Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Con Nhân Mã Ở Trong Vườn

"Con Nhân mã trong vườn" trước hết là một câu chuyện rất hấp dẫn, lối kể chuyện giản dị, tình tiết lạ lùng, bất ngờ, và đọc xong rất sảng khoái. Ai đọc tiểu thuyết cũng cần được giải trí như vậy đã. Thứ đến, sau khi đã gập sách lại, đặt nó lên giá, bạn mới bắt đầu thấy vấn vương, mỗi lúc mỗi sâu xa, với những ý tưởng và cảm xúc mà câu chuyện ấy đã mang đến cho mình. Và đó mới thật là phẩm chất giải trí sâu xa của "Con Nhân mã ở trong vườn". Chủ đề của cuốn sách chính là câu chuyện muôn thủa về mối mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội, giữa bản ngã cá thể và luật chơi bầy đoàn. Cuốn sách này đã được 48 dịch giả ở 48 nước khác nhau dịch ra tiếng của mình cho đồng bào của họ thưởng thức. Và Trịnh Lữ là người thứ 49, Việt Nam là nước thứ 49. Trong cuốn "Cuộc đời của Pi" (một cuốn sách thu hút đông đảo bạn đọc Việt Nam), tác giả Yann Martel viết: "Còn về cái tia lửa thổi được sự sống vào cuốn tiểu thuyết, tôi xin mắc nợ ông Moacyr Scliar". Dịch giả Trịnh Lữ liền tìm đọc một số tiểu thuyết của ông Scliar, và lập tức mong muốn bạn đọc Việt Nam cũng được thưởng thức tác giả này. *** Trong khi dịch cuốn Cuộc đời của Pi, tôi thấy tác giả Yann Martel viết: “Còn về cái tia lửa thổi được sự sống vào cuốn tiểu thuyết, tôi xin mắc nợ ông Moacyr Scliar”. Tôi liền tìm đọc một số tiểu thuyết của ông Scliar và lập tức mong muốn bạn đọc Việt Nam cũng được thưởng thức tác giả này. Về thân thế sự nghiệp của Moacyr Scliar, cũng như chuyện thiên hạ đồn Yann Martel có lấy một cốt truyện của ông Scliar để viết cuộc đời của Pi, xin bạn đọc xem bài giới thiệu của Ilan Stavans về Con Nhân mã ở trong vườn, ấn bản năm 2003. Ông Stavans viết bài đó cho giới bạn đọc ở Mỹ, nên tôi nghĩ nên để ở cuối sách để bạn đọc Việt Nam tiện tham khảo. Còn với tư cách người dịch và giới thiệu cuốn tiểu thuyết này ở Việt Nam tôi trộm nghĩ mình nên có đôi lời về chuyện tại sao Con Nhân mã ở trong vườn lại đáng được có mặt trên giá sách của bạn, người đang đọc những dòng này. Trước hết là vì tôi thấy câu chuyện rất hấp dẫn, lối kể chuyện giản dị, tình tiết lạ lùng, bất ngờ, và đọc xong rất sảng khoái. Tôi nghĩ, ai đọc tiểu thuyết cũng cần được giải trí như vậy đã. Thứ hai, sau khi đã gập sách lại, đặt nó lên giá, tôi bắt đầu thấy vấn vương, mỗi lúc mỗi sâu xa, với những ý tưởng và cảm xúc mà câu chuyện ấy đã mang đến cho mình. Tôi thấy mình cũng giống như Guedali, nhân vật chính trong truyện, suốt đời thèm được mọi người chấp nhận, cố hết sức để có được điều đó, để khi có rồi lại chợt điên cuồng nhớ tiếc con người thật của mình. Đối với tôi, chủ đề của Con Nhân mã ở trong vườn chính là chuyện ấy, câu chuyện muôn thưở về mối mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội, giữa bản ngã cá thể và luật chơi bầy đoàn. Hồi nhỏ tôi nghĩ Người là cá thể. Lớn lên lại thấy Người là bầy đoàn; phải bầy đoàn mới sống được. Đến khi qua bờ dốc bên này của cuộc đời thì lại nghĩ chưa chắc đã phải thế. Bầy đoàn nghĩa là sói sống với sói, sơn dương sống với sơn dương, con nào khác lọt vào bầy là bị loại trừ ngay. Nhưng đấy là thú vật. Mà bây giờ tôi thấy hình như người với thú vật có khác nhau thì phải. Hình như vì được Thượng đế yêu, ghét, và nặn theo hình của mình, lại thổi hơi cho có sống nên Người có trong mình đủ thứ của Thượng đế (ADN mà, thoát làm sao được); nó vừa là Thần thánh vừa là Thú vật, vừa là Thiện vừa là Ác, vừa là Một vừa là Tất cả (một Người là thành được một cõi rồi). Thế thì nhẽ ra nó phải có quyền vừa là chính nó, một cá thể khác biệt với tất cả các cá thể khác, vừa là một thành viên của cộng đồng mình. Khi nào mà cá nhân còn phải trấn áp, loại trừ những riêng tư độc đáo của chính mình để có thể sống được với xã hội, thì xã hội ấy chưa thực là của Người. Nói theo kiểu học giả, xã hội ấy vẫn nằm trong phạm trù thú vật. Giờ đây (và liệu có khi nào chấm dứt) khi con người lại còn đang khủng bố chém giết nhau để khẳng định cái gọi là bản sắc riêng của mình (một biến tướng rất ung thư của mâu thuẫn cá nhân – cộng đồng) thông điệp đó trong Con Nhân mã ở trong vườn lại càng có ý nghĩa cấp bách hơn với chúng ta; và “cái tia lửa của sự sống” trong sáng tạo văn chương của Moacyr Scliar càng thêm Promethean hơn, gần gũi quí giá với chúng ta hơn. Đấy, nếu bạn đã nhiều lúc phải giấu diếm dẹp bỏ những cái độc đáo khác biệt của mình để có được sự chấp nhận của mọi người, và thường khắc khoải về chuyện đó, thì Con Nhân mã ở trong vườn là câu chuyện tâm đắc của bạn. Chắc phải có hàng tỷ người thường khắc khoải như thế nên cuốn sách này mới được những 48 dịch giả ở 48 nước khác nhau dịch ra tiếng của mình cho đồng bào của họ thưởng thức. (Tôi là người thứ 49, Việt Nam là nước thứ 49, vì tôi nghĩ người Việt chúng ta cũng có chung khắc khoải này với nhân loại). Và không phải chỉ có thế: trong khi theo chân nhân vật chính Guedali trong suốt cuộc hành trình gian khổ để trút bỏ phần ngựa của anh đặng hòa nhập được vào xã hội Người, chúng ta sẽ còn được trải nghiệm và vỡ nhẽ rất nhiều điều thú vị về Tình yêu, cái thứ mà chắc là ai cũng mắc phải nhiều lần, nào là tình ruột thịt, tình lứa đôi, tình vợ chồng, tình bạn bè, tình đồng chí, tình đồng loại... Và mọi người thứ tình ấy trong Con Nhân mã ở trong vườn đều hồi hộp, phập phồng chất nhục cảm phóng khoáng tự nhiên, với những bản năng tuôn trào khôn cưỡng, những thèm khát bạo liệt và những dịu dàng thơ mộng, những mưu mô tinh quái và ân hận nhầu nát, những lý tưởng ngây thơ và thực tại phũ phàng, những tình huống huyền thoại mà xù xì sặc sụa ngay trước mặt; nói tóm lại là những cái rất là “chúng ta”. Và thú vị hơn cả là toàn bộ câu chuyện chỗ nào cũng long lanh những giọt hài hước mà chỉ một tâm hồn trung thực, mạnh mẽ và hướng thiện mới toát ra được. Chắc ông bác sỹ - nhà văn Scliar theo thuyết cho rằng mọi hành vi của bạn và tôi đều chỉ do một vài giọt hóa chất trong cơ thể chúng ta quyết định, nên ông mới có được cái giọng hài hước không cố tình như thế. Phải, hài hước với tất cả - may, rủi, họa, phúc, yêu, ghét, được, mất – với một chút giễu cợt, nhất là với chính câu chuyện mình viết ra, với chủ đề mình đã chọn. Vì đọc xong, bạn sẽ có cảm giác rằng, ồ, có khi những cái riêng tư độc đáo của mình cũng chỉ là do mình tưởng tượng ra để cho cuộc đời có vẻ như ghê gớm hơn mà thôi. Chính cái chất hài hước bao dung và không hề làm dáng ấy của câu chuyện đã khiến cho người đọc, khi gập sách lại, cảm thấy cuộc đời vẫn đáng sống. Và đó mới thật là phẩm chất sâu xa của Con Nhân mã ở trong vườn. Và rồi chắc bạn cũng như tôi, cũng như nhân vật chính Guedali, lúc đến những dòng cuối cùng, sẽ thấy mình đã đang đứng lên, đang đứng lên rồi, như một con ngựa có cánh, à thôi (mình nên khiêm tốn) như một Con Nhân mã ở trong vườn, sẵn sàng nhảy qua tường rào... Ôi chao tôi lại nhiều lời rồi. Bạn hãy đọc câu chuyện của mình đi đã. *** Con Nhân mã ở trong vườn - Sự khác biệt từ bản năng Đồng hồ đã điểm đến 2 giờ 30 phút sáng. Và rõ ràng là tôi đã chẳng thể nào ngủ được. Tôi vừa đọc một mạch hết hơn 400 trang của Con nhân mã ở trong vườn. Nói là “không ngủ được” thì cũng không hẳn là chính xác, vì sự thực là tôi nghĩ mình đã thức giấc mất rồi, sau khi vừa trải qua một cơn mơ dài, rất dài, với tất cả những chuyện mà tôi đinh ninh là “không thể nào có thật trên đời”. Con nhân mã ở trong vườn - The Centaur in the Garden. Đây là lần đầu tiên tôi đọc một kiểu tiểu thuyết lạ lùng chưa từng thấy. Và sự “chưa từng thấy” này thể hiện ở nhiều mặt: cốt truyện, kết cấu, tuyến nhân vật, và đặc biệt hơn nữa, trí tưởng tượng mênh mông bát ngát lồng vào cái thần thoại huyền hoại ẩn nấp một cách rõ ràng đến mức có thể nhìn xuyên thấu của tác giả. Ừ thì, tôi cứ mặc nhiên công nhận rằng có lẽ mình đã bị phép thuật của Scliar mê hoặc có hơn không? Nhưng, còn hơn cả mê hoặc. Scliar đem đến cho tôi những thứ còn hơn thế. Với một cuốn sách mà tôi không biết phải dùng từ gì cho chính xác và tổng quát nhất để nói về nó, tôi chỉ có thể nói rằng, có lẽ trong một khoảnh khắc nào đó, nó đã tan biến trong tôi, và chúng tôi rất có thể đã từng tồn tại song song nhau ở cùng một thời điểm. Guedali, con Nhân mã trong vườn, gần với tôi đến mức như hơi thở của anh ta đang phà vào mặt tôi vậy. Câu chuyện xảy ra giản dị và êm thắm tựa như một lời bộc bạch, khiến tôi cảm thấy có phần hơi khó hiểu ở đoạn mào đầu. Và rồi Nhân mã. Thứ được miêu tả là một sinh linh huyền thoại, một sinh vật nửa người nửa ngựa vốn trước giờ chỉ có trong các truyền thuyết Hy Lạp cổ đại, hay sâu hơn nữa, trong sự hình dung lạ lẫm và ngạc nhiên của trí tưởng tượng con người, xuất hiện. Cách xuất hiện không bình thường của một kẻ không bình thường, và những phản ứng hoàn toàn bình thường của những con người rất đỗi bình thường xung quanh nó. Nó đến với thế giới này trước tiên bằng sự mong đợi háo hức của tất cả những người thân yêu và mở mắt ra sau những cái nhìn kinh hãi, lạnh lùng của cha nó, anh chị em nó và cú choáng váng đến nỗi ngất đi suốt mấy ngày liền của mẹ nó. Nó chẳng biết gì cả, và nó không có tội gì cả. Nhưng cay đắng thay, cái sự chẳng biết gì vô tình lại trở nên có tội, trong chính bản thân và hình hài của nó. Guedali, tên con Nhân mã, theo một cách nói nào đó, có thể là kẻ không may, cũng có thể là kẻ đáng nguyền rủa, một sinh vật không nên có mặt trên đời, cho dù nó đích xác là một sinh vật huyền thoại. Thế đấy, trong khi người Hy Lạp tôn sùng những vị thần nửa người nửa ngựa dũng mãnh tuyệt đẹp của họ, thì Guedali nhận ra mình đáng là thứ bị tống khứ đi khỏi cái thế gian này. Vấn đề ở chỗ là Guedali nhận thức rõ sự khác biệt sâu sắc giữa mình với người - những con người xinh đẹp, và họ, dưới mắt anh ta, xinh đẹp vì hoàn chỉnh. Đó là cái mà nó, một con Nhân mã, ao ước đến phát điên lên, mà vẫn không được. Nhưng như thế thì có sao. Bù lại Guedali có vẻ ngoài dễ coi, sự thông minh chăm chỉ và hơn nữa, một bộ chân khỏe mạnh đính trên nửa phần thân sau cường tráng, những cái giúp nó có thể phi nước đại trên thảo nguyên Nam Mỹ tươi đẹp và đầy nắng gió với tốc độ mà bất cứ chàng cưỡi ngựa nào cũng đều mơ đến. Phi nước đại, đó là một điều hay, và cũng là điều khiến Guedali hạnh phúc. Một cách nào đó, có thể nó đã từng hạnh phúc vì nó có, một chút, khác người. Với tôi, đó dù sao vẫn là một sự khác người đáng yêu ở một con Nhân mã. Nhưng không phải người nào cũng trông thấy sự đáng yêu đến ngạc nhiên đó. Guedali sống trong nỗi lo sợ nơm nớp của những người trong gia đình về sự phát hiện của những kẻ xung quanh. Thời đó, người Do Thái vẫn chưa được chấp nhận hoàn toàn. Thêm vào nữa là mâu thuẫn với người anh cả, Bernado. Guedali có một dự cảm mãnh liệt là anh không thể tiếp tục một kiếp sống chui rúc như thế này nữa, cho dù đó là cuộc sống bình an, thảnh thơi trong sự bảo bọc tuyệt đối của gia đình, những người mà anh yêu mến nhất. Hơn nữa, có một chuyện bất ngờ đã xảy ra với anh - đó là việc anh thầm thương trộm nhớ một cô gái. Đó là điều cấm kỵ, nghe cứ như tình yêu giữa Adam và Eva. Guedali ngắm trộm cô ta qua viễn vọng kính, mơ tưởng này nọ, ngồi hàng giờ ngơ ngẩn, nuôi bồ câu đưa thư, v.v… tóm lại là anh ta đang làm tất cả mọi chuyện vơ vẩn nhất trên đời. Anh ta biết tương tư, biết đau khổ, và biết gục ngã khi trông thấy một người đàn ông bước đến chỗ cô ta trên sân thượng và họ âu yếm nhau. Anh ta phát ốm. Và anh ta phát ngán. Anh ta muốn tự mình giải thoát cho mình khỏi sự ràng buộc này. Tất cả chỉ vì anh ta là Nhân mã. Thế rồi, mọi chuyện tiếp theo diễn biến thật nhanh. Guedali nhận ra cuộc sống tù ngục hoàn toàn trái ngược với những thèm khát ẩn sâu đằng sau cái ước nguyện tưởng nhỏ bé và điên rồ nhưng sẽ là một bước ngoặt lớn trong đời anh: lấy lại sự hoàn chỉnh của một con người và quan hệ như một tên đàn ông. Rõ ràng, Guedali - Nhân mã đã định hình được trong đầu cái tương lai của mình những điều anh muốn làm, những thứ mà anh muốn trở thành, và những cái mà anh hướng đến. Nhân mã cũng được quyền sống và được quyền ước mơ chứ, và để được chấp nhận, để được sống và ước mơ, để hòa đồng vào xã hội Do Thái và thế giới đầy biến động, Guedali chấp nhận rời bỏ phần thân thể không-giống-ai của mình. Anh bỏ nhà đi, rong ruổi tháng ngày trên khắp các đồng cỏ, phi nước đại cho đến khi cả bốn chân đều rã rời và đi đến những vùng đất xa lạ mà anh chưa từng biết đến. Anh đã đi rất nhiều nơi, đã gặp rất nhiều người, gây ra nhiều chuyện, thường nhật cũng có mà lạ lùng cũng có. Người-đàn-ông-Nhân-mã trải qua lần đầu tiên quan hệ với một con người, một đàn-bà-con-người, để tìm mọi cách thỏa mãn dục vọng điên cuồng của mình, nhưng không thành công, vì nói gì thì nói, anh ta vẫn là Nhân-mã. Anh ta làm cho mọi người phát cuồng, rồi sau đó làm họ kinh hãi, và cuối cùng, khiến họ chĩa súng vào anh ta khi phát hiện ra sự thật về anh. Mọi việc có vẻ đều ổn thỏa khi Guedali tìm được một Nhân-mã-cái, một cô gái xinh xắn tên là Tita, sống cùng cô, quan hệ với cô, và sau đó cả hai được Dona Cotinha đưa sang Morroco để phẫu thuật. Như thế là xong, mọi vấn đề được giải quyết, và Guedali những tưởng mình đã có thể có một cuộc sống hạnh phúc kể từ ngày anh không còn trông thấy cái hông to lớn của mình ngúng nguẩy trên bốn chân móng sắt và cái đuôi óng ả như lụa nữa. À, và tới đây thì, câu chuyện đã sẵn sàng rẽ qua một hướng khác. Guedali - Cựu Nhân-mã-đực. Đó là một thế giới thu nhỏ của những rắc rối mà một cựu Nhân mã phải đối đầu. Công việc, gia đình, hai đứa con sinh đôi với Tita, một hình hài đang dần dần trở nên hoàn chỉnh, những người bạn tốt và đáng tin cậy, một con Nhân-mã-đực khác, một con Nhân-sư-cái… tất cả mọi thứ xuất hiện và xoay vòng trong cái suy nghĩ đã già dặn hơn rất nhiều nhưng thỉnh thoảng vẫn không giấu nổi những sự bồng bột trẻ con của Guedali. Đã có lúc anh ta muốn lại trở thành Nhân-mã như ngày xưa, và rồi anh ta sợ hãi. Vợ anh ta, Tita, quan hệ với một con Nhân-mã-đực khác, trong hình dáng con người, và anh ta cũng thế, nhưng với một con Nhân-sư-cái. Mọi chuyện tưởng chừng như đã có lúc rối tung lên. Mọi sự rối tung quay quanh những loài sinh vật lẽ ra đã là huyền thoại. Tôi sẽ cảm thấy đau đầu, cảm thấy chóng mặt, nhưng tôi biết mình sẽ không bao giờ cảm thấy chán nản với Guedali. Cuộc sống là những chuỗi ngày dai dẳng và mâu thuẫn đối nghịch, và chính vì thế anh ta luôn phải phi nước đại để níu kéo nó. Và cũng vì, mỗi con người đều có riêng cho mình một cách phi nước đại, Guedali đã lựa chọn, với tư cách một con người, bằng việc trút bỏ lốt Nhân-mã, về mọi mặt, cho dù nó có phải là quá khứ của mình hay không. Anh ta muốn mình chỉ từng là Nhân-mã, ngoài ra, không hơn. Anh ta có thành công hay không? Câu trả lời nằm ngay trong sự phi nước đại của anh ta. Scliar đã không nói ra điều đó. Đoạn cuối cùng, ông kể lại một câu chuyện hoàn chỉnh quay quanh Guedali, với giọng kể đắc thắng và tự nhiên của Tita, vợ anh. Guedali đã thực sự là một con người, và cuộc đời đầy biến động của anh chẳng khác nào một đoạn phim quay chậm. Tôi thích điều đó. Thân phận và số phận của Guedali không nhất thiết phải rõ ràng và mặc định phải đi theo một con đường nào cả. Và, chính xác là như thế, tôi thích Guedali ở trong đoạn kết này, cười nói theo kiểu con người và quan sát một người phụ nữ theo kiểu con người. Như con ngựa có cánh sắp cất vó bay lên về phía những ngọn núi hoan lạc vĩnh hằng, về phía bộ ngực của Abraham. Như con ngựa với những bộ móng đang nhảy múa, sẵn sàng phi nước đại qua thảo nguyên. Như con Nhân mã ở trong vườn, sẵn sàng nhảy qua tường rào để tìm kiếm tự do. Tự do, không chỉ là hy vọng và nỗ lực của người Do Thái, của Guedali mà còn là của những ai thực sự muốn vươn tới và nắm bắt được nó. Đó là cách mà con người, theo đúng nghĩa đen, nhìn nhận sự tồn tại của mình. Một cái kết hay theo đúng phong cách Scliar. Con Nhân mã ở trong vườn. Nếu ai đó hỏi tôi rằng tác phẩm này có thực sự gây chú ý ngay từ những dòng đầu tiên hay không, tôi sẽ rất thẳng thừng trả lời là hoàn toàn không. Văn phong lạ lẫm của một người Brazil, cách xử lí cốt truyện theo vòng tuần hoàn, có xuất hiện chủ nghĩa cá nhân (vốn là cái mà tôi không hề ưa thích), tự do tín ngưỡng và tôn giáo, những nghi thức của người Do Thái xa lạ, và cuối cùng, một con Nhân mã, được tung ra như thể muốn níu kéo lại sự quan tâm của tôi hơn là muốn gửi gắm một thông điệp gì đó như các tác phẩm khác. Tôi đã đọc tiểu thuyết này với tất cả sự tò mò của mình hơn là một sự đam mê và yêu thích. Nhưng chính cái tò mò ấy đã dẫn đường và mở ra một lối đi cho sự đam mê yêu thích của tôi, sau đó, biến chúng thành cuồng nhiệt. Bằng một cách nào đó, Moacyr Scliar đã khéo léo biến những cái ngáp dài ngáp ngắn ban đầu của tôi thành ba giờ đồng hồ ngắn ngủi mà khó quên của một giấc mơ. Giấc-mơ-mà-tôi-thậm-chí-còn-không-biết-đến-sự-hiện-diện-của-nó. Moacyr Scliar, một bác sĩ y khoa tình cờ trở thành một tiểu thuyết gia. Bằng tất cả lòng chân thành và sự trân trọng của tôi, tôi xin cảm ơn ông vì đã viết Con nhân mã ở trong vườn, một quyển sách xứng đáng chiếm một vị trí quan trọng trên tủ sách mà tôi yêu thích. Ông đã chứng minh rằng những sự so sánh tầm thường, cố gắng loại bỏ một cái gì đó khác biệt, hay hơn thế nữa, những sự “hơn người” và lòng kiêu ngạo sẵn có sẽ chẳng làm nên được trò gì nếu thiếu niềm tin. Dưới ngòi bút giản dị mà quyến rũ và đầy thuyết phục, con Nhân mã hiện lên trong tiểu thuyết của Scliar như một hình hài bé bỏng và chân thật vẫn thường nép mình sau mỗi “chúng ta”. Là một con người không hoàn chỉnh, Guedali thiếu cái mà chúng ta có, và có cái mà chúng ta thiếu. Mặc dù vậy, trên hết, anh vẫn có một thứ ý chí đáng phục và tâm hồn trong sáng, chân thật đáng yêu. Nghĩ đến người khác một cách tự nhiên, luôn dằn vặt mình theo đúng kiểu của một Nhân-mã-muốn-trở-thành-người, và sau đó, đã có lúc tự chôn vùi mình trong mớ hỗn độn về nguyên nhân của mọi việc và mục đích sống, những cái đó đã khiến tôi yêu thích nhân vật này hơn Tita - nàng Nhân-mã-cái. Không phủ nhận rằng Tita đáng thương và nhạy cảm, nhưng tôi nghĩ, ở nàng, ở một phương diện nào đó, về lối sống và cách nhìn nhận, nhân vật này vẫn còn mang vẻ bi quan chán nản và dường như luôn gặp khó khăn mỗi khi đối diện với sự thật. Cô có lẽ đã không đủ tự tin để vượt qua nếu không có một người bạn đời như Guedali bên cạnh. Tuy nhiên, dù gì đi nữa, vì những điều mà Thượng đế không hề ưu ái khi chọn lựa một kiểu hình dáng cho họ, vì những gian khổ mà họ phải chịu đựng, suy cho cùng, họ vẫn xứng đáng được hưởng hạnh phúc. Hạnh phúc “làm người”. Nói như Trịnh Lữ - người dịch tác phẩm này thì: “… Sau khi đã gập sách lại, đặt nó lên giá, tôi bắt đầu thấy vấn vương, mỗi lúc mỗi sâu xa, với những ý tưởng mà cảm xúc mà câu chuyện ấy đã mang đến cho mình. Tôi thấy mình cũng giống như Guedali. Nhân vật chính trong truyện, suốt đời thèm được mọi người chấp nhận, cố hết sức để có được điều đó, để khi có rồi lại điên cuồng nhớ tiếc con người thật của mình…” Và, tôi đặc biệt thích những dòng bộc bạch chân thật và cởi mở sau đây của Trịnh Lữ: “… Đấy, nếu bạn đã nhiều lúc phải giấu diếm dẹp bỏ những cái độc đáo khác biệt của mình để có được sự chấp nhận của mọi người, và thường khắc khoải về điều đó, thì Con Nhân mã ở trong vườn là câu chuyện tâm đắc của bạn… Và mọi thứ Tình ấy trong Con Nhân mã ở trong vườn đều hồi hộp phập phồng chất nhục cảm phóng khoáng tự nhiên, với những bản năng tuôn trào khôn cưỡng, những thèm khát bạo liệt và những dịu dàng thơ mộng, những mưu mô tinh quái và ân hận nhầu nát, những lí tưởng ngây thơ và thực tại phũ phàng, những tình huống huyền thoại mà xù xì sặc sụa ngay trước mặt; nói tóm lại, những cái rất là “chúng ta”. … Và, chính cái chất hài hước bao dung và không hề làm dáng ấy của câu chuyện đã khiến cho người đọc, khi gập sách lại, cảm thấy cuộc đời vẫn đáng sống…” Bản năng và cuộc sống, ấy là hai thứ mà tôi và bạn, và tất cả những người khác không dễ dàng gì chối bỏ. Tôi có lẽ sẽ để tâm tới sự kì thị, nhưng tôi sẽ không khước từ những sự khác biệt và khả năng mà tôi sẵn có. Tôi nên tự hào về điều đó, vì những điều khác biệt có thể làm nên một con người. Điều quan trọng là tôi có nhận ra được sự khác biệt đó, trân trọng nó hết mức mà tôi có thể và tìm mọi cách phát huy nó theo một chiều hướng tốt hay không. Và tôi tin vào sự phán quyết của mình. Cũng như Guedali, cũng như Con Nhân mã ở trong vườn, cứ hãy nỗ lực hết mình, để rồi sẽ có ngày vươn cánh bay lên, bay một cách thoải mái và tự do bằng chính đôi cánh trên lưng, bên trên những thảo nguyên hoang vu lộng gió. Moacyr Scliar, ông đã nghĩ gì khi viết Con Nhân mã ở trong vườn? Ông nghĩ gì khi khuyên những người đọc của ông hãy cứ vui sống và chấp nhận những khác biệt quanh mình cho đến một ngày họ có thể nói: BÂY GIỜ KHÔNG CÒN PHI NƯỚC ĐẠI NỮA. BÂY GIỜ, MỌI THỨ ĐÃ ỔN CẢ RỒI? Tôi chẳng biết được, và có thể là tôi cũng chẳng bao giờ được biết. Nhưng với tôi, Scliar đã thành công, về mọi mặt. Tôi chắc chắn rằng người đọc của ông sẽ nhớ mãi tên ông, cũng giống như Yann Martel - chúng tôi là những người đã mắc nợ ông vì “cái tia lửa sự sống” mà ông đã thổi vào từ mọi góc độ của quyển tiểu thuyết. Khi đọc Moacyr Scliar, tôi sẽ không bao giờ quên cái sức hấp dẫn của thứ tình yêu cuộc sống mãnh liệt và dồi dào. Cái gì cũng phải làm hết mình, cái gì cũng phải cố gắng hết sức, không được từ bỏ hy vọng chỉ vì không có quyền hy vọng, và sử dụng sự khác biệt như một điểm nhấn mà chỉ riêng bản thân mình mới có. Tạo hóa làm nên con người, nhưng không thể áp đặt con người. Bản thân Guedali, với sự lạc quan và kiêu hãnh, đã là thông điệp đáng giá. Chính vì vậy, những câu chuyện của Scliar đi vào lòng tôi rất nhẹ nhàng mà không cần gõ cửa. Đặt quyển Con Nhân mã ở trong vườn xuống bàn, tôi ngồi đây, nhìn ra phía chân trời xa kia một màu xanh ngắt, và thực sự tin rằng mình đã nhìn thấy, hẳn hoi, một con ngựa có cánh, hệt như trong huyền thoại của ông./. Chuông gió *** SAO PAOLO   QUÁN LẠC VIÊN, MỘT QUÁN ĂN TUNISIA NGÀY 21 THÁNG 9, 1973     Bây giờ không còn phi nước đại nữa. Bây giờ, mọi thứ đã ổn cả rồi. Bây giờ chúng tôi cũng hệt như mọi người; không còn làm ai phải để ý đến mình nữa. Cái thời chúng tôi bị coi là kỳ quặc đã qua rồi, tại sao chúng tôi không bao giờ ra bãi biển, và tại sao vợ tôi, Tita, lúc nào cũng mặc quần dài? Chúng tôi mà lạ ư? Làm gì có chuyện ấy. Tuần trước, Peri, thầy phù thủy người Indian, đến thăm Tita, và anh ấy mới là người kỳ quặc, một thân hình bé tí gầy gò với một bộ râu cằm lưa thưa, đầy những hoa tai và vòng cổ, tay cầm gậy và nói một thứ tiếng nghe rất tức cười. Việc một anh chàng bộ dạng lạ lùng như vậy đến thăm chúng tôi có vẻ không bình thường; nhưng biết làm thế nào, ai chả có quyền rung chuông gọi cửa. Hơn nữa, anh chàng mới là kẻ ăn mặc lạ đời chứ đâu phải chúng tôi. Chúng tôi ấy à, không đâu, bộ dạng chúng tôi tuyệt đối bình thường. Chúng tôi đang ở đây cùng con cái, bạn bè, và con cái của bạn bè, cùng nhau ăn tối trong cái nhà hàng Tunisia này. Dạo trước chúng tôi đến đây thường xuyên hơn. Từ ngày Tita và tôi dọn về Porto Alegre thì những bữa ăn tối như thế này hiếm hoi hơn, nhưng vẫn là dịp tốt để nhóm bạn cũ gặp gỡ nhau. Thực ra hôm nay chúng tôi có một lý do đặc biệt để ăn mừng, đó là sinh nhật tôi. Ba mươi tám tuổi. Ba mươi tám, cỡ nòng của khẩu súng lục vẫn được các nhân viên an ninh trong khu biệt thự của chúng tôi sử dụng, nếu tôi nhớ không lầm. Một cái tuổi tuyệt vời. Tuổi trưởng thành, mà cũng là tuổi cường tráng, hiểu đời, cái tuổi biết đánh giá đúng những gì tốt đẹp, ví du như các món ăn tuyệt hảo ở đây trong quán Lạc Viên này, một nơi mà chúng tôi thú vị cảm thấy như ở nhà vậy. Đúng là chỉ một phút trước tôi đã có một cảm giác khó chịu khi liếc nhìn anh bồi bàn người Arab. Anh ta làm tôi nhớ lại chuyến đi đầu tiên của chúng tôi sang Morocco, cái mùi lộn mửa trên tàu thủy. Tôi đã rất khó chịu, thực sự đã rùng hết cả mình. Paulo, ngồi cạnh tôi bên chiếc bàn dài, đã thấy điều đó. Sao thế Guedali, mặt cậu tái mét đi thế ! Có gì đâu, tôi nói, tớ chỉ hơi đau bụng một tí, nhưng hết rồi, tớ không sao mà. Paulo liền nhân dịp hỏi xem dạo này tôi có còn tập thể dục nữa không, có còn chạy như thời chúng tôi còn hay chạy với nhau nữa không. Tớ thường đi xem đá bóng với các con, chúng nó đều là cổ động viên cho đội Quốc tế của Porto Alegre, nhưng chỉ vậy thôi, chứ không có tập tành gì khác. Á à..., Paulo đắc thắng, thảo nào mà cậu bắt đầu béo bụng rồi kìa, hèn gì mà không đau. Nhìn tớ đây này, Guedali, tớ vẫn đâu vào đấy nhá. Tớ vẫn chạy, tối nào cũng vậy, rất đều. Cậu không nên bỏ tập, Guedali à. Chạy đi, anh bạn ạ. Cố gắng một chút. Không phải vì tuân thủ phương pháp đâu, mà để cho nó có thách thức, cậu hiểu không. Đời mà không có thách thức thì chẳng đáng sống nữa. Hãy nghe lời thằng bạn già Paulo này một cái xem nào. Paulo nói đúng. Tôi nên chạy thường xuyên. Tôi đã định tiếp tục chạy trong trang trại mà tôi có ở gần Quatro Irmão, trong nội địa Rio Grande do Sul. Nhưng bây giờ đất ở đó trồng trọt hết rồi, chẳng còn chỗ mà chạy nữa. Anh ruột tôi, Bernardo, cai quản cái trại ấy cho tôi. Ai cũng nói có điên mới đâm đầu vào việc trang trại, chưa nói đến việc lại còn làm việc đó với một cộng sự như Bernardo. Anh ấy thất thường, bắt đầu việc gì là bỏ dở việc ấy và đã lang bạt khắp xứ Brazil. Nhưng khi anh đến gõ cửa nhà tôi một ngày nọ và để nghị được giúp đỡ, tôi đã quyết định chấp nhận rủi ro. Thế mà mọi việc lại thành tốt. Bernardo đã cho thấy anh là một quản lý trang trại hạng nhất. Anh cơ giới hóa công việc và học hỏi một nhà nông học về việc sử dụng phân bón và thuốc diệt cỏ. Anh quản người làm rất chặt, tóm lại, anh khiến cho mọi thứ vận hành thật tốt. Anh bạn cũ tốt bụnb Paulo. Một người bạn tốt, một cộng sự tốt. Nhờ có đầu óc tỉnh táo và nhìn xa trông rộng của anh, chúng tôi đã vào được đường dây xuất khẩu. Thật là một ý tưởng lớn. Đó là cái đã cứu chúng tôikhi việc làm ăn cứ bê bối dần trong thời gian tôi còn sống ở Sao paulo. Chúng tôi đã xuất khẩu hết tấn hàng này đến tấn hàng khác, đặc biệt là sang Morocco, nơi tôi có nhiều quan hệ tốt. Đúng là một người bạn hay, Paulo. Paulo với Fernanda, Julio với Bela, Armando với Beatrice, Joel với Tânia... toàn là bạn hay. Hay biết bao khi được ở giữa bạn bè, uống rượu vang, nặng nhưng ngon làm sao - trong bầu không khí đẹp đẽ và đầm ấm. Đúng thế, thật sung sướng được ngồi ở đây, trong cái tiệm ăn Tunisia này. Cái duy nhất hơi làm tôi khó chịu ngay lúc này là tiếng nhạc Arab - chói tai, mở âm lượng rất to. Nhưng chính cái đó cũng lại có cái lợi điểm của nó : nếu những đôi cánnh có rung lên xao xác ở ngoài kia, phía trên ngọn cái cây cọ nhìn thấy được qua cái cửa sổ kia, tôi sẽ không biết, không nghe thấy chúng. Tôi nghĩ cái tiếng xao xác mà tôi nghe thấy đó là tiếng gió, một thứ gió nóng đã nổi lên suốt buổi chiều. Có lẽ sắp mưa. Tita mỉm cười. Nàng đang ngồi đối diện với tôi, xinh đẹp hơn bao giờ hết. Quãng đồi gian khó mà nàng đã trải qua có để lại dấu ấn trong những đường nét trên gương mặt nàng, thì cũng chỉ khiến cho vẻ đẹp của nàng thêm chín, thêm sâu, thêm mềm mại. Tita yêu dấu, người vợ thương mến của tôi. Bên trái tôi là cặp con trai sinh đôi của chúng tôi. Suốt nửa tiếng đồng hồ chúng đã không ngừng thì thầm vào tai nhau, hai thằng quái con. Con lạ gì những chuyện khỉ của chúng. Hai thằng con trai tốt lành, thông minh và chịu khó. Mà chúng mới lớn nhanh làm sao! Chẳng mấy chốc chúng sẽ cao hơn cả tôi, mà tôi đã rất cao rồi. Chúng đã bắt đầu hỏi xin ôtô; một ngày gần đây chúng sẽ đem bạn gái về nhà. Rồi chúng sẽ lấy vợ, sẽ đến một ngày tôi thành ông nội. Mọi việc đều tốt đẹp. Nghĩa là, mọi việc đều hầu như tốt đẹp cả. Vẫn còn những cái khiến tôi khó chịu. Chứng mất ngủ của tôi, những giấc ngủ vật vã của tôi. Tôi rất hay sực tỉnh giữa đêm, tưởng như vừa nghe thấy một tiếng động gì quái lạ (có phải tiếng xao xác của những chiếc lông trên cặp cánh con ngựa bay?) nhưng đó chỉ là tưởng tượng mà thôi. Tita cực kỳ thính tai, chẳng bao giờ nghe thấy gì hết; nàng ngủ thật say. Và lại còn nằm mơ nữa. Chẳng cần phải kéo mi mắt nàng lên và nhìn trộm vào đồng tử như nhìn qua cửa sổ để xem nàng mơ thấy gì. Ngủ cạnh nhau boa nhiêu lâu như thế đã làm cho những giấc mơ của chúng tôi hòa trộn vào nhau. Con ngựa mà vừa một lúc trước tôi đã thấy đang im lặngbay giữa những đám mây giờ đây đã phi nước đại trên những cánh đồng cỏ trong giấc mơ của nàng. Và nó không làm phiền gì nàng. Những giấc mơ của tôi mới là cái tôi phải chỉnh sửa. Tôi phải bắt được con ngựa của mình và lột bỏ tất cả những thứ dư thừa lạ lùng của nó. Hoặc giả loại bỏ nó hòan toàn ra khỏi các giấc mơ của tôi. Có những viên thuốc ngủ đặc hiệu để làm việc này. Một vài điều lạ lùng cũng xẩy ra với tôi, làm cho những thông điệp khắc khoải kia cứ nhiều thêm mãi. Ví dụ : một vài phút trước, tôi đang nguệch ngoạc vài chữ lên tờ giấy ăn với cây bút bi bằng vàng mà các bạn tôi vừa tặng, một cây bút nhập khẩu tuyệt đẹp, thì tôi giật mình khi thấy mình viết ra câu: Bây giờ mọi việc đều ổn cả. Một câu tuyệt đối tầm thường, nhưng viết bằng những con chữ gãy góc trông rất kỳ quặc. Cái gì, sức mạnh nào, trường lực nào, đã đưa đẩy tay tôi viết ra những chữ ấy ? Tôi không biết. Tôi phải thú nhận là mình không biết, mặc dù cái tuổi 38 của tôi, mặc dù những trải nghiệm dị thường mà tôi đã có. Còn có nhiều thứ không biết, nhiều cái bí ẩn trong con người tôi. Chẳng phải đã đến lúc mở hết các cửa đập, để cho các dòng thác được tuôn chảy hay sao ? Hôm qua tôi thấy những cảnh nước lụt trên TV. Các con vật bơi giữa dòng nước đục ngầu, tìm kiếm nơi trú ngụ trên những ngọn cây vẫn còn cao hơn mặt nước. Khuôn mặt ướt đẫm của một con khỉ được quay cận cảnh đặc biệt làm tôi xúc động; đó là hình ảnh của sự thơ ngây bất lực. Chẳng phải đã đến lúc bộc bạch mọi chuyện với các bạn hay sao? Bây giờ, khi mọi thứ đã ổn cả rồi, tôi có nên nói cho họ biết không? Không có gì phải sợ. Chẳng có cái đuôi nào sẽ vẫy lên nhặng xị để đuổi lũ ruồi đang vo ve quanh tôi nữa đâu mà. Nói đến ruồi, quả thực ở đây lắm ruồi quá. Quán ăn nấu ngon, nhưng không phải là một nơi sạch sẽ nhất. Họ phải biết đem rách đổ ra thật xa đằng sau nhà mới phải. Dù sao, phải nhắm mắt làm ngơ và đừng phàn nàn gì cả. Những người này rất dễ nổi giận, và sẽ trả thù. Vừa mới hôm qua họ còn cưỡi lạc đà băng qua các đụn cát sa mạc, những dải khăn quấn trên đầu còn phấp phới bay trong gió. Nếu bị phản thùng, họ sẽ thề phải trả thù, và sẽ dùng dao găm đâm chết ngay cả bạn bè khi có cơ hội đầu tiên. Họ là những người Berber[i]. Tất nhiên họ không còn cưỡi lạc đà nữa. Khi đóng cửa quán ăn họ sẽ về nhà bằng ôtô. Nhưng tôi vẫn thấy một tia hiểm độc trong mắt họ. Có thể đó chỉ là chứng tự kỉ ám thị kiểu Do Thái của tôi.   ***   Vâng, tôi có thể kể tất cả mọi chuyện. Khiêm nhường nhưng cao giọng. Đàng hoàng, không rơi vào hài hước rẻ tiền, cũng không chơi chữ. Không ám chỉ gì đến Cavalleria Rusticana, hoặc đến con lừa của Buridan[ii]. Những người Indian có xuất hiện trong câu chuyện của tôi, mà đúng là vẫn có người Indian sống trong vùng Quatro Irmãos trong năm 1935, họ sẽ không cưỡi ngựa như những người khai hoang dũng cảm, mà chỉ đi bộ, khiêm tốn cho dù vẫn mang một dáng vẻ bí ẩn, và tìm kiếm việc làm. Tôi sẽ không nói gì đến những con ngựa riêng tư đang phi nước đại trong mỗi chúng ta, tôi không biết chúng có tồn tại hay không. Toi cũng sẽ không nói gì đến các đoàn người cưỡi ngựa, nghĩa là đến quá trình tiến hóa không ngừng của lịch sử tới một định mệnh không ai biết. Chẳng hiểu tại sao con người ta lại phải gọi cuộc hành quân không ngừng ấy của lịch sử bằng một cái tên gì khác. Thì cứ gọi nó là cuột hành quân không ngừng của lịch sử thì đã sao, còn nếu có ai vẫn chưa hài lòng thì ta thêm vào rằng cuộc hành quân ấy không bao giờ chậm lại hoặc đảo ngược chiều. Thế thì tại sao tôi không đứng dậy đi? Tại sao tôi không lấy cây bút gõ gõ vào ly rượu vang để kêu gọi mọi người chú ý, và tuyên bố rằng một bí mật sắp được tiết lộ? Tại sao? Tôi không biết. Tôi cảm thấy không an toàn. Tôi sợ phải đứng lên. Tôi sợ hai chân tôi sẽ không mang nổi tôi; sự thật là tôi vẫn chưa tin tưởng hẳn ở chúng. Loài hai chân không vững chắc như loài bốn chân. Hơn nữa, tôi say rồi. Hết lần nâng cốc này đến lần nâng cốc khác, vì người ta đang ăn mừng sinh nhật của mình, vì vợ anh ta, vì con trai anh ta, vì các bạn anh ta, vì cha mẹ và anh chị em anh ta, vì công ty xuất khẩu của anh ta, vì trang trại của anh ta, vì đội bóng đá mà anh ta ủng hộ, và rượu vang đã ngấm vào đầu tôi. Ngồi đối diện tôi, Tita đã ra hiệu cho tôi ngừng uống. Nàng đang nói chuyện với một cô gái ngồi cạnh, thực sự là một cô gái rất xinh đẹp. vẻ đẹp của cô ta thuộc loại dị thường : tóc dài màu đồng đỏ, cặp kính râm đen (tại sao đeo kính râm buổi tối?) che gần kín khuôn mặt bí hiểm. Một chiếc áo sơmi kẻ sọc kiểu đàn ông, khuy mở một nửa, phô bày những vòng đeo cổ và nét lượn của cặp vú đầy đặn thật đẹp. Tôi không biết cô ta. Tôi chỉ biết cô ta là bạn của gia đình Tânia và vừa mới ly hôn. Tôi nâng li về phía cô : chúc sức khỏe! Tita liếc nhanh cảnh cáo tôi. Nàng không ghen đâu. Nàng biết tôi say, và sợ tôi sẽ nói lung tung, kể những chuyện vô lý. Nàng thường nói trước khi giải phẫu tôi có lý hơn nhiều. Tita nghĩ cũng phải. Tốt hơn cả là im lặng. Thà viết nguệch ngoạc còn hơn. Bây giờ mọi thứ đều ổn cả. Mặc dù nét bút kỳ quặc này, mặc dù tiếng xao xác của những đôi cánh, mặc dù những cảnh trí mà tôi đang nhớ lại.     Mời các bạn đón đọc Con Nhân Mã Ở Trong Vườn của tác giả Moacyr Scliar & Trịnh Lữ (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Những Thiên Thần Armani - Jasmine Oliver
Năm học đầu tiên của bộ ba xinh đẹp tại trương thời Trang sắp kết thúc. Marina - cô tiểu thư duyên dáng của một gia đình nền nếp đã chọn cho mình ngành thiết kế giày. Sinead - cô con gái của một bà mẹ nổi tiếng trong làng thời trang cũng quyết định theo ngành thiết kế quần áo. Còn Frankie - cô em bốc đồng của bộ ba lại đi theo chuyên ngành nữ trang. Nhưng họ đang phải đối diện với nhiều chuyện phiền phức, áp lực học hành, bố mẹ ngoại tình, bạn trai lừa gạt, người yêu hiểu lầm... Họ chỉ mới 18 tuổi. Họ sẽ phải làm gì để vượt qua những rắc rối "người lớn" ấy? *** Sinead – cô gái có mái tóc vàng cắt ngắn, sở hữu một thân hình tuyệt mỹ và một vẻ đẹp quyến rũ. Marina – cô gái bốc lửa, gọi cảm, được mệnh danh là Marilyn Monroe của trường đại học Thời trang Trung tâm. Frankie – cô gái có cặp chân dài với tư chất của môt người mẫu sáng giá ẩn sau một tính cách trong sáng và nhút nhát. … Cả ba đều là sinh viên năm nhất của trường Thời trang Trung tâm và cùng sống trong một ngôi nhà tại quảng trường Walgrave. Frankie, Marina và Sinead vừa kết thúc học kỳ đầu tiên tại trường đại học Thời trang. Phía trước họ là một mùa Giáng sinh đầy hứa hẹn… *** Bộ sách ​Câu Chuyện Thời Trang gồm có: Câu Chuyện Thời Trang Tập 1: Những cô nàng Gucci Câu Chuyện Thời Trang Tập 2: Những thiên thần Armani Câu Chuyện Thời Trang Tập 3: Những công chúa Prada *** “Frankie McLerran, kính bảo hộ của em đâu?” “Ối!” Frankie giật nảy người và làm rơi một giọt bạc vào cái đĩa thủy tinh đựng mấy hạt đá quý nhỏ li ti. “Phải luôn đeo kính bảo hộ trong xưởng chứ,” cô Claudia Brown quát lên với cái giọng “thượng sĩ” đáng sợ. Frankie vội cạo giọt bạc bị dính vào đĩa rồi bỏ vào cái nồi nấu kim loại nhỏ xíu, đánh lửa, đeo cặp kính vào và lại bắt đầu lần nữa. “Mẫu in hình con báo lỗi thời từ năm ngoái rồi,” thầy Tristian Fox phẩy nhẹ tay khi nói với Marina. “Nghĩ đến mấy đôi xăng-đan quai da đi, hay là kết hợp giữa vải bố với da rắn cũng được. Thử thứ gì đó mạo hiểm đi chứ.” Marina đang nghiên cứu mẫu thiết kế giày của mình - mẫu xăng-đan có in hình con báo với gót giày màu bạc cao cỡ bảy phân và đế khá nhẹ. Đã trở thành nguyên tắc bất di bất dịch, thầy Tristan không bao giờ khen bất kỳ một người nào. “Mẫu in hình con báo lỗi thời từ năm ngoái rồi!” Marina nhại lại bằng giọng the thé sau lưng ông thầy. “Tôi nghe thấy rồi đấy nhé!” thầy Tristan cảnh cáo, chân vẫn bước đi mà không thèm quay đầu lại. “Ối trời!” dù sao thì Marina cũng thừa nhận rằng thầy Tristan luôn biết rõ mình đang nói gì. Xét cho cùng, thầy ấy đang thiết kế cho hãng Charles Jourdan. Thầy ấy là Thầy Giày Nước Anh [1] cơ mà! Marina dẹp mấy cái đế giày in hình con báo của mình đi, và thay vào đó là một ý tưởng mới với da thuộc. Những tên cướp biển! Sinead nghĩ. Đó sẽ là chủ đề của mình ! Không phải những tên cướp biển trong truyện Peter Pan , mà là những tên cướp biển mặc những chiếc sơ mi được may bằng chất vải nhẹ nhất, trong suốt, thắt lưng da rộng bản trễ xuống thật gợi cảm, quần lửng trắng và bốt da nâu vàng. Sơ mi sẽ cột trễ xuống đằng trước để lộ ra thật nhiều da thịt, và có lẽ sẽ bỏ luôn cả quần đi, thay vào đó chỉ là những cặp chân dài rám nắng trong đôi bốt cao đến nửa bắp chân... À, và phải có cả những chiếc mũ ba sừng rộng vành màu trắng nữa chứ. Sinead đang thực hiện mẫu thiết kế mùa hè của mình trong phòng cắt may trên tầng cao nhất, xung quanh là những mớ vải sọc, vải zíc-zắc, hạt cườm, nút áo với huy hiệu. Chẳng có ma nào, chỉ có mỗi một bản nhạc đang phát ra từ cái máy CD cũ mèm, cho tới khi Marina đột ngột nhảy vào thiên đường của cô, “Sinead, ngó ra ngoài cửa sổ đi. Tuyết đang rơi kìa!” “Tuyết đang rơi!” Sinead và Marina vội ào xuống tầng hầm của trường để kéo Frankie ra khỏi xưởng nữ trang. “Chờ đã... đang lúc dầu sôi lửa bỏng thế này... không bỏ dở được đâu!” “Nhưng mà tuyết đang rơi!” Marina cố nài nỉ. “Tuyết hẳn hoi ấy. Bông tuyết to... to thế này này !” Xung quanh, các máy chế tạo nữ trang đang kêu o o , giũa, mài, đập... Frankie gỡ kính bảo hộ ra và nhìn lên, “Cô Claudia đâu rồi?” “Đang nghỉ giải lao. Tụi tao mới thấy cô ấy tới quầy cà phê dành cho giáo viên,” Sinead nói. “Đi nào , Frankie, trước khi tuyết ngừng rơi.” “Này, hai chị có thấy là hai chị đang làm em mất tập trung không hả?” Frankie thở dài bực bội. “Xin lỗi. Nhưng mà bọn tao có thấy tấm bảng đề ‘Thiên tài đang làm việc’ nào đâu,” Marina kéo sợi dây thun trên cái kính bảo hộ của Frankie, rồi buông nó bật trở lại. “Oái!” Frankie kêu lên. “OK, ok, hai người thắng rồi!” “Nhìn kìa,” Sinead ấp hai bàn tay lạnh cóng quanh tách cà phê rót từ cái máy đặt ngay sảnh lớn. Ai nấy bước vào đều được phủ một lớp tuyết trắng, rũ rũ cho bông tuyết rơi khỏi tóc, phủi phủi lớp áo khoác ngoài và giậm giậm chân. “Tuyết kiểu này thì ngoài kia cũng phải dày đến hơn năm phân chứ chẳng chơi.” ... Mời các bạn đón đọc Những Thiên Thần Armani của tác giả Jasmine Oliver.
Ngôi Nhà Vui Vẻ - Gong Ji Young
Ngôi nhà vui vẻ là cuốn tiểu thuyết được lấy cảm hứng từ cuộc sống của chính tác giả Gong Ji-Young qua góc nhìn của nhân vật chính - cô bé Wi Nyeong mười tám tuổi. Trước khi học lên lớp 12, cô đã chuyển về sống cùng mẹ đẻ sau nhiều năm sống cùng cha và mẹ kế. Bằng giọng văn chân thực, mạnh mẽ và sáng tạo của Gong Ji Young, câu chuyện sẽ góp phần an ủi, sẻ chia và làm ấm trái tim những người cô đơn. Qua nỗi tổn thương mà Wi Nyeong đã phải chịu đựng vì gia đình, nỗi đau tột cùng khi bị cự tuyệt tình yêu thương cũng như hành trình tìm lại bản thân mình, tìm lại tình yêu đã mất từ hai tiếng “gia đình”, người đọc có thể nhìn lại giá trị của gia đình và tình yêu nơi mỗi con người một lần nữa. Từ cổ chí kim, gia đình luôn đóng vai trò là nền tảng của xã hội, nhưng trong cuộc sống hiện đại bộn bề, gia đình và các mối quan hệ huyết thống đang dần lung lay theo nhiều cách khác nhau. Gia đình vốn là biểu tượng của hòa hợp, của chung tay góp sức đắp xây, của tấm lòng hi sinh vì nhau giữa các thành viên dưới một mái nhà chứ không phải mối khác biệt giữa cá nhân với mọi người. Vậy mà giờ, chúng ta đang đối mặt với một thực tế: Quan niệm gia đình biến đổi khiến những người thân thuộc “dù có ở cạnh nhau nhưng vẫn xa cách, tách biệt nhau” (trích Ngôi nhà vui vẻ ). Đặc biệt, từ nhiều nguyên nhân mà gia đình cũng dần trở nên khác trước, việc ly hôn khiến gia đình không còn nguyên vẹn như xưa, thiếu vắng ba hoặc mẹ, cuộc sống của các bà mẹ đơn thân trở nên phổ biến hơn... Bởi vậy, tác phẩm mà bạn đọc đang cầm trên tay chính là một làn gió mới nếu được đặt cạnh ý niệm cũng như ý nghĩa về gia đình truyền thống. Giờ đây, chúng ta cần có cái nhìn bao dung hơn về “gia đình” và “tình yêu”. Có thể nói, Ngôi nhà vui vẻ là một trong những tác phẩm xuất sắc của nhà văn Gong Ji Young. Ngay sau khi phát hành, cuốn tiểu thuyết này đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của độc giả Hàn Quốc bởi những nhận thức, quan điểm mới mẻ, phù hợp với xã hội hiện đại mà ta đang sống. Xuất phát từ những nét tương đồng về văn hóa cũng như xã hội, hẳn độc giả Việt Nam sẽ tìm thấy niềm đồng cảm, và đâu đó trong cuốn sách, ta sẽ thấy bóng dáng ai đó xung quanh mình. Như chia sẻ của tác giả: “Mỗi người trong chúng ta đều có hoàn cảnh gia đình khác nhau nên tôi mong cuốn sách sẽ mang lại chút hi vọng nào đó cho tất cả những người cảm thấy khó khăn”. Chúng tôi hi vọng bạn đọc sẽ nhận tìm được ý nghĩa vốn có của tình cảm gia đình, biết trân trọng và nâng niu nhau hơn. Bên cạnh đó, trong bối cảnh “hợp tác chiến lược Việt - Hàn” trên nhiều lĩnh vực, cuốn tiểu thuyết có thể là nguồn tư liệu cho những người nghiên cứu cũng như những ai quan tâm đến xứ sở kim chi. Trần Hải Dương (Giảng viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Hàn Quốc Trường ĐHNN - ĐHQGHN) *** Khi đó tôi chín tuổi. Xúng xính trong chiếc váy thêu màu xanh da trời tiến vào lễ đường để biểu diễn dương cầm thay lời chúc phúc tôi muốn gửi tới ba tôi. Tôi vốn là một đứa bé ghét đến lớp học dương cầm nên dù được học, tôi vẫn chẳng có chút tiến bộ nào, nhưng với khúc nhạc này tôi đã thực sự luyện tập rất chăm chỉ. Bởi vì hôm nay có cả ba mẹ tôi tham gia, hơn nữa việc được đảm nhận vai trò quan trọng tại hôn lễ như thế này tựa như có một điều gì đó đang thực sự diễn ra và có phần thú vị hơn việc đóng vai ba hay mẹ trong trò chơi với búp bê, trò chơi buôn hàng của lũ trẻ thường ngày. Khi tôi nói với cô giáo dạy dương cầm của tôi rằng: “Đây là bản nhạc con sẽ chơi trong ngày cưới của ba con” dường như cô ngạc nhiên đến mức không thể khép miệng lại, cô chỉ có thể lắp bắp vài lời hỏi lại: “Ba dượng con ư?” “Không ạ. Là ba con. Lần này là ba con sẽ kết hôn”. Một thoáng cô giáo nhìn tôi, tôi đang đứng trước những đứa trẻ khác mà như thế này thì không được, một người nếu đã quyết tâm thì phải luôn khí thế, tôi giả bộ nở một nụ cười rạng rỡ sau khi đã tạo dáng như đang nghĩ ngợi điều gì đó, tôi dõng dạc: “Vậy đi, chúng mình hãy cùng nhau luyện tập chăm chỉ một lần. Dù vậy đừng quá say mê tập luyện đấy”. Khi tôi nói thế, những đứa trẻ nhìn tôi giả bộ cười, điều ấy cũng chẳng còn xa lạ. Vốn dĩ chúng luôn nhìn tôi với ánh mắt đầy tò mò và thương hại như nhìn một đứa mồ côi tội nghiệp. Nhờ chút thương hại đó, tôi nghiễm nhiên được miễn bị phạt, đương nhiên chỉ là những hình phạt đơn thuần, nhưng điều đó chẳng bao giờ trở thành mảng ký ức tươi sáng trong tuổi thơ tôi. Hay nói một cách nặng nề hơn, đúng hơn là một ký ức buồn. Dẫu sao thì tôi nhất định sẽ biểu diễn bản nhạc Ngôi nhà vui vẻ của tôi trong hôn lễ của ba tôi. Dù có đến bất cứ đâu nơi tràn ngập tiếng cười và hạnh phúc Nơi bình yên nhất chỉ có thể là ngôi nhà yêu dấu của tôi Thiên đường của tôi, niềm vui của tôi, điểm dừng chân của tôi Chỉ có thể là ngôi nhà của tôi - nơi hoa thơm đua nở với tiếng chim hót véo von. ... Mời các bạn đón đọc Ngôi Nhà Vui Vẻ của tác giả Gong Ji Young.
Gia Đình - Pa Chin
Pa Chin là một đại văn hào của Trung Hoa. Ông sinh năm 1905 tại Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên, một tỉnh hẻo lánh hiểm trở tại miền tây Trung Hoa, nơi còn giữ nhiều cổ tục trong một gia đình đại địa chủ, tôn trọng truyền thống “tứ đại đồng đường”: ông bà, cha mẹ chú bác cô dì và con cháu ở chung với nhau, tuân theo kỷ luật nghiêm khắc của đại gia trưởng. Tên thực của ông là Lý Nghiêu Đường, tự là Phế Cam. Cái bút hiệu Pa Chin của ông không có nghĩa gì, mà chỉ là do ghép vần đầu và vần cuối của hai tên nhà văn người Nga mà ông ngưỡng mộ. Đó là Bakunin và Kropotkin. Trong cuộc Cách mạng Văn hóa kinh thiên động địa của Mao Trạch Đông nhằm loại trừ các đối thủ chính trị, ông bị buộc tội đã viết “mười bốn tác phẩm độc hại,” trong đó có cuốn tiểu thuyết Gia Đình. Không những ông bị đấu tố dã man và lao động nhục nhằn vì tác phẩm của ông, mà vợ con ông cũng bị hành hạ tàn nhẫn, chỉ vì tội là vợ và con của ông. Đầu thế kỷ hai mươi là một thời kỳ đại loạn tại Trung Hoa, với một nếp sống hàng ngàn năm đang bị nhổ rễ bởi một cuộc cách mạng cực đoan. Gia Đình là một trong những tiểu thuyết nổi tiếng thời ấy, đã linh động phản ảnh cái giai đoạn đen tối ấy, và có công dụng làm căn bản để hiểu những gì xảy ra sau đó. Pa Chin viết cuốn Gia Đình năm 1931 như là phần đầu của bộ trường thiên tiểu thuyết thành công nhất của ông: Kích Lưu Tam Bộ Khúc. Bộ này gồm có ba cuốn: Gia (Gia Đình), Xuân (Mùa Xuân),  Thu (Mùa Thu). Nhiều người so sánh cuốn Gia Đình của Pa Chin với tác phẩm Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần, vì cách mô tả tuyệt đích về đời sống gia đình và xã hội đương thời. Người ta cũng có thể coi tác phẩm Gia Đình là một cuốn tự truyện của Pa Chin. Nhân vật Giác Tuệ chính là Pa Chin, vì cả hai đều có nhiều điểm giống nhau: sinh trưởng trong một gia đình đại địa chủ, năm mười tuổi mồ côi mẹ, rồi vài năm sau mồ côi cha, sau đó lại mất người chị ruột và một người bạn gái rất thân thiết từ thời niên thiếu. Gia Đình là câu chuyện trong cái dinh cơ giầu có của nhà họ Cao, trong đó nhiều thế hệ sống chung với nhau cùng với rất nhiều gia nhân nô tỳ. Đó là một hình ảnh tương phản giữa nước Trung Hoa cổ và những đợt sóng mới trào dâng lên để hủy diệt cái xã hội cổ ấy, được biểu thị trong đời sống hàng ngày của nhà họ Cao, và đặc biệt là ba anh em nhà họ Cao còn trẻ là Cao Giác Tân, Cao Giác Dân và Cao Giác Tuệ. Tất cả là những xung đột: xung đột giữa các thế hệ và giai cấp, những mối tình tan vỡ đau thương vì bị gia đình ngăn cấm, hành động của các học sinh sinh viên chống lại chính quyền áp bức, và cuộc chiến đấu giải phóng phụ nữ. Cuốn Gia Đình có thể tạo ra cho độc giả những xúc cảm mạnh mẽ phức tạp và sầu buồn trước những kinh nghiệm tuyệt thảm nhân sầu của con người. *** Gió thổi mạnh; những bông tuyết trôi như bông gòn từ một chiếc mền bị xé rách, vật vờ rơi xuống. Từng lớp tuyết trắng chất đống tại chân tường hai bên đường, tạo ra một lề đường rộng cho lòng đường lầy lội tối tăm. Khách bộ hành và phu khiêng kiệu phấn đấu với gió và tuyết mà không có kết quả gì. Tất cả đều mệt mỏi trong khi tuyết đổ xuống mỗi lúc một nặng hơn. Tuyết tràn ngập bầu trời, tuôn xuống khắp nơi – trên dù, trên kiệu, trên áo choàng của phu khiêng kiệu, và trên mặt khách bộ hành. Gió thổi vùi dập những cây dù về mọi phía; một vài cái tuột khỏi tay người. Tiếng gió hú thê thảm, nhập với tiếng bước chân trên tuyết để làm thành một thứ âm thanh kỳ lạ khó chịu. Trận bão tuyết này sẽ ngự trị thế giới một thời gian thật lâu dài; dường như nó cảnh cáo mọi người ngoài đường rằng mặt trời ấm áp của mùa xuân sẽ không bao giờ trở lại nữa. Lúc đó gần tối rồi, nhưng đèn đường chưa thắp. Mọi vật dần dần biến mất vào một màn đêm màu xám. Nước và bùn ngập đường phố trong không khí lạnh giá buốt. Chỉ một ý nghĩ khuyến khích những người đi bộ đang phấn đấu giữa cái quang cảnh u ám này – rằng họ sắp được trở về với sự ấm áp và sáng sủa trong nhà. Một thanh niên 18 tuổi giục em, “Bước mau lên, Giác Tuệ, nếu không chúng ta sẽ về trễ bữa ăn tối.” Chàng một tay cầm dù, tay kia kéo cao mép chiếc áo bông. Bộ mặt tròn của chàng đỏ ửng vì lạnh trong khi chàng quay lại nói với người em; đôi kính gọng vàng nằm trên đầu mũi chàng. Giác Tuệ, người thanh niên bước phía sau, tuy cùng một khổ người và mặc cùng một thứ y phục, có vẻ trẻ hơn. Mặt chàng gầy hơn, hai mắt rất tinh anh. “Ðừng lo, chúng ta về gần tới nhà rồi. Anh ơi, trong buổi tập diễn hôm nay anh đóng xuất sắc nhất, tiếng Anh của anh tuôn ra tự nhiên trôi chảy. Anh đóng vai người bác sĩ thật là đúng; lời đối thoại và diễn xuất của anh rất hay.” Giác Tuệ nói một cách hứng khởi trong lúc chân bước mau hơn. Bùn bắn lên, hai ống quần của chàng đã lấm tấm vương bùn rồi. Người anh, Cao Giác Dân hơi chậm bước để chờ người em bắt kịp và nói một cách hãnh diện hài lòng: “Có gì đâu, chỉ vì tại anh bạo dạn hơn em thôi. Em quá nhút nhát, và vai Hắc Cẩu của em không đúng lắm. Hôm qua em đã học thuộc lòng vai ấy rồi mà? Tại sao em không nói được trong lúc tập diễn? Nếu không có giáo sư Chu nhắc thì em không thể đóng hết được màn đó.” Tuy người anh nói hết sức dịu dàng, không ngầm một ý chê trách, nhưng Giác Tuệ cũng mắc cở, máu dồn lên má trong lúc chàng nói một cách bối rối, như thể để tự hồi phục. “Em không biết tại sao, mỗi khi em lên sân khấu là em lại hoảng sợ; em cảm thấy như đứng trước rất đông người đang chăm chú nhìn em. Em cố gắng hết sức, em muốn nói lời đối thoại trơn chu…” ... Mời các bạn đón đọc Gia Đình của tác giả Pa Chin.
Dưới Cánh Thiên Thần Rượu - Jerzy Pilch
LỜI NGƯỜI DỊCH Jurus, nhân vật chính của tiểu thuyết, cũng là nhân vật dẫn chuyện, là một nhà văn, một con nghiện - nghiện rượu. Nhà văn “sâu rượu” này tổng cộng đã có tới mười tám lần đến cai nghiện tại Trung tâm cai nghiện rượu. Cứ sau mỗi lần ra viện Jurus lại tái nghiện, lại say xỉn, lại bất tỉnh, và khi tỉnh dậy lại thấy mình đang ở Trung tâm cai nghiện rượu. Đến nỗi bác sĩ Granada, Giám đốc Trung tâm, không muốn nhận Jurus nữa, vì ông bất lực, cho rằng anh ta không chịu cai rượu, không thể cai rượu, lại còn bướng bĩnh, cãi lấy được - thưa bác sĩ, làm gì có chuyện sống lâu và hạnh phúc mà lại không uống rượu nào? Trung tâm cai nghiện rượu là nơi thu dung những bợm rượu, những sâu rượu “chiến tích đầy mình”, nam có, nữ có. Họ là nhà văn, giáo sư, giáo viên, doanh nhân, cử nhân, sinh viên, lái xe, thợ cắt tóc... được gán cho những biệt danh dài lê thê nghe rất kêu: Nhà Thám Hiểm Colombo, Vua Đường, Cá Nhân Lao Động Tiên Tiến, Tên Khủng Bố Hiếm Có Trên Trần Đời, Nữ Hoàng Xứ Kent... Mỗi lần bác sĩ Granada hỏi, vì sao họ lại uống rượu, thì họ đưa ra cả ngàn lý do để biện minh, khiến bác sĩ bực mình, quát lớn: Các người uống rượu, vì các người uống rượu. Rồi ông chì chiết: Không một ai trong các vị sẽ lành bệnh, không một ai trong các vị sẽ cai được rượu. Đa phần các tình tiết của tiểu thuyết diễn ra tại Trung tâm cai nghiện rượu, nơi, ngoài việc sử dụng dược phẩm, người ta còn sử dụng các liệu pháp trị bệnh, trong đó trị liệu tâm lý có vai trò cực kỳ quan trọng. Tại đây các học viên - bệnh nhân cai nghiện, hàng ngày có nhiệm vụ phải viết nhật ký cảm xúc, thực chất là những lời tự thú, tự phê về nghiện rượu, rồi đem đọc cho nhau nghe; phải lên lớp nghe giảng bài về tác hại của rượu, phải trả lời các bài trắc nghiệm, phải đối thoại trị liệu với các nữ nhân viên trị liệu, phải tham gia các cuộc họp kiểm điểm công việc thường nhật, mỗi ngày, trước khi đi ngủ phải đo nồng độ cồn bằng cách thổi vào máy thử; tuyệt nhiên không được cất giấu, sử dụng bất kỳ thứ gì có liên quan đến rượu, cồn, dù đó là nước hoa, nước khử mùi. Nghiêm ngặt đến mức các nữ nhân viên trị liệu phải thường xuyên kiểm tra tủ cá nhân của bệnh nhân-học viên cai nghiện, để tìm xem, có cồn giấu trong tuýp thuốc đánh răng, rượu trắng giấu trong vỏ chai shampoo, thuốc ngủ giấu dưới chăn, gối hay không. Cuộc “hành xác” hướng tới mục tiêu cai nghiện rượu tại trung tâm này diễn ra vô cùng cam go, cực kỳ khốc liệt, nhưng kết quả thường chẳng mấy lạc quan, vì “ngựa theo đường cũ”. Tại đây có lắm chuyện bi hài, cười ra nước mắt, chẳng hạn chuyện “đạo văn”, chuyện “người già cũng khóc” như trẻ con, chuyện trốn viện... Tuy nhiên, tất cả các bệnh nhân cai nghiện ở trung tâm, ai cũng có nét đáng yêu, đáng quý. Lại nói về nhà văn - con nghiện Jurus, nhân vật chính của tiểu thuyết. Là một nhà văn, có tài viết lách, anh được “các bạn chiến đấu” tại trung tâm quý mến, tin yêu và nhờ vả. Tại vì anh văn hay chữ tốt cho nên họ nhờ anh “viết hộ” các bài văn tự thú về nghiện rượu, để nộp, để đọc, theo yêu cầu của trung tâm. Jurus viết theo lời họ kể, hoặc phịa ra, nhưng phải là thứ văn thật bình dân, thêm mắm thêm muối cho nó thành bài văn tự thú “thứ thiệt” của học viên. “Thù lao” thường bằng hiện vật, như chuối, cam, sôcôla, thuốc lá, nước dứa hộp, đồ ăn, vài đồng zlôty lẻ hoặc các thứ vặt vãnh khác. Dẫu sao Jurus cũng có đất “dụng võ”, tha hồ “trổ tài văn chương”, tuy “nhuận bút” chẳng bõ bèn gì. Ấy vậy mà cũng nảy sinh ối chuyện rắc rối, chẳng hạn chuyện “đạo văn” gây thù oán lẫn nhau mà Jurus cảm thấy mình cũng mắc tội. Nhưng cũng có lần anh thoát hiểm. Chẳng hạn, anh bị bác sĩ trị liệu Quasi Mojzesz alias Ja Alkohol bắt quả tang đang viết hộ “nhật ký cảm xúc” cho con nghiện - lái xe, được mệnh danh là Tên Khủng Bố Hiếm Có Trên Trần Đời, vậy mà anh vẫn bình an vô sự!? Gia đình nhà văn Jurus là gia đình uống rượu truyền đời. Ông nội Stary Kubica, một điền chủ, khuynh gia bại sản vì nghiện rượu, phải bán con ngựa cái Fuchs yêu quý, thứ của nả có giá cuối cùng còn lại trong nhà. Jurus tâm sự với nàng Alberta Lulai: Anh uống rượu vì anh theo di truyền. Các cụ tổ nhà anh, tất cả đều uống rượu. Ông nội, ông ngoại anh uống rượu, bố anh uống rượu và mẹ anh cũng uống rượu. Anh không có chị, cũng chẳng có anh, nhưng anh dám chắc: nếu trên đời này có các chị của anh và các anh của anh thì có lẽ tất cả các chị của anh đều uống rượu, tất cả các anh của anh cũng đều uống rượu . Jurus là con nghiện, nghiện nặng, rượu đã ngấm vào máu thịt, cho nên đối với nhà văn này, cai rượu hầu như là chuyện viễn vông, vô vọng. Mười tám lần cai rượu bất thành tại trung tâm đã chứng tỏ điều này. Thường thì, sau khoảng sáu tuần điều trị Jurus lại ra viện, và rồi anh lại hành động như mọi khi, lại đến quán rượu “Dưới cánh Thiên thần Rượu” , lại đi thang máy lên nhà mình trên tầng mười hai, lại ngạc nhiên, ngỡ ngàng, đứng lặng người một hồi lâu ở ngưỡng cửa, khi thấy nhà cửa bẩn thỉu, bề bộn, đồ đạc bừa bãi, lộn xộn, cứ ngỡ rằng có kẻ đã đến ở và phá phách nhà mình khi anh vắng nhà. Jurus không hề nghĩ ra, tất cả mọi thứ “lộn tùng phèo” đó chính là hậu quả của say xỉn, của hôn mê, là do chính anh gây nên, trước khi anh lại được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Trung tâm cai nghiện rượu. Đã có lúc anh bi quan tính rằng, với lượng rượu khổng lồ mà anh đã đổ vào trong bụng mình trong vòng hai chục năm qua, thì chỉ còn thiếu năm chai rượu nữa thôi là đủ lượng độc tố để thần chết lôi anh về nơi chín suối, thậm chí không cần đến năm mà chỉ cần ba chai. Nhưng mối tình, được gọi là tình yêu cuối cùng trước khi nhắm mắt xuôi tay của anh, với nữ “nhà thơ” Alberta Lulai, người đàn bà mặc váy màu vàng, sau này là áo màu đen, đã cứu nhà văn thoát khỏi vũng bùn nghiện ngập: Anh đi tìm tình yêu trước khi nhắm mắt xuôi tay, nhưng anh lại tìm được tình yêu ban cho anh sự sống... Em đến với anh vào thời khắc khi anh đặt dấu chấm hết lên đời mình... Đã có lúc anh muốn tự tử vì không bỏ rượu được...Khi anh nói, anh bỏ rượu vì em là anh nói thật lòng. Khi anh nói anh bỏ rượu vì chúng ta, là anh nói thật lòng. Vì không có em thì chẳng có anh, không có chúng ta thì chẳng có anh. Từ “anh” của anh không còn là số ít nữa rồi . Có lẽ tác giả của Dưới cánh Thiên thần Rượu muốn cho thấy sức mạnh của tình yêu, cái có thể biến điều không thể thành có thể. Sẽ không ngoa chút nào nếu nói, Alberta Lulai là bậc cứu tinh của Jurus. Nhờ có nàng mà Jurus đã tỉnh mộng, chọn đúng đường và làm được điều thoạt tiên tưởng chừng không tưởng: Nhưng cháu đang chọn sự sống, lúc này một tình yêu mãnh liệt như tiếng hát của ông đang cặp kè cùng cháu, tình yêu này đang cứu vớt cháu. Rốt cuộc anh có hầu như tất cả, cai được rượu, có tình yêu, có tác phẩm văn học và lại lạc quan, lại yêu đời. Anh khoe tiếp với ông nội quá cố của mình : Chứng nghiện rượu của chúng ta, thủ phạm đã giết ông, đang tách rời khỏi cháu, như da rắn đang tách rời khỏi thân rắn lột. Ông nội ơi, cháu thắng lợi rồi, cháu chia sẻ cùng ông thắng lợi này của cháu, cháu đang viết về ông, cháu đang viết về cháu, chẳng những để chứng tỏ rằng thiên tiểu thuyết thứ thiệt về cai nghiện rượu này không kết thúc bằng cái chết, trái lại, nó đang kết thúc bằng sự sống.... Sự xuất hiện đầy bí ẩn, y như trong thần thoại, của nhân vật Jozef Cieslar, người tự nhận là bạn đồng môn Trường Chúa Nhật của Jurus thời thơ ấu, khiến người đọc không khỏi tò mò về thực tâm và thực chất của nhân vật này. Đây là một thiên tiểu thuyết viết khá chân thật và rất thực tế, bất kể ngoa ngôn, bốc đồng và những lời mê sảng của nhân vật. Pilch đã miêu tả một cách trung thành trên giấy những suy tư, trăn trở, những dằn vặt, đau khổ của người nghiện rượu và thế giới bé nhỏ của họ. Người ta nói, trong tiểu thuyết Dưới cánh Thiên thần Rượu, tác giả là nhân vật chính, nhân vật chính là tác giả. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn Jerzy Pilch nói rằng, ông chẳng xa lạ gì chuyện nghiện rượu. Phải chăng ông muốn viết tiểu thuyết thể loại tự sự (hay tự truyện), như là một liệu pháp cai nghiện cho bản thân mình? Trong văn học, sự thật mà không phải là sự thật, không phải là sự thật mà lại là sự thật, là chuyện thường tình. Khi bắt tay vào viết thiên tiểu thuyết này, Jerzy Pilch định xây dựng một “tác phẩm súng lục”, một “tác phẩm tối hậu thư”, cho nên ông mới tuyên bố: “tôi viết rồi tôi chết”. Ấy vậy mà thiên tiểu thuyết đã kết thúc rất có hậu, khiến người đọc lấy làm mừng, mừng cho nhân vật chính Jurus, mừng cho tác giả Jerzy Pilch. Kết thúc “có hậu” này cũng chính là nét riêng, là sự khác biệt giữa tiểu thuyết Dưới cánh Thiên thần Rượu và các cuốn tiểu thuyết khác viết về đề tài rượu, khi kết cục thường bi đát. Cho nên, tiểu thuyết Dưới cánh Thiên thần Rượu khiến người ta nghĩ tới một chức năng mới của văn học, chức năng chữa trị. Một câu hỏi được đặt ra: Phải chăng văn học là một liệu pháp? Hoặc: Phải chăng có Bộ môn tiểu thuyết trị liệu? Rượu là một thức uống hết sức gần gũi và quen thuộc với nhiều người, nhất là nam giới - Nam vô tửu như kỳ vô phong . Nói rượu là niềm vui: - đúng, bảo rượu là nỗi buồn: - không sai. Rượu là niềm vui hay nỗi buồn, điều này hoàn toàn tùy thuộc vào mỗi người chúng ta. Tuy nhiên, nghiện rượu đang là vấn đề xã hội nhức nhối, bức xúc ngang với nạn nghiện ma túy, là nỗi khổ không riêng của một quốc gia nào [1] . Cho nên, bằng việc xây dựng hẳn một thiên tiểu thuyết về uống rượu, nghiện rượu và cai rượu, Pilch đã nhằm trúng vấn đề nóng bỏng đang là mối quan tâm của mỗi nhà, mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia và của toàn nhân loại. Với lối viết khoáng đạt, lắm khi trào lộng (chẳng hạn, máy vi tính thua con người trong cuộc đấu rượu, đến nỗi nôn thốc nôn tháo toàn bộ ổ cứng của mình...), bằng thủ pháp đồng hiện, hư hư thực thực, quá khứ và hiện tại đan xen như mắc cửi, lúc tỉnh, lúc say, lúc mê sảng, mộng mị và ảo giác, với ngòi bút điêu luyện và sắc sảo của mình, Pilch đã kể cho chúng ta nghe câu chuyện giàu tính nhân văn về sự sống và cái chết mà chính nhà văn từng dấn thân vào. Ông đã đưa người đọc vào thế giới kinh dị của Thiên thần Rượu, nơi ma men tác oai tác quái. Giải thưởng Nike 2001 (trị giá trên 30 ngàn đô la), giải thưởng văn học hàng năm danh giá nhất Ba Lan mà nhà văn Jerzy Pilch được nhận, là phần thưởng cao quý, khẳng định giá trị của tác phẩm và tài năng của nhà văn. Chỉ trong một thời gian rất ngắn sau khi xuất bản, Dưới cánh Thiên thần Rượu đã bán được trên 100 ngàn bản, tối hôm trước công bố giải thưởng, thì ngay sáng hôm sau, 15 ngàn bản của tiểu thuyết đã bán hết veo. Đây là tác phẩm bán chạy nhất trong số tất cả những tác phẩm văn học được tặng Giải thưởng Văn học Nike từ trước đến nay. Trong những năm vừa qua Dưới cánh Thiên thần rượu tiếp tục được tái bản nhiều lần, được bạn đọc Ba Lan và nước ngoài mến mộ. Lần tái bản gần đây nhất là vào tháng 2 năm 2012, do Swiat Ksiazki ấn hành, với bìa sách mới thiết kế, có hình chiếc cốc uống rượu dốc ngược. Dưới cánh Thiên thần Rượu đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, như: Anh, Bungari, Estonia, Pháp, Hy Lạp, Hà Lan, Litva, Đức, Nga, Xlôvakia, Serbia... Năm 2003, Dưới cánh Thiên thần Rượu đã được Nhà hát mang tên Juliusz Slowacki ở thành phố Krakow đưa lên sân khấu, nghệ sĩ Rafal Sabara đạo diễn. Vở kịch độc đáo, giàu chất “men” và mới lạ này đã được dân chúng cố đô hồ hởi đón xem. Dịch tiểu thuyết Dưới cánh Thiên thần Rượu sang tiếng Việt, người dịch muốn mang đến cho bạn đọc nước nhà một thiên tiểu thuyết đương đại của Ba Lan về đề tài vốn rất gần gũi và quen thuộc đối với mỗi người chúng ta trong đời thường, nhưng lại chưa có mấy nhà văn bỏ công khai thác đến nơi đến chốn. Nếu người dịch không nhầm thì ngay tại Việt Nam ta “thơ say” thì có, nhưng “tiểu thuyết say” thì chưa. Mong rằng tiểu thuyết Dưới cánh Thiên thần Rượu của nhà văn Jerzy Pilch sẽ mang đến cho bạn đọc những gợi mở, những cảm xúc mới lạ, nhiều thú vị và bổ ích. Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2012 Nhà văn, dịch giả Lê Bá Thự Tặng Ewa-Ewenlina *** Trước khi trong nhà tôi xuất hiện toán mafia đi cùng nữ nhà thơ da bánh mật Alberta Lulai, trước khi bọn họ bứt tôi khỏi giấc mơ say và trước khi họ đòi tôi - thoạt tiên là những yêu cầu theo kiểu giả nhân giả nghĩa, sau đó là những lời đe dọa láo xược - đừng gây khó dễ cho việc in thơ của Alberta Lulai trên tờ “Tuần báo Phổ thông”, trước khi xảy ra những sự kiện bão bùng mà tôi định kể, thì đã có ngày hôm trước của những sự kiện đó, đã có buổi sáng sớm và buổi tối của ngày hôm trước, và từ sáng sớm cho đến tối ngày hôm trước đó tôi uống rượu đào. Đúng vậy, tôi uống rượu đào, khát khao cháy bỏng có được mối tình cuối cùng trước khi nhắm mắt xuôi tay, và tôi đã lún sâu vào cuộc sống suy đồi. Buổi sáng vẫn chưa có chuyện gì xảy ra, tôi vẫn kiềm chế được, thậm chí giữ được chừng mực. Tôi nằm trên sofa, đọc báo và nghe mấy đĩa nhạc của nghệ sĩ saxophone tenor người Séc, Felix Slovacek. Nhưng tới gần trưa, toàn bộ các nhạc phẩm mà Slovacek trình tấu chỉ có độc một bài lọt được vào tâm trí tôi, đó là nhạc phẩm của Karel Svoboda có tiêu đề Where’ ve you got your nest, litte bird? [1] Tôi nghe và tôi luận, trong nguyên văn tiếng Séc nó phải như thế nào “Kde je tvoje hnizdo, ptacatko?”, hay là “Kde je tvoje hnizdo, ptacku?”. Nhưng tôi không quyết định nổi, nên chọn từ nào: từ ptacku - yếu hơn, hay từ ptacatko - mạnh hơn, thì nghe hay hơn và thích hợp hơn, cũng vì cảm giác bất lực về ngôn từ (cho dù vẫn tiếp tục say mê) thỉnh thoảng tôi lại bật dậy khỏi ghế, đi ra chỗ chiếc máy hát và mở lại bản nhạc làm rung động lòng tôi. Đó là một ngày tháng bảy đẹp trời, từ tầng mười hai tôi nhìn thấy rõ những ngọn đồi bao quanh thành phố, tiếp nữa là đất bằng, đồng ruộng, cột điện, đường ray xe lửa, dòng sông sáng bạc trôi hiền hòa, những dãy núi phía chân trời, thành phố Wisla [2] tựa hòn đá trắng dưới đáy thung lũng rừng thông, quán “Piast” và khu vườn thơm mùi cỏ xén kề bên quán, ong mật, bướm, bay vù vù bên trên các vại bia. Con chó của bác sĩ Swobodziczka đang tớp suất bia của mình đựng trong chiếc nồi nhôm - ông qua đời cách đây một năm, nhưng con chó của ông quen ăn, hàng ngày vẫn lui tới quán, ở đây những con người vẫn đang sống trút bia hơi Zywiec [3] từ các cốc vại, đổ đầy nồi cho nó. Tôi đã nhìn thấy rõ mọi thứ đó, như tôi đã ở đó, cũng như tại đây, nơi tôi hiện diện, tôi nhìn thấy tất cả: cửa sổ các ngôi nhà mở toang, những chiếc ô tô kiểu cổ, thon, tròn, di chuyển trên đường phố, một người đàn bà mặc váy dây màu vàng đứng bên máy rút tiền tự động. Nhìn từ trên cao tôi có cảm giác đây là một người đàn bà thông minh và xinh đẹp. Tự dưng tôi đinh ninh trong bụng, nàng chính là tình yêu cuối cùng của đời tôi. Đó là một sự đinh ninh bao trùm tất cả, không chỉ phần say của tôi, mà cả phần tỉnh của tôi, và tuốt tuột tất các bộ phận không xác định, tất thảy các bộ phận bí ẩn về mặt tỉnh táo của tâm hồn tôi, đều có cảm giác đó. Tôi cần phải mặc quần áo ngay lập tức, xức nước hoa, không đợi thang máy, chạy bộ ngay xuống dưới nhà và đuổi theo nàng. Trong một giây lát tôi đã chần chừ vì lòng tự trọng, liệu có nên làm như vậy hay không. Thế nhưng chiếc máy rút tiền tự động, chiếc máy rút tiền tự động đã gạt phăng mối tình này của tôi. Tôi mà chạy xuống dưới nhà và đuổi theo nàng, thì chắc tôi sẽ hành động như tôi vẫn luôn luôn hành động: tôi sẽ rón rén bước theo sau nàng y như tên giết người trên phim truyền hình nhiều tập, tôi bước theo nàng, xảo quyệt và kiên tâm, tôi cứ đi như vậy cho tới khi nàng phát hiện ra tôi, nàng hốt hoảng khi nghĩ bụng, có kẻ đang bám riết nàng. Sau đó, trong chốc lát nàng nhìn tôi và để ý tôi, tiếp nữa với nỗi thất vọng của một tên vô lại đã bị bại lộ, tôi tiếp tục cuộc rượt đuổi cho đến khi sự lo lắng, nỗi sợ hãi và máu tò mò bắt đầu hòa trộn với nhau thành một thứ thuốc nổ... Lúc bấy giờ, để ngăn ngừa vụ nổ, tôi sẽ bước nhanh chân, đi ngang bằng với nàng, cúi chào nàng một cách lịch sự và cất giọng nhỏ nhẹ: ... Mời các bạn đón đọc Dưới Cánh Thiên Thần Rượu của tác giả Jerzy Pilch.