Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Đẹp Và Buồn

Kawabata viết tiểu thuyết cuối cùng mang tên Đẹp và buồn như để thêm một lần nữa khẳng định quan niệm mỹ học truyền thống lâu đời của Nhật Bản, và cũng là đúc kết lại toàn bộ tư tưởng sáng tác xuyên suốt trong sự nghiệp văn chương của ông. Câu chuyện chính của Đẹp và buồn kể về mối quan hệ tình yêu tay ba đầy bi kịch và tuyệt vọng của Oki với tình nhân Otoko, và người vợ Fumiko. Những nỗi đam mê, nhục cảm trong mỗi cõi đẹp đẽ đến điên rồ. Cái đẹp nằm trong tình yêu, sự ham muốn, và lòng hận thù, để rồi miên viễn trong một cuộc truy lùng, đeo đuổi, đi đến cái đích tận cùng của chiêm nghiệm, ấy là cái chết. "Chết là vĩnh viễn từ chối mọi lý giải của người khác. Không ai biết lý do hành động tự hủy của một người, cũng không ai có quyền phán đoán người đi tìm cái chết". Câu chuyện đầy trầm mặc được đặt trong bối cảnh chính là cố đô Kyoto, với tiếng chuông chùa cuối năm tĩnh lặng, với ngọn đồi êm ả dưới ánh trăng... Kawabata đã thả bút mà vẽ nên những nét đẹp thuần khiết nhất, nhưng cũng ẩn giấu những bất an nhất, thầm kín nhất của cái đẹp. Độc giả say đắm Kawabata, đi xuống từng tầng sâu cùng cõi đẹp Kawabata, đều sẽ luôn nhận ra rằng, Kawabata giữ gìn khoái cảm về cái đẹp ấy, miên viễn ngay trong sự tàn lụi. Đẹp và buồn chính là một lời tuyên ngôn cuối cùng của Kawabata. Đó là cuốn tiểu thuyết mang đầy dự cảm về một chuyến đi cuối cùng của đời người. Mặc dù trong diễn văn đọc tại buổi lễ nhận giải Nobel, Yasunari đã lên án cách kết thúc cuộc đời con người bằng cách tự vẫn, một cách chết "rất Nhật Bản" đã cướp đi nhiều người thân của ông. Năm 1972, Kawabata đã tự tử bằng khí đốt trong một căn phòng tại Hayama. Vì không để lại thư tuyệt mệnh, nên cái chết của ông vẫn đặt ra rất nhiều nghi vấn và tranh cãi cho những nhà nghiên cứu sau này. *** Kawabata Yasunari (1899-1972) sinh ngày 14.6.1899, là tiểu thuyết gia người Nhật Bản đầu tiên và là người châu Á thứ đoạt giải Nobel Văn chương. Những sáng tác văn chương, những tiểu luận mỹ học và phê bình văn học của Kawabata Yasunari, qua thời gian vẫn luôn đem lại hấp lực mạnh mẽ đối với nhiều nhà phương Đông học trên khắp các châu lục, có sức lôi cuốn rộng rãi độc giả trên thế giới, phản ảnh nhiều phương diện của văn hóa cũng như những rung cảm đầy đam mê mà tinh tế của tâm hồn Nhật Bản. Mồ côi từ năm mới có hai tuổi, Kawabata và chị gái sống cùng ông bà ngoại. Khi ông lên bảy thì bà ngoại qua đời, lên chín thì mất chị, mười bốn tuổi thì mất cả ông ngoại, ông phải về sống với gia đình người dì. Ở tuổi đôi mươi, Kawabata lại đánh mất một người mà ông hết lòng yêu thương, ông đã cùng nàng hứa hôn nhưng khi mọi việc chuẩn bị xong, nàng bất ngờ từ hôn, không một lời giải thích. Kawabata chỉ còn biết tựa mình vào năng lực sáng tạo, phong kín vết thương tâm hồn bằng cuộc tìm kiếm mê mải cái đẹp trong cuộc đời. Cảm thức cô đơn trong văn phẩm Kawabata thường phản ánh từ chính cuộc sống thời thơ ấu và tuổi trẻ của ông. Cái cô đơn ấy bắt đầu với tập Nhật ký tuổi mười sáu, được xuất bản năm 1925, tác phẩm đầu tay này có lẽ đã được viết lại dù trong đó, ấn tượng của một thiếu niên trước cái chết của người thân (ông ngoại) vẫn còn rõ nét. Những ngày cuối cùng khốn khổ của một người già yếu mù lòa, cuộc sống cô độc của một thiếu niên nhỏ bé đối diện với sinh ly tử biệt được thể hiện chân thực. Bên cạnh viết văn, Kawabata còn làm phóng viên cho một số tờ báo. Mặc dù đã từ chối tham gia vào sự hăng hái quân phiệt trong Thế chiến II, ông cũng thờ ơ với những cải cách chính trị của Nhật Bản sau chiến tranh, nhưng rõ ràng chiến tranh có ảnh hưởng lớn lao đối với ông (cùng với cái chết của cả gia đình khi ông còn trẻ). Sau đó, ông nói rằng kể từ đó ông chỉ còn khả năng viết những tác phẩm bi ca mà thôi. Năm 1972, Kawabata tự tử bằng khí đốt. Nhiều giả thuyết đã được đưa ra: sức khoẻ kém, cuộc tình bị cấm đoán, sốc do vụ tự tử của người bạn văn năm 1970. Kawabata không để lại thư tuyệt mệnh, các tác phẩm của ông cũng không có manh mối gì, nên đến nay không ai biết được nguyên nhân thật sự của cái chết đó. Trong diễn văn của Viện Hàn lâm Thụy Điển khi trao giải Nobel Văn chương cho ông vào năm 1968, đã tôn vinh Kawabata: “Ông là người tôn vinh cái đẹp hư ảo và hình ảnh u uẩn của hiện hữu trong đời sống thiên nhiên và trong định mệnh con người.” *** Keiko tới trà thất Kiyamachi thấy Taichiro đã quần áo chỉnh tề đứng đợi ngoài sân thượng. “Em chào anh ạ. Anh ngủ có ngon không?” Keiko bước lại bên anh. Tựa lan can, cô gái hỏi tiếp: “Anh đợi em?” Taichiro nói: “Tôi dậy từ sớm. Tiếng sông làm tôi thức giấc. Tôi ra đây ngắm mặt trời mọc trên dẫy đồi đông.” “Anh dậy sớm thế à...?” “Đúng vậy. Nhưng dẫy đồi gần quá, nên rạng đông mà không có cảm tường là mặt trời đang mọc. Chỉ khi mặt trời đã lên cao, dẫy đồi mới đột ngột hiện rõ ra màu lục, và nắng mới làm sông sáng lên như bạc...” “Anh ngắm cảnh lâu nhỉ...” “Coi mấy xóm bên kia sông thức giấc và sinh hoạt náo nhiệt trở lại, cũng thú vị lắm.” “Vậy thì anh ngủ đâu có được nhiều. Khách sạn thiếu tiện nghi phải không?” Rồi cô gái thầm thì: “Anh mà bảo tại nhớ em mà mất ngủ thì em sướng lắm...” Taichiro yên lặng. Keiko năn nỉ: “Anh không chịu nói cho em câu đó sao?” “Có chứ. Keiko, tôi ngủ không được là vì nhớ cô.” “Anh nói chỉ vì em van xin anh.” “Nhưng Keiko, đêm qua cô ngủ ngon phải không?” Keiko lắc đầu: “Anh đoán sai rồi.” “Tôi đoán vậy tại mắt cô tươi rói.” “Tại vì tim em tươi rói. Mà tim em tươi rói là tại vì anh. Còn mắt em thì sợ gì một hai đêm không ngủ.” Keiko nhìn Taichiro chằm chặp, đôi mắt ướt long lanh. Anh nắm lấy tay cô gái. Keiko nói: “Sao mà tay anh lạnh thế.” “Còn tay cô thì ấm quá.” ... Mời các bạn đón đọc Đẹp Và Buồn của tác giả Yasunari Kawabata.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Bay Bằng Đôi Cánh Gãy
Willem 12  tuổi sống với bà ngoại ở tầng 18, Chung cư Beckham, London. Do mắc một dạng rối loạn tự kỷ, Willem hơi ngô nghê trong giao tiếp, ai nói sao cậu hiểu đúng y nghĩa đen vậy, không hiểu người ta nói đùa, với bất cứ việc gì cậu cũng hết sức nghiêm túc, từ làm bài tập về nhà cho đến thức ăn phải để riêng từng đĩa, đến quần áo mặc đúng ngày, và rất nhiều chuyện đặc biệt kỳ lạ (và kỳ cục) khác... Tất nhiên Willem không chỉ rất khó có bạn, mà còn là đối tượng để đám lêu lổng trong trường lẫn trong chung cư bắt nạt. Thế mà, cô Hubert, giáo viên Toán đồng thời là chủ nhiệm lớp, lại không giao cho Willem bài tập về nhà giải 10 phương trình như những đứa khác trong lớp; cô bảo Willem phải kết được hai người bạn cùng tuổi. Vậy nên Willem không được tính bà ngoại, chú bán burger vào được rồi! Lớp học nào cũng có mấy đứa "xóm nhà lá" chuyên nghề quậy phá. Nhưng lũ học trò nhất quỷ nhì ma của lớp Willem còn hơn vậy nhiều, có tới hai băng đảng xưng hùng xưng bá. Một phe là băng Giang hồ Phố Beckham - nghe là biết lũ trẻ trâu trong chung cư của Willem rồi. Phe kia là Băng Tarkey, mà tụi nó khoái xưng là Băng T hơn, đích thị lũ trẻ choai bên Chung cư Tarkey gần đó.  Cầm đầu mấy đứa Giang hồ Phố Beckham trong lớp Willem là thằng Finn. Hai đứa "tà lọt" cho thằng Finn là thằng Laurence và TJ. Ba thằng ôn con này gặp Willem đâu là bắt nạt đó, cái trò thằng Finn khoái nhất là bắt Willem leo lên bàn, leo lên kệ... leo lên bất cứ gì và nhảy xuống theo tiếng hô của nó! Nhưng bữa đó thật bá đạo quá quắt, ba thằng dí Willem trèo lên bờ tường bao khuôn viên trường và bắt thằng nhỏ phải nhảy xuống. Cái tường cao thế kia, lại còn găm đầy miểng chai trên bề mặt...  Giữa lúc ba thằng Finn, Laurence và TJ thi nhau hú hét, chế nhạo, khủng bố tinh thần Willem, chợt có tiếng kêu khóc can ngăn của Sasha Barton. Sasha và Finn là bạn từ hồi chơi hố cát nhà trẻ. Gần đây, thằng Finn nắm tay Sasha làm con bé thấy bủn rủn kỳ cục! "Cảm nắng" thằng Finn ư? Lẽ nào! Nhưng khi Willem liều mạng nhảy từ trên tường xuống, vẫy hai tay như cánh chim và té "rắc" một phát, gãy chân, thằng Finn nắm tay Sasha lôi tuột đi thì con nhỏ răm rắp làm theo, bỏ mặc Willem nằm rên la trên đất.  Willem được đưa đi bệnh viện, cái chân gãy bó bột to đùng. Và cô Hubert quét ánh mắt tia laser nhìn cả hai băng trẻ trâu trong lớp, nghi ngờ không biết ai là thủ phạm vụ kinh thiên động địa này! Trong khi Sasha đang bứt rứt hối hận, cô Hubert lại hỏi ai có thể thay mặt cả lớp đến bệnh viện thăm nom Willem, tỏ tình bằng hữu không. Mặc kệ thằng Finn tức lồi mắt, Sasha đứng bật dậy xung phong.  Đến bệnh viện và chăm một cậu bạn tự kỷ, giao tiếp ngô nghê, nói năng nghiêm trọng như ông cụ non... không phải là phiền phức và chán òm sao? Dĩ nhiên rắc rối chẳng phải dạng vừa! Và Finn đời nào để yên.  Nhưng câu chuyện "tay ba" Finn - Sasha - Willem lọt thỏm giữa câu chuyện lớn hơn nhiều trong cuộc sống ở trường và ở chung cư của chúng. Lũ vô công rỗi nghề đàn anh - đại ca - của hai băng đảng Phố Beckham và Băng T bắt tay nhau chơi lớn: bạo động, cướp phá cửa hàng, thiêu rụi ô tô, đập vỡ kính cửa sổ, choảng nhau đến đổ máu... Những tháng ngày mà nơi này nơi kia ở London bùng lên những cuộc nổi loạn của thanh niên thất nghiệp và bọn trẻ mới lớn a dua, vào hùa... Tuy nhiên, tình bạn bắt đầu từ chiếc xe lăn đẩy Willem chân bó bột, Sasha tả xung hữu đột qua đám bạo loạn đưa bạn về nhà, và thằng Finn thoắt ẩn thoắt hiện, lúc là bạn lúc là kẻ làm loạn - hết sức khó hiểu - dẫn đến nhiều cơ duyên khác cho cuộc đời của ba đứa trẻ. Đầu tiên chúng được gặp Ông già phép màu Archie và Dự án Cộng đồng sửa ô tô ông mở ở tầng hầm chung cư Beckham. Cơ duyên thứ hai, hết sức phi thường, chạm đúng giấc mơ thầm kín - được bay - của Willem và Sasha là gặp gỡ nàng Tiêm kích Spitfire Maisy - một trong những chiến đấu cơ anh hùng của Không quân Anh trong Thế chiến II còn sót lại. Ba là: bài tập thuyết trình nhóm do cô Hubert giao, dẫn đến việc ba đứa Finn - Sasha - Willem và chú chó Buster của Finn lập Hội Spitfire. Và cuối cùng: Đôi cánh bằng gỗ Willem tự chế tạo theo bản vẽ của danh họa đồng thời cũng là nhà sáng chế người Ý Leonardo da Vinci - và lần tung cánh chim trời của cậu ta từ tầng mái chung cư Beckham... hạ cánh nơi chảo ăngten cửa sổ phòng thằng Finn ở tầng 11!  Hồi hộp, cuốn hút theo sự phát triển của từng nhân vật... Bay bằng đôi cánh gãy là câu chuyện cảm động tuyệt vời về tình bạn, tình yêu, những tổn thương tâm lý của trẻ em là nạn nhân bạo hành gia đình; lòng tốt giữa người và người; và dành tặng cho những bóng hồng cánh gió của nước Anh trong Thế chiến II. Cuộc sống đương đại của thành phố London, những vấn đề của giới trẻ ngày nay hiện lên sống động và xúc động trong từng câu chữ! Bay bằng đôi cánh gãy sẽ đưa trí tưởng tượng của các em không chỉ đến những tầng mây đẹp của trời cao mà còn đến những cảm xúc tinh tế nhất trong tâm hồn để làm một con người tự do, dám ước mơ và dám theo đuổi ước mơ... đến vô cùng và xa hơn nữa! *** WILLEM Khi thằng Finn Mason gào ‘nhảy đi’, tức là phải nhảy bật lên cao hết sức bình sinh, bằng không thì chết chắc. Tôi hít một hơi sâu. ‘Nhảy đi, thằng ngu,’ Finn hét lên, một cục nước bọt bắn ra khỏi mép nó. Đứng hai bên thằng Finn là TJ và Laurence. Bọn nó nhìn tôi chằm chằm. Miệng chúng há hốc. Tôi nhích nhích ngón chân ra gờ tường bao khuôn viên trường. Một miếng mảnh chai do thầy Patricks, thầy giám thị, cắm lên trên bậu tường để giữ lũ học trò bất xuất và lũ trộm bất nhập, nghiến lạo xạo dưới chân tôi. Chẳng có tên trộm nào thèm đột nhập vào cái trường này vì đâu còn gì mà chôm chỉa. Thằng Finn Mason đã vét sạch sành sanh rồi. ‘Nhảy đê! Nhảy đê! Nhảy đê!’ Laurence và TJ hô vang. Laurence cười ha hả. Còn TJ trông như thể sắp đổ bệnh đến nơi. Mấy ngón tay tôi bắt đầu run. Tôi thò tay vào túi phải tìm con máy bay mô hình Spitfire Mark 1 của mình. Nó đã biến đâu mất! Xoay xoay cánh quạt ở mũi con máy bay mô hình này thường giúp tay tôi bớt quýnh quáng và đầu óc tôi có thể tập trung giải quyết những bài toán khó nhằn, ví dụ như lần này, khi tôi đang bị ép phải nhảy từ trên bờ tường cao chót vót xuống. Tôi sục tay qua túi trái, dù biết chắc mình luôn cất con mô hình Spitfire Mark 1 ở túi bên phải thôi. Nó cũng không có ở đó. Mất rồi. Mấy ngón tay tôi run bần bật. Lẽ ra tôi không nên đứng trên gờ tường bao khuôn viên trường mới phải. Lẽ ra giờ này tôi đang làm bài tập về nhà. Cô Hubert dạy toán đã giao riêng cho tôi một bài tập khác với cả lớp. Chúng nó phải giải 10 phương trình. Còn tôi phải kết được hai người bạn. Cô Hubert nói bà tôi thì không tính vì là người nhà. Chú Bernie ở Quầy Burger Bernie cũng không được vì chú ấy là người bán hàng. Tôi hỏi cô Hubert có phải là bạn tôi không thì cô trả lời không, cô là cô giáo dạy môn toán của tôi thôi. ‘Em phải kết bạn với hai người cùng tuổi em,’ cô nói. ‘Nhảy đi!’ thằng Finn gào. Nó không phải là bạn tôi. Tôi nhích tới thêm một chút. Một miếng miểng chai đâm xuyên qua vạt đế giày mỏng lét, đôi giày đi học tôi ưa thích thứ nhì, màu đen cột dây, và cứa vào ngón cái chân trái. Thầy Patricks không nên gắn miểng chai lên bậu tường, vì lý do sức khỏe và an toàn mới phải chứ. Thầy Patricks không nên làm giám thị. Thầy ấy nên làm gián điệp ám sát của SAS[1] mới đúng. Thật tức cười, phải không, những chuyện như vậy lại hiện lên trong đầu khi bạn sắp phải nhảy xuống khỏi bậu tường và chết ngắc. Có tiếng máy bay bay ù ù trên trời. Tôi ngước lên. Hình như là một chiếc Boeing 747-400, nhưng cũng khó mà nói trúng được khi bạn đang cố giữ thăng bằng trên gờ tường cao chót vót thế này. Loại máy bay đó có thể bay một mạch không ngừng đến 7.670 hải lý. Mấy thông số máy bay giúp tôi bình tĩnh một chút. ‘Nhảy đi,’ thằng Finn quát. Thằng Finn có quả đầu tóc vàng loăn xoăn. Nó không chải đầu. Mũi nó có bảy nốt tàn nhang. Tôi đã nhẩm đếm tàn nhang trên mũi thằng ấy khi nó bắt tôi nhảy từ bàn học xuống đất giờ ra chơi ngày hôm qua. Từ trên tường cao nhìn xuống, thằng Finn, TJ và Laurence trông bé xíu. ‘Tao đã bảo NHẢY!’ Finn gào. Tôi nhìn xuống. Tôi, Willem Edward Smith, xin tuyên bố ở đây rằng tôi không hề sợ độ cao. Gia đình tôi sống ở tầng 18 Chung cư Beckham. ‘Chúng ta ngủ cao hơn cả lũ chim,’ bà tôi vẫn thường nói. Nếu đúng là tôi sắp chết thật thì tôi sẽ xin vị thánh nào phụ trách trên ấy - Chúa chẳng hạn, hoặc nếu ngài bận thì có thể phụ tá của ngài Thánh Phêrô cũng được - cho tôi đầu thai thành một chú chim vì tôi không thích làm Willem Edward Smith cho lắm. Bà tôi dạy phải luôn vươn tới đỉnh cao. Nên tôi hy vọng Chúa sẽ có mặt ở đó khi tôi đưa lời thỉnh cầu. Có lẽ tôi nên đặt lịch hẹn gặp ngài. Bà còn dạy tôi một điều nữa là phải luôn lên kế hoạch cho mọi chuyện, có như vậy mới đối phó được những bất ngờ quái gở trong đời. Thế nên mỗi khi nhìn thấy Finn đi trên hành lang trong trường là tôi sẽ bắt đầu nhảy lên nhảy xuống tại chỗ trước cả khi nó bảo tôi làm vậy. Tôi vò tóc bù xù và kéo đứt một chiếc cúc áo và tự tát vào mặt mình cho đến khi má tôi hằn một vệt đỏ. Kế hoạch của tôi là lừa thằng Finn tin nó đã đánh tôi rồi. Finn là thằng não cá vàng nên đôi khi kế hoạch này thành công, nhưng những lần còn lại nó toàn bắt tôi nhảy cao hơn nữa và đạp vào bụng tôi. ‘Nhảy đi! Nhảy đi! Nhảy đi!’ Chúng nó đồng thanh gào mỗi lúc một to hơn. Ngón tay tôi run rẩy hơn nữa. Nếu tôi nhảy xuống bờ tường này rồi chết đi thì mỗi sáng ai sẽ pha trà và bưng cho bà tôi đĩa bánh quy ăn nhẹ đây? Mà tiện thể, tôi cho rằng chấm dứt cuộc đời ngắn ngủi mới 12 năm của tôi như này là hết sức ngớ ngẩn, và tôi bắt đầu nhẩm đếm số ngày, phút và giây mình có mặt trên Trái Đất. ‘Nhảy đi, cái thằng rác rưởi thảm hại,’ Finn cắt ngang phép tính nhẩm trong đầu tôi. Tôi hít sâu một hơi và nhích mấy ngón chân ra khỏi gờ tường thêm nữa. Mặt đất bắt đầu xoay mòng mòng. Tôi lảo đảo. TJ đưa tay lên che mắt. Một đứa con gái nào đó hét lên. Sasha Barton chạy bổ đến chỗ chúng tôi. ‘Finn, cậu đang làm gì đấy? Cậu làm hại Willem thì sẽ bị tống cổ ra khỏi trường lần nữa là cái chắc! Và đừng hòng gặp lại nhau. Vĩnh viễn luôn nha. Rồi bố tớ sẽ cấm cậu xuất hiện trong đời tớ luôn, lần thứ sáu trong năm nay rồi đó.’ Sasha ngước nhìn tôi và lén nháy mắt một cái cực khẽ. Một cái chớp nhẹ, nhưng tôi đã kịp thấy. Nếu ai đó nháy mắt với bạn, có phải họ là bạn của bạn không? Thế rồi con nhỏ hất mái tóc đen dài ra sau tai, lắc lắc đôi khuyên vàng và phẩy tay với thằng Finn. ‘Để yên cho Willem đi Finn, làm ơn mà,’ Sasha nói, nhìn thẳng vào mắt Finn. Thằng Finn không thèm nhìn vào mắt Sasha. Nó nhìn chằm chằm ngực con bé. Có điều ngực con nhỏ không lớn lắm - không đủ để ngăn Finn muốn giết tôi. ‘NHẢY XUỐNG!’ nó gầm lên. Thế là tôi NHẢY XUỐNG. Tôi vờ như mình đang ở trong một chiếc máy bay và dù không cố ý nhưng hình như tôi đã đập đập hai cánh tay như cánh chim khi lao xuống và thế là làm lộ bí mật. Và khi chân tôi gãy rắc một cái, tôi thét lên đau đớn. Nhưng tôi đã không chết. Tôi vẫn là Willem Edward Smith sống ở tầng 18, Căn hộ 103 Chung cư Beckham, Phố Beckham, Tây bắc London, NW1 7AD. Thằng Finn cười phá lên. Rồi cả đám bắt đầu cười hùa theo thằng đó. Nó cúi sát xuống, rít vào mặt tôi, ‘Nó nghĩ nó là chim cơ đấy. Bay đi, con, bay đi.’ ‘Này các em kia! Mấy đứa đang làm gì thế?’ Là thầy giám thị Patricks đang lao về phía chúng tôi. ‘Chuồn thôi!’ thằng Finn thét lên. Finn chộp lấy tay Sasha lôi tuột đi và cả đám bỏ chạy theo, để mặc tôi nằm đó với một chân bị gãy. Có cái gì lấp lánh trong đám cỏ. Là một chiếc khuyên tai của Sasha. Tôi với tay chộp lấy, dù về lý thuyết thì người mới bị thương không nên cử động. Đau điếng. Tôi lén giấu chiếc khuyên vào túi. Nó là bằng chứng tố cáo Sasha đã có mặt ở đây khi tôi nhảy từ trên tường xuống đất, mà tôi thì không muốn một người có thể là bạn mình phải gặp rắc rối. ‘Đợi đấy,’ tôi gào với theo chúng nó. ‘Một ngày nào đó nhất định tao sẽ bay được.’ Mời các bạn đón đọc Bay Bằng Đôi Cánh Gãy của tác giả Jane Elson & Nhung Nhung (dịch).
Dĩ Vãng
Chúng tôi, buổi này, cho ra mắt cuốn Dĩ Vãng, là có ý giới thiệu với các bạn cuốn văn đầu tiên của thi sĩ Hồ Dzếnh (mà những bài thơ trong tờ Tiểu Thuyết thứ bẩy đã khiến các bạn để ý từ lâu). Đây không phải là một câu chuyện biến ảo, ly kỳ đầy những sự hội hộp. Đây chỉ là một câu chuyện dĩ vãng của một thi nhân nhiều tình mộng. …Năm tháng trôi qua, cỏ đã bao nhiêu lần úa và mọc xanh trên những nấm mồ. Một thi nhân, giữa một đêm lành lạnh, nướng sợi tóc bạc vào ngọn lửa một chiếc đèn leo lét, trạnh nhớ đến thời xưa. Thi nhân buồn rầu đọc một lá thư của người mà mười lăm năm trước, chàng đã mất bao nhiêu nước mắt ước ao. Thư ấy có câu: …(Đến bây giờ…người yêu ông đã mất, tôi mới lại dám ngỏ chút lòng oan khổ mà đằng đẵng bao lâu nay tôi từng chép nó bằng nước mắt của một thiếu phụ có chồng, con)… Thi nhân thoáng thấy hình ảnh một người hiền phụ đợi chồng, thấy tất cả một giấc một mộng đương trôi về quá khứ… Tất cả, tất cả cuốn văn chỉ gợi cho ta niềm nhớ, thương một cái gì đẹp đẽ lắm đã mất từ lâu. Nhà Xuất Bản. Á Châu. *** Hồ Dzếnh (1916–1991), tên thật là Hà Triệu Anh hay Hà Anh (ghi theo giọng Quảng Đông là Hồ Dzếnh) là một nhà thơ của Việt Nam. Ông được biết nhiều nhất qua tập thơ Quê ngoại với một giọng thơ nhẹ nhàng, siêu thoát, phảng phất hương vị thơ cổ Trung Hoa. Ngoài ra, Hồ Dzếnh còn là một nhà văn với nhiều tác phẩm, tiêu biểu là tập truyện ngắn Chân trời cũ (1942), Thạch Lam đề tựa. Ông sinh năm 1916 tại làng Đông Bích, xã Quảng Trường, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Cha ông là Hà Kiến Huân, người gốc Quảng Đông sang sinh sống ở Việt Nam từ khoảng 1890, mẹ Đặng Thị Văn là người Việt, quê ở bến Ghép, huyện Quảng Xương, Thanh Hóa. Ông học trung học, dạy tư, làm thơ, viết báo từ năm 1931 tại Hà Nội. Năm 1953 ông vào Sài Gòn làm báo, năm 1954 trở về Hà Nội tiếp tục viết báo, làm thơ. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam ngay từ buổi đầu thành lập (1957). Ông mất ngày 13 tháng 8 năm 1991 tại Hà Nội do xuất huyết dạ dày và viêm thận[1]. Hồ Dzếnh được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007. Hồ Dzếnh là một tín hữu Công giáo Rôma, tên thánh của ông là Phaolô Têrêsa.   Nhà thơ Bùi Giáng trong nhiều tập thi thoại đã cho rằng Hồ Dzếnh là người làm thơ lục bát cực hay, nhưng bù lại thơ thất ngôn chỉ ở mức bình thường. Bài "Rằm tháng giêng", theo Bùi Giáng trong cuốn Thi ca tư tưởng thì: "Người Việt Nam có thể không đọc Nguyễn Du, nhưng không thể nào không đọc bài thơ kia của Hồ Dzếnh". Nhà văn Kiều Thanh Quế viết: "Ngòi bút Hồ Dzếnh đã có được lắm đặc tánh khả quan trong khi phô diễn. Nó nên tỏ ra có sức mạnh trong những tiểu thuyết dày dặn, thì tên tuổi của người Minh Hương ấy – Hồ Dzếnh là người Minh Hương, văn học quốc ngữ không nề hà chẳng đón tiếp như đã đón tiếp bao nhiêu nhà văn Việt Nam hữu tài." (Tạp chí Tri Tân số 67, 13/6/1942) "Lời giới thiệu" Tuyển tập Hồ Dzếnh – Tác phẩm chọn lọc, Nhà xuất bản Văn Học 1988, nhận định: "Tác phẩm của Hồ Dzếnh không nhiều, lại không tập trung ở một tờ báo hay đặc san nào. Với bản chất trầm lắng, ông luôn luôn khiêm tốn tự cho mình là người mới bắt đầu bước vào nghề viết. Tuy nhiên, với hai tập văn thơ Chân trời cũ và Quê ngoại, Hồ Dzếnh được biết đến như một nhà thơ có chân tài. " Nhà thơ Hoài Anh viết về Hồ Dzếnh: "Phần đóng góp quan trọng nhất cho văn học Việt Nam của anh lại là tập Chân trời cũ, thể hiện nếp sinh hoạt, tính cách, tình cảm, tâm lý của bà con gốc Hoa trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Hồ Dzếnh chỉ kể chuyện về người cha mình, các anh, chị, em mình, con ngựa của cha mình... mà làm cho người đọc Việt Nam rung động tận đáy lòng." (Chân dung văn học, Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2001) Nhà văn, giáo sư Đặng Thai Mai đánh giá tập truyện Cô gái Bình Xuyên (Nhà xuất bản Tiếng Phương Đông, 1946) viết về cuộc kháng chiến chống Pháp của người dân Nam bộ thời 1945-1946 như là một trong những tín hiệu đầu tiên của văn học kháng chiến. Mời các bạn đón đọc Dĩ Vãng của tác giả Hồ Dzếnh.
Tâm Lý Học Về Tiền
Tiền bạc có ở khắp mọi nơi, nó ảnh hưởng đến tất cả chúng ta, và khiến phần lớn chúng ta bối rối. Mọi người nghĩ về nó theo những cách hơi khác nhau một chút. Nó mang lại những bài học có thể được áp dụng tới rất nhiều lĩnh vực trong cuộc sống, như rủi ro, sự tự tin, và hạnh phúc. Rất ít chủ đề cung cấp một lăng kính phóng to đầy quyền lực giúp giải thích vì sao mọi người lại hành xử theo cách họ làm hơn là về tiền bạc. Đó mới là một trong những chương trình hoành tráng nhất trên thế giới. Chúng ta hiếm khi lâm vào hoàn cảnh nợ ngập đầu ư? Biết tiết kiệm để dành cho lúc khốn khó hơn ư? Chuẩn bị sẵn sàng cho việc nghỉ hưu? Có những cái nhìn thiết thực về mối quan hệ giữa tiền và hạnh phúc của chúng ta hơn phải không? Chúng ta đều làm những điều điên rồ với tiền bạc, bởi vì chúng ta đều còn khá mới mẻ với trò chơi này và điều có vẻ điên rồ với bạn lại có khi hợp lý với tôi. Nhưng không ai là điên rồ cả – chúng ta đều đưa ra các quyết định dựa trên những trải nghiệm độc đáo riêng có mang vẻ hợp lý với mình ở bất cứ thời điểm nào. Mục đích của cuốn sách này là sử dụng những câu chuyện ngắn để thuyết phục bạn rằng những kỹ năng mềm còn quan trọng hơn khía cạnh lý thuyết của đồng tiền. Thông qua một tập hợp những thử nghiệm và sai lầm của nhiều năm chúng ta đã học được cách trở thành những nông dân giỏi giang hơn, những thợ sửa ống nước nhiều kỹ năng hơn, và những nhà hóa học tiên tiến hơn. Nhưng liệu việc thử nghiệm và sai lầm có dạy chúng ta trở nên giỏi hơn trong cách quản lý tài chính cá nhân của chính mình không? Nhiều tiền không liên quan nhiều đến việc bạn thông minh như thế nào mà lại liên quan lớn đến cách bạn hành xử. Và cách hành xử thì rất khó để uốn nắn, ngay cả đối với những người thực sự thông minh. Một thiên tài không kiểm soát được cảm xúc của anh ta có thể dẫn tới một thảm họa tài chính. Điều ngược lại cũng đúng. Những người bình thường không có kiến thức về tài chính có thể trở nên giàu có nếu họ nắm trong tay những kỹ năng hành xử không liên quan đến những thước đo chính thống về trí thông minh. Sự thành công trong tài chính không phải là một lĩnh vực khoa học khó nhằn. Nó là một kỹ năng mềm, nơi mà cách bạn hành xử quan trọng hơn điều mà bạn biết. Trong “Tâm lý học về tiền”, tác giả từng đoạt giải thưởng Morgan Housel chia sẻ 19 câu chuyện ngắn khám phá những cách kỳ lạ mà mọi người nghĩ về tiền bạc và dạy bạn cách hiểu rõ hơn về một trong những chủ đề quan trọng nhất của cuộc sống. Mời bạn đón đọc Tâm Lý Học Về Tiền của tác giả Morgan Housel & Hoàng Thị Minh Phúc (dịch)!