Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Cuộc Đời Ngắn Ngủi Và Lạ Kỳ Của Oscar Wao

Mọi chuyện chẳng bao giờ dễ dàng đối với Oscar, một anh chàng dễ thương nhưng thừa cân kinh khủng sống ở khu người Do Thái, một người New Jersey lãng mạn với giấc mơ trở thành nhà văn J.R.R Tolkien của Dominica và trên hết là giấc mơ tìm thấy tình yêu. Thế nhưng, Oscar không bao giờ nhận được điều mình mong muốn, bởi fukú chiếu vào cung tình duyên. Đó là một lời nguyền cổ xa đeo bám gia đình Oscar suốt nhiều thế hệ, khiến họ phải chịu cảnh tù tội, tra tấn, những tai ương thảm khốc và nhất là bệnh tật. Oscar, người không ngừng mơ tưởng đến nụ hôn đầu đời chỉ là nạn nhân mới nhất của lời nguyền đó - cho đến mùa hè định mệnh ấy, Oscar quyết định sẽ trở thành nạn nhân cuối cùng của lời nguyền. Với nguồn sinh lực và vốn hiểu biết đáng nể, tác giả Junot Diaz đưa chúng ta chìm đắm vào cuộc đời náo động của vị anh hùng Oscar, cô chị gái Lola, bà mẹ Belicia xinh đẹp dữ tợn của họ, đồng thời tham gia chuyến hành trình sử thi của gia đình đó từ Santo Domingo đến Washington Heights rồi tới Bergenline ở New Jersey, sau đó quay trở về. *** Review:   Cho dù những khổ đau đến cùng cực, nhưng cái còn lại trong 'Cuộc đời ngắn ngủi và lạ kỳ của Oscar Wao' vẫn là tình yêu, chỉ tình yêu. Đọc những dòng đầu tiên trong cuốn Cuộc đời ngắn ngủi và lạ kỳ của Oscar Wao, tưởng đâu một lần nữa lạc vào thế giới của Trăm năm cô đơn, khó hiểu và xáo động. Tác giả Junot Diáz đã dẫn người đọc đến thế giới của fukú, thế giới của những lời nguyền nhưng tôi thích gọi đó là định mệnh.   Bởi, con người ai sinh ra cũng có số mệnh cho mình hết, khổ đau hay sung sướng, giàu có hay nghèo hèn... và sau đó có bị vùi chết bởi tình yêu cũng là số phận. Nhưng ở đây, Junot cho ta thấy, con người có thể chiến thắng fukú và vượt lên nó bằng sức sống mãnh liệt như thế nào, chỉ bằng một thứ thôi: Tình yêu. Mở đầu với câu chuyện của một chàng Dominic tên Oscar - người đáng lẽ ra phải thật đào hoa và có hàng tá cô nàng theo bên cạnh - nhưng lại xuất hiện với bộ dạng mập, tròn ú và chẳng cô gái nào theo đuổi cả. Rồi là những chán nản đời thường, những chán nản rất trẻ thơ, chàng trai lao vào thế giới của truyện tranh và ảo tưởng, ngồi hàng giờ, hàng ngày để viết một câu chuyện không thật vào một thế giới xa xôi nào đó. Chỉ bởi, anh chàng tin chắc mình bị dính fukú truyền 3 đời. Cả bốn thế hệ từ ông ngoại - bác sĩ Abeland, mẹ - Beli, chị gái - Lola và bản thân Oscar đều có cuộc đời bất trắc và phiêu dạt. Sự mạnh mẽ và dữ dằn như những tố chất di truyền ẩn nấp sẵn trong dòng máu giúp họ chống lại số phận. Nhưng chính trong số phận của mình, họ luôn tin tưởng tuyệt đối vào tình yêu. Ông ngoại che chở cho gia đình của mình bằng tình yêu của một người chồng, một người cha để cuối cùng tàn tạ nơi chốn ngục tù của tên độc tài Trujillo. Beli cho đến tận mối tình thứ ba mới thực sự tin tình yêu của cuộc đời mình không hề may mắn. Nhưng trước đó, tình yêu với Gangster mãi mãi với cô là tình yêu đẹp nhất, dù chờ đợi một cuộc giải cứu không bao giờ tới từ người tình, cô vẫn vẽ nên bức tranh tương lai rực rỡ.   Lola sống đầy mâu thuẫn và dằn vặt. Còn Oscar, cuộc sống dù không may mắn nhưng cuối cùng cũng thấy tình yêu đích thực của bản thân mình, để rồi sau đó bị trả bằng cái giá quá đắt. Có thể, ngoài tình yêu và sức mạnh của nó, bạn sẽ bắt gặp mình trong chính những con người, nhân vật ấy ở một thời điểm nào đó. Một Beli và Lola nổi loạn, dám làm mọi thứ khi bị cha mẹ gò ép, một Oscar sống khép mình với thế giới xung quanh nhưng lại đắm mình trong những thứ gần như ảo tưởng, một nhân vật "tôi" yêu thiết tha một người con gái nhưng lại có sự lựa chọn làm tổn thương người con gái ấy. Những cảm xúc và cung bậc của tuổi mới lớn được Junot thổi hồn vào, đem đến những tiếng nói của teen rất thực. Càng đọc càng thấy hút sâu vào thế giới của những con người khác nhau. Giọng kể của từng người, theo thời gian quá khứ - hiện tại đan xen vào nhau làm nên cách nói đa dạng, bộc lộ cá tính của từng nhân vật. Cuộc đời ngắn ngủi và kỳ lạ của Oscar Wao được tạp chí Time bầu chọn là tiểu thuyết hay nhất năm 2007 và nhận được Pulitzer năm 2008 là minh chứng rõ ràng nhất cho tiếng nói của thế hệ trẻ ngày hôm nay. Nhưng trước hết, thực sự, vẫn là tình yêu, hy sinh vì tình yêu, chờ đợi cũng bởi hai chữ tình yêu. *** Oscar, nhân vật chính, không phải là một người Dominic danh tiếng chúng ta thường nghe nhắc đến, hắn không phải là một người có biệt tài về thể thao hay khiêu vũ bay bướm, cũng không phải là một anh chàng nổi tiếng đào hoa.   Ngoại trừ một khoảng thời gian rất ngắn trong đời, hắn chẳng bao giờ có may mắn với phụ nữ, và chuyện này thật trái ngược với bản chất của đàn ông Dominic.   Năm ấy hắn lên bảy tuổi.   Trong những ngày thơ ấu hạnh phúc, Oscar có đôi chút giống một nhân vật trong phim Casanova. Từ khi còn học mẫu giáo chú bé này luôn tìm cách hôn các cô bạn học, luôn lén đến phía sau các cô lúc nhảy điệu merengue để ngoáy mông mình đụng vào mông các cô bé, là người đầu tiên học perrito và nhảy điệu này bất cứ cơ hội nào hắn vớ được. Bởi vì những ngày ấy, hắn là một chú bé Dominic “bình thường” được nuôi lớn trong một gia đình Dominic bình thường như mọi gia đình Dominic khác, bản tính “si tình” của hắn đang thời kỳ phát triển, lại được gia đình và bạn bè khuyến khích. Mỗi khi có tiệc - và có rất nhiều tiệc tùng - trong những năm bảy mươi, trước khi Washington Heights là Washington Heights, trước khi tuyến đường xe lửa Bergen với chiều dài chừng trăm con phố, chỉ toàn dân Spanish cư ngụ - một vài thân nhân trong lúc ngà ngà say đã đẩy Oscar vào một cô bé nào đó rồi cả đám cười phá lên, như thể một bé trai và một bé gái là đại diện tiêu biểu cho chân lý yêu đương, chuyện chung đụng xác thịt của người lớn.   Giá mà quý vị có thể gặp cháu lúc ấy, mẹ hắn đã thở dài trong những ngày cuối đời của bà. Cháu là Porfirio Rubirosa của chúng tôi.   Các bé trai cùng tuổi hắn trốn tránh bọn con gái như thể các cô bé là một thứ vi khuẩn độc hại có tên là Đại Úy Trips. Nhưng Oscar thì không. Chú bé này rất si tình và có rất nhiều “người yêu”. (Hắn khá bụ bẫm, trong tương lai sẽ trở nên béo phì, nhưng mẹ hắn giúp hắn có được vẻ xinh xắn nhờ mái tóc cắt khéo và quần áo tươm tất. Trước khi cái đầu hắn thay đổi hình dáng mất đi vẻ cân đối, hắn có cặp mắt sáng lấp lánh và đôi má tròn phúng phính thật đáng... yêu. Điều này rất hiển nhiên trong tất cả hình ảnh của hắn). Đám con gái - bạn của chị Lola, bạn của mẹ, ngay cả người hàng xóm, Mari Colón, nhân viên bưu điện chừng ba mươi tuổi, tô môi son đỏ choét và dáng đi ngúng nguẩy như thể cô ta đeo dây nịt ngang mông - đều yêu hắn, hắn tin như thế. Thằng bé đó trông hay lắm![12] (Hắn rất thật thà và thèm được chú ý, như thế, có hại gì cho hắn không? Chắc chắn là không!) Ở Dominic, những ngày hè được đến thăm Baní, nơi ngày xưa gia đình hắn cư ngụ, hắn làm rất nhiều trò quái đản, thí dụ như đứng trước cửa nhà của Nena Inca và nói to với những phụ nữ đi ngang nhà: Cô đẹp quá! Cô đẹp quá! cho đến khi một người nghiêm trang ngoan đạo than phiền với bà của hắn và bà dập tắt cuộc tán gái lộ liễu này. Thằng quỷ nhỏ! Đây không phải là nhà hàng hay quán rượu!   Lúc ấy thật sự là thời kỳ vàng son của Oscar, cao điểm là mùa thu năm hắn lên bảy tuổi, khi hắn có hai cô bồ xinh xắn cùng một lúc, lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất trong đời hắn tham dự một cuộc tình tay ba. Với Maritza Chacón và Olga Polanco.   Maritza là bạn của Lola. Tóc dài, rất đỏm dáng và đẹp đến mức con bé có thể đóng vai Dejah Thoris[13]. Olga, thì khác, nó không phải là bạn của gia đình. Nó sống trong một căn nhà ở cuối phố chỗ mà mẹ Oscar hay chê bai, vì rất nhiều người Puerto Rico thường hay tụ tập, ngồi ngoài hiên nhà uống bia. (Cái gì, bọn chúng không thể nhậu nhẹt ở Cuamo hay sao chứ? Mẹ của Oscar hỏi một cách hằn học.) Olga có đâu chừng chín chục người là anh em họ, hình như hầu hết họ đều có cùng tên Hector, Luis, hay Wanda. Và bởi vì mẹ của Olga là một mụ nghiện rượu hay say bí tỉ không săn sóc con cái kỹ lưỡng (theo lời mẹ của Oscar), có lắm khi con bé có mùi khai ngấy, vì thế bọn trẻ con đặt cho nó cái tên Bà Khai.   Olga có là Bà Khai hay không thì Oscar vẫn thích cái tính im lặng của nó, và bởi vì nó chịu để cho hắn vật lộn, và còn chú ý khen mấy tượng đồ chơi Star Trek của hắn. Maritza thì quá đẹp, nên không cần phải có lý do, và cô cũng luôn luôn ở bên cạnh hắn. Rất khôn ngoan, hắn tìm cách bắt cá hai tay. Đầu tiên hắn giả vờ là có một nhân vật quan trọng mà hắn rất ngưỡng mộ tên là Shazam[14], muốn được làm quen với hai cô bé này. Nhưng đó không phải là Shazam, mà là Oscar.   Ngày ấy chúng rất ngây thơ, vì thế “tình yêu” của chúng chỉ đến mức độ đứng gần nhau ở trạm đón xe buýt, lén lút nắm tay nhau, và hai lần được hôn lên má một cách long trọng, trước là Maritza, xong rồi đến Olga, khi chúng khuất sau những bụi cây trên đường phố. (Nhìn cái thằng bé đầy nam tính kìa, bạn của mẹ hắn nói. Thật đúng là đàn ông.)   Cuộc tình tay ba này kéo dài được một tuần tuyệt đẹp. Một hôm sau khi tan học, Maritza chặn hắn lại ở đằng sau bộ ghế xích đu rồi ra điều kiện, hoặc là nó hoặc là em. Oscar nắm tay Maritza thuyết phục thật nghiêm trang tình yêu của hắn dành cho cô bé, cố nhắc cô bé là chúng nó đã đồng ý chia sẻ với nhau, nhưng cô bé chẳng chịu nghe. Maritza có ba người chị và vì thế cô bé biết rất rõ chuyện chia sẻ. Đừng có nói chuyện với tôi trừ khi anh đã bỏ con nhỏ kia! Maritza, với làn da màu sôcôla và đôi mắt hẹp, đã toát ra phép thuật của Ogún và cô bé có thể suốt đời dùng quyền phép này để giam cầm tất cả mọi người. Oscar buồn bã về nhà với bộ phim hoạt hình của hắn, bộ phim Herculoids and Space Ghost (Herculoids và Ma không gian), có trước khi những bộ phim dài tập ướt át của Hàn Quốc ra đời. Con có chuyện gì buồn phải không? Mẹ hắn hỏi. Bà đang chuẩn bị đi làm công việc thứ nhì, cái chỗ ngứa trên tay bà đỏ ửng loang lỗ. Khi Oscar than thở, Bọn con gái..., Mẹ Léon nổi đoá. Mày than khóc vì một đứa con gái nhiều quá. Bà xoắn lỗ tai của hắn đến độ suýt nữa có thể nhấc hắn lên khỏi mặt đất.   Mẹ. Ngừng lại, chị hắn hét to, ngừng lại!   Bà xô hắn xuống nền nhà, cho mày một cái tát vào mặt, bà thở hổn hển, để rồi xem con đĩ mén đó có còn yêu mày nữa không?   Nếu là một đứa con trai nào khác, có thể hắn phản ứng mạnh. Không phải vì hắn chẳng có một người bố để được hướng dẫn cách phản ứng như đàn ông; đơn giản chỉ vì tính hắn hiền lành không có khuynh hướng đánh đấm. (Khác với chị của hắn, từng đánh nhau với con trai và cả một bọn con gái da nâu. Những người này ghét Lola vì cô có mũi thẳng và tóc thẳng.) Oscar, dường như không có chút khả năng chiến đấu nào cả; ngay cả Olga với hai cánh tay gầy như que tăm cũng có thể đạp hắn đến bẹp dí. Tấn công và đe dọa không phải là sở trường của hắn. Vì thế, hắn suy nghĩ. Hắn cũng chẳng phải mất nhiều thì giờ để quyết định. Nói cho cùng, Maritza xinh xắn, Olga không; Olga thỉnh thoảng khai mùi nước tiểu, Maritza không; Maritza được phép đến nhà hắn chơi, còn Olga thì không. (Cho một đứa người Puerto Rico đến đây à? Mẹ hắn gắt. Không bao giờ!). Lý luận của hắn hầu như chỉ có chữ có hay không với những bài toán cộng trừ số côn trùng mà bọn trẻ con được học. Hôm sau ở sân chơi, hắn “nghỉ chơi” với Olga. Maritza đang ở bên cạnh hắn, và con bé Olga khóc ôi thôi là khóc! Run rẩy như một miếng giẻ rách trong mớ quần áo thừa hưởng của người và trong đôi giày lớn gấp bốn lần cỡ chân của nó! Mũi dãi lòng thòng!   Về sau, khi hắn và Olga đều trở nên béo phì xấu xí, thỉnh thoảng hắn nghe dâng lên trong lòng cảm giác tội lỗi mỗi khi nhìn thấy Olga băng qua đường, hay lúc cô ta nhìn bâng quơ gần trạm xe buýt đi New York. Hắn tự hỏi thái độ tàn nhẫn của hắn đã tác hại đến mức nào trong việc đẩy cô vào trạng thái dở dở ương ương như hiện nay. (Nghỉ chơi với con bé ngày ấy, hắn hồi tưởng, hắn chẳng có cảm giác gì hết; ngay cả khi con bé bắt đầu khóc, hắn cũng chẳng thấy cảm động. Hắn còn nói, Đừng có làm như là em bé.)   Hắn chỉ thật sự đau khi Maritza bỏ hắn. Ngày thứ hai sau khi bỏ rơi Olga, hắn đến trạm xe buýt, tay cầm cái hộp đựng thức ăn trưa có hình Planet of the Apes (Hành tinh khỉ) mà hắn rất yêu thích, chỉ để khám phá cô bé xinh đẹp Maritza đang nắm tay thằng Nelson Padro xấu xí. Nelson Padro giống nhân vật Chaka trong Land of the Lost (Đất người lưu lạc)! Nelson Padro ngu đến nỗi nó tưởng mặt trăng là một vết bẩn mà Chúa quên lau sạch đi, (vết bẩn sẽ được lau ngay, hắn hứa với cả lớp.) Nelson Padro trở thành chuyên viên ăn trộm vặt trong xóm trước khi gia nhập lính thủy đánh bộ và bị mất tám ngón chân ở Chiến tranh Vùng Vịnh lần đầu. Thoạt tiên Oscar ngỡ mình nhìn lầm; vì mặt trời rọi vào mắt hắn, và vì hắn đã không ngủ đủ đêm qua. Hắn đứng cạnh hai cô bé và ngắm nghía hộp đựng thức ăn trưa của mình, sao Tiến sĩ Zaius[15] nhìn có vẻ ghê gớm và giống như thật thế. Nhưng Maritza chẳng thèm mỉm cười với hắn! Vờ như không có hắn ở đấy, cô bé nói với Nelson, mình nên cưới nhau, và Nelson mỉm cười một cách ngu độn, rồi nhìn ra đường để tìm xe buýt. Oscar đau lòng đến độ không nói được. Hắn ngồi xuống lề đường và cảm thấy có cái gì đó dâng lên tràn ngập cả ngực hắn, làm hắn sợ quá, và trước khi kịp nhận ra thì hắn đã khóc; khi chị Lola đến gần hỏi hắn có chuyện gì vậy, hắn chỉ lắc đầu. Nhìn cái thằng nhỏ dị hợm kia kìa, có đứa nói mỉa mai. Có đứa nào đó đá cái hộp đựng thức ăn trưa rất cưng của nó, làm xước ngang mặt Đại tướng Urko. Khi leo lên xe buýt, hắn vẫn còn khóc. Anh tài xế, nổi tiếng đã cai nghiện ma túy, nói, Chúa ơi, có phải là em bé đâu mà nhè mãi thế.   Chuyện đoạn tuyệt đã ảnh hưởng đến Olga như thế nào? Thật ra hắn muốn hỏi: Chuyện này đã ảnh hưởng đến Oscar như thế nào?   Với Oscar, dường như từ giây phút Maritza bỏ hắn - Shazam! - đời hắn bắt đầu trôi xuống cống. Trong vòng một vài năm tiếp theo, hắn càng lúc càng béo phị ra. Tuổi dậy thì đặc biệt không nương tay đã ném vào mặt hắn tất cả những thứ không được ưa nhìn, mặt hắn sần sùi vì mụn làm hắn ngượng ngùng mặc cảm; và cái sở thích của hắn - con gái! - trước đó chẳng ai chê bai, bây giờ bỗng bị xem là kỳ cục, mà chữ K phải được trân trọng viết hoa. Hắn không làm bạn với ai, vì hắn kỳ khôi quá, nhút nhát quá, và (nếu người ta có thể tin lời đám trẻ con láng giềng) dị hợm quá (hắn có cái tật thích dùng chữ văn hoa to lớn, những chữ mà hắn chỉ mới học thuộc lòng vài ngày trước đó). Hắn không còn dám đến gần con gái nữa, vì nếu may thì đám con gái sẽ chẳng buồn đoái hoài gì đến hắn, còn nếu rủi thì chúng la hét ỏm tỏi, rồi bảo rằng hắn mập và ghê tởm quá! Hắn không còn nhớ điệu khiêu vũ perrito, quên niềm kiêu hãnh khi đám phụ nữ trong gia đình gọi hắn là “đàn ông”, hắn chẳng được hôn một cô gái nào đã từ lâu lắm. Tựa hồ những gì của hắn có liên quan đến con gái đều bị cháy tiêu trong cái tuần lễ khốn nạn đó.   Mời các bạn đón đọc Cuộc Đời Ngắn Ngủi Và Lạ Kỳ Của Oscar Wao của tác giả Junot Diáz.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Căn Phòng Của Jacob
Dù tác phẩm nói về một thanh niên người Anh tên là Jacob Flanders, con người và tính cách của anh rất mơ hồ, phụ thuộc vào cảm nhận của những người từng tiếp xúc với anh. Một điểm đáng lưu ý: tên của tác phẩm là “Căn phòng của Jacob” chứ không phải là “Jacob Flanders”. Căn phòng của anh, một biểu tượng cũng rất mơ hồ, được mô tả ba lần: “Căn phòng của Jacob có một cái bàn tròn và hai cái ghế thấp… Không sinh khí, bầu không khí trong một căn phòng trống rỗng chỉ khiến những bức màn phồng lên; những đóa hoa trong lọ lay động. Một thớ sợi trong cái ghế bành đan bằng cành liễu gai kêu cọt kẹt, dù không có ai ngồi ở đó.” (Chương Ba) “Con đường chạy qua bên dưới. Chắc chắn phòng ngủ nằm ở phía sau. Đồ nội thất – ba cái ghế đan bằng cành liễu gai và một cái bàn xếp – đến từ Cambridge. Những ngôi nhà này (con gái của bà Garfit, bà Whitehorn, là chủ của ngôi nhà này) được xây dựng khoảng một trăm năm mươi năm trước. Những căn phòng rộng rãi, những trần nhà cao; trên khung cửa gỗ có khắc hình một bông hồng hoặc đầu cừu đực. Thế kỷ mười tám có sự khác biệt của nó. Ngay cả những tấm ván cửa, sơn màu tím quả mâm xôi, cũng có sự khác biệt.” (Chương Năm) “Thế kỷ mười tám có sự khác biệt của nó. Những ngôi nhà này đã được xây dựng cách đây chừng một trăm năm mươi năm. Căn phòng rộng rãi, trần nhà cao; trên khung cửa gỗ có chạm hình một bông hồng hoặc một cái đầu cừu. Ngay cả những tấm ván cửa, sơn màu tím quả mâm xôi, cũng có sự khác biệt của chú Không khí trong một căn phòng trống rỗng rất uể oải, chỉ làm tấm màn cửa phồng lên; những bông hoa trong lọ hơi lay động. Một thớ sợi trong chiếc ghế bành đan bằng cành liễu gai kêu cọt kẹt, dù không có ai ngồi ở đó.” (Chương Mười bốn) Trong một đoạn nhật ký ngay sau ngày sinh nhật của mình, ngày Thứ hai, 26/1/1920, khi Virginia Woolf tròn 28 tuổi và bắt đầu khởi thảo Căn phòng của Jacob, bà viết: “Tôi… đã có một ý tưởng về một hình thức mới cho một cuốn tiểu thuyết mới. Tôi nhận ra rằng cách tiếp cận lần này sẽ hoàn toàn khác hẳn: không một sườn giàn giáo nào; hầu như không viên gạch nào ló dạng; tất cả đều mờ ảo mơ hồ, nhưng con tim, sự mê đắm, tâm trạng, mọi thứ đều sáng tỏ như ánh lửa giữa màn sương.” (“I arrived at some idea of a new form for a new novel. I figure that the approach will be entirely different this time: no scaffolding; scarcely a brick to be seen; all crepuscular, but the heart, the passion, humour, everything as bright as fire in the mist.” – Writer’s Diary, biên tập Leonard Woolf, NXB Hogarth Press, 1953) Không phải là tác phẩm hàng đầu của Virginia Woolf, nhưng với ý nghĩa và giá trị của nó, Căn phòng của Jacob là bước chuyển biến đột phá cực kỳ quan trọng để sau đó hình thành nên Bà Dalloway và Tới ngọn hải đăng. Nó cũng là đối tượng của hàng ngàn luận văn cao học và tiến sĩ, nhiều gấp bội so với hai tác phẩm nói sau. Sài Gòn, 19/4/2018 Nguyễn Thành Nhân (Lời người dịch) *** Nữ tiểu thuyết gia, tiểu luận gia, nhà phê bình văn học người Anh Virginia Woolf sinh ngày 25-1-1882 tại London. Nhũ danh của bà là Adeline Virginia Stephen. Trong suốt đời mình, Virginia Woolf luôn bị quấy rầy bởi những cơn trầm cảm và những chứng bệnh liên quan. Dù các cơn đau này thường gây ảnh hưởng tới hoạt động xã hội của mình, bà vẫn tiếp tục sáng tác với một vài thời kỳ gián đoạn cho tới khi qua đời do tự tử. Đêm 28-3-1941, Virginia Woolf nhét đầy đá vào những túi áo khoác rồi đi bộ tới con sông Ouse gần nhà và tự trầm mình. Hiện nay bà được đánh giá là một trong các tác giả vĩ đại nhất của thế kỷ 20, đồng thời cũng là một nhân vật trọng yếu trong lịch sử văn chương Anh ngữ với tư cách một người bênh vực nữ quyền và là một trong những người sáng lập nên trào lưu Chủ nghĩa Hiện đại bao gồm T.S. Eliot, Ezra Pound, James Joice và Gertrude Stein. Những tác phẩm nổi tiếng nhất của bà bao gồm: Đêm và ngày (Night and Day, 1919) Căn phòng của Jacob (Jacob’s Room, 1922) Bà Dalloway (Mrs.Dalloway, 1925) Đến ngọn hải đăng (To the Lighthouse, 1927) Orlando (1928) Căn phòng riêng (A Room of One’s Own, 1929) Những đợt sóng (The Waves, 1931) Ba đồng tiền vàng (Three Guineas, 1938)  Trong các sáng tác của bà, tác phẩm luận văn  Một căn phòng riêng (A Room of One’s Own, 1929) có một câu châm ngôn rất nổi tiếng:"a woman must have money and a room of her own if she is to write fiction." ("một người phụ nữ phải có tiền và một căn phòng riêng nếu cô ta viết tiểu thuyết.") Woolf xem Shakespeare (và ở chừng mực nào đó, Jane Austen) là đỉnh cao của nghệ thuật sáng tạo bằng chữ nghĩa. Theo bà, muốn như thế, đòi hỏi nơi người viết một tinh thần vô ngã như vị thánh. Bà chê Charlotte Bronte viết không bằng Jane Austen mặc dù tài năng vượt trội hơn, chỉ vì Bronte đã để cảm xúc cá nhân (cái tôi) chen lấn vào tác phẩm. Nhưng nhìn từ góc độ bình thường, quả tình tôi không rõ đã có nhà văn nào, nam cũng như nữ, viết được tác phẩm tầm vóc như của Shakespeare hay chưa. Có thể đã có nhưng tôi không đủ trình độ để thẩm định điều đó. Tuy vậy, theo tôi, chuyện đó không quan hệ lắm. Cái đáng nói là ở thời đại chúng ta, không còn ai phân biệt hoặc quan tâm đến giới tính của nhà văn nữa. Càng ngày càng có nhiều phụ nữ cầm bút và không ai nghi ngờ tài năng cũng như giá trị tác phẩm của họ. Mời các bạn đón đọc Căn Phòng Của Jacob của tác giả Virginia Woolf & Nguyễn Thành Nhân (dịch).
Chiến Trường Vinh Quang
Bản dịch khác của Phạm Văn Ba:  Chiến Trận Chiến trận là tác phẩm mở đầu cho một loạt tiểu thuyết tiếp theo: Danh nhân (chân dung người cha), Thế giới rất gần (về đám tang người cha) và Quà tặng (chân dung người mẹ), kết thúc bằng Như ở trên trời (về cảnh chia li), tất cả hợp thành một bộ sách về gốc gác con người. Khi viết về chiến tranh người ta thường nhắc nhiều tới máu, súng đạn và nước mắt. Tác giả người Pháp nhìn chiến tranh từ một góc khác, không trực diện nhưng xuyên thấu nỗi đau. Giải Goncourt năm 1990 đã vinh danh tiểu thuyết Chiến Trận (Chiến trường vinh quang) của Jean Rouaud để cổ vũ cho nỗ lực làm mới một đề tài tưởng như đã sáo mòn. Tác phẩm như một làn gió mới trong các sáng tác về đề tài chiến tranh của văn đàn Pháp lúc bấy giờ. Nỗi đau của cả nhân loại được cảm nhận từ khung cửa sổ của một gia đình trung lưu ở vùng ngoại ô theo cách riêng. Khi cuộc Đại chiến Thế giới lần thứ nhất đang trong giai đoạn khốc liệt cho đến cuối những năm 80 của thế kỉ 20 đã có rất nhiều tác phẩm viết về cuộc binh lửa tàn khốc này. Với những tác giả là người lính từ chiến trường trở về, họ mang cái nhìn trực diện về chiến tranh vào trong tác phẩm. Đôi khi hiện thực được lột tả sát tới mức chúng ta tưởng chừng có thể ngửi thấy mùi thuốc súng trên trang giấy. Là một nhà văn sinh ra khi cả hai cuộc Đại chiến Thế giới đã trở thành quá khứ, Jean Rouaud không cố tình đóng vai là “người trong cuộc” để viết về cuộc chiến như cách mà một số nhà văn ở thế hệ ông đã làm. Tác giả viết về chiến tranh bằng tâm thế và góc nhìn của một con người sinh ra sau chiến trận. Những trang văn không nồng nặc mùi thuốc súng nhưng vẫn khiến người ta day dứt. Chiến Trận (Chiến trường vinh quang) là cuốn tiểu thuyết viết về chiến tranh, mang âm hưởng của một cuốn hồi ký gia đình. Từ chính câu chuyện của gia đình mình, tác giả đã khắc họa sâu sắc nỗi đau dai dẳng của chiến tranh. Hơn nửa thế kỷ trước, dưới mái nhà mà ông đang sống, đã diễn ra những cuộc tiễn đưa khiến người ta hoảng sợ. Những người đàn ông và có cả những chàng trai trẻ khoác lên mình bộ quân phục và đi về phía bom đạn. Sự khốc liệt của chiến tranh đã vĩnh viễn cướp họ khỏi vòng tay người thân. Nhưng những người lính ấy không bao giờ chết. Họ vẫn sống trong ký ức của người thân. Một thứ ký ức buồn và dai dẳng như màn mưa dai dẳng của vùng Loire-Inferieure. Đọc những trang đầu của Chiến Trận (Chiến trường vinh quang), nhiều độc giả đặt ra câu hỏi: “Liệu đây có phải là một cuốn tiểu thuyết chiến tranh hay chỉ đơn thuần là một cuốn hồi ký về gia đình?”. Trong những chương đầu, tác giả tập trung miêu tả các thành viên trong gia đình với một bút pháp tỉ mỉ và tinh tế đến lạ lùng, làm cho người đọc có cảm giác như đang xem một cuốn phim tư liệu. Nhà văn dành một tình cảm đặc biệt cho bà cô Marie, một con người sùng đạo, cả đời không kết hôn và nguyện phụng sự cho Chúa. Đây cũng chính là nhân vật mở nút cho cuốn tiểu thuyết tưởng chừng không có kịch tính này. Trước lúc lâm chung, bà Marie liên tục nhắc đến cái tên Joseph. Cái tên gợi cho tác giả nhớ đến người cha tội nghiệp của mình, người ra đi vì bệnh tật khi chỉ mới 40 tuổi. Nhưng không, ông đã nhầm, trong đại gia đình còn một thành viên khác cũng mang tên Joseph. Đó là người anh trai tội nghiệp của bà Marie, người đã tử trận năm 1914, khi mới 26 tuổi. Một chàng trai chưa nếm vị ngọt của hôn nhân và còn nhiều hoài bão.  Vì đau lòng, vì không muốn những người lính thoát chết trong trận can qua cảm thấy tội lỗi, mọi người tránh không nhắc tới ông. Nhưng ông vẫn tồn tại theo cách của riêng mình. Cả đại gia đình đã thực hiện một cuộc hành trình về lại chiến trường xưa để tìm di cốt những người đã ngã xuống. Những người chiến đấu vì đất nước nhưng giờ đây không còn một nắm xương tàn. Với Chiến Trận (Chiến trường vinh quang) Jean Rouaud đã chọn một lối kể chậm rãi, chi tiết và tinh tế, tạo nên một văn phong không lẫn lộn. Nhà văn giống như một nhà điêu khắc đang tỉ mẩn đục đẽo từng con chữ. Càng về cuối tác phẩm, sự khốc liệt và tàn nhẫn của chiến tranh mới lộ rõ. Ở đó, không chỉ có súng đạn, máu và nước mắt. Bom hóa học và những quyết sách lạnh lùng của nhà cầm quyền còn khiến chúng ta ghê sợ hơn nhiều. Bằng một cách dẫn dắt rất riêng, nhà văn người Pháp không phơi bày tất cả hiện thực ra trước mắt người đọc. Ông kín đáo giấu nó vào sâu trong những câu chuyện tưởng chừng chẳng liên quan. Đó là cách Jean Rouaud định vị bản thân và làm mới những đề tài tưởng chừng đã cũ. Lịch sử của một quốc gia là một thứ rất vĩ đại, nhưng đôi khi nó được xây nên từ chính hồi ức của từng gia đình. *** Jean Rouaud sinh ngày 12/12/1952, ông nghiên cứu văn học hiện đại tại trường Đại học Nantes. Sau khi lấy bằng thạc sĩ, Jean Rouaud làm nhiều công việc khác nhau như bơm khí hay bán bách khoa thư y tế. Năm 1978, ông cộng tác với tòa soạn Presse – Océan. Sau khi chuyển đến Paris ông làm việc trong một hiệu sách rồi bán báo. Năm 1988, Jean Rouaud gặp Jérôme Lindon, giám đốc cũng là tổng biên tập của NXB Minuit, người đã phát hiện ra tài năng văn chương của ông. Mời các bạn đón đọc Chiến Trường Vinh Quang của tác giả Jean Rouaud & Phạm Duy Thiện (dịch).
Cây Cam Ngọt Của Tôi
“Vị chua chát của cái nghèo hòa trộn với vị ngọt ngào khi khám phá ra những điều khiến cuộc đời này đáng số một tác phẩm kinh điển của Brazil.” - Booklist “Một cách nhìn cuộc sống gần như hoàn chỉnh từ con mắt trẻ thơ… có sức mạnh sưởi ấm và làm tan nát cõi lòng, dù người đọc ở lứa tuổi nào.” - The National Hãy làm quen với Zezé, cậu bé tinh nghịch siêu hạng đồng thời cũng đáng yêu bậc nhất, với ước mơ lớn lên trở thành nhà thơ cổ thắt nơ bướm. Chẳng phải ai cũng công nhận khoản “đáng yêu” kia đâu nhé. Bởi vì, ở cái xóm ngoại ô nghèo ấy, nỗi khắc khổ bủa vây đã che mờ mắt người ta trước trái tim thiện lương cùng trí tưởng tượng tuyệt vời của cậu bé con năm tuổi. Có hề gì đâu bao nhiêu là hắt hủi, đánh mắng, vì Zezé đã có một người bạn đặc biệt để trút nỗi lòng: cây cam ngọt nơi vườn sau. Và cả một người bạn nữa, bằng xương bằng thịt, một ngày kia xuất hiện, cho cậu bé nhạy cảm khôn sớm biết thế nào là trìu mến, thế nào là nỗi đau, và mãi mãi thay đổi cuộc đời cậu. Mở đầu bằng những thanh âm trong sáng và kết thúc lắng lại trong những nốt trầm hoài niệm, Cây cam ngọt của tôi khiến ta nhận ra vẻ đẹp thực sự của cuộc sống đến từ những điều giản dị như bông hoa trắng của cái cây sau nhà, và rằng cuộc đời thật khốn khổ nếu thiếu đi lòng yêu thương và niềm trắc ẩn. Cuốn sách kinh điển này bởi thế không ngừng khiến trái tim người đọc khắp thế giới thổn thức, kể từ khi ra mắt lần đầu năm 1968 tại Brazil. *** Tóm tắt Cây cam ngọt của tôi là câu chuyện về cậu bé Zezé, một cậu bé 5 tuổi thông minh, tinh nghịch và đáng yêu, sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo đông con ở vùng ngoại ô Rio de Janeiro, Brazil. Cậu bé có ước mơ trở thành một nhà thơ cổ thắt nơ bướm. Cuộc sống của Zezé không hề dễ dàng. Cậu phải chịu đựng sự hắt hủi, đánh mắng của cha mẹ và anh chị em. Cậu cũng phải đối mặt với những khó khăn của cuộc sống nghèo khó. Tuy nhiên, Zezé vẫn giữ được trái tim trong sáng và trí tưởng tượng phong phú. Cậu bé tìm thấy một người bạn đặc biệt, đó là cây cam ngọt trong vườn sau nhà. Cậu bé thường tâm sự với cây cam về những niềm vui, nỗi buồn của mình. Cây cam ngọt cũng trở thành nguồn động viên, khích lệ cậu bé trong cuộc sống. Một ngày kia, Zezé gặp gỡ một người bạn mới, đó là Lọ Lem. Lọ Lem là một cậu bé mồ côi, sống lang thang trên đường phố. Lọ Lem đã giúp Zezé khám phá thế giới bên ngoài và dạy cậu bé cách yêu thương. Cuộc sống của Zezé đã thay đổi mãi mãi sau khi cậu gặp Lọ Lem. Cậu bé học được cách đối mặt với những khó khăn và vượt qua những thử thách trong cuộc sống. Cậu cũng học được cách yêu thương và trân trọng những người xung quanh. Đánh giá Cây cam ngọt của tôi là một cuốn sách hay và ý nghĩa. Cuốn sách đã khắc họa chân thực cuộc sống của những đứa trẻ nghèo ở Brazil. Cuốn sách cũng gửi gắm những thông điệp sâu sắc về tình yêu thương, lòng trắc ẩn và ý nghĩa của cuộc sống. Cuốn sách được viết bằng ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu, nhưng lại vô cùng sâu sắc và cảm động. Cuốn sách đã chạm đến trái tim của hàng triệu người đọc trên khắp thế giới. Điểm nổi bật Cốt truyện hấp dẫn, lôi cuốn Nhân vật được xây dựng chân thực, gần gũi Ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu nhưng lại vô cùng sâu sắc và cảm động Thông điệp ý nghĩa về tình yêu thương, lòng trắc ẩn và ý nghĩa của cuộc sống Kết luận Cây cam ngọt của tôi là một cuốn sách hay và ý nghĩa. Cuốn sách là một món quà tinh thần quý giá dành cho tất cả mọi người. *** Nếu Hảo hán nơi trảng cát của Jorge Amado (1912 - 2002) là cuộc sống của những đứa trẻ mồ côi ở Salvador thì Cây cam ngọt của tôi là cuộc đời của những con người trong khu xóm nghèo ở thủ đô Rio de Janeiro. Hơn nửa thế kỷ trôi qua kể từ lần đầu tiên cậu bé Zezé bước vào văn chương và ở lại đó cùng với cây cam ngọt ngào lẫn đắng chát của mình, độc giả tiếp tục khóc cười với cuốn tiểu thuyết thành công nhất của nhà văn José Mauro de Vasconcelos (1920 - 1984) - Cây cam ngọt của tôi (Nguyễn Bích Lan - Tô Yến Ly dịch, Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội Nhà Văn). Cuốn sách xuất bản lần đầu năm 1968 ở Brazil, khi cơn sốt văn chương châu Mỹ Latin đang lan dần ra toàn thế giới. Nếu Hảo hán nơi trảng cát của Jorge Amado (1912 - 2002) là cuộc sống của những đứa trẻ mồ côi ở Salvador thì Cây cam ngọt của tôi là cuộc đời của những con người trong khu xóm nghèo ở thủ đô Rio de Janeiro. Ở đó, những người lớn tất tả trong cuộc mưu sinh bỏ quên chú bé Zezé nghịch ngợm chật vật trong thế giới tuổi thơ của mình. Trước một thế giới ảm đạm buồn chán, Zezé phải bày đủ trò quậy phá đến mức bị đòn roi. Zezé lấy trí tưởng tượng để làm vũ khí chống lại thế giới người lớn quay cuồng trong tiền bạc nhưng thiếu vắng hạnh phúc và ước mơ. Cậu đặt tên cho cây cam trong vườn là Minguinho và như hai người bạn, chúng trò chuyện với nhau, cùng nhau bước qua một tuổi thơ khốn khó nhưng không tuyệt vọng. Câu chuyện đơn giản nhuốm màu sắc tự truyện vẫn khiến cuốn sách gặt hái được thành công quốc tế, trở thành một tác phẩm mang tính giáo dục cao, dẫu tác giả không tuyên ngôn dưới bất kỳ hình thức nào. Tác phẩm được đưa vào chương trình tiểu học, chuyển thể thành phim và cách đây không lâu trở thành nguồn cảm hứng sáng tạo cho một ngôi sao K-pop. Thời đại bất an mà nhà văn sống là thời đại của những nhà độc tài, những cuộc cách mạng, nội chiến liên miên. Cho nên tác phẩm không chỉ là hành trình hướng thiện của một đứa trẻ mà còn là cuộc chiến thu nhỏ diễn ra ở chốn tận cùng, nơi con ngư *** Tác giả: JOSÉ MAURO DE VASCONCELOS (1920-1984) là nhà văn người Brazil. Sinh ra trong một gia đình nghèo ở ngoại ô Rio de Janeiro, lớn lên ông phải làm đủ nghề để kiếm sống. Nhưng với tài kể chuyện thiên bẩm, trí nhớ phi thường, trí tưởng tượng tuyệt vời cùng vốn sống phong phú, José cảm thấy trong mình thôi thúc phải trở thành nhà văn nên đã bắt đầu sáng tác năm 22 tuổi. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là tiểu thuyết mang màu sắc tự truyện Cây cam ngọt của tôi. Cuốn sách được đưa vào chương trình tiểu học của Brazil, được bán bản quyền cho hai mươi quốc gia và chuyển thể thành phim điện ảnh. Ngoài ra, José còn rất thành công trong vai trò diễn viên điện ảnh và biên kịch. *** Chúng tôi đi xuống phố, tay trong tay, chẳng có gì phải vội. Totoca đang dạy tôi về cuộc sống. Và điều đó khiến tôi thực sự hạnh phúc, được anh trai nắm tay và dạy nhiều điều. Nhưng là dạy về những điều thuộc thế giới bên ngoài. Bởi vì ở nhà, tôi học hỏi bằng cách tự mày mò khám phá và tự làm, tôi mắc lỗi nhiều và vì mắc lỗi, tôi thường bị ăn đòn. Cho tới tận trước đây không lâu, tôi vẫn chưa bị ai đánh bao giờ. Nhưng rồi mọi người nghe được chuyện này, chuyện nọ và bắt đầu nói tôi là quỷ, là quái vật, là tiểu yêu tóc hung. Tôi không muốn biết về điều đó. Nếu không phải đang ở bên ngoài thì tôi đã bắt đầu hát. Hát thú vị lắm. Ngoài ca hát, Totoca còn biết làm điều khác nữa: anh có thể huýt sáo. Nhưng dù cố gắng đến mức nào tôi cũng chẳng thể bắt chước anh huýt sáo được, chẳng âm thanh nào bật ra cả. Để an ủi tôi, anh bảo chuyện đó cũng bình thường thôi, rằng tôi chưa có cái miệng của người huýt sáo. Nhưng vì không thể hát thành lời, tôi hát thầm ở trong lòng. Thoạt đầu điều đó thật kỳ cục, nhưng về sau tôi cảm thấy hát như thế thực sự thú vị. Và lúc này, tôi đang nhớ lại một bài hát mẹ thường hát khi tôi còn bé xíu. Mẹ đứng bên chậu giặt, mảnh khăn buộc quanh đầu để che nắng. Với chiếc tạp dề ôm quanh thắt lưng, mẹ đứng đó hết giờ này đến giờ khác, dầm tay trong nước, khiến xà phòng nổi cơ man nào là bọt. Sau đó mẹ vắt kiệt nước khỏi quần áo và đem ra dây, phơi lên, kẹp lại và kéo chiếc dây phơi lên cao. Mẹ làm thế với tất cả quần áo. Mẹ giặt thuê cho nhà bác sĩ Faulhaber để kiếm thêm chút ít giúp trang trải chi phí sinh hoạt. Mẹ cao, gầy, nhưng rất đẹp. Da mẹ rám nắng, tóc thẳng và đen. Khi mẹ không cột tóc lên, tóc mẹ xõa đến tận thắt lưng. Nhưng tuyệt nhất là khi mẹ hát, và tôi hay quanh quẩn bên mẹ học lỏm. Chàng thủy thủ ơi, chàng thủy thủ ơi Chàng thủy thủ của nỗi buồn ơi Vì chàng Ngày mai em sẽ chết... Những con sóng xô bờ Quăng mình lên bờ cát Chàng ra khơi rồi Chàng thủy thủ ơi... Tình yêu của chàng Chẳng được nổi một ngày Tàu nhổ neo rồi Tàu ra khơi... Những con sóng xô bờ... Bài hát đó luôn khiến lòng tôi dâng trào một nỗi buồn khó hiểu. Totoca giật tay tôi. Tôi bừng tỉnh. “Sao thế Zezé?” “Không sao ạ. Em đang hát thôi mà.” “Hát ư?” “Vâng.” “Vậy chắc anh điếc rồi.” Anh ấy không biết con người ta có thể hát thầm ư? Tôi im lặng. Nếu anh không biết thì tôi cũng chẳng định dạy anh đâu. Chúng tôi đã tới lề đường quốc lộ Rio-São Paulo. Trên đường quốc lộ, có đủ mọi loại xe. Xe tải, xe con, xe ngựa, xe đạp. “Này,Zezé, chuyện quan trọng đây này. Trước hết chúng ta phải quan sát thật kỹ một chiều, sau đó nhìn chiều kia. Bây giờ sang đường nào.” Chúng tôi chạy sang đường. “Em có sợ không?” Tôi sợ, nhưng tôi lắc đầu. “Chúng mình cùng làm lại nào. Sau đó anh muốn xem em đã biết cách hay chưa.” Chúng tôi chạy trở lại phía bên kia đường. “Bây giờ em sang đường đi. Đừng ngập ngừng, bởi vì em lớn rồi mà.” Tim tôi đập nhanh hơn. “Nào. Sang đi.” Tôi chạy sang đường, gần như nín thở. Tôi đợi một chút và anh ra hiệu cho tôi quay trở về chỗ anh. “Lần đầu mà làm được thế là tốt đấy. Nhưng em đã quên một điều. Em phải nhìn cả hai phía xem có xe đang chạy tới không. Không phải lúc nào anh cũng có mặt ở đây để ra hiệu cho em đâu. Chúng ta sẽ thực hành thêm trên đường về nhà nhé. Nhưng giờ thì đi thôi, vì anh muốn chỉ cho em một thứ.” Anh cầm tay tôi và chúng tôi lại bắt đầu bước đi, thong thả. Tôi không cách nào thôi nghĩ về một cuộc trò chuyện cách đây ít lâu. "Totoca." “Gì cơ?” “Anh đã cảm nhận được tuổi chín chắn chưa?” “Thứ vớ vẩn gì vậy?” “Bác Edmundo nói đấy. Bác nói em khôn trước tuổi và rằng chẳng bao lâu nữa em sẽ đến tuổi chín chắn. Nhưng em chẳng cảm thấy có gì khác cả.” “Bác Edmundo bị ngớ ngẩn đấy. Bác ấy luôn nhồi những thứ vớ vẩn vào đầu em.” “Bác ấy không ngớ ngẩn đâu. Bác ấy khôn ngoan đấy chứ. Và khi lớn lên em muốn trở nên khôn ngoan, thành nhà thơ và thắt nơ bướm. Một ngày nào đó em sẽ được chụp ảnh chân dung thắt nơ hẳn hoi.” “Tại sao lại thắt nơ?” “Bởi vì anh không thể trở thành nhà thơ nếu không thắt nơ. Khi bác Edmundo cho em xem ảnh các nhà thơ trong cuốn tạp chí đó, em thấy ai cũng thắt nơ cả.” “Zezé, em phải thôi đi, đừng tin mọi điều bác ấy nói với em nữa. Bác Edmundo hơi biêng biêng đấy. Bác ấy còn hơi xạo nữa.” “Bác ấy là đồ chó đẻ ư?” “Em đã bị tát lệch mặt vì nói bậy quá nhiều mà chưa chừa à! Bác Edmundo không như vậy. Anh nói biêng biệng cơ mà. Nghĩa là hơi hâm hâm.” “Anh bảo bác ấy là kẻ nói xạo mà.” “Đó là hai chuyện hoàn toàn khác.” “Không, có khác gì đâu. Hôm nọ cha kể về ông Labonne với bác Severino, bạn chơi bài của cha, và cha nói, “Lão chó đẻ ấy là một kẻ nói xạo trời đánh thánh vật.” Và chẳng ai tát chả lệch mặt cả.” “Người lớn nói thế thì không sao.” Chúng tôi không nói gì trong vài phút. “Bác Edmundo không... Mà biêng biêng có nghĩa là gì, anh Totoca?” Anh giơ ngón tay chỉ lên đầu, quay quay ngón tay vẽ thành những vòng tròn trong không khí. “Không, bác ấy không phải vậy. Bác ấy tốt lắm. Bác ấy dạy em nhiều điều, và chỉ đánh em có mỗi một lần, lại còn chẳng đánh mạnh nữa.” Totoca giật mình. “Bác ấy đánh em à? Khi nào?” “Khi em hư thật và bị Gloria tống đến nhà bà. Bác ấy muốn đọc báo nhưng không tìm thấy kính. Bác tìm hết chỗ cao đến chỗ thấp và nổi điên thực sự. Bác hỏi bà kính của bác ở đâu nhưng bà không biết. Hai người lục tung cả nhà lên để tìm. Thế rồi em nói em biết kính của bác ở đâu và nếu bác cho em ít tiền để mua bi thì em sẽ nói cho bác biết. Bác đi đến chỗ để áo khoác và lấy ra một ít tiền. “Mang kính ra đây thì bác đưa tiền cho mày.” “Em đến chỗ rương đựng quần áo lấy cái kính ra. Bác nói, Ra là mày, đồ ranh con!” Bác phát vào lưng em và cất béng tiền đi.” Totoca cười phá lên. “Em đến đó để khỏi bị ăn đòn ở nhà thế mà lại bị đánh ở đó. Đi nhanh chân lên một chút, nếu không chúng ta sẽ chẳng bao giờ đến nơi được đâu.” Tôi vẫn đang nghĩ về bác Edmundo. “Totoca, trẻ con nghỉ hưu phải không?” “Gì cơ?” “Bác Edmundo chẳng làm gì cả mà vẫn có tiền. Bác không làm việc, nhưng Tòa Thị chính vẫn trả tiền cho bác hằng tháng.” “Thì sao?” “À thì, trẻ con chẳng làm gì. Trẻ con ăn, ngủ và được cha mẹ cho tiền.” “Nghỉ hưu khác chứ, Zezé. Người nghỉ hưu đã làm việc trong một thời gian dài rồi, tóc đã ngả bạc, chân chậm mắt mờ như bác Edmundo rồi. Nhưng đừng nghĩ về những thứ khó nhằn ấy nữa. Nếu em muốn học nhiều điều từ bác ấy thì tốt thôi. Nhưng khi đi với anh thì không nhé. Hãy cư xử như những đứa con trai khác. Em thậm chí có thể chửi thề, nhưng đừng nhét đầy đầu những thứ khó nhằn. Nếu không anh sẽ không đi chơi với em nữa đâu.” Tôi xị mặt xuống và không muốn nói chuyện nữa. Tôi cũng chẳng muốn hát. Chú chim nhỏ ca hát bên trong tôi đã bay mất rồi. Chúng tôi dừng lại và Totoca chỉ tay về phía ngôi nhà. “Nó đấy. Thích không?” Đó là một ngôi nhà bình thường. Màu trắng với những ô cửa sổ màu xanh dương. Toàn bộ cửa nẻo đều đóng im ỉm và im ắng như tờ. “Có ạ. Nhưng tại sao chúng ta phải chuyển đến đây chứ?” “Thay đổi cũng tốt mà.” Chúng tôi đứng trông qua hàng rào, nhìn cây xoài phía bên này và cây me ở phía bên kia. “Em là đứa hay chạy lăng xăng, nhưng em không biết nhà mình đang có chuyện gì đâu. Cha thất nghiệp rồi, đúng không? Đã sáu tháng kể từ khi cha choảng nhau với ông Scottfield và bị đuổi việc. Em có biết bây giờ Lala đang làm việc ở nhà máy không? Còn mẹ thì sắp đi làm ở thành phố, trong xưởng English Mill đấy, biết không? Giờ thì em biết rồi đấy, đồ ngốc ạ. Ở cái nhà mới này, ta sẽ tiết kiệm được tiền thuê nhà... Cái nhà kia thì cha nợ tám tháng tiền thuê nhà rồi. Em còn quá nhỏ nên không phải lo lắng về những chuyện buồn như thế. Nhưng anh sẽ phải giúp thật lực, xắn tay vào hỗ trợ việc nhà.” Anh đứng im lặng một lát. “Totoca, họ sẽ mang con báo đen và hai con sư tử cái tới đây chứ?” “Dĩ nhiên. Và lão gia nhân này sẽ phải tháo dỡ cái chuồng gà.” Anh nhìn tôi bằng ánh mắt thương xót, trìu mến. “Anh chính là người sẽ dỡ vườn thú và lắp ghép nó lại ở đây.” Tôi thở phào. Bởi vì nếu không tôi sẽ phải kiếm thứ gì đó mới mẻ để chơi với em trai út Luis của tôi. “Em đã thấy anh là người bạn như thế nào của em rồi, đúng không Zezé? Này, em sẽ chẳng mất mát gì nếu nói cho anh biết em đã làm chuyện đó như thế nào...” “Totoca, em thề là em không biết. Em thực sự không biết.” “Em nói dối. Ai đó đã dạy em học.” “Em chẳng học gì cả. Chẳng ai dạy em hết. Trừ phi quỷ sứ dạy em trong giấc ngủ. Jandira nói quỷ sứ là cha đỡ đầu của em.” Totoca bối rối. Anh thậm chí còn cốc đầu tôi mấy cái, cố bắt tôi phải nói cho anh biết. Nhưng tôi không biết mình đã làm được chuyện đó như thế nào. “Chẳng ai tự học cái đó được.” Nhưng anh không biết phải nói gì bởi vì chẳng ai thực sự nhìn thấy người nào dạy tôi học gì hết. Đó là một bí ẩn. Mời các bạn đón đọc Cây Cam Ngọt Của Tôi của tác giả José Mauro de Vasconcelos & Nguyễn Bích Lan (dịch) & Tô Yến Ly (dịch).
Cách Mạng Kiến
1 + 1 = 3? Khó tin nhưng có thật!!! Lũ kiến có thể thèm muốn gì ở chúng ta? Hài hước, tình yêu và nghệ thuật. Con người có thể thèm muốn gì ở lũ kiến? Sự hòa hợp với thiên nhiên, không biết sợ hãi và trao đổi tuyệt đối. Không hề biết nhau, Julie Pinson, một nữ sinh nổi loạn, và 103, kiến thám hiểm, gắng thử làm một cuộc cách mạng trong thế giới riêng của mình để đưa xã hội tiến hóa hơn. Kiến là cuốn sách cầu nối, Ngày của Kiến là cuốn về đối đầu còn Cách mạng Kiến là cuốn sách để hiểu nhau. Nhưng vượt lên trên chủ đề kiến, đó là cuộc cách mạng của con người, cuộc cách mạng phi bạo lực, hình thành từ những ý tưởng mới mẻ mà Bernard Werber đề xuất với chúng ta. Chú ý: bạn không bắt buộc phải đọc những cuốn khác để hiểu toàn bộ câu chuyện. Và tại sao 1 + 1 = 3? Độc giả, hãy đọc cuốn sách và bạn sẽ hiểu! Hồi hộp hấp dẫn hơn cả Harry Potter, đó chính là Werber!!!!!!!!!!!!! *** Kiến đã được dịch ra hơn 30 thứ tiếng, giành giải thưởng của độc giả tờ Sciences et Avenir, và là tác phẩm nổi tiếng nhất của Bernard Werber, nhà văn Pháp được đọc nhiều nhất trên thế giới. - “Trong Kiến, Bernard Werber đã làm được cho loài kiến những gì Richard Adams đã làm cho loài thỏ trong đồi thỏ…” – Bantam Doubleday Dell Publishing - “Đây là tiểu thuyết đầu tiên mà nhân vật chính là… kiến.” – Albin Michel - “Bernard Werber đã sáng tạo nên một thế giới loài vật gần gũi và chi tiết đến mức mỗi người đọc đều cảm thấy như mình là một phần của nó” – Kevin Grandfield. *** Bernard Werber sinh năm 1961 tại Toulouse, Pháp. Ngay từ khi mười bốn tuổi, anh đã viết truyện cho một tập san nhỏ về khoa học viễn tưởng. Sau khi học luật tại Toulouse và báo chí tại Pháp, Bernard Werber dành hơn mười năm làm nhà báo khoa học và đã từng cộng tác với rất nhiều tờ có tên tuổi như Nouvel Observateur, Le Point, Ça m'intéresse. Sau đó, anh tập trung vào viết văn. Ngay từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên xuất bản năm 1992,Kiến, nhà văn này đã nổi tiếng với một phong cách viết độc đáo, pha trộn giữa loại truyện phiêu lưu, khoa học viễn tưởng và triết lý.Kiến đã giành giải thưởng của độc giả tờ Khoa học và Tương lai (Sciences et Avenir). Cuốn thứ hai trong bộ ba tiểu thuyết về kiến,Le jour des fourmis (Ngày của kiến), ra đời ngay sau đó, đã được nhận giải thưởng lớn của độc giả tờ Elle. Các tác phẩm của Bernard Werber đã được dịch ra hơn 35 thứ tiếng. Với 15 triệu bản bán được trên toàn thế giới, cùng với Marc Levy, Bernard Werber là một trong những nhà văn Pháp đương đại nổi tiếng nhất. Ngoài tiểu thuyết, Bernard Werber còn được biết đến với truyện ngắn, truyện tranh, kịch và phim. Chú ý chỗ bạn đặt chân. Sau khi đọc xong cuốn tiểu thuyết quyến rũ này, bạn dám không nhìn thực tế theo cùng cách hiện giờ nữa. Mời các bạn đón đọc Cách Mạng Kiến của tác giả Bernard Werber & Thi Hoa (dịch).