Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Các Hung Thần Lên Cơn Khát

Anatole France là một trong những nhà văn lớn nhất của nước Pháp thời cận đại, ông sinh ở Paris ngày 16 tháng 4 năm 1844, ngày 13 tháng 10 năm 1924 ở Tours, Indre-et-Loire, Pháp. Năm 1921 ông được trao giải Nobel Văn học vì "những tác phẩm xuất sắc mang phong cách tinh tế, chủ nghĩa nhân văn sâu sắc và khí chất Gô-loa đích thực"… Đến năm 1922, sách của ông đã nằm trong danh sách cấm của Giáo Hội Công Giáo La Mã, bởi trước tác của ông chống lại sự mê hoặc tôn giáo, giáo điều chủ nghĩa; dưới ngòi bút châm biếm đả kích, trào lộng, A. France mỉa mai những luận điệu thần thánh, những thiết chế Nhà nước, những thối nát của nhà thờ cùng với sự đớn hèn của loài người. Các hung thần lên cơn khát là một thiên hùng ca bi tráng về thời kỳ Công xã Paris. Nhân vật chính của câu chuyện là Évariste Gamelin, một họa sĩ trẻ tràn trề sức sống và lý tưởng, một người con hiếu thảo sống cùng mẹ già nghèo khó, một người bạn vô hại dễ thương, một công dân nhiệt tình yêu nước, một chiến sĩ tuyệt đối trung thành với Cách mạng được bổ nhiệm làm hội thẩm của Tòa án Cách mạng Pháp. Tư tưởng cực đoan và sự sùng bái cá nhân của Gamelin đối với các nhà lãnh đạo công xã Robespierre, Marat,... và cơn ghen cuồng điên trong mối tình si chớm nở đã từng bước đưa anh từ một nghệ sĩ mộng mơ thành một tên giết người hàng loạt. Vì chế độ Cộng hòa, anh hy sinh không hối tiếc bao nhiêu sinh mạng, kể cả bạn bè, và nếu cần, cả em gái mình để làm lễ dâng lên bàn thờ Tổ quốc. Điều gì sẽ đến khi lý tưởng trở thành ngọn hải đăng tỏa sáng dẫn đường, khi lý tưởng trở thành vị thần được tôn thờ mù quáng, khi lý tưởng được sùng bái một cách bất khả tư nghị? Và chuyện gì sẽ xảy ra khi con người trở thành nô lệ của dư luận, khi suy nghĩ bị dẫn dắt bởi đám đông. Đó là khi máy chém sẽ trở thành vị chủ tế, mạng sống và máu của con người được xem như vật hiến sinh, những buổi hành hình trở thành lễ hội náo nhiệt. Khi sự phi lý trở nên bình thường, khi quyền lực trao tay những kẻ vô tri, con người trở thành điên rồ và khát máu. Các hung thần lên cơn khát, một kiệt tác của A.France không chỉ là một tiểu thuyết lịch sử cách mạng. Dưới ngòi bút của một thiên tài, một xã hội thị dân Paris với đầy đủ các cung bậc cuộc sống, tình yêu, dục vọng, với ghen tuông được tái hiện. Các hung thần lên cơn khát còn là một bản trường ca về sự giao hòa giữa lý tưởng và tình người, về cách mạng và nhân văn, giữa duy tâm với duy vật, cả thánh thiện và tàn ác, về chiến thắng và chiến bại, về sự sống cùng cái chết, tất cả đã được Anatole France dệt thành một câu chuyện đa sắc sinh động. *** Anatole France (1844-1924) là một nhà văn vĩ đại của nước Pháp, thành viên Viện Hàn lâm và nhận giải thưởng Nobel Văn học năm 1921. Sự nghiệp văn chương của ông thực đồ sộ và mang dấu ấn những quan điểm của ông trong từng thời kỳ. Khi còn trẻ, với các tác phẩm “Sách của bạn tôi”, “Tội ác của Sylvestre Bonnard”, “Bông huệ đỏ”, “Khu vườn của Epicure”,… Anatole France nổi tiếng là một nghệ sĩ đơn thuần, một nhà nhân văn cá nhân chủ nghĩa ít quan tâm đến cuộc đời. Nhưng khi đã đứng tuổi, ông bắt đầu chú ý đến những vấn đề thời đại, những nỗi băn khoăn, lo lắng của con người. Ông tham gia bảo vệ Dreyfus, một sĩ quan Pháp bị kết án oan về tội làm gián điệp. Trong số các tác phẩm ông viết trong thời kỳ này ta có thể kể: “Chiếc vòng thạch anh xanh”, “Ông Bergerer ở Paris”,… Đặc biệt trong các cuốn “Thiên thần nổi loạn” và “Các hung thần lên cơn khát”, ông đã tố cáo bạo lực và chuyên chế, phản đối những hành động quá khích phát sinh từ cách mạng. Luôn luôn tranh đấu cho một xã hội công bằng và nhân đạo, Anatole France đứng vào hàng ngũ các chiến sĩ cực tả. Ông quan niệm tự do là tài sản quý nhất của con người, nhưng không thể có tự do khi một giai cấp còn bị một giai cấp khác nô dịch. Ông mơ ước một nhà nước thực sự dân chủ không vi phạm quyền của mỗi công dân và bảo đảm hạnh phúc cho từng cá nhân trong xã hội. Là người vô thần, ông phản đối cả cuồng tín tôn giáo lẫn cuồng tín chính trị; là nghệ sĩ, ông luôn luôn để lòng mình rung động xen lẫn xót xa trước những niềm vui mong manh, giúp ta trong giây phút quên đi nỗi đau đớn của thân phận con người. Tiểu thuyết “Các hung thần lên cơn khát” (1912) là một trong những tác phẩm hàng đầu của Anatole France. Câu chuyện xảy ra trong thời kỳ thứ ba của Cuộc cách mạng 1789 Pháp, “Thời kỳ chuyên chính Jacobin” bắt đầu từ tháng sáu năm 1793 đến hết tháng bảy năm 1794. Đó là thời kỳ cuộc cách mạng nằm trong tình thế thù trong giặc ngoài cực kỳ hiểm nghèo. Để đối phó, một mặt Quốc ước tung quân chống ngoại xâm, dẹp bạo loạn trong nước, mặt khác, bên cạnh những biện pháp nhằm ổn định đời sống, đã dùng Tòa án Cách mạng làm công cụ thực hiện quốc sách khủng bố các phe phái, cá nhân chống đối. Và vì bản thân phái Jacobin cũng phân hóa, khủng bố lan tràn vào ngay nội bộ những người cách mạng trung kiên nhất. Đó là thời kỳ rối ren nhất, đẫm máu nhất trong cuộc Cách mạng 1789. Có thể gọi “Các hung thần lên cơn khát” là một tiểu thuyết lịch sử: Một loạt sự kiện được mô tả khá đầy đủ, chính xác đến từng ngày, nhiều nhân vật lịch sử được nhắc đến trong đó một số lãnh đạo vĩ đại của Cách mạng, như Robespierre, như Marat, được phác họa bằng ngòi bút tài tình khiến người đọc có thể hình dung được cả hình dáng lẫn tâm hồn họ. Trong bối cảnh lịch sử ấy, Anatole France đưa lên sân khấu cả một đám thị dân Paris bình thường, để cho họ sinh hoạt, yêu đương, chơi bời, hy vọng, đau khổ… cả bọn đục nước béo cò thời nào cũng có. Khi nói đến những con người bình thường, tính hoài nghi cố hữu của ông thường kết hợp với sự cảm thông sâu sắc với nỗi đau nhân thế. Và mỗi lần như vậy, bút pháp bình dị của ông tự nhiên sống động, ấm áp hẳn lên. Đó là nỗi khổ đau triền miên của bà cụ Gamelin sống giữa người con trai đã mất tính người và người con gái tội lỗi đang lẩn trốn; bà cụ sợ từng tiếng động nhỏ, “vì địa vị thấp kém,… coi hèn nhát là một nghĩa vụ.” Chúng ta phải buồn cười với cô Élodie đa tình quyết tâm “đi nửa quãng đường, hoặc hơn nữa” để chinh phục người yêu. Để mô tả tâm hồn trong trắng của một cô gái điếm, tác giả đã để cho “mặt trăng lên cao rọi vào gian phòng sát mái một tia bạc làm bừng sáng mớ tóc bồng bềnh, từng chiếc mi vàng, cái mũi thanh tú, cái miệng tròn và đỏ của Athénaïs đang ngủ ngon giấc, hai bàn tay nắm chặt.” Ông đã dùng những lời lẽ thực trang trọng, đầy xúc động khi nói đến Fortuné Trubert, người chiến sĩ được giao trọng trách không hề cảm thấy “sự nhỏ bé của các phương tiện sẵn có” vì “đời sống của anh hòa nhập với đời sống của một dân tộc vĩ đại”. Nhưng ông đã dành nhiều trang nhất để diễn tả hai nhân vật trung tâm, hai con người có cá tính thực đặc biệt. Một người là họa sĩ Évariste Gamelin, người con hiếu thảo, hội thẩm Tòa án Cách mạng. Anh là một công dân nhiệt tình yêu nước, một chiến sĩ tuyệt đối trung thành với cách mạng. Vì chế độ Cộng hòa, anh hy sinh không hối tiếc bao nhiêu sinh mạng, kể cả bạn bè, nếu cần, cả em gái mình để làm lễ dâng lên bàn thờ Tổ quốc. Anh nghĩ, mỉa mai thay, làm thế để mai đây “mọi người Pháp sẽ ôm hôn nhau trong hạnh phúc”. Người kia là ông già Brotteaux nguyên là nhà quý tộc, yêu thiên nhiên, luôn luôn xúc động trước cảnh đẹp, môn đệ của Épicure. Tác giả đặt ông vào bao nhiêu tình huống, cho ông gặp bao nhiêu con người để ông có dịp nêu lên những ý nghĩ, những tình cảm của mình, của một người vô thần nhưng không cuồng tín, chống mọi hình thức chuyên chế hay bạo lực. Những ý nghĩ, những tình cảm đó được bộc lộ đôi khi mơ mộng, thường thường nhẹ nhàng, châm biếm, có lúc lố bịch, che giấu một tấm lòng cực kỳ nhân hậu, nhạy cảm, vị tha. Thế là rõ, Anatole France đã gián tiếp nêu lên quan điểm của mình. Đó là một quan điểm và còn có những quan điểm khác: bao nhiêu sử gia và nhà nghiên cứu đã viết và còn viết để đánh giá cuộc cách mạng Pháp. Giới thiệu với bạn đọc cuốn tiểu thuyết này, chúng tôi cũng mong góp phần nhỏ bé kỷ niệm một cuộc cách mạng vĩ đại mà những lý tưởng vẫn luôn luôn thôi thúc loài người. Người dịch Trần Mai Châu ***   Sáng sớm hôm đó, Évariste Gamelin, họa sĩ, học trò của David*, thành viên phân khu Cầu mới, trước đây là phân khu Henri IV, đến nhà thờ dòng Barnabites. Từ ngày 21 tháng 5 năm 1790 cách đây ba năm, nhà thờ này được dùng làm trụ sở các đại hội của phân khu. Nó vươn cao trên một quảng trường hẹp và tối, gần hàng rào Tòa án. Mặt tiền nhà thờ có hai cây cột kiến trúc cổ điển với những công-xôn đảo ngược và bình lửa cháy đã dầu dãi với thời gian và bị con người xúc phạm. Người ta đã lấy búa đập các biểu tượng tôn giáo và thay bằng những châm ngôn Cộng hòa với dòng chữ đen tô đậm trên cửa chính: “Tự do, Bình đẳng, Bác ái hay là Chết”. Évariste Gamelin bước vào gian giữa: các vòm nhà thờ trước kia bao lần vang lên lời ca của các tu sĩ bận áo thụng trắng thuộc giáo đoàn Saint Paul thì nay chứng kiến các công dân yêu nước đội mũ chụp đỏ hội họp bầu các thẩm phán của thành phố và thảo luận về công việc của phân khu. Các vị thánh đã bị lôi ra khỏi bệ; thay vào đó là tượng bán thân của Brutus, Jean-Jacques và Le Peltier. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền đặt sừng sững trên bàn thờ để trống. Jacques-Louis David (1748-1825): là họa sĩ thời cách mạng Pháp, đứng đầu trường phái Tân cổ điển. Chính tại gian giữa này, mỗi tuần hai lần, từ năm giờ chiều đến mười một giờ đêm, tiến hành các hội nghị công khai. Giảng đài có trang trí một lá quốc kì, được dùng làm diễn đàn kêu gọi quần chúng. Đối diện với giảng đài là một chiếc bục sơ sài làm bằng gỗ thô dành làm chỗ đứng cho đàn bà, trẻ con, thường đến khá đông, dự các buổi họp. Sáng hôm ấy, đứng trước một chiếc bàn kê ngay ở chân giảng đài là công dân Dupont-anh, mình mặc áo vét ngắn, đầu đội mũ chụp đỏ, làm nghề thợ mộc ở quảng trường Thionville, hiện là một trong mười hai ủy viên của ủy ban Giám sát. Trên bàn có bày một cái chai, mấy cái ly, một hộp bút và một quyển vở trong viết sẵn một kiến nghị đòi Hội đồng Quốc ước* trục xuất hai mươi hai đại biểu bất xứng. Hội đồng Quốc ước: là nghị viện cách mạng thay thế Quốc hội lập pháp từ ngày 21-9-1792 và cai trị nước Pháp cho đến ngày 26-10-1795. Évariste Gamelin cầm bút ký. “Tôi biết chắc, công dân Gamelin, cậu thế nào cũng ký, - ông ủy viên kiêm thợ thủ công nói. - Cậu là một phần tử trung kiên. Nhưng dân ở đây không nhiệt tình, lại thiếu đạo đức. Tôi đã đề nghị ban Thanh tra không cấp chứng chỉ ái quốc cho những người không ký.” “Tôi sẵn sàng dùng máu của mình ký vào kiến nghị đặt ra ngoài vòng pháp luật bọn phản quốc theo chủ nghĩa liên bang*. Họ đã muốn Marat* chết thì chính họ phải bị tiêu diệt.” Trong thời cách mạng Pháp, đây là những người chống lại những kẻ thù của tự do. Jean-Paul Marat (1743-1793): đại biểu phái Montagne trong Hội đồng Quốc ước, kịch liệt lên án và đòi chém đầu Louis XVI, bị một phụ nữ là Charlotte Corday ám sát năm 1793. “Điều nguy hiểm đối với ta chính là chủ nghĩa bàng quan. Phân khu này gồm chín trăm công dân có quyền bỏ phiếu nhưng chưa tới năm mươi người đi họp. Hôm qua lại chỉ có hai mươi tám người.” “Vậy phải bắt họ đến, nếu không thì nộp phạt.” “Này, này, - anh thợ mộc nhíu mày đáp, - nhưng nếu họ đến cả, công dân yêu nước chúng ta sẽ bị thiểu số… Công dân Gamelin, cậu có muốn làm một chén rượu chúc mừng những người cách mạng chân chính không?…” Trên tường nhà thờ, phía bên Phúc âm*, có những dòng chữ sau đây, kèm theo hình một bàn tay màu đen, ngón trỏ chỉ đường ra hành lang: Ủy ban dân sự, Ủy ban thanh tra, Ủy ban cứu trợ. Đi qua vài bước là cửa một phòng trước đây còn là gian nhà áo*, trên có ghi: Ủy ban quân sự. Gamelin đẩy cửa và thấy anh thư ký Ủy ban thanh tra đang ngồi viết trước một chiếc bàn bừa bộn sách vở, giấy tờ, thỏi thép, vỏ đạn và những mẩu đất chứa diêm tiêu. Côté de L’Évangile: Phía bên Phúc âm. Phía bên trái bàn thờ, đối với vị chủ tế. Nhà áo: là nơi các linh mục chuẩn bị trước khi làm lễ. “Công dân Trubert, chào cậu. Cậu khỏe không?” “Mình ấy à?… Mình rất khỏe…” Fortuné Robert trả lời những ai quan tâm đến sức khỏe của mình bằng một câu bất di bất dịch, muốn cho người ta biết về tình trạng của mình thì ít, mà muốn cắt đứt câu chuyện về đề tài đó thì nhiều. Anh ta mới hai mươi tám tuổi mà da đã khô, tóc thưa, gò má đỏ, lưng còng. Làm nghề bán kính ở bến Kim hoàn, anh là chủ nhân một tiệm có từ lâu đời, nhưng năm 1791 anh đã nhượng lại cho một viên thầy ký già để có thể toàn tâm làm nhiệm vụ của anh trong thành phố. Mẹ anh, một phụ nữ duyên dáng, chết lúc hai mươi tuổi mà các cụ già trong khu phố vẫn còn nhớ lại những kỷ niệm xúc động, đã để lại cho anh đôi mắt dịu dàng, đắm đuối, nước da xanh xao, tính tình rụt rè, nhút nhát. Còn tính chính xác, cần cù thì anh đã kế thừa của cha anh, kỹ sư quang học, người cung cấp vật dụng cho hoàng gia, qua đời cùng một căn bệnh khi chưa đầy ba mươi tuổi. Vẫn tiếp tục làm việc, anh hỏi: “Còn cậu, công dân, cậu thế nào?” “Tớ khỏe. Có gì mới không cậu?” “Không, không có gì mới. Cậu thấy đấy: Ở đây, tất cả đều yên tĩnh.” “Thế còn tình hình?” “Tình hình vẫn thế.” Tình hình thực khủng khiếp. Đạo quân tinh nhuệ nhất của nền Cộng hòa phải đưa vào cố thủ Mayence; Valenciennes bị bao vây; dân Vendée* chiếm Fontenay; Lyon làm loạn; Cévennes nổi dậy, biên giới với Tây Ban Nha bỏ trống; hai phần ba các quận bị xâm lăng hay nổi dậy; còn Paris không tiền bạc, thiếu cả bánh mì thì nằm trong tầm đại bác của bọn Áo. Một số dân vùng Vendée và những nơi khác chống lại cách mạng vì chính sách dân sự hóa Giáo hội và bắt lính hàng loạt của chính quyền cách mạng. Fortuné Trubert vẫn yên lặng ngồi viết, chiếu theo quyết định của Công xã* giao cho các phân khu trách nhiệm động viên mười hai nghìn người để cứu viện Vendée, anh đang thảo các chỉ thị về việc tuyển quân và cung cấp vũ khí thuộc phạm vi phân khu Cầu Mới. Tất cả súng trường sẽ được giao cho những người được trưng dụng. Đội Vệ quốc của phân khu chỉ còn súng săn và giáo mác. Công xã: là chính quyền thành phố Paris thời kỳ Cách mạng. Từ ngày 10-8-1792, công xã áp dụng chính sách khủng bố. Gamelin nói: “Mình mang lại cho cậu báo cáo về tình trạng các quả chuông phải gửi đi Luxembourg để đúc đại bác.” Mặc dầu không có một xu trong túi, Évariste Gamelin vẫn được ghi vào danh sách những thành viên tích cực của phân khu: luật chỉ ban đặc quyền đó cho các công dân tương đối giàu, đã đóng góp số tiền bằng ba ngày lao động; và muốn là ứng cử viên thì phải đóng góp mười ngày. Nhưng muốn phát huy quyền bình đẳng và giữ vững tính tự trị, phân khu Cầu Mới cho phép các công dân nào chịu bỏ tiền túi sắm đồng phục Vệ quốc được quyền bầu cử và ứng cử. Đó là trường hợp Gamelin, công dân tích cực, thành viên ủy ban quân sự. Trubert đặt bút xuống nói: “Công dân Évariste, cậu hãy qua bên Quốc ước đề nghị họ gửi cho chúng ta chỉ thị đào xới các hang động, lọc đất đá để sản xuất diêm tiêu. Có đại bác đâu đã đủ, còn cần thuốc súng nữa.” Một chàng gù bé nhỏ, bút giắt tai, tay cầm giấy tờ, bước vào. Đó là công dân Beauvisage, trong ban Thanh tra. Anh ta nói: “Này các công dân, chúng ta vừa nhận được tin xấu. Custine đã rút khỏi Landau.” “Custine là tên phản bội!” Gamelin thét lên. “Phải chém cổ hắn,” Beauvisage nói. Bằng một giọng hơi hổn hển, Trubert bình tĩnh phát biểu: “Quốc ước đâu có thành lập ủy ban cứu quốc để chơi. Hành động của Custine sẽ được đem ra xét xử. Bất lực hay phản bội, cũng phải thay y bằng một vị tướng có quyết tâm chiến thắng. Rồi sẽ ổn cả thôi!” Anh lật các giấy tờ và đọc lướt bằng cặp mắt mệt mỏi: “Muốn cho binh sĩ của ta hoàn thành nhiệm vụ, không rối loạn, không chùn bước, cần làm cho anh em hiểu rằng đời sống những người thân của họ được bảo đảm. Nếu cậu đồng ý, công dân Gamelin, trong phiên họp tới, cậu sẽ cùng mình đề nghị ủy ban cứu trợ phối hợp với bên quân sự giúp đỡ những gia đình khó khăn có con em tại ngũ.” Anh mỉm cười và ngân nga: “Sẽ ổn cả! Ổn cả!…” Như vậy là làm việc từ mười hai đến mười bốn giờ mỗi ngày trước một chiếc bàn mộc, để bảo vệ Tổ quốc lâm nguy, viên thư ký tầm thường của một ban trong phân khu không hề cảm thấy sự chênh lệch giữa mức độ to lớn của nhiệm vụ và sự nhỏ bé của phương tiện: anh cảm thấy sức mình hòa với nỗ lực chung của các công dân yêu nước, anh và đất nước là một, đời sống của anh hòa nhập vào đời sống của một dân tộc vĩ đại. Anh thuộc hạng người nhiệt tình và kiên nhẫn, sau mỗi thất bại lại chuẩn bị cho chiến thắng dường như không thể có được nhưng lại chắc chắn vô cùng. Họ phải thắng! Những con người chẳng là gì cả đó, những người đã đạp đổ vương quyền, cái anh Trubert, kỹ sư quang học tầm thường, cái anh Gamelin, họa sĩ vô danh, không thể chờ đợi sự khoan dung của kẻ thù. Họ chỉ có thể lựa chọn giữa chiến thắng và chết. Do đó họ đầy nhiệt tình và cũng vô cùng thanh thản.   Mời các bạn đón đọc Các Hung Thần Lên Cơn Khát của tác giả Anatole France & Trần Mai Châu (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Isabelle Vỡ Mộng
Mộng và thực, hư cấu và đời thật đã hòa quyện lấy nhau trong đời sống tâm hồn của một thanh niên lý tưởng và đa cảm. Lâu đài Quartfoutche cổ xưa như chốn Đào nguyên, tách biệt với cõi nhân gian rộn ràng đã đổ bóng xuống nỗi cô độc của chàng Lacase. Ở đó, mùi vị của thứ tình ái viễn mơ, sự theo đuổi đam mê đã tự khắc trỗi dậy và cũng tự khắc tàn phai. Một không khí hoang phế gió lộng của thời thanh xuân được André Gide đưa vào trong cuốn tiểu thuyết truyện lồng trong truyện nhuốm u hoài và quyến rũ. *** Bộ sách là kiệt tác văn chương Pháp vừa ra mắt bạn đọc nhân dịp Giáng sinh 2018. “Đứa con đi hoang trở về” (Le retour de l’enfant prodigue, 1907) của tác giả André Gide khởi nguồn cảm hứng từ dụ ngôn Đứa con hoang đàng trong Kinh Thánh Tân ước. Với một sự triển khai đa chiều, André Gide đưa vào đó bốn cuộc đối thoại, như một vở kịch bốn màn, kéo câu chuyện khỏi không gian của bản kinh giáo điều để nối kết với cuộc sống nhân gian vốn dĩ phức tạp. Qua ngôi nhà và khát vọng tự do, chọn lựa phiêu lưu của tuổi trẻ và sự trở về kiếm tìm cứu rỗi nơi một con người đã nếm trải gió bụi lạc lối…, André Gide mở ra các cảnh huống triết lý mà ở đó, có thể mỗi người đọc đều đã từng “nhập vai”. “Vỡ mộng” (Isabelle, 1911) cũng là tác phẩm của André Gide nói về mộng và thực, hư cấu và đời thật đã hòa quyện lấy nhau trong đời sống tâm hồn của một thanh niên lý tưởng và đa cảm. Lâu đài Quartfoutche cổ xưa như chốn Đào nguyên, tách biệt với cõi nhân gian rộn ràng đã đổ bóng xuống nỗi cô độc của chàng Lacase. Ở đó, mùi vị của thứ tình ái viễn mơ, sự theo đuổi đam mê đã tự khắc trỗi dậy và cũng tự khắc tàn phai. Một không khí “hoang phế gió lộng” của thời thanh xuân được André Gide đưa vào trong cuốn tiểu thuyết truyện lồng trong truyện nhuốm u hoài và quyến rũ. “Thư gửi một con tin” (Lettre à un otage, 1943) của Antoine de Saint-Exupéry nói về giá trị tuyệt đối của con người. Từng bay trên những sa mạc, biển cả, đô thị, xuyên biên giới các quốc gia, vùng lãnh thổ, cha đẻ của Hoàng tử bé tiếp tục truyền trao nguồn cảm hứng du hành cùng những chiêm niệm về nhân sinh trong tập sách nhỏ này. Tinh thần tự do, lòng ái quốc, tình bạn, giá trị con người và cả những khuyết tật của văn minh, những biên giới văn hóa được ông trải ra trên các đoản văn đầy thi tính và giàu triết lý. Nhà văn, nhà giáo, dịch giả Bửu Ý nguyên là giảng viên Pháp văn, trưởng khoa ngoại ngữ của Trường đại học Sư phạm Huế. Ông từng được Pháp trao Huân chương Cành cọ hàn lâm. Huân chương cao quý này dành cho những người được xem là cầu nối văn hóa - giáo dục giữa hai nước Việt - Pháp, quảng bá văn hóa Pháp tại Việt Nam và giảng dạy tiếng Pháp... *** André Paul Guillaume Gide (22 tháng 11 năm 1869 – 19 tháng 2 năm 1951) là một trong những nhà văn xuất chúng của thế kỷ 20, người đoạt giải Nobel Văn học năm 1947. Sáng tác đầu tay của ông là cuốn tự truyện Les cahiers d'André Walter (Những cuốn vở của André Walter, 1891) viết bằng thơ và văn xuôi đầy chất thơ, kể về sự giằng xé, giày vò giữa thể xác và tâm hồn và sự tìm kiếm lối thoát trong các hình thái thần bí và thanh cao của tình yêu. Do bị bệnh lao không phải chịu quân dịch, những năm 1893-1894 André Gide du lịch sang Algérie và Tunisia, nơi ông phát hiện ra mình là người đồng tính luyến ái. Thời gian khủng hoảng kéo dài được ghi nhận bởi sự bất ổn tinh thần và những kiếm tìm chân lý thể hiện trong truyện vừa Le Retour de l'Enfant prodigue (Cuộc trở về của đứa con du đãng, 1907). Về mặt phong cách, Gide đã khắc phục lối viết cầu kì ban đầu, đến với một ngôn ngữ giản dị rõ ràng. Năm 1908, ông trở thành người đồng sáng lập Tổng quan mới của nước Pháp, một trong những tạp chí có ảnh hưởng đối với sự phát triển nền văn học Pháp và thế giới. Tiểu thuyết châm biếm Les Caves du Vatican (Những động ngầm dưới Vatican, 1914) đặt vấn đề về sự chấp nhận một cách mê muội những tín ngưỡng và lý tưởng. Năm 1926, tiểu thuyết Les Faux-monnayeurs (Những kẻ làm bạc giả) ra đời mang lại nhiều thành công cho ông, đó là một đóng góp thực sự vào sự phát triển thể loại tiểu thuyết. Một năm sau khi xuất bản truyện vừa Thésée (Theseus, 1946) - mà ông coi như một bức di thư văn học - André Gide được bầu làm Giáo sư Danh dự trường Đại học Oxford và được tặng giải Nobel năm 1947. Năm 1950, André Gide xuất bản tập cuối cùng của bộ Journal (Nhật kí). Ông mất năm 1951 ở Paris. Mời các bạn đón đọc Isabelle Vỡ Mộng của tác giả André Gide & Bửu Ý (dịch).
Evergreen Love: Từ Điển Tranh Về Thực Vật
Evergreen Love – Từ điển tranh về thực vật được chắp bút bởi Hiro Arikawai, nữ nhà văn nổi tiếng Nhật Bản. Phát hành năm 2009, tác phẩm đã nhanh chóng trở thành một trong những cuốn sách bán chạy nhất năm và nhận được nhiều giải thưởng, đề cử văn học. Đặc biệt, Evergreen Love đã được mua bản quyền chuyển thể thành phim điện ảnh vào năm 2016. Ngay trong tuần đầu tiên ra mắt, bộ phim đã đứng nhất phòng vé với doanh thu 3.2 triệu USD. Cuốn tiểu thuyết là câu chuyện về cuộc gặp gỡ kỳ lạ giữa Sayaka và Itsuki. Sayaka làm việc trong một công ty tư vấn nhà đất, tuy nhiên cô lại thường xuyên bị quở trách vì năng lực của bản thân, không những sống một cuộc đời nhàm chán, thảm hại, Sayaka lại không hề khéo léo trong tình yêu nên vẫn còn cô đơn. Một đêm nọ, trên đường trở về nhà, Sayaka bắt gặp Itsuki, một người lạ mặt bất tỉnh ngay trước cửa nhà. Cô đưa anh vào nhà, khi tỉnh dậy, Itsuki bất ngờ xin Sayaka cho anh sống nhờ trong vòng nửa năm. Lạ thay, Sayaka gật đầu đồng ys. Và thế là họ bắt đầu sống chung và dần dần nảy sinh tình cảm với nhau lúc nào chẳng hay. Itsuki như một phép màu được gửi đến cứu rỗi cuộc đời tẻ nhạt của Sayaka. Trong thời gian sống chung, Itsuki luôn nấu ăn cho cô - một người con gái vụng về không hề biết gì về nữ công gia chánh, anh dạy cô cách sử dụng các loại thảo mộc và cỏ dại để nấu nướng. Thế nhưng Itsuki lại giữ trong mình quá nhiều bí ẩn như cách anh xuất hiện trong cuộc đời Sayaka và đột ngột biến mất khỏi cuộc đời cô sau bữa tiệc sinh nhật… Lạc vào thế giới của Evergreen Love, bạn sẽ dễ dàng chìm đắm trong sự ngọt ngào, lãng mạn bởi những “phản ứng hóa học” giữa hai nhân vật chính, sự kì diệu về thế giới của những loài cỏ dại, thảo mộc quanh ta đi cùng với cảm giác tò mò về những bí mật giấu kín của Itsuki… Evergreen Love hứa hẹn sẽ là một tác phẩm lãng mạn tươi mới giúp bạn xóa tan cảm giác oi bức trong hè này. *** Hiro Arikawa   Sinh năm 1972, đến từ Kochi, Nhật Bản. Bà chủ yếu sáng tác thể loại light novel hướng tới đối tượng học sinh trung học. Năm 2003, bà đạt giải thưởng nhà văn mới trong giải thưởng văn học thường niên lần thứ 10 Dengeki Novel Prize với tác phẩm Shio no Machi và được xuất bản sách trong năm 2004. Cuốn tiểu thuyết ăn khách Evergreen Love - Từ điển tranh về thực vật (Shokubutsu Zukan) của bà đã được chuyển thể thành phim điện ảnh vào tháng 6 năm 2016. *** Ngày cô phải ra ngoài cùng trưởng phòng là một ngày giữa mùa hè, cái nắng oi ả chiếu xuống mặt đường nhựa, phả lên từng đợt hơi nóng. Đôi chân của mỗi người đều tự động lựa chọn đi vào vùng bóng của hàng cây hai bên đường. Thế rồi đột nhiên có một bóng trắng nho nhỏ lướt qua khóe mắt cô. Ở bãi đỗ xe bên cạnh một tòa nhà gần đấy có một loại dây leo đang cuốn lên hàng rào chắn. Và bóng trắng nho nhỏ chính là những bông hoa trắng nhỏ xinh của loài dây leo đó. Những bông hoa nhỏ xinh với những cánh hoa trắng xòe rộng tạo hình quả chuông như hoa bách hợp, chính giữa bông hoa lại được điểm thêm bằng màu đỏ đậm. “Ô kìa.” Trưởng phòng cũng nhận ra bóng trắng đó mà ngừng lại. “Thật đẹp quá đi. Chủ ở đây trồng nó sao?” “Không phải đâu trưởng phòng.” Kouno Sayaka lại giội một gáo nước lạnh vào mớ cảm xúc đang dâng trào trong sếp. “Nó là cỏ dại đấy ạ.” “Cỏ dại!!” Trưởng phòng tròn mắt ngạc nhiên. “Thế nhưng nó trông đẹp thế cơ mà.” “Cỏ dại không phải là tên của một loại cỏ cây mà là chỉ chung cho tất cả các loại cỏ. Thiên hoàng Chiêu Hòa đã nói như vậy. Ít nhất thì nó không phải là loại cây cỏ được trồng trong vườn.” Sayaka vô thức nói thêm: “Nó là cây rắm thúi, trong tiếng Nhật gọi là Hekuso kazura.” “Hekuso… thú…?” “Vâng. Nếu vò nát những chiếc lá mọc trên thân dây leo kia thì nó sẽ tỏa ra mùi khó chịu giống như cái tên ấy. Mặc dù dựa theo những bông hoa dễ thương hay những đặc điểm khác thì nó còn được gọi với những tên khác như Saotome kazura nghĩa là cô gái đội nón đang làm ruộng hay Yaitobana vì hoa giống với hình mồi ngải dùng trong chữa bệnh hay xông huyệt, thế nhưng, Hekuso kazura vẫn là cái tên được dùng nhiều nhất.” Nói một tràng dài, Sayaka đột nhiên nhận ra trưởng phòng của mình còn đang ngây người. “Trưởng phòng làm sao thế?” “Không…” Trưởng phòng cười nói: “Chỉ là thấy bất ngờ khi cô còn trẻ vậy mà lại biết được nhiều điều như thế thôi. Đúng rồi, nó là rắm thúi chứ gì…” Thế rồi trưởng phòng lại nói tiếp: “Cái tên này cũng đủ để bị kết tội quấy rối tình dục đấy nhé.” “Không, tôi không có…” Sayaka vội lầm bầm tôi không cố ý hay gì đó. Bản thân cô cũng đã hơn hai mươi mấy rồi, thế nên cô không nghĩ mình cũng được coi là một cô gái trẻ trung gì nữa. Sau khi nói xong, trưởng phòng lại lần nữa ngắm nhìn bông hoa rắm thúi… không, hãy gọi nó là thiếu nữ xinh đẹp đi. “Rõ là bông hoa đẹp thế này cơ mà. Cái tên này làm hỏng hết cả một loài hoa rồi.” Đứng bên cạnh nghe trưởng phòng ca thán, Sayaka lại đang thầm xỉ vả bản thân mình. Ngu ngốc, mày thật ngu ngốc quá đi! Cho dù người ta có thân thiết và không để ý đến đâu đi chăng nữa thì người ta cũng là một người đàn ông đấy! Sao lại có một cô gái mở miệng ra là rắm thúi chứ! Thúi, thúi thúi! Nghe xong trưởng phòng cũng phải chạy xa rồi đấy! Có phải mày không biết các tên khác của nó đâu cơ chứ. Tại sao! Tại sao! Tại sao lại không nói là Yaitobana cơ chứ! Thế nhưng, chuyện mày nhanh nhảu nói ra cái tên thông dụng nhất đấy cũng đâu phải lỗi của mày đâu. Itsuki! Tất cả là tại anh đấy! Sayaka thầm rủa xả anh chàng đã nhồi nhét tên của đủ các loại cây cỏ vào trong đầu cô. Hãy đặt tên cho chàng trai đã rời xa bạn bằng tên của một loài hoa. Và hoa mỗi năm đều sẽ nở. Đại văn hào Kawabata Yasunari đã từng viết như vậy. Ấy thế nhưng trong lòng Sayaka lại cho rằng nó chẳng có gì là lãng mạn hay tình tứ cả. Nếu dùng một từ để nói về câu văn ấy thì đó chính là “ủy mị”. Thêm vào đó, phụ nữ tuyệt đối sẽ không nghĩ nhiều đến thế. Và vốn dĩ cô cũng không nghĩ mình sẽ khắc sâu ký ức về người đàn ông đã chia tay đến mức ấy đâu. Nếu coi trí nhớ của con người là bộ nhớ của một chiếc máy tính thì tình yêu của phụ nữ được lưu lại dưới dạng lưu đè, còn tình yêu của đàn ông lại được lưu lại dưới các file khác nhau. Phụ nữ dù có day dứt, dù có khổ sở đến đâu đi chăng nữa thì khi tình yêu mới xuất hiện, những ký ức về người yêu cũ của họ cũng sẽ phai mờ. Chỉ vì một câu nói ủy mị của ngài mà ba mươi năm sau khi ngài mất, một cô gái vô tội lại đang phải xấu hổ ở đây đây này. Thế nhưng, Sayaka lại thở dài. Cũng không thể nói là cô và người đàn ông đó đã chia tay được. Bởi… Anh ta cứ thế biến mất mà chẳng nói một lời. Mà dù sao giữa cô với anh ta cũng có hứa hẹn gì đâu cơ chứ. “Kouno này, mình đi thôi.” Nghe trưởng phòng cất tiếng gọi, Sayaka vội vàng “vâng” một tiếng rồi đi theo. ✥ Chữ “thụ” trong từ “đại thụ”, đọc là Itsuki. Đó là điều duy nhất về thông tin cá nhân của người đàn ông đó mà Sayaka có thể hỏi được. Lần đầu tiên hai người gặp nhau chính là một đêm cuối đông lạnh giá trước kỳ nghỉ của cô. Tối hôm đó, sau cuộc nhậu, Sayaka vừa vặn bắt kịp chuyến tàu cuối cùng. Trên đường về, cô còn trông thấy cả ánh trăng trong vắt hiếm thấy. Hiện tại, Sayaka đang sống trong một chung cư cũ, phòng của cô có một phòng khách và một phòng bếp, mặc dù khu nhà đã lâu đời nhưng vẫn rất rộng rãi, thoải mái đủ cho cô sống một mình. Chủ nhà trọ hay thích tán chuyện nhưng cũng chưa đến mức ầm ĩ. Vả lại căn nhà đó lại khá gần nhà ga và trước nhà ga lại có một dãy phố mua sắm nhỏ nên có thể nói là trọ ở đấy vô cùng tiện lợi. Sau bữa nhậu, Sayaka đã hơi chếnh choáng say. Cô vừa đi bộ từ nhà ga về vừa ngâm nga một giai điệu yêu thích trong cổ họng. Cô cũng chẳng còn nhớ rõ lời bài hát nữa nên chỉ có thể ngâm nga vài nốt như vậy mà thôi. Thế rồi đến khi gần tới khu nhà trọ, đột nhiên Sayaka nhận ra một thứ. Đó là một chiếc túi rác màu đen to đùng chắn ngay giữa lối đi bộ vốn chỉ vừa một người đi này. Không, chỗ này có phải là bãi rác đâu cơ chứ. Cái túi to như thế kia thì chắc là của công ty, văn phòng nào đó rồi. Chẳng lẽ là người ta lén vứt ra đây? Vừa nghĩ như vậy, Sayaka vừa chậm rãi tiến lại gần. “Oaaaaa!” Một tiếng hét thất thanh vang lên, phá vỡ sự tĩnh lặng của khu phố về đêm, tiếng hét ấy cũng không hợp với một cô gái trẻ chút nào. Hét lên một tiếng, Sayaka vội vàng lùi về sau. Bên trong cái túi ấy… vậy mà lại có một con người. Đó là một người đàn ông tầm tuổi cô đang cuộn tròn trong đó, cùng với một cái ba lô sau lưng. Anh ta ch… chết rồi sao? Nếu là có một xác chết ngay trước nhà trọ thế này thì cô phải báo cảnh sát thôi. Trong con say, Sayaka lấy hết dũng khí duỗi cánh tay về phía trước, dùng ngón tay trỏ của mình khẽ chạm vào má người đàn ông. Còn ấm. Dường như cảm giác được có người đang chạm vào mình, người đàn ông nhẹ nhàng mở mắt ra. Ôi Chúa ơi, anh ta đẹp trai quá đi. “Cái đó…” Sau một hồi bối rối, Sayaka cũng quyết định lên tiếng. “Có chuyện gì với anh vậy?” Người đàn ông chớp đôi mắt còn ngái ngủ đáp: “Tôi bị lả đi.” “Vậy sao anh ở chỗ này?” “Bởi nếu tôi mà ngất ngay ngoài đường thì sẽ bị chết cóng mất.” “Tại sao ở ngoài đường thì sẽ bị chết cóng chứ?” “Nếu nằm thẳng xuống nền nhựa đường, bê tông hay mặt đất thì cơ thể sẽ bị mất nhiệt. Nằm thẳng xuống đất buổi tối không thích hợp để duy trì thân nhiệt cho con người, thế nên ta cần có thứ gì đó ngăn cách ở giữa.” “Thế tại sao anh lại bị lả đi?” “Tôi đói quá. Không thể đi thêm một bước nào nữa.” “Tiền của anh đâu?” “Tôi bây giờ không còn một xu dính túi.” “Hả… đáng thương quá.” Người đàn ông ấy không khiến Sayaka cảm thay phải cảnh giác, thậm chí cô còn ngồi xổm xuống trước mặt anh ta. Ngay lập tức, người đàn ông ấy đặt tay trên đầu gối cô và: “Tiểu thư, liệu cô có thể thu nhận tôi được không?” Nhìn cứ như là một chú chó đang duỗi chân trước chủ vậy. Vừa nhìn bàn tay đặt trên đầu gối mình, Sayaka vừa nghĩ như vậy. Và bất giác, cô lại thốt lên: “Thu nhận… sao lại giống thu nhận mấy con cún ngoài đường vậy chứ?” Nói rồi, Sayaka còn cười khanh khách. Thấy vậy, người đàn ông lại nói tiếp: “Tôi sẽ không cắn người và rất ngoan đấy.” “Đủ rồi đấy.” Giờ nghĩ lại thì chắc hẳn lúc đó cô đã say đến không biết gì rồi. Đế bố mẹ ở quê nghe được chuyện cô đưa một người đàn ông xa lạ về phòng thì họ giết cô mất. Thế nhưng, trông anh ta thực sự là đã đói lả đi rồi, khi về được đến phòng của cô ở tầng một thì anh ta cũng chẳng còn tí hơi sức nào nữa cả. “Anh không sao chứ? Đừng có ngã ra đấy!” Bản thân Sayaka cũng phải đỡ ở một bên rồi nhanh chóng đưa anh ta vào phòng khách của mình. Trước hết phải cho anh ta ăn thứ gì đó mới được. Mặc dù nghĩ vậy, nhưng Sayaka lại là kiểu người không hay nấu ăn ở nhà. Giờ trong nhà cô cũng chỉ có mấy hộp mì ăn liền cô mua trữ sẵn từ trước. Nấu một cốc mì trong ba phút, Sayaka mang ra ngoài cho người đàn ông, ngay lập tức, anh ta đã nhận cốc mì với vẻ biết ơn vô cùng. “Giờ bất cứ thứ gì với tôi đều là món ăn ngon cả.” Anh ta nói một câu thật khó chịu, nhưng xét đến việc anh ta vừa đói đến lả người thì Sayaka lại tạm thời bỏ qua cho lần này. “Anh có đi tắm không?” “A, tuyệt quá. Người tôi đang lạnh cóng rồi.” “Vậy anh cứ ăn trước đi. Tôi đi tắm trước đã.” Giờ nghĩ lại thì hành động lúc đó của cô… cũng chẳng có tí cảnh giác nào cả. Để một người đàn ông xa lạ vào phòng, lại còn để đồ đạc, tài sản ở ngoài như thế mà yên tâm đi tắm nữa chứ. Lúc đi tắm, Sayaka còn nghĩ được là đã uống khá nhiều thì hay là chỉ tắm vòi hoa sen thôi, không cần ngâm mình nữa, nhưng chuyện mà một cô gái trẻ nên nghĩ lúc ấy cũng không phải là chuyện này. May mà “chú cún” mà cô nhặt về đúng là “không cắn người và rất ngoan”, thế nên cuối cùng cũng không có chuyện gì xảy ra. Đợi khi Sayaka ngâm mình xong đi ra ngoài thì chú cún lớn đã quỳ trên sàn, cúi đầu thật sâu với cô. “Cảm ơn vì bữa ăn.” Đúng là anh ta đã quá đói, đến mức anh ta còn uống hết cả nước súp mì nữa. “Xin lỗi vì chỉ có mỗi mì cốc cho anh. Nước nóng thì tôi xả sẵn ra rồi đấy.” “Tôi xin phép mượn một lát.” “Anh có đồ ngủ không?” “Tôi có đồ lót. Còn đi ngủ thì tôi vẫn mặc nguyên mấy bộ thế này” “Vậy sao. Thế thì…” Nửa năm trước Sayaka mới chia tay người yêu. Cô lôi từ trong tủ ra một túi quần áo của người yêu cũ mà lúc trước cô đã nhét xuống tận đáy tủ. Mặc dù lúc đó cô đã phân nó ra thành rác tái chế, thế nhưng cô lại quên mất ngày vứt rác tái chế và cứ thế nhét nó trong tủ cho tới tận bây giờ. (Dù sao thì một tháng cũng chỉ có hai ngày để vứt loại rác này thôi mà.) “Nếu anh không ngại quần áo cũ thì cứ lấy mà dùng. Trong này có nhiều áo phông, áo nỉ lắm, cũng toàn là áo free size cả.” “Cái đó…” Trông Sayaka cũng chẳng có vấn đề gì cả, thế nhưng chú cún ngoan của cô thì lại khá ngại ngùng. “Tôi dùng chúng không sao chứ?” “Không sao đâu. Đây là quần áo của bạn trai cũ đã chia tay cả nửa năm nay rồi. Tôi cũng giặt sạch, gấp gọn chúng rồi mà. Chỉ là để nó bên ngoài hơi vướng nên tôi mới nhét vào trong tủ thôi. Sau đó thì tôi lại quên mất ngày vứt rác tái chế thành ra cứ để cái bọc này ở đây nửa năm rồi. Nó cũng chỉ là bọc quần áo bình thường thôi. Anh không cần phải để ý đâu, chú cún của tôi ạ. Anh mà dùng chúng giúp tôi thì tốt quá ấy chứ?” “Vậy tôi xin cảm ơn cô.” Vừa nói, người đàn ông vừa mở bọc quần áo và lấy một bộ đồ thun ra làm quần áo ngủ, rồi lại lấy đồ lót và bàn chải, khăn mặt trong ba lô của mình ra và đứng dậy đi về phía nhà tắm. “Dầu gội, sữa tắm anh cứ dùng thoải mái, cả khăn tắm nữa. Nhưng nếu anh muốn dùng máy giặt thì để ngày mai nhé. Giờ cũng khá muộn rồi.” “Vâng, cảm ơn cô.” Anh ta đã nói cảm ơn đến ba lần rồi. Và tối hôm đó, trước khi người đàn ông đó tắm xong, Sayaka đã đi về phòng và ngã nhào lên giường. Sáng hôm sau, khi cô thức dậy thì đã thấy mình nằm trong chăn ấm đệm êm rồi. Sao cô không nhớ gì về chuyện mình đã chui vào trong chăn nhỉ. “A, chào buổi sáng. Cô dậy rồi sao?” Nhìn thấy người đàn ông đứng trong bếp, Sayaka bỗng thấy bối rối. Thấy Sayaka như vậy, người đàn ông vội vàng rụt vai lại nói: “Bình tĩnh, cô đừng hét lên nhé. Hôm qua cô đã đồng ý cho tôi ở đây rồi đấy nhé. Nếu cô không nhớ thì tôi sẽ giải thích lại.” Tôi bị lả đi. Liệu cô có thể thu nhận tôi được không? Tôi không cắn người và sẽ ngoan. Lúc này, ký ức tối hôm trước lần lượt ùa về và Sayaka lại phá lên cười. Thấy cô như vậy, người đàn ông cũng thở phào một hơi. “May quá. Tôi còn tưởng sẽ bị đưa lên đồn cảnh sát vì tội đột nhập nhà dân chứ.” “Được rồi, thế anh đang làm gì thế cún con?” “Trước hết cô cứ rửa mặt đi đã. Tôi tỉnh dậy trước nên có mượn nhà tắm của cô một lúc rồi.” Lúc này, Sayaka lại ngửi thấy mùi canh miso thơm nức mũi. “Cơm sáng… trong nhà tôi có thứ gì có thể nấu được cơm sáng sao?” “Mà bất ngờ thật đây, tủ lạnh của cô trống trơn chẳng khác nào tủ lạnh của một người đàn ông độc thân cả. May mà gia vị thì vẫn có. Tôi có mượn chút hành tây và trứng sắp hỏng của cô để nấu ăn.” “Hành!? Tôi có thứ đó ở trong nhà sao?” Trứng thì cô còn nhớ. Khoảng mười ngày trước đột nhiên cô muốn ăn món cơm trứng sống nên đã đi cửa hàng tiện lợi mua một giỏ sáu quả về. Thế nhưng, hành tây thì lần gần đây nhất khi cô mua hành cũng phải từ một tháng trước rồi. “Vần còn một củ héo quắt như thể bị chủ nhà bỏ quên nằm trong một góc. Nó cũng mọc mầm rồi, nhưng vẫn còn dùng được một chút. Nhân tiện, món cá muối Tsukudani của cô để tận trong cùng ấy, thời gian lâu nó chảy nước ra nên tôi vứt nó đi rồi.” “Ngại quá…” Xấu hổ bước xuống giường, Sayaka chợt nhận thấy một chiếc túi ngủ được trải trong phòng khách bên cạnh. “Cái gì thế này? Anh bảo là lả đi mà còn có cả túi ngủ thế này á?” “Thì tôi đói quá, chẳng còn tí sức nào để lôi nó ra khỏi ba lô cả. Tối hôm qua mặc dù chỉ có một cốc mì nhưng ít nhất tôi cũng được cô cho ăn nên mới có sức để kéo chăn đệm giúp cô đấy.” Hóa ra cô được nằm chăn ấm đệm êm ngủ ngay ngắn trên giường hôm qua là nhờ chú cún ngoan này sao? “Cảm ơn, cảm ơn anh…” Sao càng lúc cô càng cảm thấy xấu hổ thế này? Chờ khi Sayaka đánh răng rửa mặt xong thì trên chiếc bàn thấp ở phòng khách đã bày bữa sáng nóng hổi rồi. “Tôi có mượn dùng nồi niêu, bát đũa của cô một chút.” “A vâng, anh cứ dùng tự nhiên.” Vừa nói, Sayaka vừa ngồi xuống chỗ mà người đàn ông kia chỉ. Còn anh ta đang ngồi ở ghế gần bếp nhất. Nhìn thấy cảnh này, Sayaka lại có cảm giác giống như một bầu không khí gia đình vậy. Mời các bạn đón đọc Evergreen Love: Từ Điển Tranh Về Thực Vật của tác giả Hiro Arikawa & Như Nữ (dịch).
Đẹp
Tác phẩm Tự lực văn đoàn đều chĩa mũi nhọn đả kích lễ giáo phong kiến và nếp sống đại gia đình phong kiến với những tác phẩm như: “Nửa chừng xuân”, “Đoạn tuyệt”, “Lạnh lùng”, “Đôi bạn”, “Gia đình”, “Thoát ly”,…. Họ hô hào giải phóng phụ nữ khỏi cảnh mẹ chồng nàng dâu, cảnh thủ tiết của những người phụ nữ trẻ góa bụa, đòi quyền hạnh phúc của đôi lứa yêu nhau. *** “Đẹp”(1940) là tiểu thuyết áp chót cuối đời của Khái Hưng, trụ cột nhóm Tự Lực Văn Đoàn lừng lẫy một thời. “Đẹp” đúng như cái tên của nó, mô tả một thế giới đặc biệt nơi nghệ thuật trở thành một vị thần để tôn thờ, một điểm tựa tinh thần và tình yêu cho giới nghệ sĩ đương thời bên thềm cuộc đại chiến thế giới lần 2 và phong trào cách mạng vô sản đang sục sôi khắp cả nước. Nhưng song hành với đó là tình trạng sống vô phương, bê tha và vị kỉ không có thuốc chữa của những tín đồ “nghệ thuật vị nghệ thuật” mù quáng này. Trung tâm câu chuyện là mối tình giữa họa sĩ Nam và Lan, con gái một người bạn của anh. Một tình yêu trên danh nghĩa nghệ thuật hiếm có trên đời. Nếu quan hệ giữa Humbert và Lolita được gọi bằng căn bệnh ái nhi, tức là sự mê đắm dục vọng vô độ, thì Nam lại là một phiên bản Humbert lý trí và đứng đắn hơn, anh khao khát có được trái tim Lan, nhưng không phải bằng sự chiếm đoạt, mà nhờ sự đan chéo giữa tâm hồn lãng mạn và lòng yêu nghệ thuật của hai người. Lolita là thánh nữ trong lòng Humbert, và Lan cũng vậy. Nam bị ám ảnh bởi vẻ đẹp thanh thuần của cô bé tuổi dậy thì, anh đóng khung cái lần đầu gặp mặt đó như một niềm cảm hứng nghệ thuật mãi mãi trọn đời mãi không thể quên. Đó là bức họa của kỉ niệm! Một bức họa lưu giữ tuổi xuân vĩnh viễn! Hai người “nghệ sỹ” đó đã cùng bước vào thế giới của nhau qua những rung động đẹp đẽ và kì lạ nhất. Nhưng sự lãng mạn của họ chỉ giữ trong khoảnh khắc đó thôi, chỉ đóng đinh trong bức tranh vô tri đó như tấm chân dung Dorian của Wilde. Một đám cưới chóng vánh đã kết thúc tất cả. Hai kẻ mơ mộng trở về với bản tính trần trụi nhất: ảo tưởng, phóng túng và ích kỉ. Chẳng còn gì ở lại ngoài những tổn thương, những cuộc cãi vã và một giấc mộng đẹp đã vỡ tan tành! “Đẹp” được ví như tấm gương phản chiếu một lịch sử thăng trầm của phong trào Thơ Mới những năm 1930s, từ thai nghén trong nền giáo dục tân tiến, đến cách mạng và dấu hiệu suy đồi. Ở “Đẹp”, độc giả bắt gặp những hình ảnh ấn tượng về quá trình vươn lên của những cô cậu sinh viên ưu tú với khao khát làm rạng danh đất nước qua con đường cách mạng nghệ thuật chân chính, và về một tình yêu dám bước qua ranh giới. Nhưng khi đạt được nó, họ lại bị rập khuôn theo tư tưởng “nghệ thuật vị nghệ thuật” của riêng mình, mất đi lý tưởng sống, trở nên thiếu trách nhiệm trước cuộc đời và tình yêu. Họ chấp nhận buông thả trong khoái lạc như một căn bệnh nan y không giải được. Điều đó cũng lý giải phần nào sự bế tắc và tan rã của nhóm Tự Lực trước Cách Mạng. *** Khái Hưng tên thật là Trần Khánh Giư. Bút danh Khái Hưng được hình thành khi ông dùng phép đảo chữ để sắp xếp lại các chữ cái trong tên thật Khánh Giư. Là một trong những cây bút chính của nhóm, tiểu thuyết đầu tay của Khái Hưng Hồn bướm mơ tiên (1933) là tiểu thuyết đầu tiên của Tự Lực Văn Đoàn. Giống như các tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn khác, tác phẩm của Khái Hưng thường đề cao tình yêu tự do, chống lại các lễ giáo phong kiến, ít nhiều mang tính cải cách xã hội.. Mời các bạn đón đọc Đẹp của tác giả Khái Hưng.
Cảm Giác Hygge - Về Ánh Sáng, Sự Ấm Áp Và Những Điều Bí Mật
Hooga? Hhyooguh? Heurgh? Dù bạn chọn phát âm (hay thậm chí đánh vần) từ hygge theo cách nào thì cũng không quan trọng. Giống như Winnie-the-Pooh từng nói về hạnh phúc: “Cậu không đánh vần được nó. Cậu cảm nhận nó.” Không ngẫu nhiên mà Cảm giác HYGGE trở thành hiện tượng xuất bản trên thế giới và liên tục là best seller. Bởi Meik Wiking đã cho thấy, hygge không phải thứ “nguyên liệu” bí mật chỉ người Đan Mạch mới có. Bạn hoàn toàn có thể tìm thấy hygge để cho vào công thức hạnh phúc của chính mình. Hành trình tìm kiếm hygge chính là hành trình khám phá ánh sáng, sự ấm áp, và kết nối. Cốt lõi của hygge không phụ thuộc vào vật chất, mà là không khí và trải nghiệm. Đó là cảm giác được ở cạnh những người ta yêu mến. Cảm giác được trở về nhà. Cảm giác thoải mái và an toàn ở chốn thân thuộc, pha một cốc cà phê ấm nóng, nằm cuộn tròn trong chăn.Vậy nên, (có thể) bạn không đánh vần được hygge. Nhưng bạn hoàn toàn cảm nhận được nó. *** [Review Sách] “Cảm Giác Hygge”: Cẩm Nang Hạnh Phúc và Những Điều Bí Mật Khác Cảm giác Hygge của Meik Wiking đã phác họa cho chúng ta hạnh phúc là gì và những điều bí mật khác của quốc gia hạnh phúc nhất thế giới -Đan Mạch. Không ngẫu nhiên mà Cảm giác Hygge trở thành một hiện tượng xuất bản trên thế giới, tác giả cho thấy rằng hygge không phải là điều người Đan Mạch mới có. Bạn cũng có thể tìm thấy hygge để cho vào công thức hạnh phúc của chính mình. *Về tác giả Meik Wiking là CEO của Viện Nghiên Cứu Hạnh Phúc (Happiness Research Institute), một tổ chức độc lập  chú trọng vào sức khỏe, hạnh phúc và chất lượng cuộc sống của con người. Ngoài việc nghiên cứu về khoa học chính trị, ông còn viết lách, thích chụp ảnh và chơi thể thao. /HYGGE BẮT NGUỒN TỪ ĐÂU?/ Hygge xuất hiện đầu tiên trong chữ viết Đan Mạch vào đầu thế kỷ 19, nhưng thực chất nó bắt nguồn từ tiếng Na Uy. Hygge chúng ta có thể phát âm là /hooga/, không phải là /hy-gee/ nhé. Từ gốc hygge trong tiếng Na Uy có nghĩa là hạnh phúc. Tuy nhiên, theo nghĩa gần nhất thì hygge có nghĩa là hug (ôm). Theo một vài nghiên cứu, thì hygge lại bắt nguồn từ hygga (tiếng Bắc Âu cổ), từ này lại bắt nguồn từ hugr (tâm trạng). Hugr lại xuất phát từ một tiếng Đức có nghĩa là “suy nghĩ, cân nhắc”. Thú vị thay, những yếu tố “ tâm trạng”, “ôm”, “hạnh phúc” là những từ dùng để mô tả những yếu tố hygge như ngày nay. Hygge được hiểu là sự ấm áp, hạnh phúc và gần gũi đối với điều bình dị nhất trong cuộc sống. Một buổi tối cùng quây quần bên bếp lửa cùng với gia đình và những người ta yêu thương đã là hygge rồi. /CHÚNG TA BÀN GÌ VỀ HYGGE?/ Với phong cách sống của Đan Mạch, yếu tố ấm áp là điều không thể thiếu trong bất cứ gia đình nào. Sau đây chúng ta  sẽ cùng lướt qua một số yếu tố đặc trưng chỉ có Đan Mạch mới có thôi nhé. 1/ÁNH SÁNG Vì là một quốc gia có mùa đông kéo dài, bầu trời lúc nào cũng chìm trong bóng tối thì việc tối đa việc hấp thụ ánh sáng vào nhà là một điều vô cùng quan trọng. Ánh sáng ở đây có thể được hiểu là ánh sáng dịu nhẹ và ấm áp như ánh sáng của hoàng hôn. Đan Mạch là quốc gia sử dụng nến nhiều nhất trên thế giới. Vì yêu thích sự ấm áp nên họ thường dùng nến trong tất cả những ngày trong tuần, một ngọn nến nhỏ trên bàn ăn vào buổi tối cũng đủ làm bừng sáng cả không gian ngôi nhà. Điều đặc biệt là vào tháng 12 (Giáng sinh), đây là thời điểm nến được tiêu thụ gấp ba lần bình thường. Nến sử dụng cho thời gian này được gọi là nến Mùa Vọng. Loại nến này thường được đánh dấu bằng 24 dòng kẻ, mỗi dòng tượng trưng cho một ngày trước Giáng sinh. *Mùa Vọng: là khoảng thời gian 4 tuần trước ngày Giáng sinh, thường kéo dài từ 22-28 ngày, và có 4 ngày Chủ Nhật tính từ trước ngày lễ Giáng sinh. 2/ĐỒ ĂN VÀ THỨC UỐNG Phong cách Hygge khi bàn đến đồ ăn và thức uống thì đồ ngọt, cà phê và thịt là ba món thực phẩm không thể thiếu ở đất nước hạnh phúc nhất thế giới này. Đan Mạch nổi tiếng nhất thế giới về lượng tiêu thụ đồ ngọt, chỉ đứng sau Phần Lan. Trung bình một người Đan Mạch tiêu thụ 8.2kg đồ ngọt mỗi năm. Đồ ngọt ở đây có thể được hiểu là bánh kẹo, bánh ngọt, hay “người bánh” (món đặc sản của họ dành cho việc tổ chức sinh nhật cho trẻ con). Ngoài ra, người Đan Mạch còn yêu thích các loại đồ uống nóng như: trà, sô cô la nóng hay rượu vang nóng. Tuy nhiên, thức uống yêu thích nhất của họ là cà phê. Trong tiếng Đan Mạch, họ gọi là kaffehygge ( vừa cà phê vừa hygge) ở khắp nơi với bạn bè hay người thân của họ. 3/TRANG PHỤC Hygge trong cách ăn vận của người Đan Mạch cũng rất đơn giản, thanh lịch và tinh tế. Có một điều đặc biệt là người Đan Mạch thường rất thích mặc đồ màu đen, mang khăn choàng và mặc áo nhiều lớp (hay còn gọi là layer). Vì đặc tính thời tiết lạnh giá, chính vì vậy sẽ không hygge chút nào nếu không có một chiếc áo len hay một đôi tất dày để sưởi ấm cơ thể trong những ngày đông giá rét. 4/TƯƠNG TÁC XÃ HỘI Các mối quan hệ xã hội với bạn bè hay những người xung quanh cũng chú trọng yếu tố hygge này. Họ đề cao sự tôn trọng và sự gần gũi bên nhau, chia sẻ những câu chuyện ý nghĩa cùng nhau. Tuy nhiên, có một thách thức đối với những người mới chuyển sang sinh sống tại Đan Mạch thì rất khó cho họ để kết thân với một người bản xứ nào đó. Vòng tròn quan hệ của người Đan Mạch thường rất bền chặt, vì vậy sẽ rất khó để họ có thể mời ai đó vào cộng đồng của mình. Điều này cần thời gian, nhưng nếu bạn đã là bạn của họ, thì mối quan hệ ấy sẽ rất lâu bền đấy. Vậy tại sao hygge lại khiến cho người dân nơi đây lại cảm thấy hạnh phúc như thế? /NGHIỆN HYGGE/ Khi nhắc đến hygge, chúng ta sẽ nghĩ đến cảm giác hạnh phúc và ấm áp. Bạn không thể mua được hạnh phúc, nhưng bạn có thể mua bánh ngọt- và hai điều này gần như giống hệt nhau, ít nhất đó là những gì não bộ nghĩ. Như đã thảo luận trước đó, người Đan Mạch rất ưa chuộng đồ ngọt, đặc biệt là bánh ngọt. Khi bạn chọn một miếng bánh yêu thích, cảm giác hưng phấn sẽ lan tỏa khắp cơ thể bạn. Đã bao giờ bạn nghĩ vì sao bạn lại cảm thấy vui vẻ như vậy khi ăn đồ ngọt chưa? Ở cơ sở não trước có một vùng gọi là trung tâm tận hưởng (cucleus accumbens). Đây là một phần của hệ thống khen thưởng của não bộ, và có vai trò quan trọng trong việc tạo động lực, cảm giác thỏa mãn và sự tăng cường. Khi làm những việc có tính chất khen thưởng, não bộ giải phóng một chất hóa học và chất tín hiệu dopamine (hóc môn hạnh phúc) được kích hoạt.  Gần vị trí của vùng trung tâm tận hưởng là khu vực các tế bào thần kinh, nơi các hóc môn dopamine được giải phóng trong những tình huống khen thưởng. Khi dopamine được vận chuyển từ sợi thần kinh đến những cơ quan cảm giác ở một số phần khác nhau của bộ não, ta trải nghiệm cảm giác sung sướng và thỏa mãn. Các hoạt động tình dục, hay ăn uống đều có tác động đến hệ thống khen thưởng này. Chính vì vậy, chúng ta liên kết một loại thực phẩm nào đó với cảm giác thỏa mãn, điều này khiến chúng ta ăn nhiều hơn. Do đó, khi nhắc đến hygge, việc bạn cảm thấy vui sướng và hạnh phúc khi ăn một miếng bánh ngọt là một cảm giác bình thường và dễ hiểu. /TẠI SAO ĐAN MẠCH LÀ QUỐC GIA HẠNH PHÚC NHẤT THẾ GIỚI/ Có nhiều yếu tố để xem xét, tuy nhiên chúng ta sẽ cùng nhau một vài yếu tố nổi bật. 1/XE ĐẠP VÀ HẠNH PHÚC/ Đan Mạch là một quốc gia có sự đầu tư mạnh mẽ về cơ sở hạ tầng cho người đi xe đạp. Tại thủ đô Copenhagen, 45% cư dân, học sinh hay người đi làm đều đạp xe đến chỗ làm và trường học. Không chỉ thuận tiện, đạp xe đạp còn là một hoạt động mang tính thân thiện với môi trường và cũng là một cách dễ dàng để vận động cơ thể hằng ngày. Theo nghiên cứu, những người đạp xe đạp sẽ hạnh phúc hơn những người đi xe ô tô. Đạp xe không những giúp ích cho cá nhân, cho sức khỏe và hạnh phúc của mỗi người, nó còn là một chỉ số để đánh giá mức độ ý thức cộng đồng. Ở Đan Mạch, đạp xe sẽ giúp cho họ kết nối nhiều với mọi người hơn, mở rộng mối quan hệ và tin tưởng người khác nhiều hơn, vì đạp xe cùng một ai đó xa lạ cũng thú vị mà. 2/CÁC MỐI QUAN HỆ XÃ HỘI/ Nói đến hạnh phúc thì ngoại trừ GDP, sự tự do và chính sách quản lý của nhà nước ra thì các mối quan hệ xã hội đóng vai trò quan trọng, góp phần tạo nên chỉ số hạnh phúc cao ở Đan Mạch. Điều này được hiểu đơn giản là: Liệu một người có thể trông chờ hay tìm kiếm sự sẻ chia khi họ cần hay không? Đây không phải là cách tốt nhất để đánh giá hệ thống hỗ trợ xã hội, tuy nhiên đây là số liệu chúng ta có thể thấy rõ ở tất cả những quốc gia được nhắc đến trong Báo Cáo Hạnh Phúc Thế Giới. Người Đan Mạch luôn chú trọng sự cân bằng trong công việc và cuộc sống của họ. Sau những bộn bề trong công việc, gia đình và những mối quan hệ bạn bè thân thuộc sẽ được họ ưu tiên hàng đầu. Họ không dành quá nhiều thời gian cho công việc mà bỏ quên những quan trọng trước mắt. Các mối quan hệ xã hội và chỉ số hạnh phúc có sự liên quan mạnh mẽ lẫn nhau. Khi chúng ta có cảm giác thuộc về ai đó hoặc là cảm giác được chia sẻ và trân trọng thì hạnh phúc sẽ luôn nằm trong tay bạn. Điều này được kiểm chứng trong mô hình biểu đồ kim tự tháp thể hiện nhu cầu của con người do nhà tâm lý học người Mỹ gốc Nga Abraham Maslow  phát triển. Nếu các nhu cầu mang tính sinh lý: thực phẩm, giấc ngủ, và cảm giác được che chở không được đáp ứng, chúng ta sẽ khó đạt được hạnh phúc. 3/TẬN HƯỞNG HIỆN TẠI & LÒNG BIẾT ƠN/ Cảm giác hygge là việc bạn tận hưởng những khoảnh khắc bình dị đời thường mỗi ngày. Sống cho hiện tại là cách người Đan Mạch vẫn luôn theo đuổi, họ tận hưởng những giây phút ý nghĩa bên gia đình, người thân của mình. Yếu tố quyết định mỗi ngày của họ đều là một ngày ý nghĩa đó là cảm xúc trong ngày. Việc bạn có cảm xúc tích cực hay tiêu cực về một ngày của mình sẽ quyết định bạn hạnh phúc như thế nào. Với một tâm trạng vui vẻ và thoải mái, thì không ngạc nhiên khi chúng ta thấy được đây là quốc gia hạnh phúc nhất thế giới. Ngoài ra, người Đan Mạch còn có thói quen ghi “nhật ký biết ơn” trong ngày. Hay nói cách khác, họ ghi chép lại những việc họ cảm thấy ý nghĩa và biết ơn hằng ngày. Chính từ lòng biết ơn này, họ trân trọng những gì mình có, sống hết mình và tận hưởng những niềm vui nhỏ bé và giản dị. Theo Robert A. Emmons, giáo sư ngành Tâm lý học của Đại học California cho rằng, những người cảm thấy biết ơn thường không chỉ hạnh phúc hơn mà còn có ích hơn, vị tha hơn và ít thực dụng hơn. Họ dễ dàng vượt qua những nghịch cảnh và hồi phục nhanh hơn sau tổn thương. /”BỘ SƠ CỨU” HYGGE/ Khi nhắc đến cảm giác hạnh phúc và ấm áp, danh sách dưới đây sẽ mang đến cho bạn một chút cảm hứng. “Bộ sơ cứu” này sẽ được sử dụng khi bạn cạn kiệt năng lượng và không muốn ra ngoài. Hay nói cách khác, bạn chỉ muốn ở một mình và tận hưởng trong không gian cá nhân của mình. Nến Một ít sôcôla hảo hạng Mứt Trà yêu thích Cuốn sách yêu thích Sổ tay Một tấm chăn ấm áp Một đôi tất len dễ chịu Bộ sưu tập những bức thư yêu thích Âm nhạc Khăn choàng Với những vật dụng như trên, bạn cũng có thể tạo cho một mình một không gian hyggelige (cảm giác hygge) hơn bao giờ hết. Còn gì tuyệt vời hơn khi nhâm nhi tách trà yêu thích trên chiếc ghế sofa, nghe những bản nhạc du dương và ngắm nhìn ra cửa sổ trong một buổi chiều mưa? /HYGGE WISHLIST:10 ĐIỀU KHIẾN CHO NGÔI NHÀ CỦA BẠN HYGGELIG HƠN/- THEO PHONG CÁCH ĐAN MẠCH 1/HYGGEKROG Hyggekrog có thể tạm dịch là “góc ẩn náu”. Đây là một góc trong phòng, nơi bạn thích được chui vào chăn cùng một cuốn sách, và một tách trà. Thường thì phong cách thiết kế của người Đan Mạch rất chú trọng vào nội thất sao cho ngôi nhà mang lại cảm giác hygge nhất có thể. Chốn hyggrekrog thường là sẽ ở cạnh cửa sổ, tuy nhiên không nhất thiết là phải như vậy. Hyggekrog có thể là một nơi có ánh sáng ấm áp, dịu nhẹ, cùng với chăn và gối, nơi bạn có thể thưởng thức trà và đọc một quyển sách yêu thích đã là quá hygge rồi. 2/ LÒ SƯỞI Lò sưởi là trái tim của hygge. Đây là nơi mọi người có thể ngồi cùng nhau thư giãn, tận hưởng những khoảnh khắc cùng gia đình và người thân. Chính cảm giác này lại mang đến sự ấm áp và cảm giác gần gũi cho tất cả mọi người. 3/ NẾN Như chúng ta đã biết, nếu không có nến thì sẽ không có hygge. 4/ NHỮNG THỨ LÀM TỪ GỖ Những nguyên liệu được làm từ gỗ luôn luôn mang lại cho người Đan Mạch một cảm giác đặc biệt. Gỗ khiến ta gần gũi hơn với thiên nhiên hơn. Các vật dụng làm bằng gỗ phổ biến như đồ chơi trẻ em bằng gỗ, một chiếc tủ gỗ, hay mặt sàn gỗ cũng đủ khiến cho chúng ta hygge rồi. 5/ THIÊN NHIÊN Ngoài gỗ ra, thiên nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc tạo cảm giác hygge. Điều này hoàn toàn đúng khi nói đến những thiết kế nội thất, trang trí nhà cửa bằng những chậu cây xanh, một nhánh cây khô, lá cây, thậm chí là hạt cũng được người Đan Mạch mang vào nhà để làm vật trang trí. 6/ CHĂN & GỐI Chăn và gối là hai thứ nhất-thiết-phải-có trong bất cứ gia đình hygge nào, đặc biệt là trong những ngày đông lạnh giá. Cảm giác trùm lên một chiếc khăn thật là hyggelige đúng không nào? Vì văn hóa Bắc Âu yêu thích sự ấm áp và gần gũi, chính vì vậy có một vài chiếc gối trong nhà luôn là một ưu tiên hàng đầu. Còn gì tuyệt vời hơn việc dựa đầu lên một chiếc gối êm ái khi đọc cuốn sách yêu thích kia chứ?  7/ SÁCH Sách đóng vai trò quan trọng trong việc tạo cảm giác bình yên và ấm áp trong bất cứ gia đình hygge nào. Vào những ngày cuối tuần, người Đan Mạch thường dành thời gian gia đình và bản thân. Ngồi nhâm nhi tách trà và đọc một quyển sách hay thì còn gì tuyệt vời bằng. 8/ ĐỒ GỐM Một tách trà xinh xắn, một lọ hoa đơn giản trên bàn ăn, chiếc cốc yêu thích mà bạn hay dùng- tất cả đều hyggelig. 9/ ĐỒ VINTAGE Văn hóa Bắc Âu luôn nâng niu và giữ gìn những món đồ truyền thống. Họ yêu thích những món đồ cổ hay đồ vintage. Những đồ vật không đơn thuần là những vật dụng vô tri vô giác, mà chúng chứa đựng giá trị cảm xúc và câu chuyện riêng của mình. Chỉ cần chúng lưu giữ kỷ niệm và là những vật dụng truyền thống cũng đủ mang lại cảm giác ấm áp rồi. 10/ CẢM NHẬN BẰNG XÚC GIÁC Khi nói đến những cảm nhận bằng xúc giác thì chúng ta đang ám chỉ không chỉ là vẻ bề ngoài, mà còn là cảm giác với đồ vật nữa.  Để những ngón tay lướt qua những bộ lông cừu, hoặc một chiếc bàn gỗ lúc nào cũng có sự khác biệt so với những bề mặt thủy tinh hay nhựa. Vì vậy, hãy thử cảm nhận những cái chạm trong ngôi nhà của chính mình nhé. Lời kết Hành trình tìm kiếm hygge là hành trình khám phá ánh sáng, sự ấm áp và sự kết nối. Nó không phụ thuộc vào vật chất, mà liên quan đến không khí và trải nghiệm. Đó là cảm giác bên cạnh những người ta yêu mến, cảm giác an toàn và thân thuộc khi ở một nơi thân thuộc. Tuy bạn không thể đánh vần được hygge, nhưng bạn có thể cảm nhận nó. Hãy tự tạo cho mình cảm giác hygge trong bất kì hoàn cảnh nào nhé. Review chi tiết bởi: Tuyết Sơn- Bookademy Hình ảnh: Tuyết Sơn ----------------------------   Mời các bạn đón đọc Cảm Giác Hygge - Về Ánh Sáng, Sự Ấm Áp Và Những Điều Bí Mật của tác giả Meik Wiking & Thùy Chi (dịch).