Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Người Tử Tù

Tựa gốc: A Tale of two cities Phiên dịch: Thái Bìng Dương Bản dịch khác của Đăng Thư: Hai Kinh Thành Sách bảo Anh-Mỹ hiện nay có rất nhiều. Tuy nhiên ngoại trừ mốt số người có một trình độ Anh Văn khá, phần đông độc giả người Việt, nhất là giới học sinh, vẫn còn bở ngỡ, ngại ngùng khi đọc một cuốn tiểu thuyết hoặc một tờ báo Anh ngữ. Lý do chính là sự thiếu ngữ vựng và thành ngữ để có thể hiểu nghĩa một cách thấu đáo và mau chóng, Với dụng ý góp một phần nhỏ trong việc giải quyết vấn đề nói trên, chúng tôi cho ra đời loại sách song ngữ nầy. Chúng tôi chủ tâm dịch sát nghĩa để quí vị độc giả có thể đối chiếu một cách dể dàng bằng Việt văn và bản Anh văn. Tuy vậy để bản dịch có hành văn Việt Nam chúng tôi đã bỏ đi hoặc thêm vào một vài từ ngữ cần thiết. Những chuyện dịch về loại này, chúng tôi đều chọn những bản đã thu ngắn và dể đọc của những tác giả thuộc chương trình của ban trung học đệ nhị cấp để các bạn học sinh ban chuyên khoa có thể, với một quãng thời gian tương đối ngắn, có một khái niệm về những tác phẩm của các tác giả có trong chương trình học. Chúng tôi sẽ tiếp tục phiên dịch những chuyện hay của những nhà văn hiện kim Anh-Mỹ với mục đích cung cấp cho quí vị độc giả những tinh hoa văn chương nước ngoài. TÁC GIẢ   *** NGƯỜI CHẾT PHỤC SINH Một buổi chiều tháng mười một năm 1775 trong phòng giải lao của khách sạn “Hoàng Gia” ở Đa Vân có hai người khách: một người đàn ông trạc độ 60 tuổi, bận y phục màu xám, cách phục sức rất đứng đắn, trên đầu mang một mớ tóc giả ngắn, và một thiếu nữ trạc độ 17 tuổi vận y phục lữ hành, nàng người nhỏ và xinh xắn, mắt xanh, tóc vàng óng ánh. Người đàn ông là ông Lưu Kỳ, chủ ngân hàng có văn phòng ở Luân Đôn và Ba Lê hiện có rất nhiều khách hàng người Pháp. Người thiếu nữ là nàng Liễu Chi, sanh tại Pháp Quốc, mồ côi cả cha lẫn mẹ, trước đây đã từng học tại Anh Cát Lợi (England) dưới sự chỉ dẫn của ông Lưu Kỳ. Ông Lưu Kỳ nói: - Liễu Chi, sở dĩ bác bảo cháu tới đây là vì bác có câu chuyện đặc biệt quan trọng cần nói cho cháu rõ. - Dạ, bác đã bảo cháu là phải sẵn sàng chịu đựng mọi sự kink ngạc, cháu xin vâng lời, vậy bác cứ nói. - Câu chuyện này có liên quan tới ba cháu. Để bác kể lại từ đầu cho cháu nghe. Ba cháu trước đây là một bác sĩ Pháp nổi tiếng mà cũng là một khách hàng của bác ở Ba Lê. Ba cháu kết hôn với một thiếu nữ người Anh tức là má cháu, và như là cháu đã biết đấy, má cháu mất năm cháu mới lên hai. Trước khi qua đời, má cháu căn dặn rằng chỉ nên bảo cho cháu hay là ba cháu cũng đã quá cố. Thực ra thì ba cháu chưa chết, ba cháu chỉ bị giam cầm một cách oan ức tại Ba Lê mà thôi. Ngày ấy không ai biết đích xác ba cháu bị giam ở chỗ nào mà cũng chẳng nhận được tin tức gì về ba cháu cả, mãi đến bây giờ mới biết là ba cháu còn sống và đã được phóng thích sau 18 năm vòng lao lý. Tên của ba cháu chìm sâu vào trong sự lãng quên của người đời thì ngày nay, ba cháu lại xuất hiện. Chắc ba cháu đổi thay nhiều lắm, có lẽ đau ốm cũng nên. Hiện giờ ba cháu đang ở với người lão bộc tại Ba Lê và bác sắp đưa ba cháu trở về Anh Cát Lợi. Lúc này mà tính chuyện rửa hận để minh oan cho ba cháu thì chưa thể được, vừa vô ích mà lại còn nguy hiểm là đằng khác. Nhưng kìa Liễu Chi cháu làm sao đó? Từ nãy, nàng Liễu Chi càng nghe chuyện lại càng xúc động rồi ngất đi. Ông Lưu Kỳ vội gọi người tới vực nàng dậy và người nhũ mẫu của nàng là chị Bột liền chạy tới săn sóc nàng. Ông Lưu Kỳ để mặc người nhũ mẫu trông nom nàng và đi lo thu xếp cuộc hành trình ngày hôm sau. *** Review tama: Hơn một trăm năm sau khi cách mạng tư sản thành công, nước Anh bước vào thời đỉnh cao của cách mạng công nghiệp, trở nên bá chủ thế giới. Cùng lúc đó, bên kia biển hẹp, không khí cách mạng sục sôi rộng khắp, một thể chế già cỗi dần đi đến hồi kết, nước Pháp đang thay da đổi thịt. Giữa cơn tao loạn, người chết tái sinh từ lãng quên, mang theo nỗi ám ảnh trải khắp hai kinh thành - một câu chuyện sống động, một ví dụ xuất sắc thể hiện sự bất toàn trong nhân cách con người, và cũng chính vì lẽ đó, nó mô tả vẹn toàn bức tranh nhân loại. Có thể nói quyền thống trị là một yếu tố quan trọng bậc nhất định hình xã hội loài người. Theo bước tiến văn minh, chúng ta tạo ra vô số công cụ - mà thường hiện diện dưới vỏ bọc đạo lý, tư tưởng - để kiềm toả chính mình, bằng cách này hay cách khác, nhằm duy trì lợi ích của một thiểu số nắm giữ quyền lực. Đến thời điểm nhất định nào đó, khi thế cân bằng bị phá vỡ, cách mạng tất xảy ra. Cách mạng sinh ra bởi ý chí, và từ trong cách mạng, vỏ bọc bị xoá bỏ, bản chất nguyên thuỷ được hé lộ. Về điểm này, nữ công dân Defarge là sáng tạo tuyệt vời của Dickens. Ra đời từ hận thù và được cách mạng nuôi dưỡng, bà Defarge như một quả bom hai màu xanh đỏ, nhập nhằng giữa tình yêu nước và hận thù mù quáng. Bà ta đe doạ nổ tung bất kỳ lúc nào bà ta muốn, rồi cuối cùng cũng nổ, kéo theo nhiều cái chết khác. Defarge đại diện cho những gì u ám nhất của cuộc cách mạng, cho những điều không ai muốn xảy ra nhưng đã xảy ra theo những cách không ngờ nhất, cho bóng tối thẳm sâu trong tâm hồn con người. Nhưng chớ hiểu lầm, không phải toàn bộ là bi kịch. Với Dickens, ánh sáng và bóng tối luôn song hành. Nếu chết chóc thường trực quanh Defarge, thì Lucie toát lên hào quang cứu rỗi. Nếu hận thù kéo Defarge xa khỏi cõi người, biến bà ta thành cỗ máy giết chóc thì tình yêu của Lucie giúp cha cô vượt qua cơn loạn trí, trở lại làm người. Nếu Defage gieo nỗi kinh hoàng với mỗi đường len, thì bên ngoài nhà giam, Lucie ươm mầm hy vọng. Sự hiện diện của Lucie mang lại cân bằng đáng kể cho Hai kinh thành. Trước bản tính lương thiện của cô, quyền lực của Defarge dường như không thể thắng được, không phải bởi cái ác yếu kém, mà bởi lòng thiện tâm lan toả của Lucie. Sydney Carton, dù bất hạnh, nhưng là minh chứng rõ nhất ảnh hưởng của Lucie. Dưới con mắt của Dickens, một người chỉ sống ở London thời điểm mấy chục năm sau ngày phá ngục Bastille, những nguyên nhân sâu xa của cách mạng Pháp và triều Bourbon mục ruỗng không được thể hiện trọn vẹn trong Hai kinh thành. Tuy vậy, nhờ điều đó, chúng ta không bị chính trị làm sao nhãng, không quá sa vào nghị trường rối ren, mà vẫn cảm nhận được tinh thần cách mạng trong từng trang sách. Điều này, đến lượt nó, tạo thuận lợi giúp cho ta nhìn nhận toàn diện bức tranh tự sự cùng chân dung nhân vật. Do đó, những người khó tính nhất vẫn có thể có phần cảm thông với Defarge và cả những người dễ tính nhất có thể không đồng tình với Lucie ở vài điểm nhỏ nhặt. Sự bất toàn đẹp như vậy đấy. Charles Dickens đã có lý khi nói Hai kinh thành là áng văn hay nhất của ông. Tác phẩm được viết rất khéo léo, không kém phần khôn ngoan và hài hước. Muôn tầng ý nghĩa được truyền đạt thành thạo đồng thời Hai kinh thành xây dựng hàng loạt nhân vật hành xử kỳ quặc nhưng cũng rất mực hợp lý và thông qua những nhân vật này, ý chí tác giả len lỏi khắp câu chuyện. Ở Hai kinh thành, Dickens không chủ tâm viết một tiểu thuyết dài dòng, khó hiểu hay phức tạp. Nó đơn giản là tiếng nói cuối đời của ông được cô đọng trên giấy, vì thế, muốn hiểu Dickens, nhất định phải đọc Hai kinh thành. Ngày nay, lúc văn học đã đi đến hậu hiện đại, không phải ngẫu nhiên mà Hai kinh thành vẫn giữ được sức hút của nó. Vào những ngày trống trải, khi đã quá chán ngấy thế giới lung lay mơ hồ, quá đau đầu vì thời gian phi tuyến tính, quá hụt hẫng với những kết mở ngày càng phổ biến, hay đơn giản quá mệt mỏi để suy nghĩ, hãy quay về văn học kinh điển như Hai kinh thành. Vào những ngày ấy, hãy đọc Hai kinh thành không phải vì kinh điển, mà vì sức cám dỗ trên bề mặt con chữ của nó; hãy để dòng tự sự thuần tuý là động lực duy nhất thúc đẩy ta lật từ trang này sang trang khác, cho đến hết mới thôi. *** Charles John Huffam Dickens sinh năm 1812 tại Portsmouth, Anh quốc. Ngay từ khi còn nhỏ ông đã phải làm việc vất vả để giúp gia đình. Cuộc sống khổ cực trong nhà máy và những khu phố nghèo đã giúp ông hình thành tư tưởng cho nhiều tác phẩm nổi tiếng về sau. Được xem là tiểu thuyết gia người Anh nổi tiếng nhất thời nữ hoàng Victoria, sự nghiệp văn chương của Dickens đầy ắp các tác phẩm, các bài báo và rất nhiều buổi diễn thuyết thành công, trong đó tiêu biểu là Oliver Twist (tiểu thuyết, 1837-1839); Nicholas Nickleby (tiểu thuyết, 1838-1839); Bài ca lễ Giáng sinh (truyện vừa, 1843); David Copperfield (tiểu thuyết, 1849-1850); Kỳ vọng vĩ đại (tiểu thuyết, 1860-1861)... Nhiều cuốn sách của ông đã được chuyển thể thành phim, kịch, nhạc kịch, hoạt hình... và đến nay các phiên bản mới vẫn tiếp tục ra đời. Dickens mất năm 1870 tại hạt Kent, Anh quốc. Một số tác phẩm của tác giả Charles Dickens được dịch, xuất bản tại Việt Nam: Hồn ma đêm giáng sinh (Bài Ca Mừng Giáng Sinh) Chuyện Vặt Ông Pickwick Oliver Twist David Copperfield Hai Tòa Tháp (Người Tử Tù) Những Kỳ Vọng Lớn Lao ... *** Mời các bạn đón đọc Người Tử Tù của tác gải Charles Dickens.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Nữ Sinh - Nguyễn Nhật Ánh
Một sự bất ngờ, Gia được cử về làm giáo viên chủ nhiệm lớp Xuyến, Thục, Cúc Hương. Ba cô hoảng hồn vì thời gian qua đã “hành hạ” Gia bằng đủ trò nghịch ngợm của mình. Hùng quăn không dám đến lớp vì đã có lần đón đường ném đá Gia gây thương tích. Không chịu nổi người dượng ghẻ. Hùng bỏ nhà ra đi. Với tấm lòng cao thượng. Gia đón Hùng về nhà ở chung với mình. Cuối cùng ba cô bạn cũng tìm ra chỗ ở của Gia. Họ sôi nổi bàn chuyện đi cắm trại và xem phim cho cả lớp. *** Nguyễn Nhật Ánh là tên và cũng là bút danh của một nhà văn Việt Nam chuyên viết cho tuổi mới lớn. Ông sinh ngày 7 tháng 5 năm 1955 tại huyện Thăng Bình, Quảng Nam. Thuở nhỏ ông theo học tại các trường Tiểu La, Trần Cao Vân và Phan Chu Trinh. Từ 1973 Nguyễn Nhật Ánh chuyển vào sống tại Sài Gòn, theo học ngành sư phạm. Ông đã từng đi Thanh niên xung phong, dạy học, làm công tác Đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh. Từ 1986 đến nay ông là phóng viên nhật báo Sài Gòn Giải Phóng, lần lượt viết về sân khấu, phụ trách mục tiểu phẩm, phụ trách trang thiếu nhi và hiện nay là bình luận viên thể thao trên báo Sài Gòn Giải Phóng Chủ nhật với bút danh Chu Đình Ngạn. Ngoài ra, Nguyễn Nhật Ánh còn có những bút danh khác như Anh Bồ Câu, Lê Duy Cật, Đông Phương Sóc, Sóc Phương Đông,... *** Vâng, khi vừa xuất hiện trước sân cờ anh đã trông thấy ba cô học trò của anh. Và họ, họ cũng ngay lập tức nhận ra anh và anh nhìn thấy vẻ kinh ngạc sững sờ hiện rõ trên khuôn mặt từng người. Anh vội vã mỉm cười với các cô gái, cố tạo ra một dáng vẻ bình thường nhưng sự cố gắng của anh hình như không đạt được kết quả. Ba cô gái đều cố tránh nhìn về phía anh, họ ngó lơ chỗ khác, kể cả Xuyến, cô lớp trưởng tinh quái và ngang ngạnh. Có lẽ họ áy náy về những trò nghịch ngợm của họ đối với anh. Nhưng, anh nghĩ, dù sao mọi chuyện cũng sẽ nhanh chóng trôi qua và mối quan hệ giữa anh và các cô gái sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Anh cũng không nghĩ mình sẽ được phân công làm chủ nhiệm lớp của Xuyến, Thục và Cúc Hương. Đối với anh, điều đó quả thật bất ngờ. Năm ngoái, sau khi ra trường, hầu hết bạn bè cùng lớp anh đều được phân công đi các tỉnh. Chỉ có hai người, trong đó có anh, nhận nhiệm sở tại thành phố. Nhưng thời gian điều động, bố trí công tác không hiểu sao mất rất nhiều thời giờ. Đến khi anh xuống tới trường, học kỳ một đã sắp kết thúc. Anh đành phải chờ nhận lớp và đầu học kỳ hai. Trong thời gian đó, buổi chiều anh vào trường để giúp đỡ bộ phận văn phòng sắp xếp sổ sách đồng thời làm quen với môi trường mới. Buổi sáng, anh được nghỉ. Nhưng là một sinh viên trẻ mới ra trường, trong lòng đầy ắp nhiệt tình và hoài bão, anh muốn tận dụng các buổi sáng rảnh rỗi để tiếp xúc và tìm hiểu học trò theo cách riêng của mình. Vì vậy mà anh thường đến quán cây Sứ. Chính ở đó, anh đã gặp bọn Thục. ... Mời các bạn đón đọc Nữ Sinh của tác giả Nguyễn Nhật Ánh.
Mắt Biếc - Nguyễn Nhật Ánh
Mắt biếc là một tác phẩm của tác giả Nguyễn Nhật Ánh trong loạt truyện viết về tình yêu của thanh thiếu niên của tác giả này cùng với Thằng quỷ nhỏ, Cô gái đến từ hôm qua... Đây được xem là một trong những tác phẩm tiêu biểu về Nguyễn Nhật Ánh, từng được dịch để giới thiệu với độc giả Nhật Bản. Mắt biếc kể về cuộc đời của nhân vật chính tên Ngạn. Ngạn sinh ra và lớn lên ở một ngôi làng tên là làng Đo Đo (thuộc xã Bình Quế - huyện Thăng Bình - tỉnh Quảng Nam - cũng là nguyên quán của tác giả). Lớn lên cùng với Ngạn là cô bạn hàng xóm có đôi mắt tuyệt đẹp tên là Hà Lan. Tuổi thơ của Ngạn và Hà Lan gắn bó với bao nhiêu kỉ niệm cùng đồi sim, đánh trống trường... Tình bạn trẻ thơ dần dần biến thành tình yêu thầm lặng của Ngạn dành cho Hà Lan. Đến khi lớn hơn một chút, cả hai phải rời làng ra thành phố để tiếp tục học. Khi tấm lòng của Ngạn luôn hướng về Hà Lan và về làng, thì Hà Lan không cưỡng lại được cám dỗ của cuộc sống xa hoa nơi đô thị và ngã vào vòng tay của Dũng. Việc Hà Lan ngã vào vòng tay Dũng - một thanh niên nhà giàu, sành điệu, giỏi võ nhưng rất thiếu đứng đắn - đã làm cho Ngạn đau khổ rất nhiều, nhưng điều Ngạn cần là hạnh phúc của Hà Lan. Mỗi khi Dũng làm Hà Lan tổn thương cô lại tìm Ngạn để nói lên bầu tâm sự, điều đó lại càng làm cho Ngạn buồn thêm. Có lần Ngạn đã đánh nhau với Dũng vì Hà Lan và kết quả tất nhiên là Ngạn thua nhưng nó đã làm cho Ngạn bớt đi tính anh hùng, sẵng sàn đánh nhau mỗi khi Hà Lan bị bắt nạt. Và cũng từ đó những cảm xúc mỗi khi Hà Lan tìm đến Ngạn để giải bầy niềm tâm sự giảm đi. Hà Lan mang thai, nhưng bị Dũng ruồng bỏ. Cô đành gửi con về cho bà ngoại chăm sóc và đặt tên là Trà Long. Tuy hiểu rõ tình yêu của Ngạn dành cho mình, Hà Lan vẫn không đáp lại vì cô hiểu rõ mình muốn sống theo một lối sống hoàn toàn khác với Ngạn. Bằng tình yêu của mình dành cho Hà Lan, Ngạn hết lòng yêu thương và chăm sóc cho Trà Long. Trà Long lớn lên trở thành cô giáo trường làng, và vô cùng yêu quý Ngạn. Trong khi ai cũng nghĩ rằng Trà Long sẽ là sự nối tiếp những gì mà Hà Lan đã bỏ dở trong đời Ngạn, thì Ngạn quyết định ra đi vì anh nhận ra rằng Trà Long chỉ là cái bóng của Hà Lan mà thôi. *** "Giọng văn trong Mắt biếc rất hay và nhẹ nhàng. Câu chuyện tình cảm trong sáng. Sau khi đọc truyện này, tôi bỗng muốn đi Việt Nam". - Nhà thơ TAKATSUKI FUMIKO (Nhật Bản) "Tôi rất đồng cảm với nội tâm của nhân vật Ngạn trong tác phẩm Mắt biếc. Tôi đã rơi nước mắt trước tâm hồn vô tư và sự hy sinh của Trà Long, qua đó tôi suy nghĩ nhiều về bối cảnh xã hội Việt Nam". - Nhà văn INAZAWA JUNKO (Nhật Bản) *** Nguyễn Nhật Ánh là tên và cũng là bút danh của một nhà văn Việt Nam chuyên viết cho tuổi mới lớn. Ông sinh ngày 7 tháng 5 năm 1955 tại huyện Thăng Bình, Quảng Nam. Thuở nhỏ ông theo học tại các trường Tiểu La, Trần Cao Vân và Phan Chu Trinh. Từ 1973 Nguyễn Nhật Ánh chuyển vào sống tại Sài Gòn, theo học ngành sư phạm. Ông đã từng đi Thanh niên xung phong, dạy học, làm công tác Đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh. Từ 1986 đến nay ông là phóng viên nhật báo Sài Gòn Giải Phóng, lần lượt viết về sân khấu, phụ trách mục tiểu phẩm, phụ trách trang thiếu nhi và hiện nay là bình luận viên thể thao trên báo Sài Gòn Giải Phóng Chủ nhật với bút danh Chu Đình Ngạn. Ngoài ra, Nguyễn Nhật Ánh còn có những bút danh khác như Anh Bồ Câu, Lê Duy Cật, Đông Phương Sóc, Sóc Phương Đông,... *** Những ngày sau đó là những ngày nặng nề. Tôi đã kịp trấn tĩnh để hiểu rằng những lời nói của Hà Lan là những phán quyết khắt khe của định mệnh. Những phán quyết đó, tôi không mong gì thay đổi. Bây giờ ngồi nghĩ lại, tôi biết Hà Lan hẳn đã hiểu rõ lòng tôi từ lâu. Nó cũng biết tình tôi dành cho nó không bến không bờ. Nhưng nó thích xa đi, tôi thích quay về, hai người hai thiên hướng khác nhau, đời chia hai ngả, gần hai mươi năm qua khổ ai nấy chịu. Hà Lan đã tự chọn lấy con đường riêng cho mình, con đường đó không có tôi. Bây giờ, sau hai lần gãy đổ, mộng ước không thành, chút duyên lỡ nó không nỡ dành cho tình tôi vằng vặc. Hèn gì đôi mắt nó đêm nào nhìn tôi chan chứa. Nhìn một lần rồi mãi mãi quay lưng. Tình bạn thuở thiếu thời bao năm qua vẫn chỉ là tình bạn, lòng tôi cứ hoài trinh bạch quạnh hiu. Tôi nhớ Hàn Mặc Tử: Người đi một nửa hồn tôi mất Một nửa hồn kia bỗng dại khờ Một thời gian dài, tôi tưởng tôi đã chết. Nhưng tôi không chết được. Trà Long đã học xong lớp chín, chuẩn bị ra thành phố, tôi cố nén buồn thương để lo cho nó. ... Mời các bạn đón đọc Mắt Biếc của tác giả Nguyễn Nhật Ánh.
Kamanita: Kẻ Hành Hương - Gjellerup Karl
Câu chuyện về mối tình ngang trái giữa chàng thương nhân Kamanita tài hoa và nàng Vasitthi xinh đẹp diễn ra trên đất Ấn thời Đức Phật còn tại thế. 45 phần truyện là dòng chảy cuộc đời từ hiện tại đến quá khứ, từ quá khứ đến khởi thuỷ kiếp luân hồi của nhân vật; là sự đan xen chuyện kể đời thường với những câu chuyện ngụ ngôn, những ẩn dụ triết học trong đối thoại hay thuyết pháp của Đức Phật. Dòng chảy này tạo nên một ranh giới mơ hồ giữa truyền thuyết và sáng tạo tiểu thuyết; giữa câu chuyện Đức Phật kể về những người đã được Ngài giác ngộ và câu chuyện những người được giác ngộ kể về Ngài. Cái vẻ hư thực đó của tác phẩm trở thành điểm tựa để người đọc tìm thấy niềm tin, rằng triết lý đạo Phật có thể tìm thấy trong những sự kiện của đời người, rằng mỗi người sẽ là tia sáng dẫn đường của chính mình, là chỗ dựa của chính mình và rằng cái để suy ngẫm là những gì vĩnh cửu chứ không phải là cái chỉ tồn tại một mai. Do đó, dẫu là truyền thuyết hay tiểu thuyết, tác phẩm vẫn có sức ám ảnh lớn, ghi tạc vào tâm thức con người, rằng: Con đường giải thoát mở ra cho tất cả mọi người, cả những người không theo Đạo. Những người không theo Đạo - trong số đó có chúng ta. Vậy nên nếu đọc Kamanita, kẻ hành hương, hãy trầm tư lắng nghe câu chuyện này, biết đâu sẽ giác ngộ được một chân lý nào đó cho chính mình. *** Karl Adolph Gjellerup là nhà văn, nhà thơ Đan Mạch được trao giải Nobel Văn học năm 1917 cùng với Henrik Pontoppidan, cũng là nhà văn Đan Mạch. Karl Gjellerup xuất thân trong một gia đình mục sư. Ba tuổi cha mất, ông đến Copenhagen ở với bác họ đằng mẹ. Gjellerup sáng tác từ rất sớm, vừa tốt nghiệp trung học ông đã viết hai vở kịch Spicio Africanus và Arminius nhưng đều không được in. Năm 1874, ông vào học Đại học Copenhagen, khoa Thần học, nhưng về sau lại trở thành người vô thần: điều này thể hiện qua các tác phẩm như Ein Idealist (Người lý tưởng, 1878, ký bút danh Epigon), Antigonos (1880) v.v. Tác phẩm: Spicio Africanus (1875), kịch Arminius (1875-1876), kịch Ein Idealist (Người lý tưởng, 1878), tiểu thuyết Antigonos (1880), tiểu thuyết Arvelighed og moral (Truyền thống đạo lý, 1881) Rödtjörn (Cây sơn tra, 1881), tập thơ Germanernes laerling (Cậu học trò của những người Đức, 1882), tiểu thuyết G-dur (Gam sol trưởng, 1883), truyện Romulus (1883), tiểu thuyết En klassisk maaned (Tháng cổ điển, 1884) Brynhild (1884), bi kịch Saint Just (Thánh Just, 1885), kịch Thamyris (1887), kịch thơ Hagbard og Signe (Hagbard và Signe, 1889), bi kịch văn xuôi và thơ Min kaerligheds bog (Cuốn sách tình yêu của tôi, 1889), tập thơ Minna (1889), tiểu thuyết Herman Vandel (1891), kịch Kong Hjarne (Vua Hjarne, 1892), kịch Wuthhorn (1893), kịch Hans Excellence (Đức Ngài, 1893), kịch Pastor Mors (Mục sư Mors, 1894), tiểu thuyết Möllen (Chiếc cối xay, 1896), tiểu thuyết Ved graensen (Tại vùng biên giới, 1897), tiểu thuyết Tankelaeserinden (Nhà tiên tri, 1901), tiểu thuyết Die opferfeuer (Ngọn lửa hiến tế, 1903), kịch Pilgrimen Kamanita (Kamanita, người hành hương, 1906), tiểu thuyết Die weltwanderer (Những kẻ hành hương vĩnh cửu, 1910), tiểu thuyết Reif für das leben (Đến tuổi trưởng thành, 1913), tiểu thuyết Guds venner (Những người bạn của Chúa trời, 1916), tiểu thuyết Der goldene zweig (Cành vàng, 1917), tiểu thuyết Mời các bạn đón đọc Kamanita: Kẻ Hành Hương của tác giả Gjellerup Karl.
Chuyện của Cậu Bé Hay Nói Khoác - Mạc Ngôn
La Tiểu Thông là một cậu bé luôn miệng nói dối, một đứa trẻ ba hoa nói khoác, một đứa trẻ đạt được thỏa mãn trong khi nói chuyện. Trong dòng chữ lưu hỗn loạn ấy, câu chuyện vừa là thể chuyển tải của ngôn ngữ, vừa là sản phẩm phụ của ngôn ngữ... Câu chuyện mà cậu ta kể khi mới bắt đầu còn có một chút "chân thực", nhưng càng về sau càng là một sáng tác vừa thực vừa hư... Khi La Tiểu Thông kể chuyện về chính mình, nếu xét về tuổi tác thì cậu ta không như một đứa trẻ, nhưng thực ra lại là một đứa trẻ. Cậu ta là thủ lĩnh của những nhi đồng trong nhiều truyện "Góc nhìn nhi đồng" của tôi... Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc cuốn sách "Chuyện Của Cậu Bé Hay Nói Khoác" để hiểu rõ hơn về nhân vật này. *** Buổi sáng sớm cách đây mười năm trước. À, mà khi ấy là năm nào ấy nhỉ? Khi ấy cậu bao nhiêu tuổi? Lan Đại hòa thượng, một người đã từng đi nhiều nơi, hành tung bí hiểm, tạm thời tá túc tại ngôi miếu bỏ hoang mở to mắt, hỏi tôi bằng một giọng âm trầm nghe như vọng về từ một nơi rất xa. Giữa ngày tháng bảy nóng như nung mà tôi bất chợt rùng mình. Đó là năm 1990, khi ấy tôi mười tuổi, thưa đại hòa thượng. Tôi lẩm bẩm trả lời hòa thượng bằng một giọng khác hẳn. Đây là ngôi miếu nhỏ có tên là thần Ngũ Thông nằm giữa hai dãy phố sầm uất, đông đúc, nghe nói tổ tiên của Lão Lan trưởng thôn của thôn tôi đã bỏ tiền ra xây ngôi miếu này. Tuy ngôi miếu nằm kề ngay bên đường nhưng hương khói quanh năm lạnh lẽo, luôn tỏa ra một mùi cũ kỹ ẩm mốc. Chỗ khe tường đổ do người ta trèo vào đã thành lối đi, một người phụ nữ mặc chiếc áo màu xanh, xung quanh viền hoa màu đỏ đang gần như phủ phục ở đó. Tôi chỉ nhìn thấy khuôn mặt to, đầy, trắng như phấn và một cánh tay trần trắng muốt đang chống cằm của người ấy. Chiếc nhẫn trên ngón tay của bà ta ánh lên dưới ánh nắng mặt trời. Người phụ nữ này khiến tôi nhớ đến ngôi nhà ngói lớn được cải tạo thành trường học của nhà đại địa chủ Lan trong thôn tôi trước thời kỳ giải phóng. Trong nhiều truyền thuyết và nhiều sự tưởng tượng bắt nguồn từ truyền thuyết, người phụ nữ như thế này thường xuyên ra vào ngôi nhà nhiều năm thiếu sự chăm sóc tu sửa và phát ra những tiếng kêu nghe rợn cả tóc gáy vào nửa đêm gà gáy. Hòa thường ngồi ngay ngắn trên chiếc bồ đoàn cũ kỹ trước bức tượng thần Ngũ Thông bị người đời lãng quên từ lâu, vẻ mặt bình thản, như một con ngựa đang chìm trong giấc mộng. Tay của hòa thượng lần theo tràng hạt màu tím đỏ, trên mình hòa thượng là bộ quần áo dường như được dệt bằng giấy bị nước mưa thấm ướt, chỉ cần chạm khẽ vào nó sẽ tan thành mảnh vụn. Đôi tai của hòa thượng bu đầy ruồi, chỉ duy cái đầu trọc lóc và khuôn mặt trơn nhẫy là không có con nào. Phía trước sân là một cây ngân hạnh sum suê, trên cây ríu rít tiếng chim, trong tiếng chim hình như còn xen lẫn cả tiếng của một đôi mèo. Đôi mèo này ngủ trong hốc cây và rình bắt những chú chim trên cành. Tiếp theo tiếng kêu vui sướng của con mèo là tiếng kêu thảm thiết của con chim bị bắt và tiếng kêu kinh hoàng hoảng hốt của bầy chim. Tôi ngửi thấy mùi máu tanh, không, chính xác hơn là tôi nghĩ tới mùi máu tanh, nghĩ tới cảnh tượng kinh hoàng sặc mùi máu. Lúc này con mèo đực đang dùng đôi móng giữ chặt con mồi đầy máu, quay sang phía con mèo cái như muốn khoe chiến công. Con mèo cái bị mất chiếc đuôi trông rất giống một con thỏ. *** Mạc Ngôn tên thật là Quản Mạc Nghiệp, sinh năm 1955 tại Cao Mật tỉnh Sơn Đông. Là tác giả tạo nên cơn sốt văn học Trung Quốc tại Việt Nam thông qua một loạt các tiểu thuyết được chuyển ngữ và xuất bản từ thập kỷ trước như Cao lương đỏ, Báu vật của đời, Đàn hương hình, Cây tỏi nổi giận… Mạc Ngôn đã để lại dấn ấn sâu đậm trong lòng độc giả bởi tài năng văn chương không thể phủ nhận. Giải thưởng Nobel Văn học năm 2012 một lần nữa khẳng định địa vị quan trọng của Mạc Ngôn trong nền văn học thế kỷ 20 của Trung Quốc nói riêng và thế giới nói chung. Tác phẩm chính Báu vật của đời, nguyên tác: Phong nhũ phì đồn (丰乳肥臀), (1995) Cao lương đỏ, nguyên tác: Hồng cao lương gia tộc (红高粱家族), (1998) Đàn hương hình (檀香刑). Cây tỏi nổi giận (Bài ca củ tỏi Thiên Đường) Củ cải đỏ trong suốt. Rừng xanh lá đỏ (Rừng vẹt) Tửu quốc (Rượu chảy như suối) Châu chấu đỏ. Tổ tiên có màng chân Con Đường Nước Mắt Hoan Lạc Bạch Miên Hoa Trâu Thiến Sống Đọa Thác Đày Người Tỉnh Nói Chuyện Mộng Du Khác Ma chiến hữu, nguyên tác: Chiến hữu trùng phùng (战友重逢), (2004), một tác phẩm đề cập đến lính Trung Quốc hy sinh trong Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979. Giải thưởng Giải nhất về tiểu thuyết của Hội Nhà văn Trung Quốc, tháng 12/1995 cho truyện "Báu vật của đời". Giải Mao Thuẫn cho tác phẩm Đàn hương hình Giải Nobel Văn học năm 2012.   Mời các bạn đón đọc Chuyện của Cậu Bé Hay Nói Khoác của tác giả Mạc Ngôn.