Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Vòng Tròn Đá Thiêng - Tập 1

Outlander - Vòng Tròn Đá Thiêng - Tập 1 Outlander - Vòng Tròn Đá Thiêng 1 là cuốn đầu tiên trong bộ tiểu thuyết lịch sử xuyên thời gian của Diana Gabaldon. Bà đã dệt nên một câu chuyện đầy ma lực đan xen giữa lịch sử và thần thoại, nó chứa đầy những đam mê mãnh liệt và sự táo bạo. Năm 1945, sau khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, Claire - một nữ y tá quân đội - vừa được trở về đoàn tụ cùng chồng là Frank Randall sau tám năm xa cách vì chiến tranh. Họ quyết định hưởng tuần trăng mật thứ hai tại vùng cao nguyên Scotland huyền bí. Một lần tình cờ, Claire dạo chơi lên ngọn đồi tiên nơi có vòng tròn đá cổ xưa và bị kéo về quá khứ tới năm 1743. Ở đó, cô bị các phe phái nghi ngờ là gián điệp, bị mắc kẹt trong những âm mưu ngấm ngầm và cuộc chiến giữa các lãnh chúa vùng cao nguyên với quân Anh. Claire bị ép buộc kết hôn với một chiến binh trẻ người Scot để có được sự bảo vệ và an toàn. Claire bị giằng xé giữa hai cuộc hôn nhân, giữa lòng chungthủy và những khao khát đam mê, giữa hai người đàn ông khác xa nhau về mọi mặt trong hai cuộc đời không thể dung hòa… *** Thoạt đầu nhìn tên của cuốn sách Outlander, được để nguyên không dịch ra tiếng Việt, cứ nghĩ cuốn sách thuộc dòng sách khoa học viễn tưởng, du hành ngoài không gian gì đó. Hóa ra không phải. Cuốn sách không mới - tác phẩm của Diana Gabaldon xuất bản lần đầu năm 1991, suốt 26 năm qua luôn là một trong những bộ tiểu thuyết lãng mạn hấp dẫn nhất của thời hiện đại, được dịch ra 40 ngôn ngữ với hơn 25 triệu bản in. Bản dịch tiếng Việt mới xuất hiện năm 2017. Sau 26 năm kể từ khi ra đời, Outlander luôn là một trong những  bộ tiểu thuyết lãng mạn nhất Trong một thời buổi hễ cứ nhìn thấy nhiều chữ là nhức đầu, cuốn sách phần nào làm người ta ngại: nó dày lắm, nặng trịch, dịch chưa hết nhưng đã tới tập 4 rồi, mỗi tập đều gần 500 trang, chữ không là chữ!   Nhưng đọc rồi, nhận ra cuốn sách cũng như một vòng tròn đá thiêng bí ẩn, người đọc mở trang đầu tiên là như đã ngã vào trong cánh cửa đá ấy, bị cuốn vào một không gian hun hút, mê đắm, dữ dội, và không muốn quay về. Outlander là một thông điệp nữ quyền ở dạng quyến rũ nhất, đàn bà nhất, thực tế trần trụi nhất, và do đó, cũng đẹp đẽ khó quên nhất.  Sau chiến tranh thế giới thứ hai, năm 1945, một nữ y tá người Anh đang cùng chồng hưởng lại tuần trăng mật sau thời gian vợ chồng bị chiến tranh chia cắt, tại một vùng nông thôn cao nguyên Scotland. Một buổi bình minh trên ngọn đồi có một vòng tròn đá cổ xưa, cô được chứng kiến một nghi lễ ngợi ca mặt trời của những người đàn bà trong vùng. Ngày hôm sau, cô quay lại đó, khi chạm tay vào một phiến đá, cô bất ngờ bị hút vào quá khứ, rơi thẳng xuống thế kỷ XVIII với nghèo đói, lạc hậu, bệnh tật, chiến tranh và tình yêu. Cuộc hành trình bắt đầu, giữa hai cuộc sống là khoảng cách 200 năm, cô vẫn phải sống tiếp vì không thể quay trở về thời hiện đại. Với cuộc hôn nhân đầu tiên ở thế kỷ XX, cô là người vợ mất tích một cách bí ẩn; với thế kỷ XVIII và lãnh địa của dòng Mackenzie, cô mãi mãi là một người ngoài.  Những cuộc chinh phục của nhân loại thường được tiến hành về phía tương lai, phía những vùng đất mới, cùng với nam tính mạnh mẽ, thống trị. Trong khi cuộc du hành này được thực hiện ngược chiều kim đồng hồ, một cuộc trở về quá khứ, chuyến đi bất đắc dĩ của một người đàn bà mỏng manh. Kỳ lạ thay, cuộc trở về ấy giúp người ta hiểu rõ hơn bao giờ hết lịch sử và con người, tình yêu và thù hận, từ khởi đầu thụ động của chuyến đi, người đàn bà ngoại tộc ấy - mà xét cho cùng, người đàn bà nào chẳng là “người ngoại tộc”, đã chủ động, quyết liệt trong chọn lựa của mình, tồn tại, chữa lành, yêu và sống, tranh đấu và chiến thắng. Cô gái có tên Claire, nhưng cái tên ấy không ấn tượng bằng cái tên “Sassenach”, cũng là “Outlander”, chữ được dùng để gọi một người “ngoại tộc”. Chẳng phải không có dụng ý gì khi để cho một người ngoại tộc làm người xới lật lại lịch sử gia tộc và hơn thế nữa, đi ngược chiều phả hệ để hiểu và trải nghiệm: những kẻ ngoại tộc có con mắt quan sát và bản năng tìm hiểu để thích nghi, tồn tại. Đây là hành trình mang tính biểu tượng của một người đàn bà. Đây cũng chính là ý nghĩa sâu xa của thông điệp mang màu sắc nữ quyền ở tầm bản chất: chính người ngoại tộc ấy đã kết nối những thế hệ tổ tiên với con cháu của mình, chẳng phải thế sao? Nếu không có người đàn bà ngoại tộc ấy, những người đàn ông gieo hạt giống của mình ở đâu để có những vụ mùa kế tiếp? Sassenach có cuộc hôn nhân thứ nhất, và ở cuộc đời thứ hai này, cô có một người chồng nữa. Cô yêu cả hai. Một người đàn bà có thể yêu cả hai người đàn ông, một cách nào đó chung thủy với cả hai người, không phải chọn lựa, được không? Câu trả lời của cuốn sách này là: được. Cô đã đeo trên hai bàn tay mình hai chiếc nhẫn, chiếc nhẫn vàng từ người chồng trong cuộc hôn nhân thứ nhất, và chiếc nhẫn bạc của người chồng trong cuộc hôn nhân thứ hai. Không thể loại bỏ cái nào. Hai chiếc nhẫn, một vàng một bạc, là bí ẩn của nguồn cội sức mạnh của cô. Nó nhắc rằng phải có quá khứ, quá khứ phải diễn ra theo cách của nó, thì mới có hiện tại. Hiện tại ấy được quyết định từ trong quá khứ, và cho dẫu biết trước những đau thương, mất mát, cũng không thể tùy tiện thay đổi quá khứ để mong xếp đặt một hiện tại khác.  Claire, với khát vọng ban đầu cháy bỏng là trốn thoát khỏi thế kỷ XVIII để trở về với thế kỷ XX, trở về với cuộc đời hiện đại của cô, đã dần thay đổi: cô chọn ở lại với thế kỷ XVIII, với cuộc sống thiếu tiện nghi và lạc hậu, với sự mông muội hoang dã. Cô dùng khả năng của một nữ y tá để trị thương, để giúp đỡ mọi người, giảm thiểu những thiệt hại trong cái thất bại của tương lai mà cô biết trước. Đứa bé là món quà từ quá khứ gửi vào hiện tại, là dấu hiệu bất tử của tình yêu, kết nối những thế hệ ruột rà máu mủ khác nhau thông qua xương thịt của một người ngoại tộc. Và đứa bé là con gái.  Cô ở lại vì tình yêu của mình, thứ tình yêu hoang dã, bản năng, gắn chặt với cuộc tồn sinh khó nhọc. Trách nhiệm với quá khứ, với lịch sử đã được chuyển thành ý thức cá nhân. Cô góp sức lực nhỏ bé của mình để phần nào làm cho cuộc sống của những người tốt xung quanh cô tốt hơn, thanh thản nhẹ nhàng hơn. Quyết định cuối cùng của Sassenach, một lần nữa dấn thân xuyên qua vòng tròn đá, trở lại thế kỷ XX, là một quyết định không vì cô, mà vì đứa con trong bụng. Đứa trẻ đã thay đổi ý nghĩa cuộc sinh tồn của cô, thay đổi quyết định của cô. Thiên chức làm mẹ chiến thắng. Thông điệp của tính mẫu, của nguyên lý mẹ có thể nhìn thấy ở đây. Đứa bé là món quà từ quá khứ gửi vào hiện tại, là dấu hiệu bất tử của tình yêu, kết nối những thế hệ ruột rà máu mủ khác nhau thông qua xương thịt của một người ngoại tộc. Và đứa bé là con gái. Câu chuyện về hổ phách lại là một ẩn dụ mang tính biểu tượng nữa: những giọt nhựa cây ứa ra trong veo, nước mắt của loài thông, qua hàng ngàn năm kết tinh thành hổ phách. Con chuồn chuồn nhỏ bé, mỏng manh đông cứng trong mảnh hổ phách ấy, không hiểu sao cứ gợi người ta nghĩ đến những thân phận đàn bà. Chuồn chuồn hổ phách và sự bất tử mong manh mà nó chọn cũng chính là nước mắt của người phụ nữ, gói giấc mơ của mình - được bay lượn tự do giữa trời, trong sự hy sinh đã gần như là định mệnh.  Cuốn sách nói với người ta rằng: hiện tại là quan trọng, nhưng quá khứ chưa bao giờ là thứ chỉ ngủ yên, chỉ là những dòng lịch sử sách vở vô hồn. Quan trọng hơn, cuộc sống hiện tại của mỗi người thực ra đã được quyết định bằng chính quá khứ của họ, dù có khi họ không hay biết. Con đường để mình hiểu và đến với những người khác quanh mình nằm ở bên trong mỗi một con người, ở tầm bản lai diện mục, là sự chia sẻ mạnh mẽ của những tình cảm nguyên thủy cổ xưa, mà đôi khi, những thứ màu sắc hiện đại của ngày hôm nay vô tình che lấp. Thế giới đang toàn cầu hóa. Lúc nào đó, cách nào đó, mỗi con người đều có thể là một người ngoại tộc. Những cánh cửa mở ra không ngừng. Thế giới thay đổi mỗi ngày, công nghệ vùn vụt phát triển, nhưng nỗi băn khoăn tìm hiểu về chính bản thân mình, hiểu được người thương yêu của mình, hiểu để chia sẻ và sống cùng nhau trong tình yêu dưới một mái nhà… luôn luôn là nỗi băn khoăn hiện hữu. Con người chưa bao giờ thôi tự nhìn vào nguồn cội của mình, bản chất của mình. Theo cách đó, Outlander không viết về quá khứ theo kiểu tiểu thuyết lịch sử. Outlander viết về quá khứ như một cuộc du hành viễn tưởng, lãng mạn, thú vị, gai góc. Con người hiện tại muốn thực sự hiểu về quá khứ cần phải dấn thân vào cuộc du hành ấy. Lịch sử nằm trong chính trải nghiệm của mỗi con người. Hoàng Mai - phunuonline.com.vn *** Ở nơi bờ Tây Scotland năm 1945, khi Thế chiến thứ hai kết thúc, đôi vợ chồng Frank và Claire gặp nhau sau bao năm xa cách, trao nhau những lời ân ái ngọt ngào. Nhưng 200 năm trước, chính tại nơi đây, trên ngọn đồi Craigh na Dun, những chiến binh dũng mãnh nhất đấu đá nhau trong cuộc chiến tranh giành vương quyền. Trong một lần dạo chơi quanh những vòng tròn đá thiêng cổ xưa tọa lạc trên đồi, Claire đã bị kéo từ hiện tại ngược dòng quá khứ về với Scotland thế kỉ 18. Từ một nữ y tá quân đội, giờ đây Claire trở thành kẻ ngoại tộc – Sassenach, như cái cách đầy yêu thương mà chàng chiến binh Jamie dùng để gọi cô. Chính nơi đây, thời đại này, với chút kiến thức y học về thảo dược của mình, cô đã tìm cách ngăn cản cuộc chiến đẫm máu nơi đầm lầy Culloden mà sử sách ghi chép, để bảo vệ người đàn ông của đời mình. Liệu một cô gái đến từ tương lai có thể thay đổi quá khứ? Hay chính cô là tác nhân khiến cho dòng chảy lịch sử được khơi thông? Sau 26 năm kể từ khi ra đời, Outlander luôn nằm trong top 10 bộ tiểu thuyết lãng mạn nhất mọi thời đại. Là người hiện đại, nhưng Claire lại thích nghi nhanh chóng với cuộc sống rong ruổi trên lưng ngựa. Nhưng điều quan trọng hơn, cô đã rơi vào tình yêu mãnh liệt, nồng cháy với Jamie dẫu cho trong trái tim vẫn luôn khắc khoải và day dứt về Frank. Nếu ở trong tình cảnh của Claire, bạn sẽ lựa chọn bên nào, một quá khứ bấp bênh hay hiện tại rạn vỡ? Claire có thể đeo hai chiếc nhẫn, một vàng của Frank, một bạc của Jamie. Cô cũng có thể bảo vệ cả hai, như cái cách cô đặt bàn tay trái nơi có chiếc nhẫn vàng lên che chở chiếc nhẫn bạc nơi bàn tay phải. Hay cách cô cầu xin Jamie, khiến anh chấp nhận hy sinh linh hồn mình cho sự sống của Frank. Và cách cô dùng những hiểu biết và kiến thức lịch sử của Frank để giúp đỡ và giữ mạng sống cho Jamie. Thế nhưng với ngăn cách thời gian và không gian, cô không thể nào có được cả hai người đàn ông, dẫu cho họ đều yêu cô với một trái tim chân thành và thuần khiết. Như một quy luật tất yếu của tự nhiên, khi ánh vàng rực rỡ mặt trời lùi về phía bờ tây, ánh bạc dịu dàng và huyền bí mặt trăng sẽ chiếm ngự bóng tối. Và ngược lại. Cũng như con người ta không thể khiến bản thân mình vừa có thể sống với hiện tại rạn vỡ nhưng thực tế, lại vừa có thể sống ở quá khứ bấp bênh nhưng tươi đẹp. Định mệnh trớ trêu bắt buộc Claire phải lựa chọn. Và dù lựa chọn thế nào, đau đớn vẫn là một kết quả chắc chắn. Bóng hình của người đàn ông còn lại vẫn mãi khắc ghi nơi tận cùng linh hồn, thỉnh thoảng lại cứa vào lòng cô những vết cắt khiến trái tim rỉ máu. Nếu ở trong tình cảnh của Claire, bạn sẽ lựa chọn bên nào, một quá khứ bấp bênh hay hiện tại rạn vỡ? Có một truyền thuyết kể rằng, hổ phách được hình thành nên từ nước mắt của mẹ và chị gái của Phaethon - con trai thần Mặt trời - khi Phaethon bị thần Zeus đánh chết. Còn chuồn chuồn, loài côn trùng nhỏ bé với đôi cánh mỏng manh yếu ớt nhưng lại có sức hút diệu kì, ẩn chứa nguồn sức mạnh phi thường để phá kén, chuyển cuộc sống trong bọc kén thành cuộc sống tự do nơi bầu trời cao rộng- hệt như một sự thoát khỏi quá khứ và hướng đến tương lai. Sống trong tình yêu của Jamie, Claire như con chuồn chuồn nhỏ đang tung cánh giữa thiên nhiên tươi đẹp và trời xanh rộng lớn. Nhưng khi cô buộc phải bước qua những vòng tròn đá lần nữa để trở về thực tại, những giọt nước mắt thấm đẫm bờ mi và khuôn mặt cô, như những giọt hổ phách kia. Con chuồn chuồn Claire vẫn mãi bị giữ chặt và giam cầm trong chính miếng hổ phách đã được kết tinh ấy, mãi chẳng thể nào bay xa được. Claire đã lựa chọn. Tôi cũng đã có quyết định cho riêng mình. Vậy, sao bạn không thử lựa chọn? Giữa Frank với Jamie, giữa quá khứ và hiện tại. Outlander là bộ tiểu thuyết về du hành xuyên thời gian lãng mạn bậc nhất do Goodreads bình chọn. Kể từ lần đầu xuất bản năm 1991, 8 tập truyện Outlander của tác giả Diana Gabaldon đã dịch ra hơn 40 ngôn ngữ với hơn 25 triệu bản in. Bộ phim chuyển thể từ tác phẩm cũng đã được kênh truyền hình Starz (Mỹ) phát sóng từ năm 2014. Chỉ trong vòng 1 năm sau khi phim ra mắt, ước tính doanh thu sách đã thu về 6 triệu USD - gấp 2 lần con số mà quyển thứ 8 của Outlander bán được từ năm 2010. Tú Văn - vietnamnet.vn Mời các bạn đón đọc Vòng Tròn Đá Thiêng - Tập 1 của tác giả Diana Gabaldon & Khánh Vân (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Amber: Kiếp Hồng Nhan - Kathleen Winsor
Có thể nói ngay, Forever Amber là một tác phẩm văn học xuất sắc của nữ văn sỹ Kathleen Winsor. Bà đã kể lại một câu chuyện xảy ra vào thế kỷ 17 tại Anh quốc, xoay quanh nhân vật nữ chính là Amber - một cô gái mồ côi - đã dùng nhan sắc và sự quyến rũ của mình để tồn tại trong xã hội đa dạng lúc bấy giờ. Cô sẵn sàng làm người tình hay vợ những kẻ giàu có, nhưng lại không có được người cô yêu. Một điều lạ của cuốn sách, đó là nó vừa được yêu thích, vừa (từng) bị cấm xuất bản ở nhiều nơi (và bị xếp vào hàng… khiêu dâm). Dù vậy, cuốn sách vẫn có sức sống mạnh mẽ và luôn nằm trong danh sách tiểu thuyết hay nhất. Đoạn đời tuổi trẻ của Amber vùi dập trong chuỗi ngày mê muội, trong sự vùng vẫy để đạt điều cô mong ước. Những biến cố lịch sử có thật cũng được thể hiện sinh động dọc theo quãng đời của cô. Vừa dũng cảm lại vừa lẳng lơ, Amber có những lúc “lên voi” trong giới thượng lưu, thậm chí cả triều đình, và có những khi “xuống chó” phải đổi thân xác để có miếng ăn. Một trong những sự kiện khiến cho câu chuyện mang hơi thở thật của bối cảnh là trận dịch hạch kinh hoàng tại London. Qua đó cũng chứng tỏ tình yêu mãnh liệt và sự dũng cảm của Amber. Suốt đoạn đời được mô tả trong tác phẩm, Amber yêu và chỉ yêu Bruce Carlton. Kết thúc câu chuyện, Amber bắt đầu một hành trình vô vọng đến Hoa Kỳ để tiếp tục tìm kiếm Bruce, người đã lập gia đình với một cô gái khác. Hình như bản dịch tôi đọc là từ bản tiếng Pháp, cho nên tác giả đặt tựa là “Ambrơ” (theo Ambre). Sau này tôi có thấy sách được tái bản. Một cuốn sách không thể bỏ qua, tuy nhiên, cùng nguyên nhân với lệnh cấm từng dành cho nó tại nhiều nơi, tôi nghĩ nó chỉ thích hợp với người trên 20 tuổi (hoặc hơn nữa). * *   * Từ một cô gái bị khinh thường nơi miền quê, Amber trở thành một mệnh phụ phu nhân quyền quý. Amber St. Clare sinh ra đã mất mẹ và không bao giờ được biết mặt cha. Từ đó, cô bé lớn lên trong sự ganh ghét, dè bỉu của những người xung quanh, ngoại trừ tình yêu của cô Sarah tốt bụng. Cuộc gặp gỡ với Bruce Carlton năm cô 16 tuổi, khi anh cùng đoàn kỵ sĩ của Nhà vua đi ngang qua làng Marygreen, đã thực sự đánh dấu một bước ngoặt lớn trong cuộc đời cô. Cô dành cho anh tất cả tình yêu sâu đậm, cháy bỏng và cuồng nhiệt… Cô theo anh đến Luân Đôn và không ngờ rằng trong suốt 10 năm sau đó cô phải trải qua biết bao biến động của thời cuộc và nhất là những thay đổi ghê gớm của cuộc đời mình. Xã hội dạy cho cô cách thức để vượt qua những hiểm nguy, gian khó, kể cả những ngày tháng kinh hoàng và khủng khiếp nhất. Amber không ngần ngại trước mọi thứ có thể đem lại cho cô tình yêu, tiền tài và danh vọng. Từ một cô gái bị khinh thường nơi miền quê, Amber trở thành một mệnh phụ phu nhân quyền quý, một nữ bá tước… và hơn thế nữa là một quận chúa được nhà vua đặc biệt sủng ái. Cô đã có tất cả những gì cô muốn, ngoại trừ một điều thiêng liêng nhất - đó là tình yêu và một mái ấm gia đình thật sự với người đàn ông mình rất yêu… *** Mùa xuân năm ấy khô ráo và bụi bặm. Trời ít mưa. Tuy nhiên đến tháng Năm, trên các cánh đồng xung quanh Luân Đôn phủ đầy những tấm thảm đỏ chói của cây chĩa ba, hoa mào gà lớn, những đàn ong vo ve, những cánh đồng lúa xanh rì. Ngoài phố lại vang lên tiếng rao: - Trái anh đào chín đỏ đây! Hoa tường vi đây! Ai muốn mua hoa oải hương của tôi nào! Khu Mậu dịch lóng lánh những bộ áo mùa hè, vải ga mỏng, vải có vân sóng, đủ màu sắc: vàng lưu hoàng, mận, Thổ Nhĩ Kỳ, hồng tươi. Thời tiết nắng đẹp, gió mát thổi tới. Trong suốt năm, không có tin tức nào làm người ta sôi sục và tức giận bằng tin đồn là York đã cải hóa sang Công giáo. Không ai có thể chứng minh được việc đó; quận công từ chối không chấp nhận, trừ Charles lẽ ra phải biết rõ thì chỉ nhún vai, từ chối không để liên lụy đến mình. Tất cả những kẻ thù của quận công mưu mô với nhau chặt chẽ hơn; trong lúc đó người ta nhận thấy quận công York và Arlington bỗng trở nên rất thân với nhau. Điều đó càng có ảnh hưởng đến tin đồn một cuộc liên minh Pháp - Anh, vì Arlington đã từ lâu có thiên vị với Hòa Lan, bị nghi ngờ bản thân ông là công giáo, hoặc dù sao thì cũng có cảm tình với công giáo. Những lời đồn đại đó lan truyền nhanh chóng trong thành phố, Charles khó che giấu được nỗi bất bình của mình và có mấy lời nhận xét về sự không kín đáo của dân tộc Anh. Tại sao họ không bằng lòng được cai trị bởi những người làm nghề đó? Mẹ kiếp! Làm vua cũng chẳng hay gì hơn một anh làm bánh hoặc anh thợ lợp nhà. Có lẽ ông học một nghề còn tốt hơn! Không còn nghi ngờ gì nữa; nếu vua không kết hôn một lần nữa, York chỉ cần sống lâu, sẽ nối nghiệp vua Charles. Hoàng hậu đã lại sẩy thai lần thứ tư vào cuối tháng Năm. Một con cáo đói đã liếm mặt trong khi bà đang ngủ, làm bà hoảng sợ và mấy giờ sau bà mất đứa con! Buckingham đã thuê các thầy thuốc khẳng định là hoàng hậu không bao giờ có con được nữa, nhưng Charles không muốn nghe. Vua và hoàng hậu, cả hai đều sầu não, Catherine không còn chút nghi ngờ gì nữa, mình là người bất hạnh nhất trong tất cả các người đàn bà: một hoàng hậu tuyệt sản. Nhưng Charles vẫn tiếp tục cả quyết chống lại mọi góp ý làm Người phải xa vợ. Lòng trung thực hay nỗi thờ ơ, người ta không sao hiểu được! Ở trong triều có nhiều thiếu phụ mà những cuộc tranh luận về một hoàng hậu mới hướng vào đấy, gây ra những mối lo ngại. Dù sao thì Barbara Palmer cũng nghe với một nụ cười thích thú và ranh mãnh. Bởi vì, không còn là nhân tình của vua, vị trí của bà không còn may rủi nữa. Dần dần mối quan hệ của bà với Charles dịu đi. Họ giống như cặp vợ chồng, thờ ơ lẫn nhau, tổ chức một cuộc sống yên lành, không cãi cọ, ghen tuông, không giận hờn, vui sướng. Họ tìm thấy ở những đứa con của họ một lợi ích chung; và bây giờ giữa hai người xuất hiện một thứ tình bạn mà họ không thấy vào thời họ yêu nhau. Bà không còn ghen tuông với các nhân tình của Người, và Người thì vui lòng hả dạ thấy đã thoát được những cơn thay đổi tính nết đột ngột của bà. Charles vui thích đứng xa quan sát tính thất thường và nỗi yếu đuối của Barbara. Amber thấy sốt ruột, cô tống cho Almsbury rất nhiều thư hỏi xem anh có nghe nói gì về Carlton không. Mỗi lần cô đều nhận được trả lời với cùng một ý. Almsbury không còn biết gì hơn, người ta đợi Bruce vào tháng Tám hoặc tháng Chín, làm sao mà có thể cụ thể hơn được với cuộc hành trình trên mặt biển? Amber không sao có thể nghĩ đến việc khác. Lại một lần nữa, nỗi khát vọng cũ đau đớn và say mê lại trào dâng trong lòng cô. Tuy nhiên cô quyết định là lần này phải có thái độ đàng hoàng và đúng nghi thức. Cô sẽ đứng hơi xa để nhường cho chàng đi những bước đầu. Đó là cách tốt nhất để giữ một người đàn ông. Cô tự trách mình: “Ta cứ luôn luôn như là một người hầu hèn mọn của chàng: nhưng lần này sẽ khác hẳn. Dù sao thì bây giờ ta cũng đã là một bà lớn rồi, một bà quận chúa, và chàng mới chỉ là nam tước. Bất kể thế nào, cũng phải để chàng bắt đầu trước!” Cô biết là vợ chàng sẽ đi theo chàng, nhưng cô không lo lắng đến việc ấy. Bởi vì nhất định Bruce Carlton không phải là người đàn ông phô trương một tình yêu thái quá đối với vợ. Điều đó chỉ đúng với bọn trưởng giả vô học thức, còn đối với một người quý phái có kể chi đến vợ mà không dám đi ra ngoài không gươm! Hai vợ chồng Almsbury trở lại Luân Đôn hồi tháng Bảy để thu dọn nhà cửa, thuê một số người hầu mới và chuẩn bị đón những người khách quý đang sốt ruột chờ mong. Almsbury đến thăm Amber, cô quyết định giữ thái độ thản nhiên, nói huyên thuyên về nhiều vấn đề tước vị của cô, tòa nhà lớn cô đang xây, những vị khách cô sẽ mời chủ nhật tới. Almsbury mỉm cười nghe cô nói và gật đầu tán thưởng, không hề đả động đến Bruce. Câu chuyện của Amber chậm dần lại. Cô có vẻ phân vân, rồi cuối cùng biết là anh trêu mình, cô cảm thấy bực, bèn hỏi: - Thế nào, có tin tức gì không? - Tin tức à? Để tôi suy nghĩ đã, con ngựa cái đen của tôi, mà em vẫn cưỡi đấy, mới đẻ một chú ngựa con tuần trước và… - Quỷ nó bắt anh đi! Tại sao anh cứ để em phải chết dần thế này? Hãy nói em nghe, anh biết những gì? Khi nào anh ấy tới? Nàng cũng đi theo chứ? - Tôi không biết gì hơn những điều đã viết cho em, vào khoảng tháng Tám hoặc tháng Chín. Phải, nàng cũng sẽ tới. Tại sao? Em không sợ nàng à? Amber liếc cặp mắt dữ tợn nhìn anh; cô khinh khỉnh nhại lại: - Sợ nàng? Almsbury, anh tò mò thật! Đề nghị anh cho biết vì sao tôi lại sợ nàng? - Cô ngừng lại rồi hùng hổ nói tiếp - Vả lại tôi đã hình dung được rất rõ ả rồi, ả Corinna ấy! - Thật hả? - Almsbury lễ phép nói. ... Mời các bạn đón đọc Amber: Kiếp Hồng Nhan của tác giả Kathleen Winsor.
Thời Bi Tráng - Nguyễn Văn Thịnh
Nửa sau thế kỷ XX là thời kỳ biến động lớn nhất trong lịch sử Việt Nam. Vì độc lập, tự do và thống nhất tổ quốc, người Việt Nam liên tục phải đương đầu với những thế lực bành trướng lớn nhất trong lịch sử loài người. Thành thị là nơi hợp lưu người tứ xứ. Nhưng mỗi nơi hình thành những đặc trưng cư dân khác nhau. Người Hà Nội là đặc trưng của nền văn hóa sông Hồng, tiêu biểu là nền văn hóa Thăng Long. Qua những biến thiên thời cuộc, người Hà Nội trải khắp theo chiều dài đất nước và tỏa đi tứ xứ, tiếp thu nhanh văn minh thời đại. Kết hợp truyền thống văn hóa Đại Việt họ luôn hướng về cội nguồn dân tộc, góp phần xứng đáng vào việc bảo vệ tổ quốc để dân tộc trường tồn. Thời Bi Tráng là tiểu thuyết về thời kỳ lịch sử ấy. Truyện là chuỗi hồi ức sống động mang nét sử thi với nhiều nhân vật vương bóng nhũng con người thật, nổi chìm theo sự đổi thay trong bối cảnh thời gian và không gian đất nước rộng dài. Dưới thể tiểu thuyết chính luận xã hội, những sự kiện và diễn biến thời cuộc được sưu tầm cẩn trọng, phong phú, công phu gần với tiến trình lịch sử. Tác giả sinh ra và lớn lên ở đất Hà Thành và trôi nổi theo dòng thác biến động xã hội lớn lao suốt mấy mươi năm từ Bắc vào Nam, lòng còn mang đậm ký ức tuổi thơ về cố đô Thăng Long. Những kỷ niệm của tuổi ấu thơ ngọt ngào và tuổi thanh xuân buồn vui trong khói lửa chiến tranh cùng cuộc sống xô bồ trong buổi giao thời. Những sự kiện ngày một mờ đi. Những con người ngày càng vắng bóng. Nhưng những dấu tích còn vương lại nơi trang sách, họa là chút gợi nhớ với lớp chứng nhân và gợi cảm với lớp người sau về một quá khứ bi hùng... *** Hà Nội, mùa thu Mậu Tuất 1958. Vào một buổi trưa, cuối đê La Thành đầu ô Đống Mác, trên con đường trải đá xanh lởm chởm, một người tàn tật mặc quân phục, đội chiếc mũ gắn ngôi sao vàng quân hiệu điều khiển chiếc xe lăn quanh quẩn nhiều lần, đưa mắt dò tìm khắp hai dãy phố. Trời bỗng sầm tối lại. Cơn dông ập tới. Con lốc xoáy chạy dọc trên đê cuốn theo khối bụi mịt mù lẫn rác và lá bay lả tả. Những giọt mưa nặng hạt đập lộp bộp rải rác lưa thưa trên những mái nhà, tán lá. Người ta nháo nhác chạy tìm chỗ trú. Anh thương binh dừng xe, cúi gằm xuống, một tay ghì cần lái, một tay giữ chặt mũ cho gió khỏi giật đi. Những hạt mưa mau hơn rải đều lan ra phát lên tiếng rào rào hỗn tạp. Đám mây như con trâu đen trũi ầm ầm chạy qua, đuổi theo sau lại là khoảng trời quang đãng mênh mông rực nắng. Anh thương binh ngẩn ngơ nhìn trước nhìn sau lại thủng thỉnh cho xe đi dò dẫm. Cơn mưa bóng mây ào ào chợt đến, chợt đi. Lại vang lên những tiếng người gọi nhau í ới, những tiếng còi và chuông xe đủ loại pin… pin! kính… coong! ếp ... ếp! và những tiếng thét vội vã cáu kỉnh tục tằn của cuộc sống phố phường thường nhật. Bầu trời lại hiện ra cao ngất ngằn ngặt trong xanh với những áng mây trắng muốt mỏng tang nhởn nhơ đuổi nhau bay về phía chân trời. Anh thương binh dừng xe trước Nhà máy nước, ngại ngùng nhìn con dốc đối diện bên một ngôi nhà tầng cất dở dang nhưng vẫn trưng tấm biển Nhà hộ sinh to tướng. Mấy người đàn ông đứng lơ ngơ quanh đó chạy tới vồn vã hỏi: - Đồng chí bộ đội tìm ai hay muốn vào trong làng? - Vâng! Tôi vào làng trong. Họ xúm nhau lại khiêng cả anh thương binh cùng chiếc xe xuống dốc và ríu rít thân mật hỏi : - Đồng chí bị thương à? - Đồng chí vào nhà ai? Có việc gì không? - Xin cảm ơn các bác! Tôi về nhà tôi. Giọng anh run run và đôi tay anh lập cập điều khiển chiếc xe bon bon như chạy. Con đường làng quen thuộc đây! Những viên gạch dày cộp mòn trũng mấp mô. Dưới gánh nặng của thời gian, rìa đường từng mảng nứt trĩu xuống như muốn rời ra. Con sông Tô Lịch làm ranh giữa làng trong với làng ngoài đôi bờ hẹp lại, nông toèn, đen đặc, tỏa ra một không khí nặng nề. Anh thương binh nhẹ tay đẩy, thủng thẳng nhận ra từng địa danh dấu tích: Đây là hồ Trung! Bên đây là hồ Cổ Ngựa! Mấy đứa trẻ con tò mò nhìn anh xa lạ. Mấy người lớn ngờ ngợ nhưng chiếc xe đã lăn qua khiến họ chưa kịp nhận ra người cũ. Đình làng Hương Thể mình đây! Đình chùa đều bị chiến tranh tàn phá, hơn chục năm rồi vẫn là mái ngói mái tranh tạm bợ trên cốt tường cũ loang lổ gió sương. Cái giếng trước cổng chùa ngày nào nước trong xanh là thế, cả làng ra đây gánh nước về ăn, giờ chỉ còn là cái ao toen hoẻn đặc bèo tổ ong xám ngoét. Cổng đình xưa cao to ngất ngưởng uy nghi giờ là một khoảng trống thông thống với đường làng. Cây đa phủ bóng rợp sân đình, rễ của nó làm bật tung lên những viên gạch lát mòn. Anh dừng xe áp sát vào khúc tường tào xá sứt mẻ rêu phong, hướng ra hồ Đình, ngày xưa có kệ gạch xây rộng lắm. Chiều chiều lớp nhỏ và các anh lớn ra đây vẫy vùng thỏa thích, bây giờ lềnh bềnh những mảng bèo tây. Cái giếng thơi to tướng giữa sân đình đã bị san phẳng đi rồi, mấy đứa trẻ quần nhau một quả bóng bưởi, nhễ nhãi mồ hôi… Anh ngửa mặt nhìn lên tán đa cổ kính già nua, không để ý có người dừng lại dõi nhìn theo. Tiếng ai hỏi làm anh giật mình quay lại: - Ai như là Nghĩa… phải không? Anh bỏ mũ ra. Người ta chạy lại, xúm quanh, nhận ra người làng mình, tíu tít: - Thằng Nghĩa! - Anh Nghĩa! - Cậu Nghĩa! - Cháu nội cụ Hai Mùi! - Con ông Hai Nhàn… Ông ấy chết sớm lắm! - Cháu gọi ông Ba Thanh bằng chú đấy! - Sao đến bây giờ mới về? - Tưởng chết ở mãi đâu rồi chứ! Thấy anh tần ngần, một người giải thích: - Những ngày đầu kháng chiến, lính Pháp nã vãi đạn pháo vào làng, người chết rải rác khắp nơi. Sau nó tràn vào, bắt người sống quăng xác người chết xuống giếng đình nên dân làng phải lấp đi! Nghĩa dần nhận ra từng người nhưng anh không thể trả lời những câu hỏi dồn dập được. Mấy đứa trẻ sấn tới xăm xăm đẩy xe đi: - Chú bộ đội… thương binh về nhà ai? Người ta theo nhau dặn với: - Đất nhà cụ Hai Mùi ở dọc hồ Dài! - Ông Ba Thanh giờ ở… trên phố! - Bà Gái… à bà Bình ấy là cháu nội còn ở đấy! Chiếc xe chạy băng băng dưới sức đẩy của đám trẻ háo hức nhiệt tình và tranh nhau hỏi: - Chú bộ đội bị thương ở đâu thế? - Chú có đánh trận Điện Biên không? - Chú còn đi được nữa không? - Chú không có vợ con à? - Chú Úy hay là Tá? - Là lính… trơn! – Anh trả lời bâng quơ. Một đứa ra vẻ người lớn, giải thích: - Chú giấu sao được bọn cháu. Đi bộ đội lâu thế, bị thương nặng thế, “bốn túi chân trì” lại được cấp xe riêng… bét cũng phải là Đại úy! ... Mời các bạn đón đọc Thời Bi Tráng của tác giả Nguyễn Văn Thịnh.
Đi Tìm Chiếc Bình Graal - Vincent Watelet
Chiếc bình thiêng có tên là Graal trong đó đã chứa những giọt máu quý giá của Đấng Cứu Thế vào ngày Chúa tử nạn trên cây thánh giá để cứu vãn những nỗi khổ của loài người. Một thiên thần đã đọc cho Joséphé viết nên câu chuyện này. Đến lượt tôi, tôi lại kể các bạn nghe để các bạn biết sự thật về những hiệp sĩ và những con người thần thánh qua các cuộc phiêu lưu kỳ lạ đầy nguy hiểm của mình đã làm thế nào để cuối cùng chinh phục được chiếc bình Graal. Vào thời kỳ Chúa tử nạn trên cây thánh giá, ở Jérusalem có một người tốt bụng và chính trực tên là Joséphé d’ Arimathie, ông đã đi theo Chúa trên tất cả các chặng đường đau khổ của Người. Nghe nói chính Joséphé đã hứng những giọt máu chảy ra từ những vết thương của Chúa vào trong chiếc bình Graal, chiếc bình thiêng này được giữ và lưu truyền trong gia đình Joséphé từ đời cha sang đời con trong thời gian rất dài. Rồi một hôm, chiếc bình Graal, sau khi đã chu du qua nhiều đại dương, được mang tới nước Anh do một người cháu họ lâu đời của Joséphé, mà người ta chỉ biết dưới tên gọi "Vua Câu Cá". Vị vua này không trị vì như các vị vua khác trên trái đất mà cho xây tại một nơi bí mật một lâu đài rộng mênh mông xứng đáng lưu giữ chiếc bình thiêng, sau đó giam mình trong lâu đài để cầu nguyện. ít lâu sau một vị vua mới lên ngai vàng vương quốc Anh, tức là vua Arthur. *** Perceval đi ngựa lâu lắm, hy vọng cuối cùng tìm được lâu đài vua Câu Cá. Trên đường, chỗ nào chàng cũng nhìn thấy những dấu hiệu của cái ác cái xấu đang hoành hành trong vương quốc: trang trại bị cháy rụi, nhà tu bị phá phách, đất đai hoang tàn... Lòng chàng đau đớn trước những thảm họa này và càng mong mau chóng đạt tới mục đích của cuộc tìm kiếm. Nhưng mãi vẫn chẳng thấy lâu đài Graal đâu cả... Một hôm, trong khi cứ lang thang như vậy không biết đi đâu thì chàng gặp cô gái trọc đầu, người đã để lại tấm khiên ở lâu đài Camelot mà hiện chàng đang mang, giữa có chữ thập đỏ chót. - Xin chào hiệp sĩ, - cô nói. - Ta chưa bao giờ gặp nhau, ấy thế nhưng tôi xin bảo đảm với chàng rằng số phận chúng ta ràng buộc chặt chẽ với nhau. Không! Xin chàng đừng nói gì hết! -.Cô vội nói khi Perceval định cất lời. - Tôi biết chàng là ai và chàng đang đi tìm cái gì. Vì vậy chàng hãy nghe tôi nói. Một thử thách cuối cùng đang chờ đợi chàng. Chắc chàng đã nghe tên tay hiệp sĩ ác Long và các hiểm họa hắn gây ra quanh lâu đài Camelot. Chàng phải thắng bằng được tên hiệp sĩ Dragon Argent này mà muốn vậy chàng hãy mau chóng trở lại Camelot. - Đã bao lần rồi, kể từ lâu lắm, tôi cứ phải rời xa mục đích đã dắt dẫn cuộc đời tôi! - Per-ceval kêu lên. Chàng bỗng thấy mình vô cùng mệt mỏi. - Chàng hãy tin tôi, con đường chàng tìm phải đi qua những cuộc giao tranh mới tới được, - cô gái trọc đầu nói rồi bỏ đi. - Hỡi chàng hiệp sĩ được chúa Trời ban phúc, ta sẽ gặp nhau sau! Perceval hiểu rằng từ nay đời chàng không còn thuộc về mình nữa, chàng phải nhất nhất tuân theo các hiệu lệnh đưa ra trước mặt mình. Mà cuộc gặp gỡ này là một trong những hiệu lệnh ấy. Chàng bèn theo con đường dẫn về lâu đài Camelot và tới đây sau nhiều ngày đường. Gau-vain và Lancelot, mới trở lại đây từ chưa lâu lắm đón tiếp chàng rất nồng nhiệt và khi nghe chàng bày tỏ động cơ trở lại Camelot họ nhất trí chàng làm như vậy là đúng. - Xin thề với ngôi mộ của Chúa, lưỡi kiếm này sẽ cùng lưỡi kiếm của bạn đâm xuyên thân mình tên hiệp sĩ Dragon Argent! - Lancelot hứa. - Và kiếm của tôi cũng vậy! - Gauvain phụ họa. Những thể hiện của tình bằng hữu ấy làm tâm hồn Perceval mạnh mẽ thêm, chàng quyết định cả ba ngay sáng sớm hôm sau sẽ lên đường đương đầu với tên hiệp sĩ đang phá hoại cả vùng đó. Ngày hôm sau họ tỉnh dậy thì đã thấy tất cả các hiệp sĩ Bàn Tròn tập trung trong sân lâu đài và xin với họ cho đi cùng. Nhưng Perceval từ chối chỉ để Lancelot và Gauvain đi theo mình. Họ phóng ngựa rất lâu, rời khu rừng ra vùng đồng bằng rộng lớn, từ đây ra đến biển không bao xa. Vừa tới gần bờ biển thì một thầy tu mình đầy máu lại gần họ. - Thưa các ngài, xin các ngài hãy chọn con đường khác và đi xa vùng bờ biển này ra! Bởi vì trên hòn đảo trước mặt các ngài kia là lâu đài.của tên hiệp sĩ Dragon Argent, không ai thoát được hắn đâu! Ba hiệp sĩ trấn an thầy tu và hỏi xem có thể kiếm thuyền ở đâu. Thấy ba chàng kiên quyết như thế ông thầy tu đưa họ đến một chỗ có thể xuống thuyền lên đảo. ... Mời các bạn đón đọc Đi Tìm Chiếc Bình Graal của tác gi Vincent Watelet.
Tôi Là Lưu Nhảy Vọt - Lưu Chấn Vân
“Tôi là Lưu Nhảy Vọt” là cuốn tiểu thuyết hài dí dỏm mang đậm phong cách của nhà văn Trung Quốc - Lưu Chấn Vân. Nội dung xoay quanh câu chuyện mất túi xách của anh đầu bếp Lưu Nhảy Vọt. Trong khi đi tìm, gã lại nhặt được một chiếc túi khác. Bí mật trong chiếc túi này liên quan đến tính mạng của một số nhân vật thuộc tầng lớp trên trong xã hội. Lưu Nhảy Vọt lập tức trở thành mục tiêu săn tìm của bọn họ. Gã giống như một chú cừu vô tình lạc vào giữa bầy sói. Sự xuất hiện của chú cừu làm thế giới trở nên không kiểm soát nổi... kéo theo bao tình huống nực cười và mở ra muôn mặt đời thường của đủ mọi dạng người trong xã hội, từ chủ thầu xây dựng tới giám đốc công ty có bà vợ hay ghen, cô ca sĩ bày trò chán ăn để tạo scandal, ông Bộ trưởng. Một cuộc kiếm tìm đầy thú vị về chiếc túi xách với số tiền mặt và giấy ghi nợ trị giá hơn 3 vạn tệ của người tình vợ Lưu Nhảy Vọt đền bù cho ông chồng bị cắm sừng… sẽ lôi cuốn độc giả hết từ bất ngờ này tới bất ngờ khác. Tiểu thuyết xuất bản tại Trung Quốc tháng 11 - 2007, bán được 40.000 bản ngay trong 02 tháng đầu phát hành. Tác phẩm được chuyển thể thành phim truyện nhựa cùng tên do nữ đạo diễn Mã Lệ Văn thực hiện, bắt đầu công chiếu tại nước này từ ngày 18.1.2008, với sự tham gia của các ngôi sao: Tần Hải Lộ, Lí Dị Tường, Cao Quần Thư, Trần Đại Minh... Bộ phim nhanh chóng lập kỷ lục về doanh thu với hơn 10 triệu tệ chỉ sau 3 ngày đầu công chiếu. *** Mọi bi kịch đều không có chỗ cho sự lựa chọn. Trong bi luôn có hài. Lưu Chấn Vân. Gã đồng hương với Tưởng Giới Thạch lấy ngón tay cái và ngón giữa chụm vào nhau thành hình chữ O giơ lên, đầu gật gù, miệng nói giọng quan thoại Chiết Giang. Thế thì đúng rồi. Mọi căn nguyên đều từ chuyện sảy thai mà ra, chứ không hề liên quan đến tuổi thơ và người mẹ của Cù Lợi. Điều mà Cù Lợi lo lắng không phải là Nghiêm Khắc, cũng không phải bản thân, cũng chẳng phải cả thế giới, mà là con cái. Kiểm tra quần lót của Nghiêm Khắc vì sợ chồng có con với người đàn bà khác. Rồi lại bắt đầu chiến tranh lạnh. Chỉ vì mỗi chuyện đầu tóc mà cãi nhau loạn lên với các hiệu làm đầu xung quanh, ấy là để xả cơn phiền muộn ra ngoài. Càng ăn càng béo là vì tâm lý đã đập bát thì đập cho tan luôn. Rồi tiến tới, căn nguyên của bệnh cũng chẳng phải ở chuyện con cái nữa, mà là sợ mình không có con, sau này, tài sản sẽ rơi vào tay ai. Nói cách khác, là tiền. Đã tìm ra nguyên nhân, tay bác sĩ cảm thấy nhẹ nhõm, khoan khoái hẳn. Bản thân Cù Lợi, lẽ ra, cũng nên thấy nhẹ nhõm mới phải, nhưng không, cô ta càng trầm cảm, u uất hơn. Bởi cô ta không có cách nào giải quyết căn nguyên này. Vốn không đến mức lo lắng cho thế giới như thế, nhưng giờ đây, Cù Lợi lại càng lo lắng hơn. Vốn dĩ điều làm cô ta lo lắng là cả thế giới, nhưng sau khi nghe lời mách bảo của bác sĩ, dần dần, nỗi lo lắng của Cù Lợi tập trung cả vào một mình Nghiêm Khắc. Hơn lúc nào hết, cô ta để ý đến nhất cử nhất động, mỗi lời nói, việc làm của Nghiêm Khắc ở bên ngoài. Cô ta cũng biết, sự lo lắng và kiểu để ý thái quá như vậy rất dễ phản tác dụng. Cũng có thể, điều mà cô ta cần chính là sự phản tác dụng. Muốn dùng sự phản tác dụng, dùng sự bùng nổ, dùng kết quả tồi tệ nhất, dùng sự giết người, dùng sự máu chảy thành sông để chứng minh cái sai không phải ở mình, đồng thời, đổ hết trách nhiệm cho đối phương và thế giới. Ngày trước, cô ta lo Nghiêm Khắc có người đàn bà nào đó ở bên ngoài. Bây giờ, Nghiêm Khắc chẳng có người đàn bà nào ở bên ngoài cả, điều ấy lại làm cô ta thấy không yên tâm. Có khi, Nghiêm Khắc vụng trộm ở ngoài càng nhiều lại càng tốt. Càng nhiều, càng làm cho mong ước của cô ta sớm thành hiện thực. Chuyến đi Thượng Hải lần này vốn không phải để khám bệnh, mà là một thói quen. Hôm qua, một bạn ruột của Cù Lợi gọi điện thoại mách chuyện báo đăng ảnh Nghiêm Khắc chụp với cô ca sĩ sao. Bạn ruột của Cù Lợi cũng là vợ của một gã nhà giàu, to béo phục phịch. Đương lúc cảm khái, giọng bà bạn có phần hưng phấn. Điều ấy lại giúp Cù Lợi nhận rõ bộ mặt thật của bà bạn ruột. Cũng thuộc dạng người lúc nào cũng mong bạn mình gặp xúi quẩy. Loại tâm lý có vấn đề. Nhưng bà bạn ruột không hề biết rằng, khi biết tin này, Cù Lợi không hề buồn bã, mà trái lại, cũng hưng phấn như bà bạn ruột. Giống như ngựa chiến khi ngửi thấy mùi sa trường và máu, là máu trong huyết quản lập tức sôi sục. Nhưng trong điện thoại, Cù Lợi lại làm ra vẻ khổ tâm, cũng có ý để cho bà bạn mắc lừa. Thực sự, cô ta đã sẵn sàng cho sự kìm nén. Cô ta muốn nuốt trọn quả mật đắng và liều thuốc độc này. Núi lửa tích tụ càng lâu, thì lửa phun ra càng dữ dội. Máy bay chở Cù Lợi đáp xuống sân bay thủ đô Bắc Kinh. Nghiêm Khắc tất tưởi ra đón vợ, trong tay cầm một tờ báo. Cù Lợi biết, Nghiêm Khắc cố làm ra vẻ thật thà để che giấu sự thật, chiếm lấy tiên cơ. Sau khi lên ô-tô, Cù Lợi ngồi ôm con chó cưng, còn Nghiêm Khắc thì giở tờ báo ra, chỉ cho vợ xem bức ảnh, rồi giải thích: - Mình có tin hay không thì tùy. Nhưng lúc ấy tôi đang mua khoai lang, không để ý cô ta là ai. Ý đồ quá lộ liễu của chồng chợt làm Cù Lợi sôi giận. Vốn không muốn mắc bẫy của bà bạn ruột, nhưng giờ đây Cù Lợi lại sập bẫy. Cơn giận đã định kìm nén, bỗng chốc bùng lên. Cù Lợi nói: - Mình việc gì phải căng thẳng thế? Để tôi đến hiện trường hỏi han là ra hai năm rõ mười ngay ấy mà. - Chuyện từ hôm qua, ai người ta nhớ? Cù Lợi mặc kệ, bảo lái xe đi thẳng đến đoạn phố trong ảnh. Nhưng mụ làm như vậy lại vừa vặn mắc lừa Nghiêm Khắc. Nghiêm Khắc không phải muốn che giấu quanh co, mà muốn khuất phục đối phương một cách mềm mỏng. Điều gã ta mong đợi chính là để Cù Lợi đến hiện trường. Trước đây, Cù Lợi từng đến những hiện trường khác, làm gã cứ nơm nớp. Nhưng lần này thì khác. Mọi việc đều đã được cắt đặt kỹ lưỡng. Đến mức, gã lo mình đã mất công đạo diễn một vở kịch như thế. Gã không phải muốn nhân dịp này để phủ định việc mình đã làm, mà là để phủ định cả con người Cù Lợi. Nghiêm Khắc cũng vào vai, làm ra vẻ bất đắc dĩ: - Mình thích thế nào thì tùy. Rồi cùng Cù Lợi đến con phố hôm qua. Lưu Nhảy Vọt vốn rất tự tin, nhưng khi trông thấy Cù Lợi và Nghiêm Khắc xuống xe, vở kịch bắt đầu mở màn, gã bỗng thấy có chút căng thẳng. Dù sao, trước đây, gã cũng chưa từng bao giờ diễn kịch, càng chưa từng diễn cuộc sống. Diễn cuộc sống, té ra, còn khó hơn cả diễn kịch.   Mời các bạn đón đọc Tôi Là Lưu Nhảy Vọt của tác giả Lưu Chấn Vân.