Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Dấu Binh Lửa

Tác phẩm đầu tay của ông là cuốn Dấu Binh Lửa (1969). Tiếp theo là các tác phẩm: Dọc Đường Số Một, Ải Trần-gian (1970), Mùa Hè Đỏ Lửa (1972), Dựa Lưng Nỗi Chết (1973) và Tù Binh và Hòa Bình (1974). Những tác phẩm của ông đều lấy Chiến tranh Việt Nam làm bối cảnh. Sau 1975, ông bị bắt giam vào trại tập trung cải tạo 14 năm (1975-1989). Trong nhiều lần bị biệt giam hàng năm trời trong hầm tối, ông cũng làm ra nhiều bài thơ. Tuy sau ông được thả, nhưng lại bị quản chế tại gia ở Lái Thiêu, Bình Dương. Năm 1993 ông sang Mỹ định cư và cho ra mắt những tác phẩm: Những Chuyện Cần Được Kể Lại, Đường Trường Xa-xăm (1995), Đêm Tận Thất-thanh và Mùa Đông Giữ Lửa (1997). Năm 2002 cuốn Những Chuyện Cần Được Kể Lại được phát hành với ấn bản tiếng Anh dưới tựa The Stories Must Be Told. *** Theo lời dặn của C— Anh cố vấn văn chương— Tôi phải viết một cái tựa thật hách, ngắn, cô đọng và hay ho không chịu được... Nhưng viết thế nào để có thể gọi là " hách"? Thôi, tôi mở đầu bằng cách bày tỏ nguyên do đồng thời đề biện hộ cho những dòng viết ở những trang sau. Đến cái tuổi này lẽ tất nhiên tôi chẳng hy vọng gì nơi văn chương nữa, cũng không thể ước mơ nhờ cái ngõ văn chương để kiếm một chút danh gia. Hơn nữa, danh vọng của một người viết văn ở Việt Nam cũng chẳng lấy gì làm sáng sủa. Bao nhiêu năm làm văn nghệ, cũ như Lê Văn Trương, Đinh Hùng, mới như Quách Thoại, đến khi chết đi thì cũng chẳng còn gì - Thế Phong đó - anh chàng làm văn nghệ như một gã tiền phong, "Nửa đường đi xuống" phải đóng bộ ka-ki độ nhật qua ngày với tờ báo của Không Quân. Thế nên tôi chẳng hy vọng gì ở cái "nghề của chàng" nữa. Nhưng vẫn muốn viết, viết như một "nhu cầu", nói cho có vẻ thiết tha. Tôi đâu phải là hoàng tử văn chương ngoại hạng, xem chuyện viết lách như một công việc nghiêm trang giữa người và thế giới bí ẩn của chữ nghĩa, viết đối với tôi đúng ra chỉ là một cách thoát hơi— Viết để khoỉ ấm ức bực mình. Sau tám năm ở lính, thời gian thoải mái thật hiếm hoi, những phiền toái có duyên cớ hay không, chính danh hay ẩn dấu hình như chực sẵn ở trong người, có cơ hội sẽ dấy lên như giông bão. Đôi khi tôi thấy thật yêu cái nghề này, nó tạo cho con người tính kiên nhẫn, lòng vị tha, chế ngự những hèn mọn của mình. Nhưng cũng có lúc tôi thấy nó thật tệ, không có một nghề nghiệp nào ù lì, cứng đọng và thụ động bằng " đi lính ", chỉ cần thừa hành trong một giới hạn thật sít sao, thế là đủ. Có nhiều lúc tôi muốn ném tung hết tôn ti trật tự, bộ quần áo trên người để thong dong giang hồ một chuyến tự do, nhưng đồng thời cũng vừa khám phá, đang bị buộc chặt, đã quen với đời sống này. Thật khó khăn khi phải nói chuyện với một anh dân sự, hình như tôi và hắn ta ở hai thế giới thật khác xa nhau. Tôi cũng muốn viết về đời sống lính với những con người thật lạ. Năm 1966, có gã lính thật trẻ ở đại đội tôi, hắn ta thấp bé da xanh mướt ốm yếu, nhưng uống rượu kinh khiếp, hai lít rượu đế hắn uống tỉnh bơ, hình như rượu không tạo nên phản ứng nào trong người. Ngoài cuộc rượu, y bình lặng kín đáo như một con ốc. Một hôm đứng gác, sẵn súng ở tay, hắn bắn vào đầu tự vận. Tôi không biết nỗi thất vọng kinh khủng nào trong đầu một thằng bé 19 tuổi. Đức " điên " Biệt động quân, quan Ba, Tiểu đoàn phó, đi hành quân mang khẩu M.79 chạy trước hàng lính, về Sài Gòn đi chơi, mặc một chiếc áo bà ba đen, dưới quần lính, chân mang dép Nhật, trang bị thêm một con dao đi rừng. Tôi không hiểu nó nhìn đời thế nào qua cặp kính trắng dày cộm khi trên người trang bị với phụ tùng như thế. Đại khái ở lính có những loại người " bất bình thường " như vậy, và trong đám bất bình thường trên lại chen lẫn vài kẻ bình thường thật kỳ quái. Thiên, anh chàng đi theo tôi trong hai năm, một ngày chỉ nói khoảng hai mươi tiếng: dạ, vâng... Thế là hết. Nó ở xa, tôi gọi đến vỡ phổi không tiếng trả lời, lát sau lặng lẽ đi đến. " Tao kêu mày có nghe không?..". " Dạ có ". " Thế sao mày không trả lời? ". Thiên bóp bóp hai bàn tay đứng im. Thấy những người lính khác bắt gà, nó cũng bắt một con treo trên ba-lô, đi một đoạn vắng người, thả chạy, xong làm dấu Thánh giá đọc kinh. Đi lính tôi có nhiều "thế" sống thật đặc biệt. Chiều 29 Tết năm 1963 ởchân đèo Rọ Tượng, Khánh Hòa, căn cứ Lầy, trời rét như cắt ruột, mưa phùn bay mù mịt, chúng tôi đứng trong nước sình ngập đến ngực, lạnh, đói, đã gần năm ngày liên tiếp mình mẩy không bao giờ được khô. Dân chúng đi từ Ninh Hòa về Nha Trang tưởng chúng tôi là tù binh, ném bánh ú từ trên xe xuống cho, một vài bà già chấm nước mắt khóc vì thương hại. Nhưng chúng tôi vẫn vui như tết, Năng và tôi nhặt bánh ú ngồi ăn ngon lành, cả hai đứa đều là những " Tân Sĩ Quan " vừa quỳ xuống đứng dậy cách đây một tháng để lãnh nhiệm vụ gánh vác non sông! Chúng tôi hãnh diện với nỗi cực khổ của mỗi phút chịu đựng, lòng không một chút ta thán... Nhưng lúc gặp nhau ở Sài Gòn, hai thằng đem nhà binh ra nạo đến sát ván không chút nể nang. Bình Giã đói và khát hai ngày đến nỗi lính phải hút nước ở rễ cây, có tên uống phải rễ cây độc đứng tim chết. Kéo quân ra Phù Mỹ, uống một nón sắt nước ruộng nhưng lòng không phiền hà. Mười chín tháng Ba 1965 kéo về Sài Gòn đóng ở Đài phát thanh, cô-ca lạnh mát nuốt vào khó khăn không làm dịu được nỗi oi ả ở trong lòng. Chính vì những cảnh đời đa đoan này mà tôi phải viết. Không viết thì phí đi, bạn bè bảo tôi như vậy. Thế là tôi viết, và đến bây giờ coi như xong, nhưng chắc rằng chưa đủ. Xem lại chợt thấy bùi ngùi và thương thân. Bao năm tháng tột cùng của cực khổ và gian nan, đầy dẫy tủi nhục để viết được chừng này? Thấy mình tội nghiệp lạ lùng. Rồi kết quả ra sao? Coi chừng lại bị đụng chạm, lôi thôi với chính phủ thì thật là khốn nạn! Người lính đánh máy hộ cảnh cáo. Trong thời gian sau này, thường thường những giấc mơ của tôi cuối cùng dẫn đến một chủ đề - Nước. Tôi mơ thấytrời mưa, mơ thấy được tắm trong dòng suối, được vùng vẫy trong sông lớn. Kỳ cục hơn có hôm tôi mơ bị mắc cạn trong cống rãnh. Về mặt sinh lý người ta bảo đó là hiện tượng yếu thận, tâm lý bảo đấy là ý định muốn giải thoát— Có thể đúng như vậy, vì tôi đang yếu thận đồng thời luôn luôn có cảm giác "lạ" với đời sống này. Tôi không coi những ngày đang sống là sống thực. Sống bây giờ là sống gởi, cõi mơ ước nào đó mới là quê hương thật. Nhưng đúng chỉ là mơ ước, vì còn một nơi chốn nào khác ngoài cuộc đời ngặt nghèo này— Chỉ còn một cõi trong tôi. Nhưng thôi, "tác phẩm" khi đã xong có phần đời của nó - hai mươi sáu tuổi - tám năm lính để lại gia tài trăm trang giấy! Có một vị đắng ở đầu lưỡi. Nhưng nói cùng ai? Tôi cũng trốn tôi trong câu hỏi này. Tuy nhiên khi viết xong, đọc lại thấy vừa lòng nhưng đồng thời một vài ý nghĩ thật lạ xảy đến. Những ý nghĩ trong chiều mưa, mưa thật lớn trên đồi cao, gió thật mạnh, doanh trại vắng vẻ như bãi tha ma. Ngồi một mình nhìn ra khoảng không gian xám đặc... Con chim sẻ trốn mưa bay vào phòng đậu trên thành giường, sù lông rũ nước kêu lên những tiếng nhỏ thật cô đơn. Tôi cũng như con chim nhỏ trong chiều mưa này. Và từ đó thấy trong lòng những tình lạ thật thiết tha, hồn hậu như của những ngày vừa mới lớn. Tôi thấy những điều viết quá hằn học, nhiều thù hận và độc đoán. Trước tiên đối với người Mỹ. Những sự kiện gần đây, cảnh hai phi hành gia bước chập choạng trên mặt trăng. Những bước đi đầu tiên của con người trên một hành tinh khác. Lẽ tất nhiên tôi không a dua theo một phong trào để hoan nghinh sự thành công của Apollo 11, đã từ lâu tôi không xem trọng thí nghiệm này. Chỉ có cảm phục khi nghĩ đến những công tác khoa học tinh vi và chính xác để ráp nối phi thuyền mẹ với Nguyệt xa, tiếng nói của những phi hành gia được chuyền thẳng về trái đất rõ mồm một. Trước thành công như trên làm sao tôi không hoan nghênh? Nhưng tổng quát tôi vẫn không thán phục, kết quả cũng không có gì cụ thể để giúp ích cho một khối dân khốn cùng nằm dài trên hai cõi Á, Phi. Trong khổ cực của quê hương này tôi không thể nào quá ngưỡng mộ thành công ở trời xa. Nhưng tôi chịu nhất là thái độ phóng khoáng, cử chỉ hào hiệp của người Mỹ trong vụ này, họ đã hãnh diện dưới danh nghĩa — Một sự tiến bộ của nhân loại. Sự rộng rãi này làm cho tôi kính phục. Ngoài ra một hôm có việc cần phải vào bệnh viện 3 Dã chiến Hoa Kỳ, thấy một anh lính Mỹ đẩy chiếc xe trên có một anh khác bị thương ở chân, anh chàng đẩy xe cũng là thương binh, gầy ốm, tóc vàng hoe mọc dài xuống gáy, mang đôi kính cận thị dày cộm, nét mặt hồn nhiên và treœ thơ. Và tôi đã nghĩ rằng khuôn mặt trẻo thơ đó, nếu đem biến thành đối tượng cho những nhận xét hằn học đầy thù nghịch của tôi thật đáng tội nghiệp. Chiến tranh đã kéo y qua đất nước này, chịu đựng những khổ cực vượt ra ngoài ý niệm của người Mỹ, nay bị thương đôi mắt vẫn còn trong sáng và trẻ thơ — Dấu hiệu của tâm hồn chưa bị vấy bẩn bởi cuộc chiến này. Nhìn sự ngây thơ trung thực đó, nghĩ đến những phán đoán của mình quả độc đoán và quá độ. Gần hai năm nay, mỗi ngày phải uống tám viên Nevrosvitamin 4 để làm dịu xuống những bứt rứt hiện thành phản ứng không kìm hãm... Thiếu những viên thuốc đỏ đó, người tôi như nung trên một lò lửa đang đỏ, đầu óc muốn nổ tung, chân tay ít nhất phải đập phá một vật gì, tôi sợ tiếng động và chốn đông người một cách bất thường. Nhưng hai tháng sau này tôi bỏ được nhu cầu uống thuốc đó, suốt ngày đánh trần nằm trên bãi cỏ trước phòng ngủ, doanh trại hậu cứ hoang vắng một cách dễ chịu, phía xa những ngọn đồi Tăng Nhơn Phú chạy dài bình yên. Trong sự bình yên này, đọc lại những điều đã viết quá trớn, thấy ân oán giang hồ, đụng chạm đến nhiều giới. Tôi muốn đưa cuốn sách cho những người nhỏ tuổi đọc, để dò xem phản ứng của những người chưa bị ảnh hửơng cuả chiến tranh, nhưng ngần ngại vì thấy những điều mình viết không trong sáng. Lẽ tất nhiên một cuốn bút ký không thể nào nằm dưới kìm kẹp của ý thức luân lý bình thường được, hơn nữa bút ký về cuộc chiến tranh nhọc nhằn. Nhưng nhìn thấy toàn bộ những điều đã viết chỉ có một nỗi hằn học, uất hận nên tự hỏi rằng có quá đáng hay không? Thấy đàn trẻ đi thi tú tài, nhớ lại mười năm trước cũng ở trong nguồn trong sáng đó, thế tại sao có những đổi thay tàn bạo và quá đáng như kia? Tôi lại gặp Banh, người bạn cũ ở Đà Nẵng, gặp Banh để nhớ lại một cái Tết thật tang thương, hai mươi chín Tết không thức ăn - hai mươi chín tết - thời gian thật khó thể đi kiếm một bữa cơm. Banh đạp xe trên hai mươi cây số về làng quê Quảng Nam xin mươi quả trứng vịt, và hai đứa đã đón xuân bằng những quả trứng trong suốt ba ngày Tết. Gặp Banh để nhớ rằng trong những ngày khốn khó đó, tôi vẫn luôn luôn thắp sáng cho mình ngọn lửa hy vọng và những tình cảm tốt đẹp. Những sự kiện kể trên gây cho tôi cảm giác ngại ngùng khi đọc lại những điều ghi được của tám năm binh lửa. Không lẽ suốt đoạn đời này tôi chỉ có khốn khó và thù hận thôi sao? Từ đó phát sinh ra những ý hướng chối bỏ, như dấu chàm của một niềm tuỉ hổ, và ao ước được thấy điều mình viết mang niềm vui hồn nhiên trong sáng. Nhưng tám năm lính của tôi niềm vui quả thật ít, ít đến tội nghiệp khi đem so sánh với nhọc nhằn đằng đẵng. Tám năm, thời gian gần bằng đoạn đời của gã nông phu Johann Moritz lang thang qua các trại tù của giai đoạn Âu Châu máu lửa, nhưng trước và sau tám năm đó, anh bạn Lỗ còn có những ngày vui hy vọng. Tôi có gì vui trước tám năm này và hy vọng nào về một Việt Nam hậu chiến. Nhưng thôi, có nói hoài thì cũng chỉ kéo dài thêm lời than thở hèn mọn. Điều mong ước là được xóa đi những hằn học và thù hận. Sự đụng chạm nếu có ở một vài đối tượng nào đó thì xin nghĩ rằng đây chỉ là những ý nghĩ của một người muốn chân thật với mình trong hoàn cảnh khắt khe. Lỗi không phải là ở sự thành thật đó. Đây là lỗi của một cảnh đời. Tội của những người trong chúng ta đã bất lực trước định mệnh, để bị cuốn trôi hết tình người — Thôi, đây là tội trong mỗi chúng ta. 10 tháng 9 năm 1969 Long Bình Việt Nam *** Tiếng Việt qủa thần diệu, có những chữ thật đơn sơ cũng đủ sức để tạo thành hình ảnh linh động. Những chữ với âm thanh tầm thường khô cứng như tiếng gõ vô nghĩa trên mặt bàn của một bàn tay nhàn rỗi, trong giây phút trống rỗng. "ở lính" nghe buồn buồn, nhạt nhạt, vô nghĩa nhưng chất chứa chịu đựng ngặt nghèo lặng lẽ. Tôi đã ở lính tám năm, sau thời gian đằng đẵng đó những danh từ to lớn như đầu quân, gia nhập quân đội, người chiến binh, đời quân ngũ hay thời thượng vụng về như tuổi lính, tuổi chiến trường đối với tôi vô duyên như sau lần ân ái ngượng ngùng. Tôi ở lính tám năm, năm nay hai mươi sáu, đi lính năm mười tám. Suốt tám năm của thời lớn lên tôi đem tặng hết cho quân đội, và không phaỉ đến bây giờ vì thất vọng, chán nản do công danh không toại ý, cuộc sống bị ép buộc không đúng như mơ ước nên cay cú hằn học với nhà binh. Không như vậy, tôi đi lính năm mười tám tuổi vào học trường tình nguyện ra làm ông quan Một. Chẳng có ai lôi kéo tôi vào trường ấy, tôi tự động hăng hái, hãnh diện để trở thành một sinh viên sĩ quan với ý nghĩ đã chọn đúng cho mình hướng đi, một chỗ đứng dưới ánh mặt trời. Tôi có những rung động thật thành thực khi đi trong rừng thông, hương nhựa thông toả đặc cả một vùng đồi, sung sướng vì thấy đã đưa tuổi trẻ vào trong một thế giới có đủ mơ mộng và cứng rắn, một thế giới pha trộn những ước mơ lãng mạn hào hùng... Chuyển quân đi trong sương đêm, giữa mây mù, ánh lửa mục tiêu đêm đông trong hốc núi hoang vắng, thế giới mạo hiểm giang hồ của Jack London phảng phất đâu đây. Tôi say mê, thích thú với những khám phá mới mẻ đó. Nắng cao nguyên những ngày cuối năm vàng tươi rực rỡ, đứng ở đồi nhìn xuống hồ suối Vàng trong vắt yên lặng... Người như muốn tan vỡ thành muôn ngàn mảnh nhỏ theo cơn gió bay chập chờn qua vùng đồi trùng điệp và loãng tan đi cùng nước hồ xanh ngắt. Cũng phảii nói thật những ngày đầu đời lính của tôi đầy trong sáng và đẹp đẽ. Trong sáng như giấc mơ của tuổi mười chín, giấc mơ mù mờ giăng cánh chim trắng bay chậm rãi qua rừng thông... Nhưng đời sống nhà binh không hẳn chỉ vậy, nó còn có sĩ quan cán bộ, nghi lễ, có đủ những phiền toái hỗn độn mà đời sống dân sự không ai nghĩ ra được; nên khung trời đầy sương mù bí ẩn ngoài khung của sổ hiện ra như một thách thức đối với đời sống kìm kẹp của tôi hiện tại. Đây cũng là một thời gian thật khủng hoảng, mỗi đêm nhìn về phía thành phố đầy ánh đèn tôi không ngủ được, tươœng như có một tiếng gọi cuœa đời sống ơœ bên ngoài quân ngũ đang nhắc nhơœ thúc giục, một đời sống thực sự tôi không có. Từ khung cửa sổ nhìn những giàn đồi im lặng thấp thoáng giữa thung lũng sương mù và đằng xa ánh đèn xanh vườn Bích Câu ma quái, diễm ảo, tôi thấy rõ trong tôi nỗi cô đơn khủng khiếp hiện hình sừng sững. Những lúc ấy tôi thấy được con người thật của mình, một gã trai trẻ, vô định hướng. Những cười đùa ban ngày, những buổi học, bữa ăn tập thể không ảnh hưởng gì đến con người trong tôi. Không thể có được một ý niệm về chuyên môn quân sự mà bằng tất cả mọi cách nhà trường cố nhét vào trong đầu óc. Đội hình tác chiến, cung cách chỉ huy, chi tiết kỹ thuật về vũ khí trôi qua trí não mơ hồ như một cơn gió nhẹ. Hai năm sống ở mái trường đó như một cơn phiếm du. Chỉ thật thắm thiết rung động khi nửa đêm về sáng dưới ánh đèn pha vọng gác kho đạn tôi khám phá được thế giới của cây cỏ đang thở, đang lớn lên. Những giây phút khoảng năm giờ sáng, sau phiên gác, nhìn xuống phòng sĩ quan trực, người lính kèn im lặng đưa lên môi thổi hồi kèn báo thức. Và không gì hơn suốt ngày chủ nhật một mình một ngựa chạy như bay vào hướng đồn Daksard. Con đường đỏ còn ướt sương đêm, trời chưa tan hẳn mù, ngựa phi như gió cuốn, ngựa đi vào trong một vùng mù đặc, rừng thông chuyển động ào ào, cả trời cao nguyên tan biến chập chờn theo vó ngựa. Kết quả sau hai năm ăn nhờ chánh phủ tôi được trở thành ông quan một, ra trường đi binh chủng hung hãn nhất. Tôi biến thành một người lính thực thụ, trận lớn, trận nhỏ, chiến dịch hai tháng, ba tháng, dài ngắn, từ Sài Gòn ra Bến Hải, tôi đi đủ. Những địa danh xa xôi bất kỳ một xó xỉnh hẻm hóc nào của miền Nam này tôi cũng có thể biết rõ một cách tường tận. Từ những miền nổi tiếng như Khe Sanh, Cồn Tiên đến những làng nhỏ từ cửa Việt đi ra - Diêm Hà Trung, Diêm Hà Nam - cái làng nhỏ cuối thung lũng sông Kim Sơn, làng Hà Tây, đèo ông Hổ đổ xuống Phù Củ ra Phù Ly, Phù Cát thẳng đến biển là núi Lồi, đầm Trà Ổ, xuống phía Nam, đầm Nước Ngọt. Lên đến Pleiku, trực thăng vận xuống phía Nam biên giới Lào-Việt, đầu ngọn sông Ia-Drang... Đâu đâu tôi cũng đến. Năm thứ nhất, thứ hai, thứ ba tôi sống thoải mái, vì đã đi đủ, nhìn đủ. Tôi cũng chấp nhận cho sự góp mặt ở chiến cuộc, góp mặt để chấm dứt chiến tranh. Thắng bại không kể, nhưng cốt yếu là không ở ngoài, không chạy trốn trong khi bạn bè những người cùng trang lứa đang tham dự, đang ngã chết. Dù chết bên này hay bên kia, chết trong thù hận hay chết tình cờ. Những người đi tìm cái chết để biện giải cho đời sống. Tôi tham dự vào cuộc hành trình khốn nạn này. Giải thích này làm tôi yên ổn. Cũng trong những tháng năm đằng đẵng gian khổ ấy, tôi khám phá ra được hạnh phúc của đời người. Hạnh phúc thật sự không có, chỉ có những hạnh phúc tương đối và giản dị. Hạnh phúc là bếp lửa thật nóng, bữa cơm có canh, một mái lều tranh không dột, căng được chiếc võng, uống ly cà phê, đọc tờ báo, sau năm ngày vượt ba mươi cây số đường rừng, rừng thật dầy không thấy trời, trong rét cóng của miền Trung vào những ngày cuối năm. Hạnh phúc nồng nhiệt khi trở về nhà trong đêm khuya gõ cửa, vợ ra đón với con nhỏ ba tháng, kể từ ngày sinh chưa được nhìn bố. Hạnh phúc là cái gì chắc chắn, nắm được ở trong tay khi cánh cửa chiếc phi cơ đóng lại và thân thể được nhấc lên trong độ cao, nhìn lại thành phố Huế đang âm ỉ cháy. Đấy - đời lính - đã dạy cho tôi biết được giá trị của những sung sướng tầm thường đó. Chỉ có thế mà tôi phải trả giá trong tám năm thật dài với tận cùng của khổ cực và căng thẳng. Nhưng đến hôm nay, bước vào năm thứ mười hai đời lính tôi lại rơi vào sự khủng hoảng của những năm đầu tiên. Nỗi khủng hỏang tàn tệ tội nghiệp gấp vạn lần trước. Thời gian ở quân trường, tôi còn có thế giới kỳ ảo thiên nhiên, những ngày mới ra đơn vị, tôi tham dự để biện minh thái độ dấn thân, lao vào lửa đạn không thắc mắc, không ngần ngại — Tôi dấn thân để tìm kiếm niềm an ủi do tham dự hết lòng, đồng thời còn có điều khôn ngoan đã tìm ra những hạnh phúc tương đối — Loại thực phẩm trần gian hợp với khẩu vị. Nhưng đến những tháng ngày hôm nay thì qủa thực tôi bất lực. Bất lực để giaœi thích cho chính bản thân, sự có mặt tham dự trong dòng đời hỗn loạn và mệt nhọc này. Những chốn trú ẩn xưa bị phá vỡ tan hoang, nếu không nói đến những phản ứng trái ngược đã xảy ra. Trên đường đi đến Lái Thiêu, vườn dừa xanh ngắt, hoa huệ trắng tỏa hương thơm ngát không gợi nên một thiên nhiên an lành mơ mộng nhưng trái lại như một đối tượng đang phải chịu sự tàn phá sắp tới của chiến tranh; một đối tượng đau đớn của thiên nhiên không được thụ hửơng sắp sửa bị tiêu hủy. Những ngày dài hành quân không gây chịu thích thú, không tạo mới lạ, chỉ còn lại chịu đựng... Chịu đựng im lìm trong một niềm bất mãn đến ngộp thở. Tám năm lính, tôi hai mươi sáu tuổi, số tuổi gần ba mươi, không bạn bè, xa bằng hữu, số tuổi cuả nỗi cô đơn kinh khiếp biến con người hững hờ, tàn ác như một lát dao. Tôi hai mươi sáu tuổi để thấy rõ cái mặc cảm phạm tội trước kia chỉ là một ảo tưởng xa xỉ của tuổi mới lớn, ảo tưởng về trách nhiệm con người đối với nhau. Tôi hai mươi sáu tuổi đủ để nhận rõ rằng: Hạnh phúc quả là một vật ít ỏi tương đối, nhưng nếu mua bằng giá của đời sống mình thì thật vô lý. Đành rằng sống chẳng là một cái gì rực rỡ nhưng nếu đánh giá đời sống bằng khổ cực và cái chết thì thật là một việc rồ dại và ngu xuẩn. Như vậy tôi hai mươi sáu tuổi có được gì? Tôi có được một cái nhìn thông suốt hết cả. Nói như thế có vẻ tự kiêu và lố bịch. Nhưng nếu trung thực hơn: Sau tám năm ở lính, tôi hết còn là vùng đất để nghiệm và chịu ảnh hưởng. Tám năm ở lính để biết mình là một cánh chim tự do nhưng đã bị chặt cánh. Chính thương tích này làm sáng tỏ khả năng tự do bi đát của đời người. Gần đây báo Sống tục bản dưới hình thức báo Công Chúng có đặt câu hỏi: Người thời đại nghĩ gì? Trong đó có nêu lên chi tiết ai là thần tượng cho tuổi trẻ hôm nay? Tôi hai mươi sáu không trẻ lắm nhưng chưa già, cố tìm cho mình một thần tượng? Không có, làm gì có thần tượng cho tuổi trẻ khốn khổ của tôi. Làm sao tôi có được một thần tượng sau tám năm đằng đẵng đầy thù nghịch và ngặt nghèo. Người ta chỉ tìm được thần tượng khi lòng còn rung động. Bây giờ tôi có rung động nào trong tâm hồn? Năm vừa rồi đi đưa đám tang những thằng bạn thân, chỉ thấy trong lòng một thoáng bâng khuâng, chả bù trước đây tôi ôm xác của Phương, của Dũng chạy như điên trên sườn đồi nước mắt chảy dài trên má. Chiều trở về chỗ đóng quân nhìn chiếc võng của người chết tưởng chừng như thân thể sụp xuống tan đi trong vũng phiền buồn. Bây giờ tôi làm sao khóc được, làm sao để phẫn nộ, để nhớ thương, để mong ước. Thần tượng bây giờ là gì? Lãnh tụ? Lãnh tụ cỡ nào? Nhìn ảnh phó Tổng Thống Humphrey trong báo US News & Report cùng những câu trả lời của ông ta trong thời kỳ tranh cử Tổng Thống. Cái mồm nhỏ, trán hói, vẻ trai trẻ gỉa vờ khi xắn quần chạy trên bãi biển thấy ngượng ngùng đến khó chịu. Hay loại chính khách local?! Ô thần tượng cái khổ nào ở thứ lãnh tụ và chính khách hạng nhì này... Hay là Mao Trạch Đông? Không được nốt, cái mặt ị, đôi mắt ti hí, cuốn sách nhỏ chỉ hú hồn được thanh niên ở các nước Tây phương. Tôi cố tìm suốt một dãy các danh nhân còn sống hay đã chết để tìm cho được một người để ngưỡng mộ. Churchill? Cũng không được, đọc Mémoire của ông ta, cuốn L’Étau se referme không chịu được thái độ bất nhân đối với Nam Tư. Đến Exodux thì người Anh, ôi cũng là lũ thực dân. Nhớ đến lần hành quân ở Long Khánh thì Úc hay Anh cũng vậy, cũng là God save our King. Chả ra cái thống thế gì. Thế thì hết. Hết tiệt cái thế kỷ thần tượng, vì nếu qủa thật còn một chút thần tượng nào vất tưởng ở trên hành tinh này thì Jackie đã không xóa tan hình ảnh ông chồng rực rỡ để đi theo ông thương gia có phòng tắm lót vàng. Sống bên cạnh một thần tượng còn cho thần tượng đó "de" thì huống gì tôi, một kẻ da vàng xa xứ của ông thì ngưỡng mộ gì ông được, hở ông Kennedy. Đó là chưa kể đến nỗi hằn học mà ông Bob Kennedy để lại trong lòng những người lính Việt Nam. Hay thần tượng ỏ một anh nhược tiểu? Ché Guévara cũng không được. Đây chỉ là một loại James Bond cộng với Trần Độ mà thôi. Tóm lại thần tượng tất cả đều bị chôn chặt, bị cuốn hút, bị xóa tên, chỉ còn lại một vài thần tượng què quặt trên óc não bệnh hoạn, yếu đuối của một số người chưa sống đủ, thần tượng của những kẻ nổi loạn thành phố, những kẻ mang tâm trạng "bão tố trong cốc nước" những gã Mỹ con tóc dài, hippy, biểu tình chống đối trước trường Sĩ Quan Trừ Bị Hoa Kỳ. Sau tám năm ở lính, tôi mệt mỏi vô ngần. Mời các bạn đón đọc Dấu Binh Lửa của tác giả2 Phan Nhật Nam.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Tháp Muốn và Đế Chế Thi Ca - Y Ban
Chúng tôi là dân làm báo chuyên nghiệp. Ngoài việc là hội viên Hội Nhà báo chúng tôi còn đặt ra những hội nhỏ, như Hội những nhà báo IT, Hội những nhà báo môi trường, Hội những nhà báo văn hóa, văn nghệ… Còn Hội của chúng tôi là Hội những nhà báo viết về chuyện xia. Gọi cho hay ho văn minh hơn là Hội các nhà báo viết về môi trường. Thì sao chứ, xia là chuyện liên quan đến con người, mà còn rất rất quan trọng. Có thể nhịn ăn mươi mười lăm ngày chứ đố ai nhịn đái một ngày, nhịn xia mười ngày. Có mà chết tiệt. Vả lại trong văn thơ dân gian cứt đái cũng được đưa vào, ví như: Em như cục cứt trôi song Anh như chó đói đứng trông trên bờ. Hoặc như trong thành ngữ cứt cũng dùng để răn dạy: Cứt nát còn đòi có chóp. Tôi nói rông dài một chút để khẳng định rằng xia cũng luôn là một đề tài hay cho đến thời điểm hiện tại. Thu Hà Nội tuyệt đẹp. Nắng vàng tươi như mật. Nơi chúng tôi thích ngồi nhất là quán trà xanh bà gù dưới gốc cây sấu già. Cây sấu đã già lắm. Những cái rễ của nó bạnh cao trên mặt đất. Bà gù ngồi dựa vào một cái bạnh rễ sấu. Trông cái gù trên lưng bà cũng như một cái rễ sấu bạnh lên. Cây sấu già lá đã thưa. Những vạt nắng xiên qua vòm lá thả xuống đất những cái bóng tròn. Khi có gió những bóng nắng nhảy nhót. Tôi ngồi dưới tán sấu những bóng nắng vẽ hoa trên áo tôi. Tôi vừa đưa chén trà xanh lên miệng thì X, báo P đỗ xịch xe lên vỉa hè. Miệng luyến thoắng: - Mỗi mình chị à? - Thì vừa thêm em nữa. - Đang chết cười đây chị ơi. Em phải phi đến đây ngay. - Lại chuyện xia à? ... Mời các bạn đón đọc Tháp Muốn và Đế Chế Thi Ca của tác giả Y Ban.
Tội Tình Vì Yêu - Liane Moriarty
Có một loại sâu sống kí sinh trong cơ thể con người, cách trừ khử duy nhất là tự bỏ đói bản thân, đặt một món ăn nóng sốt nơi miệng, đợi con sâu ngửi thấy mùi thức ăn, chậm rãi duỗi mình ra và tìm đường bò ngược lên. Có một thứ bí mật đen tối ẩn sâu dưới những nếp gấp thời gian, cách trừ khử duy nhất là bỏ đói ký ức, đừng động tay vào nó, trông thấy cũng tảng lờ, và chối bỏ mọi lời cáo buộc liên quan đến bí mật ấy. Nhưng sẽ ra sao nếu có người, vô tình hoặc cố ý, không muốn trừ khử? Sẽ ra sao nếu trên đời thật sự có nhân quả? Con người có bản tính tò mò. Nhờ vậy, ta luôn khát khao chinh phục tự nhiên và khám phá những chân trời mới. Nhưng cũng chính bởi tò mò, Adam rủ Eva ăn trái cấm và bị đuổi khỏi vườn địa đàng, Pandora mở chiếc hộp thần khiến bệnh tật tràn lan, nhũng nhiễu thế gian đời đời kiếp kiếp. Và giờ đây, hậu quả của tò mò hiện hình trong một phiên bản mới, câu chuyện về Cecilia tội nghiệp với lá thư định mệnh.  Tội tình vì yêu, tiểu thuyết tâm lý xã hội của Liane Moriaty, là một hành trình cảm xúc, dẫn dắt người ta đi từ dằn vặt này tới giày vò khác, đầy khổ đau, tuyệt vọng xen những phút giây lặng lẽ, an nhiên; như mặt biển hiền hòa trước cơn cuồng phong, bão tố. Một bí mật nên được chôn vùi mãi mãi đã bị mở ra. Và quả báo xuất hiện, trò đùa số phận bắt đầu… *** Tất cả cũng chỉ tại bức tường Berlin. Nếu không phải vì bức tường đó thì Cecilia sẽ chẳng bao giờ tìm thấy bức thư, và giờ cô sẽ không phải ngồi đây nơi bàn bếp, lòng thầm ước mình chưa từng mở nó ra. Chiếc phong bì màu xám đã phủ một lớp bụi mỏng. Chữ trên mặt trước được viết cẩu thả bằng mực bút bi xanh, nét chữ viết tay thân thuộc như chính cô viết vậy. Cô bóc ra. Chiếc bì thư được dán bằng mẩu băng dính màu vàng. Nó được viết ra từ bao giờ vậy nhỉ? Thư đã cũ, có vẻ như được viết từ nhiều năm trước, nhưng không làm sao biết chắc chắn được. Cô không định mở nó ra. Rõ ràng cô không nên mở nó ra. Cô là người hết sức kiên quyết, một khi đã quyết định không mở lá thư ra thì cũng chẳng nên suy nghĩ về nó nữa. Mà nói thực lòng, nếu cô mở ra thì có vấn đề gì nghiêm trọng cơ chứ? Bất cứ người đàn bà nào cũng sẽ làm như vậy mà chẳng cần nghĩ ngợi gì nhiều. Cô thầm hình dung trong đầu liệu những người bạn của cô sẽ phản ứng ra sao nếu ngay bây giờ cô gọi điện hỏi xem họ nghĩ gì. Miriam Openheimer: Xời! Mở ra đi! Erica Edgediff. Nàng đùa đấy à? Mở ngay đi chứ! Laura Marks: A, cậu mở ra đi, rồi đọc lên cho tớ nghe với. Sarah Sacks: Thật vô ích khi hỏi Sarah bởi cô nàng chẳng bao giờ quyết định được gì. Giả sử Cecilia có hỏi cô ấy muốn uống trà hay cà phê, cô nàng sẽ ngồi thừ ra cả phút, trán nhăn lại vô cùng khổ sở như thể đang suy nghĩ điều gì trọng đại lắm, và rồi thế nào cũng đáp: “Cà phê đi! Mà khoan, trà đi vậy!” một câu trả lời như thế chỉ khiến Cecilia lên cơn tai biến mạch máu não thôi. Mahalia Ramachandran: Tớ nghĩ hoàn toàn không nên. Như vậy là thiếu tôn trọng chẳng cậu lắm đấy. Cậu đừng mở. Đôi khi Mahalia tự tin thái quá về đôi mắt nâu to tròn nhuốm màu đạo đức của cô nàng thì phải? Cecilia để lá thư lại trên bàn, bước ra đổ thêm nước vào ấm. Chân Esther biết ai là người đề xuất ý tưởng về bức tường Berlin. Và hẳn con bé còn có thể cho cô hay ngày sinh tháng đẻ của kẻ đó nữa. Chắc chân đó là một gã đàn ông rồi. Chỉ có đàn ông mới nghĩ ra trò nhẫn tâm như thế: đủ ngu đần và thừa hung bạo. Phải chăng đây là một dạng biểu hiện của thành kiến giới tính? Cô xả nước đầy ấm, cấm điện rồi lấy khăn giấy lau những giọt nước vương trên bồn rửa, miết đi miết lại tới khi sạch bóng. Tuần trước, ngay trước khi khai mạc đại hội phụ huynh học sinh ở trường, mẹ của ba cậu nhóc suýt soát tuổi ba cô con gái của Cecilia đã bảo rằng những lời nhận xét của Cecilia “phần nào mang xu hướng thành kiến giới tính”. Cecilia không thể nhớ chính xác chị ta đã nói nhưng gì, nhưng hẳn là chị ta chỉ đùa thôi. Hoặc có lẽ cô là người có xu hướng thành kiến giới tính thật. Ấm nước reo. Cô xoay xoay túi trà lọc Earl Grey, ngắm những gợn màu đen lan tỏa trong nước. Có những thứ còn tồi tệ hơn cả thành kiến giới tính. ... Mời các bạn đón đọc Tội Tình Vì Yêu của tác giả Liane Moriarty.
Tiểu Thư Tinh Ranh - Julia Quinn
Hai con người, hai tính cách, hai hoàn cảnh hoàn toàn khác biệt, những ham muốn thể xác cùng sự trong sáng của tình yêu. Henrietta Barrett quản lý điền trang Stannage thay người đỡ đầu từ khi mười bốn tuổi. Cô gái xinh đẹp thích được ngụy trang cho mình dưới cái tên “Henry” rất đàn ông và bộ trang phục chẳng thể nào nam tính hơn với chiếc quần ống túm thay cho những bộ váy dài thướt tha. William Dunford, một thanh niên London đào hoa và điển trai, đã rất bất ngờ khi được thừa kế tước hiệu Nam tước và điền trang Stannage. Chuyến thăm của anh đến vùng đất mới này là khởi đầu câu chuyện của họ. Trải qua muôn vàn rắc rối, Henry đã thay đổi, từ một cô nàng nam tính lột xác trở thành một quý cô thực thụ, đồng thời, cả hai người cũng nhận ra tình yêu mãnh liệt dành cho đối phương và quyết định tiến tới hôn nhân. Nhưng sự ghen tuông, hiểu lầm và tự ti đã khiến khoảng thời gian trước và ngay sau đám cưới trở thành bi kịch. Một lần nữa, tình yêu chân thành đã giúp họ hàn gắn và tìm lại hạnh phúc. *** Julia Quinn (tên thật Julie Pottinger) là nhà văn Mỹ nổi tiếng trên khắp thế giới với các tác phẩm lãng mạn lịch sử. Các tác phẩm của bà đã được dịch ra 24 thứ tiếng, 16 lần được đứng trong danh sách New York Times Bestseller, ba lần đoạt giải RITA và Chuyện xảy ra ở London đã mang lại cho Quinn giải RITA năm 2010. Julia Quinn đã tốt nghiệp trường Harvard chuyên ngành Lịch sử Nghệ thuật và từng học y tại Yale trước khi quyết định dành toàn thời gian cho viết lách. Bà bắt đầu sáng tác khi vừa rời trường trung học, và thành công ngay từ các tác phẩm đầu tay. Năm 2010, bà đã được ghi danh tại Bảo tàng Danh vọng các Nhà văn Lãng mạn Mỹ.   Những tác phẩm của Julia Quinn đã được xuất bản: Như Chốn Thiên Đường - Julia Quinn Tử Tước và Em - Julia Quinn Nhật Ký Bí Mật của Tiểu Thư Miranda - Julia Quinn Công Tước Và Em - Julia Quinn Săn Lùng Quý Cô Thừa Kế - Julia Quinn Rồi Cũng Khép Những Tháng Ngày Đơn Độc - Julia Quinn Chuyện xảy ra ở London - Julia Quinn Rạng rõ hơn Ánh Mặt Trời - Julia Quinn Hẹn Ước dưới Vầng trăng - Julia Quinn Tiểu Thư Tinh Ranh ... *** “Dậy thôi, Henry,” Maryanne, người hầu phòng khẽ lay vai cô. “Henry, nào.” Henry lăn đi và lầm bầm cái gì đó, hình như là: “Biến đi!” “Nhưng Henry, cô bảo tôi gọi dậy lúc năm rưỡi mà.” “Mmmph, grmmph... kệ nó.” “Cô bảo nếu cô nói thế thì đừng quan tâm,” Maryanne lại lay Henry. “Dậy thôi!” Henry đang ngái ngủ bỗng choàng tỉnh rồi bật dậy, lắc đầu liên tục. “Cái gì? Ai? Chuyện gì thế?” “Là tôi mà, Henry. Maryanne đây.” Henry chớp mắt. “Cô làm cái quái gì ở đây thế? Vẫn tối mà. Mấy giờ rồi?” “Năm rưỡi rồi,” Maryanne kiên nhẫn đáp. “Cô dặn tôi gọi dậy sớm mà.” “Thế à?” Ồ phải, Dunford. “Ừ đúng rồi. Cám ơn cô, Maryanne. Giờ tôi dậy rồi.” “Cô bắt tôi thề là phải ở lại trong phòng đến chừng nào cô rời khỏi giường mới thôi.” Henry hiểu bản thân mình quá mà. Cô lại định cuộn tròn vào chăn đây. “Đúng rồi. Tôi biết rồi. Tôi dậy thật đây.” Cô thả chân qua thành giường. “Nhiều người phải dậy sớm rồi đây...,” cô vươn vai. “Cô đến bàn trang điểm, nơi đã để sẵn áo sơ mi và quần ống túm.” “Có khi cô cần thêm áo khoác đấy,” Maryanne nói. “Ngoài trời lạnh lắm.” ... Mời các bạn đón đọc Tiểu Thư Tinh Ranh của tác giả Julia Quinn.
Your Name Another Side - Shinkai Makoto
Nên đọc cuốn truyện này cùng Your Name. Your Name. là câu chuyện nổi tiếng và đạt được nhiều kỉ lục ở cả hai bản phim và truyện, xoay quanh một thiếu niên và một thiếu nữ hoán đổi linh hồn với nhau, sống dậy ở môi trường hoàn toàn khác biệt và tự thích ứng theo bản năng. Sự hoán đổi đó không đơn thuần để đem đến trạng thái hòa hợp về tình cảm, kể lại một chuyện tình ly kì làm lòng ta hồi hộp rồi khuây khỏa, mà gây ấn tượng hơn, là lưu ý chúng ta về định mệnh hình thành từ những hành vi nhỏ nhặt nhất, về ý nghĩa sâu xa tiềm ẩn trong từng sự vật bé bỏng nhất, như sợi dây tết, như rượu cúng thần, như vị trí và hành vi của từng người trong suốt dòng thời gian biến động. Sau khi đọc xong nó, nên đọc sang cuốn này. Vì Your Name. Another Side: Earthbound chính là một dạng “Your Name. chuyện chưa kể”, là tác phẩm bổ sung hoàn hảo và đầy tham vọng cho cuốn tiểu thuyết lời ít ý nhiều ấy. Hoàn hảo ở chỗ rất nhiều tình tiết và diễn biến tâm lý tồn tại dưới dạng bí hiểm hoặc gây thắc mắc trong Your Name. (cả phim lẫn truyện) sang cuốn sách này đều được trải ra lớp lang và rạch ròi. Tham vọng ở chỗ, từ bối cảnh và mở đầu-kết thúc đã định trước, Another Side Earthbound tự phát triển cho mình một hình thức và cách diễn giải riêng, chỉ ra quan hệ nhân quả giữa giữa quá khứ-hiện tại, giữa thiên tai-tập quán, giữa văn hóa-thần thoại, giữa phá hủy-say mê… Nói cách khác, Your Name. Another Side: Earthbound là thành tố làm một Your Name. mà bạn đã biết trở nên đầy đặn, sâu sắc, và tròn vẹn. *** Shinkai Makoto tốt nghiệp đại học Chūō ngành văn học Nhật Bản. Tại đó, ông là thành viên câu lạc bộ văn học trẻ với nhiệm vụ chính là vẽ sách. Ông nói cảm hứng sáng tạo của mình bắt nguồn từ manga, anime và tiểu thuyết được đọc thời cấp 2. Anime yêu thích của ông là Laputa của đạo diễn Miyazaki Hayao. Sau khi tốt nghiệp Chūō năm 1994, Shinkai Makoto thiết kế đồ hoạ và làm clip game tại công ty trò chơi Falcom trong 5 năm. Thời gian này, ông đã gặp nhạc sĩ Tenmon và cộng tác với Tenmon trong tất cả các phim của mình. Năm 1999, Shinkai Makoto phát hành một phim hoạt hình ngắn trắng đen dài khoảng 5 phút là Nàng và Con mèo của Nàng. Bộ phim dành nhiều giải thưởng, trong đó có giải thưởng lớn tại "CG Animation Contest" của PROJECT TEAM DOGA. Sau khi chiến thắng giải thưởng ấy, ông bắt đầu tìm ý tưởng cho dự án tiếp theo khi làm việc tại Falcom. Vào tháng 6 năm 2000, ông bắt đầu có ý tưởng về phim Tiếng gọi từ vì sao xa sau khi vẽ bức tranh một cô gái trong buồng lái đang cầm điện thoại di động. Mangazoo sau đó đã đến gặp và đề nghị làm việc với ông trên một dự án anime có thể thu lợi nhuận. Tháng 5 năm 2001, ông nghỉ việc tại Falcom và bắt đầu bắt tay làm Tiếng gọi từ vì sao xa. Tiếng gọi từ vì sao xa mở đầu cho hàng loạt anime thành công tiếp theo của Shinkai Makoto bao gồm Bên kia đám mây, nơi ta hẹn ước (phát hành ngày 20 tháng 11 năm 2004), 5 Centimet trên giây (phát hành ngày 3 tháng 3 năm 2007) và Những đứa trẻ đuổi theo tinh tú (phát hành ngày 7 tháng 5 năm 2011). Ngoài ra, ông còn viết tiểu thuyết đầu tay là 5 centimet trên giây. Tác phẩm mới nhất của ông chính là Your Name – Tên cậu là gì? đã gây nên cơn sốt tại các phòng vé của Nhật Bản nói riêng cũng như thế giới nói chung, và đã trở thành phim anime có doanh thu toàn cầu cao nhất trong lịch sử. *** - Mày là ai? Miyamizu Toshiki thốt ra một câu mà chính ông cũng chưa từng nghĩ tới. Lúc này, kẻ kia đang túm cà vạt ông và giật mạnh tới trước. Ông sững sờ nhìn chủ nhân của đôi bàn tay thô bạo ấy, một kẻ đang khoác trên mình vẻ ngoài của con gái ông. Thay vì đặt nghi vấn người này có thật là Mitsuha không, trực giác đang khẳng định như đinh đóng cột rằng, đây-không-phải-là-Mitsuha. Thứ trực giác vượt trên mọi logic cứ rờn rợn bò dọc sống lưng, khiến sắc mặt Toshiki trắng bệch ra. Đây không phải là Mitsuha. Mà chỉ là một sinh thể mang dáng vẻ Mitsuha thôi. Đúng là như vậy, chính xác theo nghĩa đen, chứ không phải cách chơi chữ thường dùng khi muốn ám chỉ ai đó đã thay đổi. Kẻ này dám giả dạng Mitsuha đến đây để đối đầu với ông... Làm sao có chuyện hoang đường như vậy được. Chắc do quá mệt mỏi nên sinh ra ảo giác rồi. Những câu thoại quen thuộc ấy vừa manh nha trong đầu đã lập tức bốc hơi. Ảo giác mà thôi... Lời tự an ủi giống như bọt sóng bé mọn trôi dạt bên lề ý thức, bởi vì quá mong manh nên lập tức bị nhấn chìm. Do đâu mà Miyamizu Toshiki có thể đi đến kết luận chắc chắn, rằng đây chỉ là một kẻ mang hình hài của con gái mình? ... Mời các bạn đón đọc Your Name Your Name Another Side của tác giả Shinkai Makoto.