Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Thương Lượng Không Nhân Nhượng

Cho dù thích hay không, bạn vẫn là một nhà đàm phán. Đàm phán là thực tế của cuộc sống. Bạn đàm phán việc tăng lương với sếp. Bạn cố gắng thỏa thuận với một người về giá cả ngôi nhà của anh ấy. Hai vị luật sư đã nỗ lực giải quyết vụ án phát sinh từ vụ tai nạn ô tô. Một nhóm các công ty dầu lửa lên kế hoạch thành lập công ty liên doanh khai thác dầu ngoài khơi. Một quan chức thành phố họp với lãnh đạo nghiệp đoàn để ngăn chặn cuộc bãi công. Ngoại trưởng Hoa Kỳ cùng ngồi với người đồng cấp Liên Xô để tìm cách thỏa thuận về hạn chế vũ khí hạt nhân. Tất cả những việc này đều là đàm phán. Hằng ngày, ai cũng đàm phán điều gì đó. Cũng giống như ngài Jourdain của Molière, người sung sướng nhận ra mình đã nói văn xuôi suốt cả cuộc đời, mọi người đàm phán ngay cả khi họ không nghĩ là mình đang làm vậy. Bạn đàm phán với vợ/chồng về việc đi đâu để ăn tối và thỏa thuận với con cái lúc nào thì tắt đèn đi ngủ. Đàm phán là phương tiện cơ bản để đạt được điều bạn muốn từ người khác. Đây là quá trình trao đổi qua lại nhằm tiến tới thỏa thuận khi bạn và đối phương có cùng lợi ích hay mâu thuẫn quyền lợi với nhau. Ngày càng có nhiều trường hợp đòi hỏi phải tiến hành đàm phán và tránh được xung đột là một kỹ nghệ phát triển. Mọi người đều muốn tham gia vào những quyết định có ảnh hưởng đến họ; chẳng mấy ai chịu chấp nhận quyết định do người khác đưa ra. Không ai giống ai và con người dùng đàm phán để giải quyết sự bất đồng. Dù trong doanh nghiệp, chính phủ hay gia đình thì hầu hết mọi người đều ra quyết định thông qua đàm phán. Ngay cả khi ở tòa án, gần như người ta luôn đàm phán cách giải quyết trước khi xét xử. Mặc dù đàm phán diễn ra hằng ngày, nhưng để làm tốt việc này thì lại thật không dễ. Các chiến lược đàm phán thường khiến mọi người thấy không hài lòng, kiệt sức, bị xa lánh – hoặc thường xuyên có cả ba cảm giác này. Con người thường thấy bản thân rơi vào những tình thế khó xử. Họ có hai cách để đàm phán: Mềm dẻo hoặc cứng rắn. Những nhà đàm phán mềm dẻo thường muốn tránh xung đột cá nhân, vì vậy, họ sẵn sàng nhân nhượng để đạt được thỏa thuận. Những người này muốn tiến tới hòa giải; tuy vậy, rốt cuộc họ thường bị lợi dụng nên cảm thấy rất cay đắng. Những nhà đàm phán cứng rắn lại cho rằng mọi tình huống là sự thử thách ý chí, ở đó, bên nào có lập trường cực đoan hơn và giữ miếng lâu hơn sẽ có chiếm ưu thế. Họ muốn giành thắng lợi; tuy vậy, họ thường kết thúc cuộc đàm phán bằng việc tạo ra sự phản ứng không kém phần cứng rắn, gây cạn kiệt sức lực và phương hại tới mối quan hệ với phía bên kia. Các chiến lược đàm phán phổ biến khác nằm giữa loại chiến lược mềm dẻo và loại cứng rắn, nhưng mỗi chiến lược này thường hướng tới sự thỏa hiệp giữa việc đạt được điều bạn muốn và giữ hòa khí với mọi người. Cách đàm phán thứ ba, không thiên về cứng rắn hay mềm dẻo, mà là vừa cứng rắn vừa mềm dẻo. Phương pháp đàm phán trên nguyên tắc được xây dựng trong Dự án Kỹ năng đàm phán của Harvard nhằm giải quyết vấn đề trên cơ sở giá trị chứ không thông qua việc tập trung vào những gì mỗi bên nói sẽ làm hay không làm. Phương pháp này khuyên bạn nên tìm kiếm lợi ích chung bất cứ lúc nào có thể và khi có xung đột về lợi ích thì bạn nên yêu cầu kết quả phải dựa trên cơ sở một số tiêu chuẩn bình đẳng nhất định độc lập với ý chí của hai bên. Phương pháp đàm phán trên nguyên tắc cứng rắn về giá trị nhưng mềm dẻo về vấn đề con người. Phương pháp này không dùng thủ đoạn và điệu bộ. Nó cho bạn biết cách đạt được điều bạn đáng được hưởng mà vẫn tỏ ra lịch thiệp. Nó cho phép bạn cư xử công bằng và bảo vệ bạn chống lại những kẻ nhăm nhe lợi dụng sự ngay thẳng của bạn. Cuốn sách này bàn về phương pháp đàm phán trên nguyên tắc. Chương thứ nhất mô tả những vấn đề phát sinh trong việc áp dụng các chiến lược tiêu chuẩn của kiểu đàm phán quan điểm lập trường. Bốn chương tiếp theo trình bày bốn nguyên tắc của phương pháp đàm phán theo nguyên tắc. Ba chương cuối giải đáp những câu hỏi thường được nêu lên: Điều gì sẽ xảy ra nếu phía bên kia mạnh hơn? Điều gì sẽ xảy ra nếu họ không tuân thủ luật chơi? Điều gì sẽ xảy ra nếu họ gian dối. Phương pháp đàm phán trên nguyên tắc có thể được nhà ngoại giao Hoa Kỳ sử dụng ở trong các cuộc đàm phán về kiểm soát vũ khí với Liên Xô, khi các luật sư Phố Wall đại diện cho 500 công ty trên Tạp chí Fortune tranh tụng trong các vụ kiện chống độc quyền; và được các cặp vợ chồng dùng để quyết định mọi việc, từ việc đi nghỉ ở đâu cho đến phân chia tài sản như thế nào nếu họ ly dị. Bất cứ ai cũng có thể sử dụng phương pháp này. Không có cuộc đàm phán nào giống nhau, nhưng những yếu tố cơ bản của nó thì không thay đổi. Phương pháp đàm phán trên nguyên tắc có thể được sử dụng để giải quyết một hay nhiều vấn đề; có hai hay nhiều bên tham gia; dù có trình tự được quy định như trường hợp đàm phán tập thể hay không được chuẩn bị trước trong đàm phán với không tặc. Phương pháp này được áp dụng cho dù phía bên kia có nhiều kinh nghiệm hơn hay ngược lại, dù họ là kẻ không khoan nhượng hay là người ôn hòa. Phương pháp đàm phán trên nguyên tắc là một chiến lược áp dụng được cho mọi mục đích. Không giống với phần lớn các chiến lược khác, nếu phía bên kia cũng lĩnh hội được phương pháp này, nó sẽ trở nên dễ sử dụng hơn. Và nếu họ cũng đọc cuốn sách này thì tất cả đều có lợi. *** Đừng bàn cãi về quan điểm Dù là cuộc đàm phán về hợp đồng, cuộc tranh cãi trong gia đình hay thỏa thuận hòa bình giữa các quốc gia, thông thường người ta vẫn hay bàn cãi về vấn đề quan điểm. Mỗi bên đều có lập trường riêng, lập luận để bảo vệ nó và nhân nhượng nhằm đạt được thỏa hiệp. Ví dụ cổ điển về kiểu đàm phán này là cuộc mặc cả diễn ra giữa khách hàng và chủ cửa hàng đồ cũ: Và cuộc mặc cả cứ thế tiếp tục. Có thể họ sẽ đạt được thỏa thuận nhưng cũng có thể không. Mọi phương pháp đàm phán đều có thể được đánh giá công bằng qua ba tiêu chí: Phương pháp này phải mang lại thỏa thuận khôn ngoan nếu có thể, nó phải hiệu quả và cải thiện được hay chí ít thì cũng không làm phương hại đến mối quan hệ giữa hai bên. (Thỏa thuận khôn ngoan được định nghĩa là thỏa thuận đáp ứng quyền lợi hợp pháp của mỗi bên tới mức có thể, giải quyết được xung đột lợi ích hợp lý, lâu bền và có cân nhắc đến lợi ích cộng đồng.) Hình thức đàm phán phổ biến nhất được minh họa bằng ví dụ trên, phụ thuộc vào việc thay phiên nhau đưa ra các lập trường – và sau đó lại từ bỏ các lập trường này. Việc đưa ra các quan điểm, như người khách và chủ cửa hiệu trên, có tác dụng phục vụ cho một số mục đích hữu ích nhất định trong đàm phán. Nó cho phía bên kia biết bạn muốn gì; tạo ra điểm bấu víu trong tình huống không chắc chắn và căng thẳng; và cuối cùng đi đến các điều khoản trong một thỏa thuận có thể chấp nhận được. Nhưng có nhiều cách khác để đạt được. Việc mặc cả về lập trường không thỏa mãn các tiêu chí cơ bản để mang lại thỏa thuận khôn ngoan, hiệu quả và thân thiện. TRANH CÃI VỀ QUAN ĐIỂM CHỈ MANG LẠI NHỮNG THỎA THUẬN THIẾU KHÔN NGOAN Khi các nhà đàm phán mặc cả về quan điểm, họ thường tự giam mình trong những quan điểm này. Bạn càng làm rõ quan điểm của mình và bảo vệ nó khỏi bị tấn công thì bạn càng dính chặt vào nó. Bạn càng cố gắng thuyết phục phía bên kia rằng quan điểm ban đầu của bạn không thể thay đổi thì việc này càng khó có thể thực hiện được. Cái tôi của bạn trở nên đồng nhất với quan điểm của bạn. Bạn hiện có mối quan tâm mới về việc “giữ thể diện” – trong việc thống nhất giữa hành động ở tương lai với lập trường trong quá khứ – khiến khả năng đạt được thỏa thuận nào đó hòa hợp với lợi ích ban đầu của các bên một cách khôn ngoan ngày càng khó thực hiện. Nguy cơ tranh cãi về vấn đề lập trường sẽ cản trở tiến trình đàm phán. Ví dụ điển hình là sự đổ vỡ cuộc đàm phán về việc cấm thử vũ khí hạt nhân toàn diện dưới thời Tổng thống John F. Kennedy. Vấn đề then chốt nảy sinh: Liên Xô và Hoa Kỳ nên được phép thực hiện bao nhiêu cuộc thanh tra tại hiện trường mỗi năm trên phạm vi lãnh thổ nước kia để điều tra những sự kiện chấn động đáng ngờ? Cuối cùng, Liên Xô đồng ý tiến hành ba cuộc điều tra. Hoa Kỳ lại khăng khăng yêu cầu không dưới mười cuộc. Do vậy, các cuộc đàm phán này đã thất bại – do tranh cãi về quan điểm – mặc dù không bên nào hiểu liệu một “cuộc điều tra” sẽ chỉ gồm có một người đi xem xét lòng vòng trong một ngày hay có một trăm người soi mói bừa bãi trong một tháng. Các bên hầu như không nỗ lực xây dựng quy trình điều tra có thể dung hòa được sự quan tâm thẩm tra của Hoa Kỳ với mong muốn của cả hai bên về sự xâm phạm tối thiểu. Khi càng chú ý nhiều đến quan điểm thì người ta lại càng ít quan tâm đến việc đáp ứng những lo ngại cơ bản của các bên. Vì vậy, khó có thể tiến tới thỏa thuận dễ dàng. Các thỏa thuận đạt được lúc này chỉ phản ánh sự phân chia máy móc khoảng chênh lệch giữa những lập trường cuối cùng được đưa ra, chứ chưa phải là giải pháp được tính toán kỹ càng nhằm đáp ứng lợi ích hợp pháp của các bên. Kết quả đạt được thường là thỏa thuận ở mức thấp hơn so với mong muốn của hai bên. TRANH CÃI VỀ QUAN ĐIỂM LÀ KHÔNG HIỆU QUẢ Phương pháp đàm phán thông thường có thể mang lại thỏa thuận, như với trường hợp trả giá cho chiếc đĩa bằng đồng thau hoặc đi đến thất bại, như với trường hợp thống nhất số lượng cuộc điều tra tại hiện trường. Trong cả hai trường hợp, quá trình này đều mất nhiều thời gian. Thương thuyết theo lập trường tạo ra động cơ trì hoãn giải quyết vấn đề. Trong khi tranh cãi về vấn đề quan điểm, bạn cố gắng cải thiện cơ hội đạt được thỏa thuận nào đó có lợi cho mình bằng việc bắt đầu đàm phán với lập trường cực đoan, giữ khư khư quan điểm này, lừa gạt đối phương rằng đó chính là quan điểm thực sự của bạn và chỉ nhân bộ chút ít để giữ cuộc đàm phán tiếp tục diễn ra. Và đối phương cũng làm điều tương tự. Mỗi yếu tố này đều có xu hướng cản trở việc nhanh chóng đạt được cách giải quyết. Các quan điểm ban đầu càng cực đoan và sự nhân nhượng càng ít đi thì mất càng nhiều thời gian và công sức để nhận ra thỏa thuận có thể đạt được hay không. Phương pháp đàm phán trên nguyên tắc cũng đòi hỏi phải có rất nhiều các quyết định riêng lẻ của từng cá nhân vì mỗi nhà thương thuyết quyết định đề nghị gì, bác bỏ gì và có thể nhân nhượng đến mức nào. Việc ra quyết định rất khó khăn và mất thời gian. Khi một quyết định không chỉ là việc phải nhượng bộ đối phương mà còn là sức ép buộc phải nhân nhượng hơn nữa, thì nhà thương thuyết hầu như không có động cơ để tiến nhanh hơn. Chậm chạp lề mề, đe dọa bỏ ra ngoài, cản trở và những chiến thuật khác tương tự đã trở nên cũ rích. Tất cả những chiến thuật này chỉ làm mất thêm thời gian và tiền bạc để tiến tới thỏa thuận cũng như tăng nguy cơ không đạt được thỏa thuận nào cả. TRANH CÃI VỀ QUAN ĐIỂM LÀM HỎNG MỐI QUAN HỆ ĐANG TỐT ĐẸP Việc tranh cãi về quan điểm sẽ trở thành cuộc đấu trí. Mỗi nhà thương thuyết xác nhận những gì anh ta sẽ làm và sẽ không làm. Nhiệm vụ cùng xây dựng giải pháp chung có xu hướng trở thành trận chiến. Mỗi bên đều cố gắng qua sức mạnh ý chí tuyệt đối để gây sức ép buộc phía bên kia phải thay đổi lập trường. “Tôi sẽ không chịu nhượng bộ đâu. Nếu anh muốn đi xem phim với tôi, thì đó phải là phim The Maltese Falcon (tạm dịch: Chim ưng Malta) hoặc chúng ta không xem gì hết.” Hậu quả thường là sự giận dữ và bực tức vì mỗi bên thấy mình phải thuận theo ý muốn cứng nhắc của đối phương trong khi mối quan tâm thích đáng của mình lại bị bỏ qua. Do vậy, việc tranh cãi về quan điểm gây căng thẳng và có khi còn làm tan vỡ mối quan hệ giữa các bên. Các doanh nghiệp thương mại đã từng làm việc với nhau trong nhiều năm có thể cắt đứt quan hệ. Hàng xóm láng giềng có thể không qua lại với nhau. Cảm giác cay đắng từ sự việc này gây ra có thể kéo dài cả đời người. TRONG ĐÀM PHÁN ĐA PHƯƠNG, TRANH CÃI VỀ QUAN ĐIỂM ĐEM LẠI KẾT QUẢ XẤU Nếu xét một cuộc đàm phán chỉ có hai bên, chỉ có bạn và “phía bên kia”, thì dễ thảo luận hơn, nhưng thực tế, hầu hết mọi cuộc đàm phán đều liên quan đến nhiều bên. Các bên có thể cùng ngồi vào bàn, hoặc mỗi bên ủy quyền cho một người như chóp bu, ban giám đốc hay các ủy ban liên quan. Càng đông người tham gia vào đàm phán, những trở lực do thương thuyết theo lập trường lại càng nghiêm trọng. Nếu khoảng 150 quốc gia cùng đàm phán trong các hội nghị của Liên Hiệp Quốc, thương thuyết theo lập trường gần như không thể thực hiện được. Kiểu thương thuyết có thể làm cho tất cả đều nói “đồng ý”, nhưng chỉ một bên nói “không” thì sự nhượng bộ có đi có lại khó có thể thực hiện: Bạn nhượng bộ ai? Kể cả hàng nghìn cuộc đàm phán song phương cũng không phức tạp bằng một thỏa thuận đa phương. Trong những tình huống như vậy, thương thuyết theo lập trường thường dẫn tới việc hình thành liên minh giữa các bên mà lợi ích chung của họ mang tính tượng trưng hơn là thực chất. Tại Liên Hiệp Quốc, những liên minh này thường tạo ra các cuộc đàm phán giữa “Bắc” và “Nam” hay giữa “Đông” và “Tây”. Do có nhiều thành viên trong một nhóm nên việc xây dựng quan điểm chung lại càng trở nên khó khăn hơn. Tồi tệ hơn, khi họ đã vất vả thiết lập và nhất trí một lập trường thì việc thay đổi lập trường đó lại càng trở nên gian nan hơn nhiều. Việc thay đổi một quan điểm cũng không dễ dàng gì khi các thành viên mới tham gia có quyền hạn cao hơn. Ngay cả khi họ không có mặt tại bàn đàm phán thì những người khác vẫn cần phải có sự chấp thuận của họ.   Mời các bạn đón đọc Thương Lượng Không Nhân Nhượng của tác giả William Ury.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Cách Ta Nghĩ (John Dewey)
CÁC nhà trường của chúng ta đang rối bời với vô số môn học, mỗi môn lại có cơ man các tài liệu và quy tắc. Gánh nặng càng dồn lên vai những người làm nghề dạy khi họ phải ứng xử với từng cá nhân học sinh chứ không phải trước một số đông. Trừ phi những bước đi tiên phong này rốt cuộc chỉ để tiêu khiển đầu óc, mục đích của chúng ta là tìm ra được điểm mấu chốt hay nguyên tắc nào đó hướng tới một sự giản lược hóa. Cuốn sách này thể hiện niềm tin vững chắc rằng, việc nỗ lực đưa thái độ tâm trí, đưa thói quen tư duy - những cái mà chúng ta gọi là có tính khoa học ấy - trở thành cứu cánh sẽ đồng thời làm phát lộ nhân tố có tác dụng củng cố và hướng đến niềm tin ấy. Dễ mường tượng được là thái độ khoa học này khó lòng dung hợp ngay với việc dạy dỗ thanh thiếu niên. Nhưng cuốn sách này cũng thể hiện niềm tin rằng đó không phải là điều muốn hướng tới; rằng thái độ cố hữu và còn vô nhiễm của tuổi thơ, nổi bật với trí tò mò, óc tưởng tượng đầy hứng khởi cùng với lòng yêu thích tra xét thử nghiệm là những thứ gần gũi, rất gần gũi với thái độ của một đầu óc khoa học. Nếu những trang viết này giúp ích chút nào cho việc ngộ ra được mối liên hệ mật thiết này cũng như giúp cho việc nghiêm túc suy xét rằng làm thế nào mà khi điều này đi vào thực tiễn giáo dục sẽ đem đến hạnh phúc cá nhân và giảm bớt lãng phí xã hội, hẳn khi ấy tác dụng của cuốn sách đã vượt quá sự mong đợi. Không thể kể tên cho hết các tác giả mà tôi muốn tri ân. Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới vợ tôi, người tiếp nguồn cảm hứng cho những ý tưởng của cuốn sách, và chuyên tâm tận sức với Trường thực nghiệm tại Chicago trong thời gian từ năm 1896 đến năm 1903. Qua đó, những ý tưởng trong cuốn sách này trở nên cụ thể vì đã được tổ chức và thử nghiệm trong thực tiễn. Cũng qua đây, tôi vinh hạnh bày tỏ lòng biết ơn đối với những đóng góp trí tuệ và sự đồng cảm của những người đã cộng tác với tư cách tham gia giảng dạy, giám sát quá trình điều hành ngôi trường thực nghiệm, và nhất là bà Ella Flagg Young, khi còn là đồng nghiệp của tôi tại Trường đại học, nay là Thanh tra giáo dục Chicago.Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Cách Ta Nghĩ PDF của tác giả John Dewey nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Cách Ta Nghĩ (John Dewey)
CÁC nhà trường của chúng ta đang rối bời với vô số môn học, mỗi môn lại có cơ man các tài liệu và quy tắc. Gánh nặng càng dồn lên vai những người làm nghề dạy khi họ phải ứng xử với từng cá nhân học sinh chứ không phải trước một số đông. Trừ phi những bước đi tiên phong này rốt cuộc chỉ để tiêu khiển đầu óc, mục đích của chúng ta là tìm ra được điểm mấu chốt hay nguyên tắc nào đó hướng tới một sự giản lược hóa. Cuốn sách này thể hiện niềm tin vững chắc rằng, việc nỗ lực đưa thái độ tâm trí, đưa thói quen tư duy - những cái mà chúng ta gọi là có tính khoa học ấy - trở thành cứu cánh sẽ đồng thời làm phát lộ nhân tố có tác dụng củng cố và hướng đến niềm tin ấy. Dễ mường tượng được là thái độ khoa học này khó lòng dung hợp ngay với việc dạy dỗ thanh thiếu niên. Nhưng cuốn sách này cũng thể hiện niềm tin rằng đó không phải là điều muốn hướng tới; rằng thái độ cố hữu và còn vô nhiễm của tuổi thơ, nổi bật với trí tò mò, óc tưởng tượng đầy hứng khởi cùng với lòng yêu thích tra xét thử nghiệm là những thứ gần gũi, rất gần gũi với thái độ của một đầu óc khoa học. Nếu những trang viết này giúp ích chút nào cho việc ngộ ra được mối liên hệ mật thiết này cũng như giúp cho việc nghiêm túc suy xét rằng làm thế nào mà khi điều này đi vào thực tiễn giáo dục sẽ đem đến hạnh phúc cá nhân và giảm bớt lãng phí xã hội, hẳn khi ấy tác dụng của cuốn sách đã vượt quá sự mong đợi. Không thể kể tên cho hết các tác giả mà tôi muốn tri ân. Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới vợ tôi, người tiếp nguồn cảm hứng cho những ý tưởng của cuốn sách, và chuyên tâm tận sức với Trường thực nghiệm tại Chicago trong thời gian từ năm 1896 đến năm 1903. Qua đó, những ý tưởng trong cuốn sách này trở nên cụ thể vì đã được tổ chức và thử nghiệm trong thực tiễn. Cũng qua đây, tôi vinh hạnh bày tỏ lòng biết ơn đối với những đóng góp trí tuệ và sự đồng cảm của những người đã cộng tác với tư cách tham gia giảng dạy, giám sát quá trình điều hành ngôi trường thực nghiệm, và nhất là bà Ella Flagg Young, khi còn là đồng nghiệp của tôi tại Trường đại học, nay là Thanh tra giáo dục Chicago.Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Cách Ta Nghĩ PDF của tác giả John Dewey nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Bill Gates Đã Nói (Janet Lowe)
Những ảnh hưởng của Gates đối với thế giới trong lãnh vực công nghệ, kinh tế và xã hội. Nội dung của sách thuật lại câu chuyện về một thiên tài về kỹ thuật, người giữ vai trò đi đầu trong việc làm đổi thay hoàn toàn cách làm việc, cách vui chơi, cách học tập cùng nhiều lĩnh vực khác trong đời sống hàng ngày của chúng ta. Đây cũng là một quyển sách ghi chép lại những điều Bill Gates suy nghĩ và cách suy nghĩ của anh ta, và những gì chúng ta có thể học hỏi được từ nhân vật này. Quyển sách này không được trình bày theo thứ tự thời gian mà theo từng chủ đề. Tác giả đề nghị người đọc tham khảo thêm phần Các mốc thời gian quan trọng trong cuộc đời Bill Gates ở cuối sách.***William Henry Gates III, Bill Gates, đồng sáng lập và là Chủ tịch của Tập đoàn Microsoft, một con người tài năng đặc biệt, có tầm nhìn xa trông rộng tuyệt vời; một người đã có những thành công đáng kinh ngạc trong rất nhiều lĩnh vực: Sự khai phá của anh trong thế giới phần mềm máy tính cá nhân đã làm thay đổi cuộc sống của tất cả chúng ta trên hành tinh này. Vào năm 1997, hầu như máy tính đã có mặt trong tất cả các cơ sở thương mại và nhiều gia đình. Trong tương lai, máy tính sẽ trở thành một vật dụng không thể thiếu đối với mọi người. Bill Gates “đối với phần mềm máy tính có thể so sánh với Edison đối với bóng đèn điện - vừa là nhà phát minh, vừa là nhà kinh doanh, vừa là chuyên gia tiếp thị phân phối và đích thực - không còn nghi ngờ gì nữa - là một thiên tài”. Gates đã phá vỡ một quan niệm định kiến, sai lầm cố hữu cho rằng những tư tưởng lớn chỉ đến từ những triết gia, từ những nhà văn hoặc từ giới hàn lâm. Rich Karlgaard của tạp chí Forbes đã giải thích “Ranh giới xưa cũ giữa ý tưởng và sản phẩm, giữa phù du và vĩnh cửu đang bị xóa nhòa”. Tìm mua: Bill Gates Đã Nói TiKi Lazada Shopee Gates không chỉ là một nhà điều hành doanh nghiệp. Là biểu tượng văn hóa, anh giữ vai trò của một đấng tối cao và là linh hồn của Microsoft - công ty đã giúp anh trở thành tỷ phú ở tuổi 31 và trở thành người giàu nhất nước Mỹ khi chưa bước vào tuổi 40. Gates là người sống sót, thực tế là người chiến thắng, trong một ngành công nghiệp bán khai với một lịch sử phát triển ngắn ngủi, chưa nhiều truyền thống, gần như chưa tạo ra phong cách nào và rõ ràng rất ít phương thức hoạt động được thiết lập hoàn chỉnh; vì vậy còn rất nhiều thiếu sót và tòa án trên khắp thế giới là nơi thường xuyên được các phía nhờ đến để giải quyết các vụ tranh chấp. Và thật ngẫu nhiên, Gates lại còn hơn người ở một điểm khác. Anh đã khuấy động đến cực điểm tất cả những cảm xúc xung đột luôn có trong xã hội tư bản: khao khát được thành công và thống trị đời sống kinh tế trên toàn nước Mỹ nhưng lại giận dữ, lo âu và cảm thấy bị sỉ nhục khi có ai đó đạt được điều ấy. Muốn biết cảm xúc dữ dội của mọi người như thế nào khi nghĩ về Gates, bạn chỉ cần lên Internet và vào một vài địa chỉ Web được tạo ra với lý do duy nhất là trút giận vào anh, thậm chí một vài Web site còn tổ chức cả những diễn đàn nghiêm chỉnh để tranh cãi xem liệu Gates có phải là ma quỷ trá hình hay không. Trong Bill Gates Joke Page, có một chuyện cười về Gates như sau: “Ai là người bạn sẽ bóp cò súng để trút giận nếu bạn bị kẹt trong thang máy cùng với Timothy McVeight (người đặt bom Trung Tâm Thương Mại Thế Giới ở Oklahama - ND), Saddam Hussein và Bill Gates trong lúc khẩu súng của bạn chỉ còn còn hai viên đạn? Để chắc ăn, cứ nả cả hai phát vào Bill”. Các lời công kích chống lại Gates không chỉ giới hạn trong phạm vi Internet. Mitch Kapor, người sáng lập và là lãnh đạo cũ của công ty Lotus 1-2-3, nói về Gates: ”Một người tài giỏi, mạnh mẽ, rất thành công nhưng là kẻ tàn nhẫn và bất nhân bất nghĩa. Tôi cho rằng nếu ai đó hành động ‘bất chấp tất cả để chiến thắng’, triệt tiêu mọi cơ hội cạnh tranh thì kẻ đó đang làm những việc trái với luân thường đạo lý. Và Gates là khuôn mẫu vô cùng chính xác và điển hình về điểm này”. Tạp chí ComputerWorld viết về Gates.Chỉ mới vài năm trước đây, anh ta được tuyên dương như một người làm ăn năng nổ, người đã dũng cảm kiến tạo nên một ngành kinh doanh thịnh vượng từ bãi công nghệ bị các hãng lớn bỏ hoang. Còn bây giờ, anh ta bị phỉ báng là kẻ ác tâm muốn trở thành ông chủ của toàn bộ thế giới phần mềm, là kẻ tham lam lúc nào cũng chõ mũi vào khắp mọi nơi, bất kể đó là khách hàng hay đối thủ cạnh tranh. Vậy Bill Gates thật sự là người như thế nào? Là người giàu nhất nước Mỹ với khoảng 22% vốn trong Microsoft, Gates trở thành đối tượng của sự thèm muốn và nể sợ, hoang tưởng và tâng bốc. Với những cảm xúc mãnh liệt như thế, việc đánh giá công bằng về những hành động của Gates là điều bất khả. Gates thường được so sánh với những tiền bối lãnh đạo cuộc cách mạng công nghiệp trước kia và sự tương quan này ít nhiều có giá trị. Theo nhận xét của Nathan Myhrvold, nhà tương lai học và là nhà tư tưởng về công nghệ mới của Microsoft, những người này, bằng cách này hoặc cách khác, đã thu lợi được từ những tiến bộ trong nền công nghệ đã buộc chúng ta phải thay đổi cách sống. Myhrvold giải thích rằng chỉ trong thời gian từ 1875 đến 1900, các phát minh mới, bao gồm máy chữ, máy điện thoại, động cơ đốt trong, khóa phecmơtuya, đã nở rộ khắp nơi. Các phương tiện thông tin đại chúng lúc đó đều hết lời ca ngợi những tên tuổi như Thomas Edison, Alexander Graham Bell, Andrew Carnegie, John D.Rockefeller, xem họ là một thành phần “quý tộc” mới, những người lắm tiền nhiều bạc và giàu sức sáng tạo. Nhìn lại giai đoạn này ta thấy rằng, điều dường như không thể tránh khỏi là chỉ một vài cá nhân có tinh thần mạnh mẽ mới có thể nhìn thấy trước các cơ hội và nhanh tay đầu tư vào chúng vì khả năng đặt cược vào kỷ nguyên công nghiệp này không phải là công việc dành cho những người tầm thường. Canh bạc mà họ lao vào với kết quả “được ăn cả ngã về không” đã làm cho họ hốt trọn và mang đến cho bản thân họ và cho quyền sở hữu vô cùng lớn của họ một danh tiếng rộng khắp. Nhưng không chỉ có sự giàu có và uy danh làm cho Gates trở thành hấp dẫn với mọi người. Sức hút của anh với mọi người còn ở sự bất tương xứng giữa tài năng và ngoại hình của anh. Giọng nói rổn rảng của anh, thứ tiếng lóng mà anh nói, mái tóc có vẻ hơi kỳ quặc và chiếc áo len mua ở cửa hàng xem ra không phù hợp với một người có thế lực như anh. Sự bất tương xứng lớn nhất có thể thấy rất rõ ở Gates trong thời gian đầu: anh bắt đầu lao vào thương trường năm 19 tuổi nhưng lại trông già dặn như người ở tuổi 30. Những họa sĩ vẽ tranh biếm họa và những người có máu hài hước muốn “đánh cắp” cách thể hiện đặc thù của Gates thì anh đúng là một mục tiêu “béo bở”. Khi ai đó trong giới điện toán bắt chéo hai tay rồi đong đưa người tới lui như một đứa trẻ mắc bệnh tự kỷ, mọi người đều biết người này đang nhại Bill Gates. Mặc dầu những năm gần đây Gates đã có da có thịt hơn và thường xuyên đi cắt tóc nhưng hình ảnh một chàng trai gầy nhom với mái tóc không chải của Gates vẫn chưa xóa nhòa trong tâm khảm mọi người. Tạp chí Vanity Fair đã gọi Gates là một cậu bé 13 tuổi mượn hình hài của một gã côn đồ, đó là “một người có ít cơ hội trở thành thủ lĩnh của ngành công nghệ, sự điềm tĩnh của anh, giọng nói đều đều của anh ẩn dấu năng lực và sức mạnh dữ dội”. Những lời đàm tiếu về con người của Bill Gates phần nào đó xuất phát từ việc anh xuất hiện trước công chúng khi còn quá trẻ, riêng các câu chuyện về kinh doanh của Gates vào những năm đầu đã cho thấy rõ thiên tài của một kẻ ngỗ ngược. Anh mang tiếng xấu là một gã chua cay, khinh người, thậm chí là một người khiếm nhã. Chẳng qua chúng ta đã được chứng kiến sự lớn lên của một cậu bé có tài nhưng lại chất chứa quá nhiều điều, những điều đã từng diễn ra cho Mozart trong thời niên thiếu. Thậm chí khi bước vào tuổi trung niên, Gates vẫn là một người thực sự rất khó đánh giá. Trong những câu chuyện kể về sự phát triển nhanh chóng của Microsoft đôi lúc có vẻ như Gates đã thổi phồng đôi chút, nhưng các phân tích kinh doanh và tầm nhìn vào tương lai của anh lại tỏ ra rất chính xác. Anh rất cẩn trọng trong việc lập gia đình, trong vai trò làm cha, trong hoạt động từ thiện khi giới truyền thông lúc nào cũng kiên trì bám sát theo từng bước. Vào lúc các hoạt động kinh doanh của Microsoft trở thành đối tượng chú ý của chính quyền tiểu bang và liên bang của Mỹ, Gates nhận ngay ra rằng anh nên cải thiện hình ảnh của mình trước công chúng, trở nên hòa nhã hơn, gần gũi hơn và khoan dung hơn. Nhìn lại quá trình biến đổi của anh cho tới nay chúng ta có thể thấy rằng Gates vẫn còn phải cố gắng nhiều hơn nữa. Nếu không bàn về khía cạnh phát triển của cá nhân thì thách thức lớn nhất của Gates lúc này là giúp cho Microsoft sống lâu trong sự lịch lãm và thu được lợi nhuận. Sự tồn tại và phát triển lâu bền của một công ty rất hiếm gặp trong môi trường công nghệ cao, thậm chí cả những công ty kỳ cựu như IBM cũng có những giai đoạn thăng trầm. Dù sao, Rockerfeller, Edison, Bell và nhiều nhà tư bản khác - những người mà Gates được sánh ngang hàng - cũng đã sáng lập công ty rồi duy trì sự tồn tại và thịnh vượng của chúng cho đến tận thế kỷ sau. Những công ty của họ đã trở thành nền tảng vững chắc cho nền kinh tế của cả nước Mỹ. Mặc dù thường xuyên bị thanh tra và đôi lúc bị xé lẻ, chia nhỏ - hoặc bởi luật chống độc quyền hoặc bởi sự quản lý thấp kém - nhưng hậu duệ của chúng ngày nay vẫn tồn tại như những thành phần đi đầu trong công nghiệp. Gates hướng sự tập trung của mình vào việc bảo đảm rằng Microsoft sẽ được như họ. Và bởi vì anh khởi nghiệp từ lúc còn rất trẻ nên anh vẫn còn thừa thời gian cho điều đó.Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Bill Gates Đã Nói PDF của tác giả Janet Lowe nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Những Lời Dạy Bí Mật Hàng Ngày (Rhonda Byrne)
365 NGÀY DẠY HỌC TRUYỀN CẢM HỨNG TRONG BÀN TAY CỦA BẠN Trên khắp thế giới, The Secret đã giúp hàng triệu người sống cuộc sống như mơ của họ. Về sức khỏe cá nhân, sự nghiệp, tiền bạc, các mối quan hệ - trong mọi khía cạnh của cuộc sống - hàng triệu người đã thay đổi cuộc sống của họ bằng cách sử dụng các nguyên tắc vượt thời gian được Rhonda Byrne mở khóa trong bộ phim và cuốn sách cực kỳ thành công, “The Secret”. Gần đây hơn từ Bí mật đã xuất hiện Lịch bí mật hàng ngày và Bí mật hàng ngày giảng dạy, kết hợp nhiều hiểu biết hơn cho mỗi ngày và xây dựng tuyệt vời về sự thật mạnh mẽ của Bí mật. Giờ đây, những thông điệp hấp dẫn này - do Rhonda Byrne đích thân tạo ra để mang đến cho bạn sự rõ ràng, hiểu biết và thông thái mới mỗi ngày - có sẵn trực tiếp trên điện thoại hoặc máy tính bảng của bạn. Giờ đây, bạn có thể mang theo những lời dạy khôn ngoan nhất, hấp dẫn nhất của The Secret bên mình mọi lúc mọi nơi và truy cập chúng bất cứ khi nào bạn muốn! Ứng dụng Bí mật hàng ngày đưa ấn bản đã in vào một tầng bình lưu khác, cho phép bạn đọc Bí mật hàng ngày khi đang di chuyển và sống Bí mật 24/7, 365 ngày một năm. Bạn sẽ có 365 ngày giảng dạy đầy cảm hứng ngay trên điện thoại hoặc máy tính bảng của mình. Bạn thậm chí có thể đánh dấu và chia sẻ những đoạn văn yêu thích của mình. Tìm mua: Những Lời Dạy Bí Mật Hàng Ngày TiKi Lazada Shopee Ứng dụng Bí mật dạy hàng ngày - hiểu biết của bạn về Bí mật sắp mở rộng theo cấp số nhân! Bạn sẽ thực sự trở thành người tạo ra cuộc sống của bạn. ** Xin lưu ý: Bài giảng Hàng ngày của bạn không bao giờ hết hạn. Khi bạn đến cuối lịch 365 ngày, sẽ quay lại ngày đầu tiên để bạn thưởng thức lại những lời dạy của mình. **Dưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Rhonda Byrne":28 Ngày Thực Hành Lòng Biết Ơn - The MagicBí Mật - The SecretNgười Hùng - The HeroBí Mật Tuyệt Vời NhấtBí Mật Thay Đổi Cuộc Đời TôiNhững Lời Dạy Bí Mật Hàng NgàySức Mạnh - The PowerĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Những Lời Dạy Bí Mật Hàng Ngày PDF của tác giả Rhonda Byrne nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.