Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Bài Ca Núi Anpơ

Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Bài Ca Núi Anpơ của tác giả Vasil Bykov & Văn Phú (dịch).   Nhiều thế hệ các nhà văn Xô-viết đã khai thác đề tài về cuộc chiến tranh vệ quốc vĩđại, soi rọi nó từ nhiều góc độ khác nhau, và đã tạo nên những tác phẩm xuất sắc của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa viết về chiến tranh. Sau Phađêep. Erenbua, Sôlôkhốp, Ximônốp, v.v… những năm gần đây độc giả Xô-viết đánh giá cao các tác phẩm của Bônđarep, Tsakopxky, Bưcốp... và một loạt các tác giả trẻ khác. Trong lớp nhà văn kể trên, Vaxin Bưcốp, người Bieldrutxia (Bạch Nga), có một vị trí đặc biệt, và sở trường về truyện vừa. Ông đã được thưởng Huân chương Sao đỏ. Sinh năm 1924 ở Vilepcko, Bưcốp đã bước vào tuổi 18 đồng thời với cuộc chiến tranh khốc liệt chống phát xít. Cả thời thanh niên, Bưcốp đã lăn lộn trong chiến hào, và dấu ấn của những cuộc chiến đấu ấy còn in đậm suốt đời trong sáng tác của ông. Bản thân Bưcốp đã từng bị thương nặng, ngất lịm lâu đến nỗi đã được xếp vào hố chôn cùng với những người hy sinh, nhưng may mắn sao, ông đã tỉnh lại và được đưa về cứu chữa. Có lẽ vì thế, những trang miêu tả chiến đấu trong tác phẩm của ông hết sức chân thật, nóng bỏng. Ông không bao giờ nhìn chiến tranh bằng con mắt tĩnh tại, hoặc muốn đơn giản hóa hiện thực. Không phải ngẫu nhiên, nhà phê bình văn học E. Xi-Đôrốp đã viết: «Tất cả các tác phẩm của V. Bưcốp đều được soi rọi trong một ảnh sáng chân lý khốc liệt mang tính bi kịch: Có những giờ phút lịch sử mà con người chỉ có thể bảo tồn và xác định được những gì còn là chất người ở trong mình bằng cách trả giá cao nhất. đó là hy sinh mình hẳn về thể chất, để tạo nên được một chiến công!». Và chính Vaxin Bưcốp cũng đã phát biểu quan niệm sau đây về sáng tác của mình: «Điều trước tiên và chủ yếu mà tôi quan tâm là hai yếu tố đạo đức, có thể thâu tóm đơn giản như sau: Con người là gì khi đứng trước sức mạnh hủy diệt của một hoàn cảnh phi nhân đạo? Con người có năng lực làm được gì, khi mọi khả năng giành quyền sống đã bị vắt kiệt đến tận đáy? ...». Như vậy, đối với ông, cái kết cục cuối cùng của nhân vật không quan trọng bằng ý thức chủ đạo của con người hành động, con người tự vượt lên khỏi hoàn cảnh tưởng như không lối thoát của mình. Do quan niệm như vậy, Bưcấp không ngần ngại đầy nhân vật của mình vào những thử thách thắt nút, đến mitc, mọi giá trị tinh thần, đạo đức phải được phơi bày đến đây. Lúc bình thường, những nhân vật của Bưcốp không hề là những người xuất sắc hoặc có tính cách gì đặc biệt, thậm chí còn khá nhiều yếu điểm, khuyết điểm. Nhưng khi linh cách của họ được tôi luyện qua hoàn cảnh chiến đấu, họ trở nên mạnh mẽ, cao thượng, và sẽ tới lúc, họ làm nên những kỳ tích phi thường, đến chính họ cũng không ngờ. Đó là chủ kiến của Bucop về con người bình thường, – có thể nói là lầm thường. Tính bi kịch cũng là nét nổi bật trong các tác phẩm của Bưcốp. Hầu như tác phẩm của ông cũng mang đậm tính bi kịch: Từ Tiếng bầy sếu kêu (1960) đến Phát tên lửa thứ ba (1962)— tác phẩm đã gây ra khá nhiều tranh cãi về phẩm chất con người Xô-viết – đến Bài ca núi Anpơ (1964)— một mối tình quốc tế cảm động của những người tù - rồi tới Điểm cao đáng nguyền rủa (1968). Xốtnhicốp (1970). Đài kỷ niệm (1976), chất là kịch trong những tình huống mà nhân vật phải trải qua, càng ngày càng đậm, và làm người đọc phải suy nghĩ sâu sắc. Nhưng, ưu điểm của Bưcốp là ở chỗ tính bi kịch này không làm yếu con người trong tác phẩm của ông. Nó chỉ càng thúc đẩy con người vươn lên. Tới những tính cách mạnh mẽ, những quyết định quả cảm, và vì thế nó có tinh chất tích cực, tính chất tiến công. Nói khác đi, nó đẩy nhân vật của Bưcốp vươn tới chủ nghĩa anh hùng ngay cả trong điều kiện không thuận lợi nhất. Trong cuộc chiến đấu vừa với nội tâm, vừa với ngoại cảnh ấy, không một người nào được quyền sống vô ích và chết vô ích. Mỗi cá nhân phải trả lời trước tập thể, trước cả lịch sử nữa, về những hành động của mình, dù anh ta ở trong một hoàn cảnh biệt lập đi chăng nữa. Anh ta phải vận dụng mọi ý chí, kinh nghiệm, xử trí mọi quan hệ theo lương tâm và trách nhiệm cao nhất của mình. Chính đó là nét đặc trưng trong nhân vật của Bưcốp, mà nhà lý luận mỹ học V. Borep gọi là “tính tích cực lạc quan trong nhân vật bi kịch, đẩy vọt nhân vật lên tới tầm vóc tiến công”. Giới thiệu hai truyện vừa của V. Bưcốp được dư luận Liên Xô khá chú ý là Bài ca núi Anpơ và Phát tên lửa thủ ba( 1), chúng tôi mong giới thiệu thêm với bạn đọc Việt Nam một phong cách viết về chiến tranh, về chủ nghĩa anh hùng thầm lặng của người chiến sĩ, không phải trong chiến thắng vẻ vang, mà ngay trong những giây phút khó khăn, nặng nề, thậm chí tạm thời thất bại; giây phút mỗi người phải đối mặt với sự hy sinh và cái chết, tự đấu tranh với bản thân để giữ được và phát huy những gì cao đẹp, trong sáng nhất trong mình. NHÀ XUẤT BẢN TÁC PHẨM MỚI *** TÓM TẮT Bài ca núi Anpơ là một truyện vừa của nhà văn Vasil Bykov, được xuất bản năm 1964. Truyện kể về câu chuyện tình yêu giữa hai người tù chiến tranh, một người Nga và một người Đức, tại một trại tù ở dãy núi Anpơ. Nhân vật Nikolai Kovaliov: Một người lính Hồng quân bị bắt làm tù binh. Anh là một người đàn ông mạnh mẽ và kiên cường, nhưng cũng rất tình cảm. Inga: Một cô gái Đức bị bắt làm tù binh. Cô là một người phụ nữ xinh đẹp và dịu dàng, nhưng cũng rất kiên cường và dũng cảm. Cốt truyện Kovaliov và Inga gặp nhau trong một trại tù ở dãy núi Anpơ. Họ nhanh chóng bị thu hút bởi nhau, nhưng tình yêu của họ gặp phải rất nhiều khó khăn. Họ phải đối mặt với sự thù địch của những tù nhân khác, những người không muốn nhìn thấy một người Đức và một người Nga yêu nhau. Họ cũng phải đối mặt với sự nghi ngờ của chính bản thân mình, khi họ không thể tin rằng một người như họ có thể yêu một người như người kia. Dù vậy, tình yêu của họ vẫn vượt qua mọi thử thách. Họ đã cùng nhau vượt qua những ngày tháng khó khăn trong trại tù, và họ đã cùng nhau trốn thoát. Họ đã đến được một vùng đất tự do, nơi họ có thể sống cùng nhau và xây dựng một tương lai mới. Tính bi kịch Bài ca núi Anpơ là một truyện ngắn mang đậm tính bi kịch. Tình yêu của Kovaliov và Inga phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, và họ đã phải hy sinh rất nhiều để được ở bên nhau. Họ đã phải rời bỏ quê hương, gia đình và bạn bè của mình. Họ cũng đã phải đối mặt với sự thù địch của những người khác. Tuy nhiên, tính bi kịch trong truyện cũng không làm giảm đi sức hấp dẫn của nó. Tình yêu của Kovaliov và Inga là một tình yêu đẹp và cao thượng, và nó đã vượt qua mọi thử thách để tồn tại. Đánh giá Bài ca núi Anpơ là một truyện ngắn xuất sắc của Vasil Bykov. Truyện đã khắc họa một cách chân thực và cảm động câu chuyện tình yêu giữa hai người tù chiến tranh. Truyện cũng đã thể hiện được sức mạnh của tình yêu, khi nó có thể vượt qua mọi thử thách. Review Bài ca núi Anpơ là một truyện ngắn rất đáng đọc. Truyện có một cốt truyện hấp dẫn, những nhân vật được xây dựng tốt và một thông điệp nhân văn sâu sắc. Truyện sẽ mang đến cho bạn những cảm xúc sâu lắng và những suy ngẫm về tình yêu, chiến tranh và con người. Dưới đây là một số điểm nổi bật của truyện: Cốt truyện hấp dẫn: Truyện kể về một câu chuyện tình yêu giữa hai người tù chiến tranh, một người Nga và một người Đức. Chuyện tình của họ gặp phải rất nhiều khó khăn, nhưng cuối cùng họ đã vượt qua tất cả và được ở bên nhau. Nhân vật được xây dựng tốt: Kovaliov và Inga là hai nhân vật được xây dựng rất tốt. Họ là những người có tính cách mạnh mẽ, kiên cường và tình cảm. Thông điệp nhân văn sâu sắc: Truyện gửi gắm một thông điệp nhân văn sâu sắc về tình yêu, chiến tranh và con người. Tình yêu có thể vượt qua mọi thử thách, ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn nhất. Nếu bạn đang tìm kiếm một truyện ngắn hấp dẫn và ý nghĩa, thì Bài ca núi Anpơ là một lựa chọn tuyệt vời. *** Điều trước tiên và chủ yếu mà tôi quan tâm là hai yếu tố đạo đức, có thể thâu tóm đơn giản như sau: Con người là gì, khi đứng trước sức mạnh hủy diệt của một hoàn cảnh phi nhân đạo? Con người có năng lực làm được gì, khi mọi khả năng giành quyền sống đã bị vắt kiệt đến tận đáy?... V. BƯCỐP Những năm gần đây độc giả Xô Viết đánh giá cao các tác phẩm của Bondarep, Tsakopxky, Bưcốp… Trong lớp nhà văn kể trên, Vaxin Bưcốp, người Biêlðrutxia (Bạch Nga), có một vị trí đặc biệt và sở trường về truyện vừa. Ông đã được thưởng Huân chương Sao đỏ. Sinh năm 1924 ở Vitepxkơ, Bưcốp đã bước vào tuổi 18 dòng thời với cuộc chiến tranh khốc liệt chống phát xít. Cả thời thanh niên, Bucốp đã lăn lộn trong chiến hào, và dấu ấn của những cuộc chiến đấu ấy còn in đậm suốt đời trong sáng tác của ông. Có lẽ vì thế, những trang miêu tả chiến đấu trong tác phẩm của ông hết sức chân thật, nóng bỏng. Ông không bao giờ nhìn chiến tranh bằng con mắt tĩnh tại, hoặc muốn đơn giản hóa hiện thực. Nhiều tác phẩm của ông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Trong số đó nổi bật nhất là những cuốn: Tiếng bầy sếu kêu (1960), Phát tên lửa thứ ba (1962), Bài ca núi Anpơ (1964), Điểm cao đáng nguyền rủa (1968), Xôtnhicốp (1970), Đài kỷ niệm (1976)...   GIÁ: 17 Đ Mời các bạn mượn đọc sách Bài Ca Núi Anpơ của tác giả Vasil Bykov & Văn Phú (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Ngực Và Trứng - Mieko Kawakami
Câu chuyện liên quan đến chuyến đi thăm ngắn của một phụ nữ và cô con gái từ Osaka đến một căn hộ ở Tokyo của người em gái, mà cò vai trò là người tường thuật trong câu chuyện; người chị gái 39 tuổi là Makiko, đến thăm Tokyo; và cô con gái đến tuổi dậy thì của Makiko là Midoriko. Makiko là một bà mẹ độc thân, là một nữ hầu bàn ở quán bar, và đang nghĩ cách để làm to bộ ngực của mình lên thông qua phẫu thuật; Midoriko là một đứa trẻ buồn rầu, suốt ngày im lặng. Cả 2 bọn họ đến thăm em gái của Makiko, người dẫn chuyện, ở Tokyo, và câu chuyện diễn ra trong thời gian 3 ngày trong chuyến đi thăm của họ. Chuyện kể được đặt rải rác với các trích đoạn nhật ký của Midoriko. Chủ đề của cuốn sách là những người phụ nữ họ cảm thấy về cơ thể của họ như thế nào. Chúng ta chưa bao giờ tìm hiểu được ngọn nguồn vì sao Makiko muốn ngực của mình to lên, vấn đề tranh cãi thực sự được đưa ra là liệu cô ấy làm việc đó cho chính bản thân mình hay cho những người đàn ông. Trong lúc đó, cô bé Midoriko lại lo sợ về điều đó, và bị ám ảnh về chu kỳ rụng trứng, kinh nguyệt của phụ nữ. Cô bé ghét phải sinh sản, ghét suy nghĩ về sinh sản. Và thương hại mẹ cô, và mong muốn giá mà mẹ đã không sinh ra mình. Đây là một vấn đề đang gây tranh cãi, và được đông đảo giới trẻ quan tâm. Cuốn sách đoạt Giải thưởng văn học uy tín nhất của Nhật Bản Akutagawa dành cho các tác giả trẻ năm 2008. *** Mieko Kawakami vốn là một blogger đang được xếp vào vị trí trang trọng trên văn đàn Nhật, thậm chí ngay cạnh Haruki Murakami. Trước khi viết văn, Mieko Kawakami là một ca sĩ và một nhạc sĩ. Sau đó, cô chuyển sang làm thơ và tìm đến blog như là một nơi để thổ lộ, bày tỏ những cảm nhận, suy nghĩ của mình về những điều xảy ra trong cuộc sống của cô, cũng như trong một nước Nhật hiện đại. Tiểu thuyết đầu tay của Mieko là cuốn sách được cô viết trước tiên trên mạng Internet. Đến nay cô đã viết được 4 cuốn và cuốn gần đây nhất Ngực và Trứng, vừa đoạt giải Akutagawa, một trong những giải văn học Nhật lớn nhất dành cho tiểu thuyết gia mới. *** Trứng(1) phần lớn còn được gọi với cái tên là tế bào trứng, nếu vậy thì tại sao nó lại được gắn với chữ “tử”? Hay chữ “tử” cũng chỉ được ghép để thành từ “tinh trùng”?(2) Mình đã nhiều lần đến phòng đọc nhưng thủ tục mượn sách khá phức tạp, hầu như rất ít đầu sách, nào là chật chội này, tối này, và nhất là thật khó chịu khi đang tập trung đọc một cuốn nào đó, có người vào rồi lại bị soi nên gần đây mình lại hay tới thư viện, ở đó có thể xem máy tính tùy thích, với lại lý do chính là vì ở trường học chán ngắt. Có rất nhiều chuyện thật ngớ ngẩn. Nếu ngớ ngẩn thế thì việc viết ra như thế này cũng là “ngớ ngẩn” nhưng chí ít thì ở trường mình có thể làm những gì tùy thích, còn ở nhà không thể tùy ý làm gì cũng được. Việc viết lách có thể thực hiện ở bất kỳ nơi đâu, chỉ cần có bút và giấy là có thể viết bất kỳ thứ gì nên đây là một cách khá hay. Việc này cũng được gọi là “ghi chép”. Từ “đáng ghét” được viết theo hai chữ Hán là chữ “yếm” và chữ “hiềm” nhưng chữ “yếm” tạo cho ta cảm giác thực sự thấy đáng ghét hơn cả nên mình luyện tập cái gọi là “đáng ghét” viết bằng chữ “yếm”. Đáng ghét. Đáng ghét. Cả hai mẹ con chị Makiko cùng từ Osaka lên, tôi cũng rõ cả khoảng thời gian họ sẽ tới nên không có chuyện không thể gặp được, vả lại ở đây chỉ có một sân ga, mà tôi cũng đã lưu sẵn trong máy di động thời gian rõ ràng, rồi tôi cũng đã gọi điện thoại một lần nữa để xác nhận lại nên về khoản thời gian là có thể yên tâm. Tôi bước đi, qua bao nhiêu là bao nhiêu tấm áp phích quảng cáo được dán nhoe nhoét trên những cái cột, nhưng riêng ở tấm in hình một bà diễn viên mặc kimono, tôi không rõ đó là Kagamimochi(3) hay là con thỏ nữa. Sau khi xem kỹ lại bảng thông báo điện tử, tôi đếm rồi bước lên cầu thang, trong khi đang choáng váng bởi tiếng ồn khá lớn của tàu Shinkansen, tôi nhanh chóng tìm thấy hai mẹ con chị Makiko. ... Mời các bạn đón đọc Ngực Và Trứng của tác giả Mieko Kawakami
Kẻ Hai Mặt - Amélie Nothomb
Blanche, 16 tuổi, nhút nhát, chưa từng có bạn bất ngờ được Christa, xinh đẹp, quyến rũ, nổi trội nhất khoa đến kết bạn. Không chỉ Blanche, cả cha mẹ cô cũng bị cuốn vào “cơn lốc” Christa. Từ một người xa lạ, Christa bốc chốc trở thành bạn, người ở nhờ rồi nhân vật trung tâm trong gia đình Blanche. Nhưng rồi Blanche nhanh chóng nhận ra một cái bẫy đang được giăng ra với mình và cha mẹ. Cô đã hành động và tìm ra được sự thật về Christa. Một sự thật đáng buồn và bất ngờ tuyệt đối… Bằng lối dẫn chuyện giản dị, ngôn ngữ hiện đại, Amélie Nothomb đưa độc giả đến gần hơn với những thực tế đôi khi quá trần trụi trong tình bạn, tình yêu và những vấn đề của thanh niên Bỉ hiện nay. Amélie Nothomb là nhà văn Bỉ viết tiếng Pháp nhưng lại chào đời ở Kobe (Nhật Bản) ngày 13 tháng 8 năm 1967. Xuất thân trong một gia đình quý tộc có cha làm đại sứ, tuổi thơ bà được rong ruổi qua nhiều nước từ Nhật Bản, Trung Quốc cho đến Mỹ, Myanmar,… Tác phẩm đầu tay Hồi ức kẻ sát nhân (1992) đã gây tiếng vang lớn và mang lại cho bà giải thưởng Alain-Fournier. Ngoài ra, bà còn giành Giải thưởng lớn của Viện Hàn Lâm Pháp cho tác phẩm Sững sờ và run rẩy (1999). Kẻ hai mặt (2003) là tác phẩm thứ mười một của cô. *** Amélie Nothomb sinh ngày 13/8/1983 là người Bỉ, nhưng Amélie Nothomb lại chào đời và trải qua một phần tuổi thơ tại Nhật Bản. Từ sau cuốn tiểu thuyết đầu tay Hồi ức kẻ sát nhân xuất bản năm 1992 đến nay, mỗi năm cô cho ra mắt bạn đọc thế giới một tác phẩm mới. Trong đó phải kể đến Phá ngầm tình tứ (1993) với các Giải thưởng Vocation và Chardonne; Sững sờ và run rẩy (1999) với Giải thưởng Lớn của Viện Hàn lâm Văn học Pháp; Không Adam cũng chẳng Eva (2007) với Giải thưởng Flore. CÙNG MỘT TÁC GIẢ: - Phá ngầm tình tứ, 1993. - Những chất dễ cháy, 1994. - Những bài châm biếm, 1995. - Xiêm y, 1996. - Mưu sát, 1997. - Thủy ngân, 1998. - Sững sờ và run rẩy, 1999. (Tác phẩm đoạt giải thưởng lớn của Viện Hàn lâm Pháp). - Lý luận trừu tượng về điện thoại, 2000. - Thuốc xức tóc của kẻ thù, 2001 - Từ điển Robert về danh từ riêng, 2002. - Kẻ phản Chúa, 2003. - Tiểu sử của cơn đói, 2004. - Axit sunfuric, 2005. - Không Adam cũng chẳng Eva (2007) *** Ngày đầu tiên, tôi thấy nó mỉm cười. Lập tức tôi muốn làm quen ngay. Tôi biết rõ sẽ chẳng bao giờ quen được nó. Lại gần nó, tôi không thể. Tôi luôn chờ người khác đến bắt chuyện: chẳng bao giờ có ai đến cả. Trường đại học là thế. Ta nghĩ sẽ mở lòng với thế giới quanh ta và rồi chẳng gặp được ai hết. Một tuần sau, đôi mắt nó nhìn tôi. Tôi tưởng đôi mắt ấy sẽ nhanh chóng chuyển hướng. Nhưng không, chúng vẫn ở đó mà dò xét tôi. Tôi chẳng dám nhìn ánh mắt ấy. Mặt đất như sụt lở dưới chân, tôi cảm thấy khó thở. Vì tình trạng ấy cứ tiếp diễn nên sự đau khổ càng trở nên khủng khiếp. Với lòng can đảm chưa từng có, tôi nhìn thẳng vào mắt nó. Nó khẽ đưa tay ra hiệu với tôi rồi cười. Sau đó, tôi thấy nó nói chuyện với đám con trai. Ngày hôm sau, nó lại gần và chào tôi. Tôi chào lại rồi imlặng. Tôi ghét sự ngượng nghịu của bản thân. - Cậu trông trẻ hơn những bạn khác, nó nhận xét. - Là vì tôi trẻ hơn thật. Tôi mới tròn mười sáu tuổi được một tháng. - Tôi cũng vậy. Tôi tròn mười sáu cách đây ba tháng. Hãy thú nhận là cậu không tin tôi trẻ thế đi. - Đúng vậy. Sự tự tin làm nó trông già hơn tôi hai đến ba tuổi. - Cậu tên là gì? nó hỏi tôi. - Blanche. Còn cậu? - Christa. Cái tên ấy thật đặc biệt. Tôi lại im lặng vì kinh ngạc. Nó nhìn thấy sự ngạc nhiên của tôi và nói thêm: ... Mời các bạn đón đọc Kẻ Hai Mặt của tác giả Amélie Nothomb.
Cuộc Phiêu Lưu Kỳ Lạ Của Đoàn Barsac - Jules Verne
Trong một chuyến thám hiểm và lòng Châu Phi, đoàn thám hiểm với người đứng đầu là Barsac đã cóchuyếnduhành vào một thành phố bí ẩn giữa lòng sa mạc Sahara.  Thành phố phát triển này là do một nhà khoa học thông minh nhưng đầy tham vọng đen tối xây nên. Sức tưởng tượng của Jules Verne kết hợp với kiến thức khoa học đã tôn vinh những thành tựu tuyệt diệu của con người, và cũng cho thấy những thành tựu ấy chỉ nở hoa và trường tồn khi phục vụ cho mục đích tốt đẹp. *** Jules Gabriel Verne sinh ngày 8 tháng 2 năm 1828 tại Pháp và được coi là cha đẻ của thể loại Khoa học viễn tưởng. Để theo đuổi việc viết văn, Jules Verne đã bỏ học luật, nghề cha ông định hướng. Cuốn tiểu thuyết đầu tay thành công Năm tuần trên khinh khí cầu (1863) đã mở đầu cho hàng loạt các tác phẩm nổi tiếng về sau của Jules Verne như Cuộc Thám Hiểm Vào Lòng Đất (1864), Hai vạn dặm dưới biển (1870), 80 Ngày Vòng Quanh Thế Giới (1873)… Các  tác phẩm của ông được dịch khắp nơi trên thế giới. Jules Verne mất ngày 24 tháng 3 năm 1905. Sau khi ông qua đời, nhiều tiểu thuyết chưa in của ông vẫn được tiếp tục xuất bản. *** Sau khi đã khóa chặt cửa, những người trốn chạy lo săn sóc các thương binh. Với sự giúp đỡ của Barsac và Amédée Florence – chính anh cũng bị thương nhẹ. – Jane chăm sóc những người mà số phận trớ trêu đã đưa đẩy họ đến chỗ ở của kẻ thù tàn bạo của họ. Khi việc băng bó đã xong, thì cô gái lại phải lo cho những người bất hạnh, bị cái đói hành hạ mấy ngày nay, ăn uống. Sau hồi lùng sục thức ăn ở khắp tất cả các tầng, mọi người cũng đã được ăn uống chút đỉnh. Nhưng tình thế vẫn hết sức nghiêm trọng, giờ cáo chung không thể tránh khỏi dường như chỉ kéo dài thêm mấy tiếng đồng hồ. Mười một giờ trưa. Các vụ nổ vẫn tiếp tục, trên bãi đáp nghe rõ tiếng la hét của các Chàng trai Vui tính, thỉnh thoảng chúng lại phí công công phá cánh cửa, còn từ trên sân hiên thì vọng xuống tiếng chửi bới của William Ferney và đồng bọn của hắn, song những người chạy trốn ý thức được rằng pháo đài của họ gần như là bất khả xâm phạm. Vừa mới được rảnh tay là Jane Buxton hỏi ngay Amédée Florence lý do họ rời khỏi nhà máy và đánh nhau trong điều kiện không cân sức như thế ngoài bãi đáp. Chàng phóng viên kể lại những gì đã xảy ra sau khi nàng đi khỏi. Anh kể rằng cuối cùng Tongané đã phát tín hiệu hằng mong đợi và Marcel Camaret đã chuyển sang khu giữa một vài gói thuốc nổ cùng với nhiều gươm đao, giáo mác. Sau đó những người bị bao vây tập trung đến cửa chính, sẵn sàng lao vào trận đánh khi nó bắt đầu. ... Mời các bạn đón đọc Cuộc Phiêu Lưu Kỳ Lạ Của Đoàn Barsac của tác giả Jules Verne.
Báo Cáo Chính Phủ - Hàn Thiếu Công
Bất ngờ bị bắt khi vô tình dính líu vào một vụ án, “tôi” buộc phải đối diện với một cuộc đời hoàn toàn xa lạ – cuộc sống trong nhà tù tăm tối chỉ có một mảnh trời nhỏ hình vuông. “Tôi” ước sao thời gian quay ngược lại, những quản giáo, đầu gấu, đòn trừng phạt dã man kia chỉ là một giấc mơ. Ba năm sau, được trả lại tự do hằng khao khát, “tôi”, giống như khi đã xếp hàng quá lâu, cuối cùng mới tới được quầy mua hàng, lại không biết mình phải mua cái gì, không biết đồ trong quầy có giá trị gì. “Tôi” lạc lõng trong chính thứ tự do ấy. Dũng cảm rời xa văn phong tinh tế, ngôn từ đậm chất trí thức quen thuộc trong Từ điển Mã Kiều, Hàn Thiếu Công dùng danh xưng ngôi thứ nhất, lấy giọng điệu kể truyện của chính nhân vật chính, một người tù bình thường, để thuật lại một cách tự nhiên cuộc sống tù ngục tăm tối, xót thương, và làm rúng động sâu sa. Báo cáo chính phủ là sự thử nghiệm một cách viết khác của tác giả, trình hiện một cái nhìn mới mẻ đối với thế giới của những con người bị kết tội. *** Tối hôm đó trời oi bức. Cảnh sát đưa bạn tôi vào phòng giam số 2, và dẫn tôi tới trước cửa phòng số 9. Còn đang mường tượng ánh mắt sợ hãi vừa rồi khi bạn tôi quay đầu lại, thì đã nghe một tiếng quát: “Vào đi!” Tiếng khóa cửa loảng xoảng sau lưng đẩy tôi loạng choạng vào bóng tối. Tôi mò mẫm trong tối tăm, mất một lúc lâu đồng tử mới quen với ánh sáng nhờ nhờ, những bức tường gạch dần dần hiện rõ. Buồng giam cao như một cái giếng vuông, một vài sinh vật chìm đọng nơi đáy giếng bừng tỉnh, xôn xao ngồi dậy hoặc đứng hẳn lên. Trong số đôi ba chục thân người ở trần, người trẻ đông hơn, cũng có vài gương mặt đã nhăn nheo. Bọn họ phần đông đầu cạo trọc lóc, ánh mắt đổ dồn vào tôi, cái nhìn lộ vẻ khoái trá thèm khát như phát hiện ra con mồi. “Lại tới một món nữa.” Có người ngáp. “Có mang gì nguy hiểm không?” Câu này hình như hỏi tôi. Tôi lắc lắc đầu. “Mày là người của lão Bí đao à?” Tôi vẫn lắc đầu. Một người giằng mất mảnh chăn chiên đang kẹp dưới nách tôi. Một người bắt đầu lục lọi túi quần áo, lần hai bên hông và đũng quần tôi, nắn đến tận gót chân. Chắc chắn bọn họ rất thất vọng, giống như cảnh sát viên khám người tôi hồi nãy, vừa khám vừa chửi rủa. Quả tình tôi cũng muốn mình phức tạp hơn một chút, tỉ dụ có cả đống tiền bạc biển thủ bị họ khui ra, hay bét nhất cũng phải có tí hung khí hoặc bột trắng gì đấy khiến họ thêm phần mãn ý chứ. Đương nhiên, tôi trong sạch vô tội, nhưng như thế thì tội nghiệp khác nào một gã ăn mày đây? Đáng tiếc, tôi quả là giống gã ăn mày, chả có thể diện, chả có gì, mới lĩnh được mảnh chăn chiên cũ, chiếc bàn chải đánh răng mất cả cán cầm. Cảnh sát cảnh giác với mọi thứ đồ vật kim loại, sợ cái cán bàn chải đánh răng có thể đem mài nhọn, độ dài vừa đủ chạm tới tim, nên chỉ cho tôi một cái bàn chải không cán. ... Mời các bạn đón đọc Báo Cáo Chính Phủ của tác giả Hàn Thiếu Công.