rợn, từ từ len lỏi. Cái cách tác giả miêu tả ‘bệnh dịch’ dần phát tác rồi xâm chiếm vật chủ, sau đó là cái cách mà chúng lây lan, tuy rằng tuần tự và hầu như chẳng có chút ‘dọa dẫm’ nào những vẫn làm người theo dõi thấy giật mình lo sợ. Về tuyến nhân vật, nổi bật hơn cả chính là cái tên Ephraim Goodweather – người trực tiếp chứng kiến mọi sự thay đổi của loài người trong ‘dịch bệnh’ và Giáo sư Abraham Satrakian – nhân chứng sống trong một trận càn quét của loài quái vật kia thời quá khứ. Nếu như Goodweather làm cho người ta dễ dàng hình dung ra xã hội hiện đại, thì Satrakian lại làm người đọc mê mẩn với những câu chuyện từ ngày xa xưa. Trên tất cả, việc tạo dựng Satrakian đầy chiều sâu với những dấu tích hiện hữu rõ ràng về cuộc tranh giành sự sống với cái kẻ được gọi là ‘Chúa tể hút máu’ chính là điểm nhấn khiến cho ‘Dị chủng’ càng thêm phần hấp dẫn và lôi cuốn. Cùng sự đầu tư cho nhân vật Satrakian, tuyến nhân vật phụ cũng được sử dụng linh hoạt để tô điểm cho ‘đại nạn dịch bệnh’. Cái hay của bộ đôi tác giả chính là đi sâu phân tích tâm lí của từng nạn nhân – những người nhiễm phải virut – đó là nỗi mơ hồ khi chưa biết mình bị sao, là lo âu khi dần khám phá ra sự thật, là sợ hãi và giằng xé khi họ biết rằng chính mình sắp trở thành một thứ gì đó khác – thứ sẽ đe dọa đến cả gia đình và những người thân yêu. Tuy nhiên, có lẽ chính bởi việc khai thác quá nhiều câu chuyện và tạo dựng nhân vật Goodweather và Satrakian quá sâu nên dường như tuyến nhân vật nữ bị lu mờ, chẳng có cơ hội phát triển. Kẻ phản diện cũng chưa thực sự có ‘đất diễn’ trong Dị chủng, nhưng có lẽ đây cũng là một phần chủ đích của bộ đôi tác giả này, khi đây mới chỉ là cuốn đầu tiên mở đầu cho triology về ma cà rồng. Điều này chắc chắn sẽ khiến khán giả đặt nhiều kỳ vọng và mong đợi vào những phần truyện sau. Với chủ đề tận thế với sự trỗi dậy của virus chết người, tưởng chừng chỉ thuần kinh dị khô khan nhưng ‘Dị chủng’ vẫn đem đến một cái nhìn mới mẻ và đầy chiều sâu về cả tâm lý con người. Không hề quá khi nói rằng đây là một trong những truyện kinh dị nước ngoài lôi cuốn và đặc sắc nhất mà chắc chắn ngay cả khi gấp cuốn sách lại, bạn vẫn ‘thèm’ được mở chúng ra một lần nữa. *** Tóm tắt Câu chuyện bắt đầu với bác sĩ Ephraim Goodweather, một chuyên gia về bệnh truyền nhiễm tại Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) ở Atlanta, Georgia. Anh được gọi đến điều tra một chiếc máy bay đột nhiên ngưng hoạt động vài phút sau khi hạ cánh. Khi đến nơi, anh phát hiện ra rằng tất cả hành khách trên máy bay đều đã chết, và họ có những vết cắn kỳ lạ trên cổ. Ephraim nhanh chóng nhận ra rằng mình đang đối mặt với một mối đe dọa chưa từng có. Những hành khách trên máy bay đã bị nhiễm một loại virus mới, biến họ thành những sinh vật hung ác, khát máu. Loại virus này có khả năng lây lan nhanh chóng, và nó có thể khiến cả thế giới rơi vào nguy hiểm. Ephraim cùng với một nhóm các nhà khoa học và quân nhân phải tìm cách ngăn chặn sự lây lan của virus. Họ phải đối mặt với những sinh vật hung ác, những kẻ đã sẵn sàng hy sinh tất cả để lan truyền virus và tiêu diệt loài người. Review Dị Chủng là một cuốn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng kinh dị xuất sắc. Cuốn sách có cốt truyện hấp dẫn, đầy kịch tính và hồi hộp. Các nhân vật được xây dựng tốt, và những sinh vật ma cà rồng được miêu tả rất đáng sợ. Cuốn sách đã trả lại cho những sinh vật bóng đêm chất kinh dị, vốn bị biến tấu và lãng mạn hóa quá mức những năm gần đây. Những sinh vật ma cà rồng trong Dị Chủng không phải là những sinh vật lãng mạn, mà là những sinh vật khát máu, tàn bạo và đáng sợ. Chúng là mối đe dọa thực sự đối với loài người. Cuốn sách cũng giúp khôi phục lại một tượng đài của loài ác quỷ khát máu nhất trong những cơn ác mộng của con người. Ma cà rồng đã trở thành một trong những sinh vật kinh dị phổ biến nhất trong văn hóa đại chúng, và Dị Chủng đã góp phần khẳng định vị trí của chúng trong lòng những người yêu thích thể loại kinh dị. Dị Chủng là một cuốn tiểu thuyết đáng đọc cho những ai yêu thích thể loại kinh dị và khoa học viễn tưởng. Cuốn sách sẽ mang đến cho bạn những giây phút hồi hộp, căng thẳng và rùng mình. Một số điểm nổi bật của cuốn sách: Cốt truyện hấp dẫn, đầy kịch tính và hồi hộp Các nhân vật được xây dựng tốt Những sinh vật ma cà rồng được miêu tả rất đáng sợ Trả lại cho những sinh vật bóng đêm chất kinh dị Giúp khôi phục lại một tượng đài của loài ác quỷ khát máu Một số điểm hạn chế của cuốn sách: Có một số đoạn văn miêu tả hơi dài dòng, gây khó hiểu Một số nhân vật phụ chưa được khai thác hết tiềm năng Tổng kết Dị Chủng là một cuốn tiểu thuyết kinh dị khoa học viễn tưởng xuất sắc. Cuốn sách có nhiều điểm nổi bật, bao gồm cốt truyện hấp dẫn, các nhân vật được xây dựng tốt và những sinh vật ma cà rồng được miêu tả rất đáng sợ. Mời các bạn mượn đọc sách Dị Chủng của tác giả Guillermo Del Toro & Chuck Hogan.

Nguồn: dtv-ebook.com

Đọc Sách

Ngày Cuối Tuần Định Mệnh - Henry Denker
Một tiếng gọi khẩn thiết vang lên làm rung cả mấy bức tường của khoa Cấp cứu: - Cho xin bác sỹ Forrester! Có người bị trúng đạn! Khẩn cấp đấy! Ngay lúc ấy, hai hộ lý nhao vào phòng cấp cứu ở đầu hành lang. Trong một buồng dành làm chỗ khám, bác sỹ Kate đang khám cho một bệnh nhân. Cô ngẩng đầu và quay về phía một nữ y tá: - Tôi xong rồi đây. Cô đưa mẫu máu này đến khoa Xét nghiệm và báo cho tôi ngay khi có kết quả. Kate Forrester lao ra khỏi buồng và chạy dọc hành lang. Mái tóc vàng xổ ra bao quanh khuôn mặt không trang điểm và chiếc blu nhàu nát chứng tỏ cô đã nhiều giờ liền làm việc không ngơi tay ở phòng cấp cứu. Trong bệnh viện lớn này của New York, những đêm thứ bảy và chủ nhật luôn luôn là những đêm bận rộn vất vả, nhất là đêm nay lại càng bận, vì bác sỹ trực cùng với Kate bị một cơn cảm cúm quật ngã đã phải nằm liệt giường. Người được phân công đến giúp Kate thì giờ này vẫn chưa có mặt. Giống như nhiều bạn đồng nghiệp trẻ trong những trường hợp tương tự, Kate đành tự mình xoay xoả, cố gắng làm hết sức mình trong những điều kiện làm việc có nhiều khó khăn không ai có thể tin nổi. Khi Kate chạy ngang qua buồng C, một nữ y tá gọi giật giọng: - Bác sỹ Kate, khi nào chị rảnh tay một chút … Nhưng Kate không dừng lại mà chạy thẳng tới buồng cấp cứu, nơi có một cậu con trai mười bốn tuổi đang mất máu. Chẳng may cho cậu bé, lại tình cờ đứng giữa làn đạn của hai tay anh chị đang xung đột với nhau ở một phố không xa bệnh viện. Biết rằng bác sỹ Forrester cùng một lúc chỗ nào cũng có người gọi, nữ y tá Adélaide Cronin quay về buồng C để hỏi sơ qua một bệnh nhân nữ mới đến một số câu. Là một y tá giỏi đã có hơn mười sáu năm trong nghề, Cronin muốn nói chuyện riêng với bệnh nhân - một cô gái mười chín tuổi có bộ tóc nâu. Nhưng không hiểu sao, mẹ cô cứ nhăm nhăm ở bên cạnh, không chịu rời con nửa bước lấy cớ để trông nom cô. Sau khi đã cân nhắc, bà Cronin hỏi cô gái: - Xin cô cho biết cô bị đau ra sao? Lập tức bà mẹ cắt ngang: - Tôi muốn chị mời một bác sỹ đến đây ngay. Con tôi cần phải được hưởng những chăm sóc tốt nhất. - Tôi đã báo bác sỹ Forrester. - Không, tôi yêu cầu con tôi phải được bác sỹ trưởng trực tiếp khám. Tốn kém bao nhiêu, chúng tôi cũng có thể trả! Chị hiểu chứ? - Tôi e rằng vào giờ này, nhất lại là tối thứ bảy, ông ta sẽ không đến - bà Cronin phản bác lại - Và bây giờ - Bà quay ra nói với cô gái - cô hãy nói điều gì đã khiến cô phải tới đây? - Con tôi đau do những cơn nôn oẹ - Bà mẹ vội giải thích. Thông cảm những sợ hãi do quá lo cho con của bà mẹ, bà Cronin ngoảnh về phía bà ta với vẻ mặt ân cần, khoan dung. - Thưa bà … - Stuyvesant - Bà mẹ cô gái tiếp lời - Bà Claude Stuyvesant. Cái tên đủ nổi tiếng để bà Cronin nhận ra ngay lập tức. Tuy nhiên, hiểu rằng mình sẽ phải làm gì, bà vẫn không thay đổi thái độ. - Bà Stuyvesant, những lời khai này sẽ được đưa vào hồ sơ bệnh án của con bà. Cho nên chừng nào cô ấy còn nói được thì tốt hơn hết là bà cứ để cô ấy tự nói, bằng chính những lời của mình. Bởi như thế sẽ càng chính xác hơn thôi. Bác sỹ sẽ cần đến nó để tiến hành chẩn đoán, vì vậy tôi xin bà … - Mong bà thứ lỗi. Bà mẹ rời khỏi bàn khám, nơi con bà đang được đặt nằm. Tóc cô gái trẻ xoã ra bết vào trán đang rịn mồ hôi, hơi thở cô nhè nhẹ, từng hồi đứt khúc, người cô căng ra. Trong khi lẳng lặng ghi nhận những triệu chứng suy sụp cả thể chất lẫn tinh thần ấy, bà Cronin nắm tay cô bắt mạch và đo huyết áp. ... Mời các bạn đón đọc Ngày Cuối Tuần Định Mệnh của tác giả Henry Denker.
Pháo Đài Trắng
Pháo đài Trắng, cuốn tiểu thuyết mang lại tên tuổi cho Orhan Pamuk, là câu chuyện về một học giả trẻ tuổi người Ý. Bị cướp biển bắt ở giữa Venice và Naples, anh bị đem ra bán đấu giá ở chợ nô lệ Istanbul. Một nhà bác học Thổ Nhĩ Kỳ muốn học hỏi các tiến bộ khoa học và tri thức phương Tây đã mua anh về. Nhưng rồi họ khi họ bị ràng buộc bởi những tội lỗi và bí mật của nhau, khi mối quan hệ của họ trở nên ngày càng phức tạp, cả chủ nhân và nô lệ bỗng phát hiện ra rằng họ đều là thành viên của quân đội Hoàng gia, và rằng cả hai đều đang trong cuộc hành trình rồi cuối cùng sẽ dẫn họ tới Pháo đài Trắng.  *** Nhận định   “Một ngôi sao mới đang lên ở phương Đông—Orhan Pamuk. Pháo đài Trắng là một trong số rất ít những tiểu thuyết tạo ra được một thế giới hoàn chỉnh và độc lập bằng tài năng khác thường… Ông là một người kể chuyện tài hoa như Sê-hê-ra-zát vậy.” - New York Times “Lịch lãm và có sức nặng… Sẽ không ngoa chút nào nếu so sánh Pamuk với Kafka và Calvino; cũng nghiêm túc như thế, cũng duyên dáng, cũng tinh tế như vậy. Ta có mọi bằng chứng về điều đó” - Independent “Tiểu thuyết gia tiên phong của Thổ Nhĩ Kỳ và ở bất cứ đâu cũng là một trong những nhân vật thú vị nhất trong làng văn… Một người kể chuyện hàng đầu.” Times Literary Supplement “Pháo đài Trắng tuyệt vời không phải bởi nó đã tái hiện một thời đại, mà vì nó đã khám phá bí mật cá nhân con người và trên hết vì Pamuk đã gói gọn những suy tư đó trong một câu chuyện đơn giản đến nhường ấy.” - Guardian ‘Một cuốn sách kỳ lạ và tài tình về sự đau đớn trong quá trình tự khám phá bản thân. Và trong suốt thiên tiểu thuyết, người ta có thể chứng kiến sự pha trộn siêu việt của những gì Pamuk thực sự thấy bằng con mắt của một kẻ quá hướng về Tây phương trong khi bề ngoài lại quá thiên về Trung Đông. Trong khoảnh khắc, Đông- Tây đã gặp gỡ.” New York Times ‘Cuốn tiểu thuyết xuất sắc của Orhan Pamuk về những ảnh hưởng ngoại lai… đã đem đến cho chúng ta một cái nhìn điềm tĩnh và thành kiến một cách tao nhã vào kết quả của phát tán văn hóa. Tác phẩm phảng phất âm hưởng của Calvino, nhưng cách viết và thế giới quan của tác giả lại gần hơn với Kazuo Ishiguro.” - Independent *** Mùa Hè năm 1982, tôi tìm được tập bản thảo viết tay ấy dưới đáy một chiếc rương bụi bặm ở Gebze (một thành phố gần Istanbul, thủ đô Thổ Nhĩ Kỳ), khi lục lọi hàng tuần theo thói quen trong đám "hồ sơ" lộn xộn của chính quyền thành phố, ngập đầy những sắc lệnh, chiếu chỉ, văn tự, biên bản tòa án và các báo cáo công vụ. Với tấm bìa trang nhã bằng thứ giấy vân cẩm thạch có những hoa văn mơ hồ, gợi nhớ về giấc mộng nào đó, được viết bằng nét chữ rõ ràng, dễ đọc, tập bản thảo ấy nổi bật hẳn lên giữa đám công văn giấy tờ bạc phếch và lập tức khiến tôi chú ý. Bàn tay ai đó, chắc là có chủ ý, muốn khêu gợi tính tò mò của tôi, đã viết trên trang thứ nhất cái tựa đề: "Con nuôi người thợ làm chăn". Tôi hài lòng đọc nhanh hết tập sách mà bên lề các trang giấy có những hình người đầu bé xíu vẽ bởi bàn tay con trẻ, mặc những bộ y phục đính chi chít cúc. Tập bản thảo khiến tôi rất thích thú, nhưng vì lười chép lại, nên lợi dụng sự tin cậy của người nhân viên, vốn rất trọng nể tôi và chẳng hề theo dõi, tôi giấu nó vào trong cặp, đơn giản là tôi đã đánh cắp quyển sách ấy trong đám giấy tờ mà ngay cả vị kaimakam (người đứng đầu một tỉnh hoặc một khu vực (tiếng Thổ) trẻ tuổi cũng không dám gọi là "hồ sơ lưu trữ". Thời gian đầu, tôi đọc đi đọc lại quyển sách nhiều lần mà không biết phải làm gì với nó. Sự hoài nghi của tôi đối với lịch sử vẫn còn chưa hết, nhưng tôi chú ý đến bản thảo không chỉ từ phương diện khoa học, văn hóa hoặc lịch sử, mà còn bởi rất thích lối hành văn của nó. Rồi điều đó khiến tôi phải nghĩ về tác giả của bản thảo. Khi tôi và các đồng sự buộc phải rời trường Đại học Tổng hợp, tôi quay về nghề cũ của ông tôi, vốn là một người từng xuất bản các bách khoa thư, và chính khi đó tôi đã nghĩ tới chuyện đưa một bài về tác giả tập bản thảo mà tôi tìm được vào cuốn bách khoa thư Những người nổi tiếng mà tôi phụ trách phần lịch sử. Tôi bắt đầu dành cho việc đó tất cả những giây phút rảnh rỗi, ngoại trừ thời gian làm bách khoa thư và nhậu nhẹt. Tôi tra cứu các nguồn tư liệu về giai đoạn ấy và thấy một số sự kiện được phản ánh trong sách không tương ứng với thực tế lịch sử. Chẳng hạn, trong thời gian năm năm Koprulu (Pasha Koprulu Mehmet (1575-1661): đại tể tướng dưới triều Mehmet IV) giữ chức tể tướng, đúng là ở Istanbul đã xảy ra một trận đại hỏa hoạn, điều đó cũng được phản ánh trong các tư liệu thành văn, nhưng trận dịch hạch được bản thảo đề cập đến, mà lại lây lan rộng đến mức tưởng chừng như đáng được ghi vào lịch sử, thì trong các văn bản ấy lại chẳng có lời nào nhắc đến. Tên tuổi nhiều vị đại thần được nêu không đúng, hoặc nhầm lẫn, một số vị bị thay tên đổi họ. Họ tên của các vị đại sư chiêm tinh không tương ứng vởi tên họ ghi trong Biên niên sử vủa triều đình, nhưng tôi không chú tâm lắm vào những chi tiết này, vì cho rằng đây là chủ ý của tác giả. Mặt khác, phần lớn các sự kiện lịch sử nêu trong bản thảo đều được khẳng định, có một số sự kiện còn trùng hợp khá chi tiết, chẳng hạn như vụ ám sát đại sư chiêm tinh Huseyn Etendi, diễn ra trong chuyến đi săn thỏ của hoàng đế Mehmet IV (Mehmet IV (1642-1693): vị sultan thứ 19 của đế quốc Ottoman (1299- 1923), tức Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, trị vì trong quãng thời gian 1648-1687), tại khu rừng gần cung điện Mirahor, điều đó cũng được sử gia Naimai ((1655-1716): nhà sử học Ottoman) nhắc đến. Tôi cho rằng tác giả bản thảo hẳn là một người mơ mộng và ham đọc sách, khi làm việc đã sử dụng các tư liệu tương ứng, đã đọc vô số sách vở và sau đó đưa một số chi tiết vào các ghi chép của mình. Những trước tác của Evlyia Chelebi mà tác giả có nhắc đến, rõ ràng là chỉ được ông ta đọc lướt, nhưng qua bản thảo thì chẳng rõ hai người có quen biết nhau hay không. Tôi vẫn không mất hy vọng tìm ra dấu vết của tác giả, nhưng các truy cứu trong những thư viện Istanbul đã khiến cho niềm hy vọng đó tan thành mây khói. Tôi không kiếm được một tài liệu hay quyển sách nào đã hiến tặng hoàng đế Mehmet IV trong khoảng thời gian từ năm 1652 đến năm 1680, cả ở thư viện trong cung điện Topkapi (cung điện hoàng gia ở Istanbul - thủ đô Thổ Nhĩ Kỳ, nay là Viện Bảo tàng) cũng như các thư viện khác mà tôi đồ rằng chúng có thể đã được chuyển đến. Tài liệu duy nhất mà tôi đã gặp được trong các thư viện ấy là công trình của "nhà thư pháp thuận tay trái", được nhắc đến trong bản thảo. Tôi cố gắng theo dõi số phận của những công trình ấy, gửi vô số thư từ đến các trường đại học tổng hợp Ittaly, nhưng chỉ nhận được những hồi âm bực mình, còn những mưu toan tìm kiếm trong các nghĩa địa Gebze, Jennethisar và Uskudar con người đã viết nên cuốn sách mà không lưu lại tên họ mình đều chẳng mang lại kết quả mong muốn. Tôi chấm dứt các cuộc tìm kiếm và ngồi viết một bài cho bách khoa thư, dựa trên nội dung của bản thảo. Đunrg như tôi đoán trước, bài viết không được chấp nhận, không phải vì nó thiếu cơ sở khoa học, mà bởi người tôi đề cập đến là một nhân vật khuyết danh. Có thể chính vì thế mà mối quan tâm của tôi đối với quyển sách lại càng lớn hơn. Thậm chí tôi còn muốn thôi việc, mặc dù tôi rất yêu công việc và các đồng nghiệp của mình. Có thời, gặp ai tôi cũng nói về quyển sách, như thể không phải tôi phát hiện được, mà chính tôi đã viết ra nó. Để khêu gợi chú ý, tôi nói về ý nghĩa biểu trưng của quyển sách đó, nói rằng nó giống với hiện thực ngày nay, rằng càng đọc quyển sách ấy tôi càng hiểu thêm thời đại bây giờ. Sau những lời như vậy, đám thanh niên, chủ yếu là những người quan tâm đến chính trị, các mối quan hệ Đông-Tây và nền dân chủ đã chú ý đến quyển sách đó, nhưng chẳng bao lâu sau những người trẻ tuổi ấy, cũng như bạn bè tôi, đã quên lãng nó. Một ông giáo sư, bạn của tôi, đã đọc xong cuốn sách vì tôi chèo kéo, khi mang trả có nói rằng những câu chuyện như thế đầy rẫy trong các bản thảo chồng chất tại những ngôi nhà gỗ cũ kĩ trên các ngõ phố Istanbul. Cư dân của những ngôi nhà đó, nếu coi sách là Thánh thư Koran, thì sẽ cất nó lên nóc tủ, còn không, họ sẽ xé rời từng tờ ra để nhóm bếp lò. Và thế là, đọc đi đọc lại bản thảo hết lần này đến lần khác, được khích lệ bởi một cô gái đeo kính, điếu thuốc không lúc nào rời môi, tôi quyết định đem nó đi xuất bản. Độc giả sẽ thấy rằng khi dịch ra tiếng Thổ hiện đại, tôi đã không hề chú trọng đến phong cách, tôi cứ đọc vài câu trong nguyên bản để trên bàn, sau đó tôi đi sang một phòng khác, đến bên chiếc bàn khác, nơi tờ giấy trắng đang đợi, tôi ngồi xuống ghế và cố gắng diễn đạt nội dung vừa đọc bằng ngôn ngữ thời nay. Nhan đề quyển sách không do tôi đặt ra, mà là của nhà xuất bản đã đồng ý in nó, Chắc có người sẽ hỏi tôi, có ý nghĩa gì đặc biệt trong những lời đề từ in ở trang nhất hay không. Tôi cho rằng, thói quen tìm kiếm một mối liên hệ nào đó trong tất cả mọi thứ là căn bệnh của thời đại chúng ta. Và chính bởi cũng ngả theo căn bệnh chung ấy, tôi đã cho xuất bản câu chuyện này.   FARUK DARVINOGL Mời các bạn đón đọc Pháo Đài Trắng của tác giả Orhan Pamuk.
Nỗi Sợ - Stefan Zweig
Iren người phụ nữ đã có gia đình hạnh phúc, người chồng làm luật sư, hai đứa con, là quý bà giàu có, có mối quan hệ ngoại tình với chàng nghệ sĩ dương cầm, không vì thiếu tình cảm, tình dục mà là tò mò, được sự ngưỡng mộ từ người tình, làm người phụ nữ được tôn thờ, được yêu, đánh giá mình qua tình cảm của người khác. Chồng nàng là luật sư Frizt, người đam mê tâm lý học tội phạm, phát hiện ra vợ mình ngoại tình, F đã nhờ một người đàn bà giả làm vợ của chàng nghệ sĩ dương cầm, tống tiền Iren, với mong muốn vợ mình nhận ra tự quay lại với anh và con. Tâm lý sợ hãi, nỗi sợ bị phát hiện, sợ bị phơi bày lỗi lầm trước người thân, ám ảnh trong giấc mơ, sợ đi ra đường gặp người đàn bà tồng tiền, đẩy thần kinh Iren căng thẳng lên mức tột đỉnh, toàn thân đau nhức, sự ám thị về khuôn mặt, dáng người và hành động của chồng. “Nỗi lo sợ còn tồi tệ hơn sự trừng phạt, bởi vì sự trừng phạt là cái gì đích xác, dù nặng hay nhẹ vẫn tốt hơn sự căng thẳng ghê gớm của trạng thái lo sợ những gì chưa biết sẽ xảy đến” Frizt nói. Cuối cùng trong trạng thái căng thẳng tột cùng, Iren đã nghĩ đến giải pháp cuối cùng để thoát khỏi là tự tử. Frizt đã kịp ngăn nàng, và thú nhận sự thật anh đã thuê người đàn bà kia. Truyện có tình tiết gay cấn, miêu tả tâm trạng, trạng thái nhân vật có vẻ không giống thực lắm, hơi quá, nhưng mang lại cho người đọc tính hồi hộp, lôi cuốn.  *** Stéfan Zweig (28 tháng 11, 1881 - 22 tháng 2, 1942) là một nhà văn, nhà báo, nhà viết kịch và nhà viết tiểu sử người Áo nổi tiếng trên thế giới. Ông sinh ra trong một gia đình khá giả gốc Do Thái ở thành phố Viên, Áo. Không tìm thấy động lực rõ ràng, ông bỏ học sớm. Việc học của ông chỉ bắt đầu khi ông đi qua nhiều nước ở châu Âu và kết giao với nhiều nhân vật quan trọng vào thời đại của ông. Ông có nhiều chuyến đi đến Ấn Độ, châu Phi, Bắc và Trung Mỹ, cũng như Nga. Trong Thế chiến thứ nhất, vì lý do sức khỏe yếu, ông không phải ra mặt trận mà được làm thủ thư, phụ trách quản lý tư liệu chiến tranh. Nhưng chỉ đến khi sống một thời gian ngắn gần trận tuyến, ông mới nhận ra sự điên rồ của chiến tranh, và từ đó trở thành người cổ vũ mạnh mẽ cho hoà bình. Là một nhà văn có sức làm việc mạnh, ông đã viết nhiều tập tiểu sử (như quyển Ba bậc thầy bàn về Honoré de Balzac, Charles Dickens và Fyodor Dostoyevsky, xuất bản năm 1920), thêm truyện dài và truyện ngắn. Ông được ca ngợi là có óc phân tích tâm lý độc đáo, và có tài chắt lọc bỏ ra những tiểu tiết khiến cho những tập tiểu sử của ông đọc hấp dẫn như tiểu thuyết. Đến thập niên 1930 ông là một tác giả có tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất. Tháng 2 năm 1942 , trong thời gian lễ hội ở Rio de Janeiro (Brasil), vì tâm trạng cô đơn và mệt mỏi, Stéfan Zweig và vợ Lotte cùng nhau tự tử. Lẽ ra hai người không nên gặp nhau mới phải. Zweig xuất thân từ một gia đình tư sản giàu có thành Vienna. Còn Frederika thuộc thành phần viên chức quý tộc. Họ làm gì có điểm chung mà đụng đầu với nhau, ngoài niềm say mê văn học. Đời một người đàn ông có thể gặp rất nhiều phụ nữ phải lòng và yêu mình. Thế nhưng, ít khi chúng ta được gặp nhiều hơn một người phụ nữ thực sự là phúc lộc trời cho, dịu dàng, vị tha, dẫu rất đắng lòng nhưng cuối cùng luôn luôn tha thứ cho ta về những lầm lỗi trăng hoa... Tối mùa thu ấy ở London cơn mưa thu lạnh lẽo và tầm tã. Frederika như người mộng du đi trên phố, hai tay ôm trước ngực cái ô xếp tròn. Chị cứ thế lang thang, không rõ mục đích và phương hướng... Bỗng nhiên có một cặp khách qua đường đi ngang rồi vượt lên trước chị. Hai người trò chuyện với nhau rất to. Họ than phiền về chuyện chiến tranh. Họ nguyền rủa Hitler đã khiến họ phải lìa xứ. Mời các bạn đón đọc Nỗi Sợ của tác giả Stefan Zweig.
Mười Hai Chiếc Ghế - Ilya Ilf & E. Petrov
Mười hai chiếc ghế" của hai nhà văn Liên Xô I.Ilf và E.Petrov là một kiệt tác của nền văn học Liên Xô thuộc thể loại tiểu thuyết trào phúng, được xếp vào hàng các tác phẩm kinh điển khi các tác giả còn sống. Lấy bối cảnh năm 1927, bộ truyện kể lại một phi vụ làm ăn đầy kịch tính giữa I. Vorobyaninov , một cựu quí tộc của chế độ Sa hoàng và O.Bender, một tay lừa đảo có hạng.  Tác phẩm được viết bởi ILF, Ilia Arnoldovich (1897 – 1937) cùng với PETROV, Evgeny Petrovich (1903 – 1942) là hai nhà văn trào phúng người Odessa. Valentin Petrovich Kataev ( tiểu thuyết gia và nhà soạn kịch Nga và Liên Xô) được biết tới là người đã đề xuất ý tưởng tiểu thuyết "Mười hai chiếc ghế" cho em trai Yevgeni Petrov và Ilya Ilf. Đổi lại, Kataev yêu cầu tất cả các ấn bản và bản dịch tiểu thuyết này đều cần phải đề là tặng ông. Sức tưởng tượng, sự rung cảm và sức sáng tạo không ngừng của Kataev đã khiến ông trở thành một trong những nhà văn Xô Viết xuất sắc nhất. Sau "12 chiếc ghế" Ilf và Petrov còn viết tiểu thuyết "Con bê vàng" (Золотой телёнок). "Con bê vàng" là phần II (tiếp theo) của "12 chiếc ghế". Ostap Bender không chết sau khi bị cắt cổ trong "12 chiếc ghế" và lại bắt đầu cuộc phiêu lưu mới của một kẻ du thủ du thực. Vẫn những mánh lừa đảo, cách kiếm tiền rất thông minh như trong phần I, Ostap Bender làm phần II cũng không kém phần thú vị và hấp dẫn. Nhận định: “Toàn bộ cuốn truyện toát ra sự phê phán rất thâm thúy, sắc bén, nhưng rất nhẹ nhàng, thú vị, đối với các thói hư tật xấu của con người.” -Dịch giả Lê Khánh Trường *** Ilya Ilf (Ilya Arnoldovich Feinsilberg, tiếng Nga: Илья Арнольдович Файнзильберг, 1987-1937) và Yevgeny Petrov (Yevgeniy Petrovich Kataev/Katayev, tiếng Nga: Евгений Петрович Катаев, 1903-1942) Là hai nhà văn và nhà báo Nga, được biết đến qua cuốn tiểu thuyết trào phúng, “Mười Hai Chiếc Ghế" (1928). Ilya Ilf và Petrov cũng xuất bản một số lượng lớn các câu chuyện và phác thảo dưới bút danh "Tolstoyevsky" trong Xô viết tạp chí và báo chí. Nền văn học danh tiếng của hai nhà văn phụ thuộc chủ yếu vào tác phẩm hợp tác của họ - những cuốn sách khác đã không đứng trước sự thử thách của thời gian. Ilya Ilf (bút danh của Ilya Arnoldovich Fainzilberg), sinh tại Odessa, con trai của một nhân viên ngân hàng. Sau khi tốt nghiệp từ một trường học kỹ thuật vào năm 1913, sau đó ông làm việc trong văn phòng một kiến trúc sư, một nhà máy hàng không và một nhà máy lựu đạn tay. Ông cũng góp phần đóng góp cho một tạp chí hài, tên là Sindektikon. Năm 1923, ông chuyển đến Moskva, nơi ông được nhận là một thủ thư và ông đã viết bài cho các tờ báo và tạp chí hài hước khác. Hai năm sau đó ông trở thành một nhà báo cho các tạp chí Gudok và Moriak. Trong chuyến thăm của ông ở Trung Á, ông đã chứng kiến cuộc đụng độ giữa hải quan cũ và hệ thống mới, mà đã trở thành một trong những chủ đề Trung tâm của “Mười Hai Chiếc Ghế". Sau khi họp bàn với Petrov, ông bắt đầu viết với những mảng hài hước cho tờ Pravda và các ấn phẩm khác. Nghiên cứu khoa học kéo dài gần chục năm. Ilya Ilf qua đời ngày 13 tháng 4 năm 1937 do bị bệnh lao, nơi ông đã ký hợp đồng trên hành trình của mình ở Hoa Kỳ. Yevgeny Petrov (bút danh của Yevgeny Petrovich Kataev) sinh tại Odessa, con trai của một giáo viên lịch sử. Ông tốt nghiệp năm 1920 từ một phòng tập thể dục cổ điển và bắt đầu sự nghiệp của mình như một nhà báo. Năm 1921 ông trở thành phóng viên báo tiếng Ukraina. Trước khi chuyển tới Moscow vào năm 1923, ông làm việc tại Cục điều tra hình sự Odessa. Petrov được bổ nhiệm làm phó tổng biên tập của tạp chí châm biếm Krasnyi perets và vào năm 1923, ông gia nhập đội ngũ nhân viên của tờ báo Gudok, một ấn phẩm cho các nhân viên đường sắt. Petrov đã không có tham vọng trở thành một nhà văn. Tuy nhiên, anh trai ông, nhà văn Valentin Kataev (1897-1986), khuyến khích ông soạn truyện ngắn, và một bộ sưu tập nhỏ đã được xuất bản vào năm 1924. Petrov kết hôn vào năm 1929. Từ năm 1932 ông đã góp phần vào tờ Pravda Krokodil. Năm 1925 Petrov đã trở nên quen với Ilya Ilf, người cũng làm việc cho Gudok. Cuốn sách đầu tiên của họ, “Mười Hai Chiếc Ghế" đã đạt được một thành công lớn. “Mười Hai Chiếc Ghế" xuất hiện trong thời gian tương đối tự do, khi kinh tế chính sách mới (NEPNEP) cho phép giới hạn doanh nghiệp tư nhân. Ý tưởng về những câu chuyện đã được đề xuất bởi Valentin Kataev. Ostap Bender - nhân vật chính đáp ứng trong cuộc phiêu lưu của mình là một kẻ cơ hội, quan chức, và kẻ lừa đảo và Sinbad thời kỳ NEP. Câu chuyện “Mười Hai Chiếc Ghế" đã lấy cảm hứng chuyển thể từ sân khấu và điện ảnh, không chỉ ở Liên Xô, nhưng cũng có ở Hoa Kỳ. Phiên bản phim của Mel Brooks từ năm 1970 đã nhận được nhiều sự đánh giá lẫn lộn của các nhà phê bình. Brooks là đạo diễn, viết kịch bản, tác giả của bài hát và tham gia trong một vai nhỏ. Mặc dù với tất cả các nỗ lực, sự hài hước của ông đã không mạnh như các nhà sản xuất (1968). 1933-1934 Ilf và Petrov viếng thăm Tây Âu. Họ đã gặp các nhà báo Nga nổi tiếng Ilya Ehrenburg ở Paris, và đã viết với ông một bộ phim hài, không tạo thành. Theo Ehrenburg, hài hước của Ilf là cay đắng; Petrov đã lạc quan, hài hước của mình là nhân đạo hơn và ông muốn tốt cho tất cả mọi người. Cái chết của Ilya Ilf là một sự khó khăn với Petrov, ông sau đó chỉ viết viễn tưởng. Tác phẩm của ông chủ yếu giới hạn là kịch bản phim và chỉnh sửa một bộ sưu tập của Ilf trong máy tính xách tay riêng (1937-1938). Năm 1940, ông gia nhập Đảng Cộng sản và trở thành biên tập viên của tạp chí Ogonyok. Vào năm 1941 Petrov viếng thăm Đức, nửa năm trước khi Đức Quốc xã tấn công Liên Xô, và nói: "Người Đức đang mệt mỏi của chiến tranh...". Trong thế chiến II Petrov đã phục vụ như là một phóng viên chiến tranh. Ông qua đời trong một máy bay rơi ở Sevastopol vào ngày 2 tháng 7 năm 1942. Báo cáo của Petrov từ trước đã được xuất bản dưới tiêu đề Frontovoi dnevnik (1942). ”Mười Hai Chiếc Ghế" được coi là một tôn giáo cổ điển và đã được tái bản nhiều lần.   Mời các bạn đón đọc Mười Hai Chiếc Ghế của tác giả Ilya Ilf & E. Petrov.