Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Lạc Lối Về

(Bản Việt ngữ này được dịch từ bản tiếng Pháp Rentrez chez vous, Bogner! của André Starcky, Le Seuil ấn hành, 1954. Nguyên bản tiếng Đức: Und Sagte Kein Einziges Wort, ấn hành 1953.) Lạc lối về là câu chuyện về một ngày đời của một con người sau chiến tranh. Là tiếng nói cất lên trên hoang tàn đổ nát làm rung động lòng người Tiểu thuyết Lạc lối về kể lạimột ngày của một người đàn ông mà chiến tranh đã làm cho “gãy cánh”, phải rời bỏ vợ con mà anh yêu nhất đời vì không thể chịu nổi cảnh cùng cực, để lại buồn chán hơn trong mùi vị đắng chát của sự nghèo khổ cùng ký ức hãi hùng của chiến tranh. Ngoài những công việc hằng ngày để kiếm tiền gửi cho vợ con, anh lang thang qua các công viên hẻo lánh, các khoảng đất trống, vào các quán rượu để say với nỗi buồn, vào nghĩa trang để trò chuyện cùng người chết. Anh hẹn với vợ trong một khách sạn như một tình nhân lén lút, một bóng hình yêu thương nhưng chưa hiện hữu bao giờ, một tâm hồn gần gũi đồng thời xa lạ, đêm đêm vẫn khóc thầm vì anh, vì con cái, vì cảnh đời cơ cực nhẫn tâm. Anh có còn nhận ra nàng? Hay nàng chỉ là hình ảnh của một quá khứ mà ý thức khốn khổ của anh (hay đúng hơn là vô thức khốn khổ) muốn phủ nhận một cách vô vọng? Cuối cùng, “trở về” vẫn là sự lựa chọn dũng cảm nhất của con người, lựa chọn tương lai bắt đầu từ một thái độ chấp nhận sáng suốt thực tại đổ vỡ, kết thúc những bước đường lang thang, lạc lối. Sự lạc lối và trở về của nhân vật chính phải chăng cũng chính là thông điệp của Heinrich Böll về tình trạng suy tàn hậu chiến để đối diện mất mát, kiến tạo lại từ đầu những giá trị nền tảng trong cuộc sống. VỀ TÁC GIẢ Heinrich Böll, tên đầy đủ: Heinrich Theodor Böll (1917 – 1985) Là nhà văn Đức quan trọng bậc nhất sau Thế chiến thứ hai. Tác phẩm của ông được thể hiện sinh động bằng ngòi bút chân thực và đầy tính nhân văn về cuộc sống con người trong thế giới hoang tàn của chiến tranh, ở đó, họ biết yêu thương, phản kháng, biết can đảm nhìn thẳng vào định mệnh để vượt qua nó. Ông được trao giải Nobel Văn học năm 1972. Những tác phẩm nổi bật của Heinrich Theodor Böll gồm: Der Zug war pünktlich (Chuyến tàu đến đúng giờ, 1949) Wo warst du, Adam? (Người ở đâu, Adam?, 1951) Und sagte kein einziges Wort (Và đã không nói một lời duy nhất, 1953), Haus ohne Hüter (Ngôi nhà không người chăm nom, 1954) Gruppenbild mit Dame (Bức chân dung tập thể với một quý bà, 1971) Frauen vor Flusslandschaft (Phụ nữ trên miền sông nước, 1985) VỀ DỊCH GIẢ Huỳnh Phan Anh Tên thật: Huỳnh Thành Tâm, sinh 1940 tại Bình Dương.  Học ĐH Sư phạm, ngành Triết học tại Viện Đại học Đà Lạt (1960-1964), sau đó trở thành giáo sư dạy Triết, một cây bút truyện ngắn, tiểu luận phê bình và dịch thuật. Các dịch phẩm:   Một mùa địa ngục (thơ Arthur Rimbaud) Tuyển thơ tình yêu (thơ Paul Eluard) Thơ Yves Bonnefoy Chuông gọi hồn ai (Ernest Hemingway) Sa mạc (tiểu thuyết J.M.G Le Clézio) Tình yêu và tuổi trẻ (tiểu thuyết Valery Larbaud) Bãi hoang (Jean-René Huguenin) *** Bữa rồi vừa đọc xong Đứa con đi hoang trở về của André Gide thấy quyết định trở về của gã trai trẻ sao mà dễ dàng đến thế? Cho tới khi đọc Lạc lối về thì mình nhận ra rằng, để đi đến quyết định dễ dàng ấy, người ta đã phải lạc lối biết bao nhiêu, đau khổ biết bao nhiêu,… Vì thế mình càng thấy thấm câu dạy của ông bà mình: Đánh kẻ chạy đi không ai đánh người chạy lại. Một khi ai đó đã cất bước ra đi, họ phải có lý do cho điều đó. Và khi họ trở về thì cũng sẽ có lý do. Cho nên điều mà những người ở lại cần làm là dang tay đón nhận họ. Vì bản thân họ đã tổn thương và lạc lối nhiều lắm rồi.   Có bạn kia nói Lạc lối về của Heinrich Böll buồn bã và thẳng thắn về cái nghèo, cảm giác như đọc Nam Cao (với nhiều rượu, cà phê và đồ ăn tây hơn, ví dụ cảnh đi vay tiền). Còn mình thì thấy giống Trần Dần (Những ngã tư và những cột đèn) hơn. Cái bi kịch của những người đàn ông tham chiến và hậu chiến nó dằn xé không chỉ bản thân họ mà còn cả những người thân bên cạnh họ rất rất nhiều.  Ngày trở về với đời sống gia đình – vợ con – của người lính là nhà cửa không còn, cái nghèo lấn chiếm vào từng ngõ ngách cuộc đời, cộng với những ký ức kinh hoàng của chiến tranh đã khiến cho anh – người lính ấy bị “gãy cánh” và lạc lối. Anh chọn cách lang thang, bợ đỡ rượu – thuốc và lề đường. Bi kịch nhất là phải dan díu với chính vợ mình như thể người xa lạ ở một khách sạn bình dân rẻ tiền. Đọc tới đoạn này mình mới thấm câu hát đang được hot trend những ngày gần đây: “Nhiều khi muốn một mình nhưng sợ cô đơn Sợ cảm giác trống vắng mỗi ngày mỗi lớn Sợ chạm vào nỗi nhớ vu vơ Gian gian díu díu mập mờ Nắm chưa xong đã vội đổ vỡ…” Tình cờ mình vừa đọc được bài thơ “Và vợ người lính nhận được gì?” – Bertolt Brecht.  Bài thơ bắt đầu bằng câu hỏi “Và vợ người lính nhận được gì” từ một thành phố mà người lính chiến đấu, sau đó là câu trả lời: đôi giày cao gót, chiếc áo vải lanh, cổ áo lông thú…, và kết thúc bằng câu “Nàng nhận được nó từ [thành phố trên kia].”  Người lính trong bài là một người lính Nazi. Y đi chiến đấu khắp nơi và mang về cho vợ những “món quà” mà y cướp được. Và “món quà” cuối cùng, là cái chết của y ở Nga, thời điểm bài thơ cho thấy đó là trận Stalingrad…. Về nội dung thì người vợ trong bài thơ này và người vợ trong câu chuyện Lạc lối về không giống nhau. Nhưng cái mình muốn nói là nghĩa bóng của câu hỏi tu từ “Và vợ người lính nhận được gì?”. Kate trong Lạc lối về nhận được sự nghèo khó, khinh khi; cô nhận được sự chia lìa, xa cách với chồng. Cô phải chăm những đứa con, phải nhìn chúng lớn trong nghèo khổ, phải thấy mình già đi mà không thể thay đổi được điều gì. Fred lạc lối trong đống đổ nát của tâm hồn người lính tham chiến cuộc chiến vô nghĩa, còn Kate lạc lối trong tâm hồn ngày một trống rỗng do Fred đập phá từng giờ từng khắc. Đọc Lạc lối về có cảm giác chiến tranh chưa khi nào chấm dứt, nó vẫn âm thầm tồn tại, xé tan hoang cái bình yên trong mỗi con người, từng mối quan hệ. Chiến tranh không chỉ tồn tại ở tiếng bom đạn, tiếng súng. Chiến tranh làm người ta héo mòn dần vì không biết đến ngày mai, nhưng hậu chiến, sau những giờ nhàm chán trong sự căng thẳng, người ta lại tàn úa cả cách trở về đời sống trước kia, bởi người ta đã chết trên những mặt trận vô bổ, người ta không còn cùng một tiếng nói – một quan điểm – cái nhìn với những người ở cách xa mặt trận ấy.    “Trong chiến tranh anh say vì buồn chán. Em không thể tưởng tượng người ta say vì buồn chán ra làm sao; sau đó người ta nằm trên giường và tất cả quay cuồng trước mắt. Em cứ thử uống ba gàu nước ấm, nước cũng làm em say mèm như sự buồn chán vậy. Và chiến tranh thì buồn chán không thể tưởng tượng được”.   Để có thêm góc nhìn và nhiều cảm xúc khác về những con người hậu chiến, xin mời bạn đọc thêm Những thứ họ mang của Tim O’Brien. Còn mình thì đang đọc Ký ức lạc loài của W.G. Sebald – một tác phẩm buồn hơn cả chữ buồn khác về những mảnh đời, số phận hậu chiến – mình sẽ sớm review khi cảm xúc ổn định trở lại *** Công việc xong, tôi đến ngân hàng lãnh tiền. Nhiều người đang chen chúc nhau trước phòng phát ngân, tôi phải đợi hết nửa tiếng đồng hồ mới trình được tấm chi phiếu cho người thủ quỹ để người này trao cho một cô gái mặc áo bờ-lu vàng. Cô gái ấy đến bên một hàng thẻ, rút tấm của tôi ra, nói: “hợp lệ”, và trả tấm chi phiếu lại cho viên thủ quỹ. Hắn thận trọng trải những tờ giấy bạc lên mặt đá. Tôi kiểm lại tiền, bước ra phía cửa và đến bên một chiếc bàn nhỏ cạnh đó để cho tiền vào một phong bì và viết mấy hàng cho vợ tôi. Trên bàn vung vãi những mẩu giấy xuất tiền màu hường, tôi nhặt một tấm và viết bút chì lên mặt trái: “Anh phải gặp em ngày mai, anh sẽ gọi điện về trong vòng hai tiếng đồng hồ”. Tôi cho thư vào phong bì trước tiên, rồi đếm những tờ giấy bạc, liếm vào phần có bôi keo nơi mặt trái, nhưng sau một phút lưỡng lự, tôi lấy ra một tờ mười đồng mác cho vào túi áo. Tôi viết tiếp vào giấy. “Anh giữ lại mười mác: anh sẽ trả lại cho em vào ngày mai. Hôn các con. Fred”. Nhưng rồi lớp keo không còn dính nữa! Tôi đến bên một cái ghi-sê trống, nơi phát tiền. Ở bên kia, một cô gái đứng dậy và kéo tấm gương lên, nàng có nước da nâu, người ốm và mặc một chiếc áo đan màu hường cài một cành hoa nhân tạo nơi cổ. Tôi hỏi nàng: “Có thể cho tôi xin một tờ giấy có dán keo được không cô?”. Nàng nhìn tôi lưỡng lự, đoạn xé một mẩu giấy từ một cuộn giấy màu nâu sẫm trao cho tôi, không nói một tiếng nào, và đóng ghi-sê lại. Tôi nói cảm ơn về phía tấm gương, trở về bàn, dán thư lại và rời ngân hàng sau khi kéo mũ bê-rê sụp xuống. Trời mưa, ngoài đại lộ, những chiếc lá rời rạc đáp xuống mặt nhựa. Tôi đứng trước cửa ngân hàng, đợi chuyến xe 12 rẽ nơi góc đường. Tôi xuống đến quảng trường Tuckhoff. Chiếc xe điện trờ tới, tôi bước lên. Xe chất đầy người, quần áo họ toát ra một mùi ẩm ướt. Cơn mưa còn dữ hơn khi tôi bước xuống quảng trường Tuckhoff. Tôi đã không mua vé ngồi. Tôi chạy vào đụt mưa dưới mái hiên một cửa hiệu bán xúc xích. Tôi bước vào quầy hàng, gọi một miếng xúc xích nướng và một chén canh, đoạn mua mười điếu thuốc và móc tờ giấy mười đồng mác trả. Tôi vừa nhai xúc xích vừa nhìn vào tấm gương ở cuối cửa tiệm. Thoạt đầu tôi không nhận ra mình, tôi ngắm nghía cái khuôn mặt hốc hác, thiểu não dưới chiếc mũ bê-rê xơ xác kia. Tôi chợt thấy mình trông giống như người bán hàng rong dạo nào mà mẹ tôi không hề xua đuổi bao giờ. Bà không có can đảm làm việc đó. Khuôn mặt họ chìm lẫn trong bóng tối của nhà trên, hiện lên một nỗi tuyệt vọng thảm khốc, thỉnh thoảng tôi mở cửa cho họ vào, và khi, trong cơn sợ sệt, tôi vừa trông chừng tủ áo vừa gọi mẹ. Mẹ tôi từ bếp bước lên, hai bàn tay chùi vào tấm tạp dề, mặt mày họ sáng lên một cách kỳ lạ và đáng ngại. Những con người đó, họ bán thuốc giặt hoặc sáp, dao cạo râu hoặc những sợi dây giày. Bởi vì hạnh phúc khi nó soi sáng được những con người quen sống cơ hàn thì trông thật khủng khiếp. Chỉ cần trông thấy mẹ tôi, người ta cũng cảm nhận được niềm hạnh phúc đó. Không nỡ đuổi xô một ai, mẹ tôi vẫn mang bánh mì và tiền bạc cho những người hành khất, nếu có, hay ít ra bà cũng cho họ một tách cà phê. Khi không có gì, bà cho họ uống nước lạnh đựng trong cái ly sạch sẽ và gửi đến họ niềm an ủi, khích lệ chứa đựng trong cái nhìn của bà. Chung quanh nút nhận chuông, những cái khấc và những dấu hiệu khác của bọn ăn xin cứ gia tăng lên mãi, và một người bán rong luôn được dịp đặt một món đồ, dù là chỉ một sợi dây giày để đổi lấy một đồng tiền nhỏ nhoi. Trước mặt những người đại diện thương mãi, mẹ tôi cũng có thái độ dễ dãi, buông xuôi như vậy, bà không cứng cỏi được trước vẻ mặt của những con người đó, cũng khổ sở không kém gì những kẻ khác, và bà sẵn sàng ký những hợp đồng mua bán, bảo hiểm hoặc đặt hàng. Thuở nhở, tôi nhớ có lần nằm trên giường, nghe cha tôi trở về nhà vào buổi chiều, và cuộc cãi vã bùng nổ ngay khi ông đặt chân vào phòng ăn, một cuộc cãi vã giữa những bóng ma, trong đó mẹ tôi chỉ đóng vai trò thứ yếu, khiêm nhường. Đó là một người đàn bà nhẫn nhục. Trong số những người đến nhà chúng tôi có một người đội chiếc mũ bê-rê nhàu nát tên Disch mà sau này tôi được biết là một người tu xuất, hắn đi bán thuốc giặt. Như vậy, vừa ăn món xúc xích nóng từng làm đau những nướu răng hư của tôi, tôi nhận ra, nhờ tấm gương của cửa tiệm, rằng mình giống một người tên Disch: mũ bê-rê, khuôn mặt tiều tụy và thiểu não, cái nhìn buồn bã, tất cả đều ở đó. Tuy nhiên tôi cũng nhìn thấy những khuôn mặt của bọn người ngồi cạnh tôi, những cái miệng há hốc chực chờ khép lại trên một mẩu xúc xích, những vụn thịt biến mất sau những chiếc răng vàng khè, trong những khoảng hổng tăm tối, tôi trông thấy những chiếc nón còn tốt, những chiếc nón đã cũ kỹ, những mái đầu trần tóc tai ướt đẫm, tất cả làm tăng thêm vẻ hồng hào, bụ bẫm của khuôn mặt người đàn bà bán xúc xích. Bà ta tươi cười dùng một cái nĩa bằng cây để vớt những miếng xúc xích đang nổi trên mặt nước mỡ, bôi hột cải lên một vuông giấy bồi, chuyền vào giữa những cái miệng đang nhai ngấu nghiên, thu về những tờ giấy bồi bẩn thỉu bôi đầy hột cải, bán thuốc lá và nước chanh, cất tiền, luôn luôn bằng những ngón tay hồng hào, bụ bẫm trong khi mưa vẫn tiếp tục gõ trên mái hiên. Còn tôi, khi tôi cắn vào miếng xúc xích, khi tôi hả họng ra và đằng sau những chiếc răng vàng khè của tôi hiện ra cái lỗ đen ở đầu cuốn họng, chính tôi lại có cái vẻ tham ăn mà tôi đã từng gớm ghiếc nơi kẻ khác. Đầu của chúng tôi trồi lên ở đó, giống như trên một sân khấu múa rối, dật dờ trong hơi nóng bay lên từ những cái chậu. Tôi sợ sệt, vùng thoát ra và chạy qua cơn mưa để chạy tới đường Mozart. Nhiều người đang đổ dồn dưới những bức mành mành của các cửa tiệm, đợi tàn cơn mưa. Đến phòng làm việc của Wagner, một lần nữa tôi phải dùng khuỷu tay mới đến được bên cánh cửa và ráng hết sức để kéo nó về phía tôi bởi cánh cửa mở ra phía bên ngoài. Sau cùng tôi cảm thấy nhẹ nhõm, bước xuống những bậc thang, ngửi phải mùi da xông lên từ những chiếc giày mòn cũ thấm đẫm mồ hôi, mùi da tươi thoảng mùi nhựa thông, trong khi chiếc máy may cũ vẫn chạy đều. Tôi đi ngang qua trước hai người đàn bà đang ngồi đợi trên chiếc ghế dài, thò tay mở cửa kính và tôi lấy làm sung sướng bắt gặp nụ cười trên khuôn mặt của Wagner khi lão trông thấy tôi. Tôi quen biết với lão đã ba mươi lăm năm rồi bởi chúng tôi ở ngay phía trên cửa tiệm của lão - đúng vậy, ở phía trên, ở một khoảng nào đó phía trên khoảng xi măng giờ đây phủ lấy xưởng làm việc của lão - lúc đó tôi mới lên năm và tôi đã mang những chiếc giày của mẹ tôi đến cho lão. Phía sau chiếc ghế của lão, tượng Chúa Ki tô trên thập tự giá treo trên vách, bên cạnh tượng thánh Crépin, một lão già hiền lành với một chòm râu màu muối tiêu cầm một cái chân sắt trong đôi bàn tay được chăm sóc quá kỹ, trái hẳn với đôi bàn tay của người thợ đóng giày. Tôi chìa tay ra trước Wagner, lão ném cái nhìn về phía chiếc ghế đẩu nơi đầu bàn bên kia, ra dấu cho tôi ngồi, lão ngậm một mớ đinh trong miệng. Tôi ngồi xuống ghế, móc phong bì từ trong túi ra và Wagner đẩy về phía tôi hộp thuốc và giấy quấn thuốc. Nhưng điếu thuốc của tôi hãy còn cháy, tôi còn nói với lão: “Cám ơn”, và vừa đưa phong bì cho lão, tôi nói: “Có thể…” Lão lấy những cây đinh trong miệng ra, đưa ngón tay sờ lên đôi môi khô héo để yên trí rằng không còn cây đinh nào dính trên miệng, và nói: “Lại một món nhờ gửi cho vợ cậu…” Lão cầm lấy phong bì trong đôi tay, ngẩng đầu lên, nói: “Được rồi, tôi sẽ gửi đi khi thằng cháu tôi nó xưng tội về trong… - lão nhìn đồng hồ tay - trong nửa tiếng đồng hồ thôi”. Tôi nói: - Hôm nay vợ tôi cần tiền rồi, có tiền trong đó. - Tôi biết, lão nói. Tôi bắt tay lão và bước ra ngoài. Khi bước trở lên những bậc thang, tôi chợt nghĩ là tôi có thể mượn tiền lão và lưỡng lự trong giây phút, nhưng khi nghĩ lại, tôi mạnh dạn bước lên bậc thang sau cùng và lách đi giữa đám người đang chen chúc trên lề đường. Năm phút sau khi tôi bước xuống xe buýt tại đường Benekam thì trời hãy còn mưa. Tôi chạy đi giữa những đầu hồi cao của những ngôi nhà kiến trúc theo lối gô-tích được gia cố bảo tồn vì giá trị lịch sử của chúng. Qua những lỗ hổng của các khung cửa sổ cháy nám, người ta thấy xuất hiện một bầu trời xám thẫm. Tôi nhảy đến dưới máy hiên của ngôi nhà duy nhất có người ở, nhận chuông và đứng đợi. Người giúp việc có đôi mắt dịu hiền và nâu thẫm, trong đó tôi có thể đọc được niềm trắc ẩn tương tự với tình cảm ngày nào của tôi về những con người mà giờ đây tôi bắt đầu thấy có điểm tương đồng. Nàng cởi áo khoác giúp và lấy chiếc nón ra khỏi đầu tôi, giũ chúng ở trước cửa cho ráo nước và nói: “Trời đất, chắc là ông ướt tới xương rồi”. Tôi gật đầu và tiến đến trước tấm gương, đưa hai bàn tay lên vuốt tóc. Tôi hỏi: - Bà Beisem có ở nhà không? - Không. - Bà ấy có biết ngày mai là một tây không. - Không, cô ấy trả lời và nàng đưa tôi vào phòng khách, đẩy chiếc bàn về phía lò sưởi và mang đến cho tôi một chiếc ghế, nhưng tôi vẫn đứng quay lưng về phía lò sưởi nhìn thấy cái đồng hồ xưa đến một trăm năm mươi tuổi của gia đình Beisem. Gian phòng bày biện ngổn ngang những đồ vật cổ, những khung cửa sổ lắp kính gô-tích. Mời các bạn đón đọc Lạc Lối Về của tác giả  Heinrich Böll & Huỳnh Phan Anh (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Gái Điếm
Là một cô gái đã bộc phát bản năng của mình. Vì số tiền nợ của bố mình mà cô bị bán vào quán Bar. Còn anh là chàng trai lạnh lùng, không thích sự náo nhiệt nhưng nguyên nhân do đâu làm anh và cô gặp nhau và đến bên nhau vậy? *** Từ ngày hôm ấy, tôi bị bán vào quán bar, tôi buồn lắm! Cũng từ ngày hôm ấy, tôi bị bắt đi nhiều nơi để phục vụ cho khách nam. Cái nghề này, tôi phải đi bán trinh tiết của phụ nữ để thỏa mãn dục vọng của đàn ông. Hôm ấy, tôi được mời đến một căn biệt thự rất lớn để..... Bước qua cánh cửa chính là một người con trai đẹp như tranh vậy! Anh ta nhìn tôi với một vẻ mỉa mai nhưng tôi cảm thấy khá quen thuộc với ánh mắt ấy. Tôi vội mỉm cười nhẹ rồi nhanh chóng bước ra khỏi cửa. - Cô định đi đâu chứ? Tôi thuê cô đến đây để làm gì cô nên nhớ! -Là anh thuê tôi sao? Tôi bước vào cánh cửa ấy đầy sự u tối. Tôi cởi từng chiếc cúc trên chiếc áo của mình ra..... Tôi tự tủi thân cho bản thân mình phải đi làm cái nghề bôi nhọ trinh tiết thế này! Mời các bạn đón đọc Gái Điếm của tác giả Mây+.
Bí Ẩn Thanh Minh Thượng Hà Đồ
Đằng sau mỗi món đồ cổ, là tầng tầng lớp lớp lịch sử và văn hóa truyền thừa bao đời; Đằng sau mỗi món đồ giả, là mánh lới tính toán tinh vi cùng cạm bẫy khó bề tưởng tượng. Hứa Nguyện rửa được nỗi oan cho ông nội, nổi lên như một anh hùng đánh hàng giả trên thị trường cổ ngoạn, song lòng vẫn canh cánh mối thù gia tộc với Lão Triều Phụng - bàn tay đen đứng sau bi kịch bao đời nhà họ Hứa. “Tình cờ” thay, mọi manh mối về kẻ cầm đầu dòng chảy ngầm lớn nhất giới cổ vật này đều dẫn gã đến với quốc bảo Trung Hoa - Thanh minh thượng hà đồ. Một lần nữa Hứa Nguyện đơn thương độc mã dấn thân trên con đường trừ giả giữ thật mà không lường đến những gì mình sẽ phải đương đầu. Lôi Lão Triều Phụng ra ánh sáng, bảo vệ Minh Nhãn Mai Hoa trước nguy cơ lụi bại, giữ vững tôn chỉ của người giám định… ngần ấy nhiệm vụ hệ trọng dường như quá sức với một kẻ đang nôn nóng báo thù như gã. Bởi trong khi con người giám định cổ vật, cổ vật cũng giám định con người… *** Nửa đêm trộm mộ “ăn trên chiếu” Chơi đồ cổ quan trọng nhất là gì? Người nói là mắt nhìn, kẻ lại bảo là quan hệ, thực ra đều không chính xác. Ngành này xét đến cùng phải chú trọng hai chữ: “duyên phận”. Thế nên người chơi đồ cổ thế hệ trước phần nhiều đều tin số mệnh, cho rằng số đã có ắt có, số không có thì đừng cố. Nếu không có duyên với một món đồ mà cứ cố giành về tay, gọi là đi ngược ý trời, sẽ dẫn tới hậu họa khôn lường, món đồ ấy không còn là hàng tốt nữa, mà trở thành vật dữ cắn chủ, nhẹ thì thân bại danh liệt, nặng thì nguy tới tính mạng. Có điều đây đều là cách nói từ xưa, được quy vào mê tín dị đoan. Thời bây giờ ai cũng tiếp thu mấy chục năm giáo dục theo chủ nghĩa duy vật, chẳng tin mấy lời đó nữa. Hễ có tiền đưa tới tay thì bất chấp quy củ cách thức, ta cứ thế xông lên phá vỡ đạp bằng, chẳng sợ gì sất. Thần tài ngồi trên, yêu ma quỷ quái cũng phải đứng sang một bên. Ví như mấy người ngồi cùng xe với tôi hiện giờ, rõ ràng không phải hạng con buôn cổ hủ trọng truyền thống. Tôi đang ngồi trong một chiếc van Toyota chín chỗ cũ nát, ngoài lái xe ra tổng cộng có năm người. Bên trong xe lặng phắc như tờ, chẳng ai bắt chuyện, cũng chẳng ai hàn huyên. Bốn người kia đều ngồi im tại chỗ, trưng ra vẻ mặt hờ hững khó gần. Chỉ khi xe thình lình xóc nẩy lên, họ mới đảo mắt thật nhanh, vờ như vô tình liếc nhau một cái sắc lẻm. Tôi cảm giác được họ không giống mình. Tôi là chủ một tiệm đồ cổ nhỏ trong thành phố, còn họ là con buôn cổ vật chuyên thu mua đồ cũ từ nông thôn. Những người này quanh năm suốt tháng lê la dưới quê, qua lại với đám nông dân vừa chất phác vừa gian xảo nên người cũng thoang thoảng mùi bùn đất và sát khí. Bọn họ là ai? Xe chạy đi đâu? Tôi hoàn toàn không biết. Cửa xe đóng kín, bên ngoài đêm tối như mực, không trông rõ được cảnh vật. Chỉ có tiếng động cơ chạy ì ì cho thấy chúng tôi đang tiến tới một mục tiêu nào đó. Tôi cũng chẳng buồn nghĩ nhiều, dựa đầu vào cửa kính lạnh lẽo, huyệt Thái Dương tì vào chốt cửa, gà gật ngủ. Xe chạy lắc lư tròng trành dữ dội, trong lúc mê man, tôi chợt có một ảo giác lạ lùng: thùng xe chẳng khác nào cỗ áo quan khổng lồ vừa đóng đinh, kín mít không lọt một tia sáng. Tôi nằm trong, bên ngoài có mười sáu người khiêng quan tài băng qua nghĩa địa, bước xuống lối vào mộ, tiến về phía huyệt mộ cuối cùng... Phải rồi, quên chưa tự giới thiệu. Tôi tên Hứa Nguyện, hơn ba mươi, là một tay buôn cổ vật cò con dưới chân hoàng thành. Tôi có một cửa tiệm nhỏ ở Lưu Ly Xưởng, buôn bán kim thạch ngọc khí, gọi là Tứ Hối Trai. Tứ hối là gì? Chính là hối người, hối việc, hối lỗi, hối lòng. Đây là lời trăng trối của bố tôi, dạo Cách mạng Văn hóa, ông bị hãm hại phải nhảy xuống hồ Thái Bình tự tử, chỉ để lại tám chữ này. Song đằng sau đó còn ẩn giấu một câu chuyện dài. Tổ tiên tôi là một chi trong “Minh Nhãn Mai Hoa” gồm năm gia tộc lâu đời trong ngành cổ vật, mỗi nhà sở trường giám định một loại đồ cổ, có địa vị cực cao trong giới sưu tầm. Sau giải phóng, Minh Nhãn Mai Hoa cải tổ thành Hội nghiên cứu giám định cổ vật Trung Hoa, vẫn có sức ảnh hưởng không nhỏ. Hứa Nhất Thành, ông nội tôi là chưởng môn Minh Nhãn Mai Hoa thời Dân Quốc, xuất thân Bạch môn, về sau vì đánh cắp đầu Phật ngọc ở minh đường Võ Tắc Thiên tuồn cho người Nhật nên bị coi là Hán gian đem xử bắn. Từ đó nhà tôi cũng sa sút không gượng dậy nổi, rút lui khỏi Minh Nhãn Mai Hoa. Vào ngày sinh nhật ba mươi tuổi, do sự thúc đẩy của những người cố ý, tôi đã rơi vào vòng xoáy này. Trải qua một phen bôn ba trắc trở, cuối cùng xem như tôi cũng giải oan được cho ông nội, đưa đầu Phật về nước, kết thúc mối dây dưa ngàn năm giữa nhà họ Hứa và đầu Phật ngọc. Sau khi xong việc, tôi quay về Tứ Hối Trai, tiếp tục buôn đồ cổ, sống lặng lẽ. Đột nhiên nghe phanh két một tiếng, người tôi đổ nhào về phía trước, sực tỉnh khỏi dòng ký ức. Xe đã dừng lại, tôi mở mắt ra, lắc lắc đầu. Ngờ đâu vừa quay đầu sang, tôi chợt thấy một gương mặt trắng bệch với đôi mắt cực kỳ quái dị hiện lên giữa bóng tối bên ngoài xe, một bên to tướng như mắt trâu, lòng đen ít lòng trắng nhiều, bên kia lại nhỏ xíu, thi trừng mắt với rùa chưa chắc đã thắng nổi. Cặp mắt một to một nhỏ này, trông như lúc nào cũng đang ngắm bắn. Tôi giật thót mình, vô thức rụt người lại, suýt nữa ngã nhào khỏi ghế. Bốn kẻ cùng xe cười nửa miệng, lộ vẻ khinh bỉ. Bấy giờ tôi mới nhớ ra, gương mặt này hẳn là của tài xế. Chẳng để tôi nghĩ nhiều, cửa xe đã bị kéo đánh “xạch”, tài xế ló đầu vào, đảo tròn con mắt to rồi làm động tác mời, giọng khàn khàn, “Tôi tên Mắt Trố, làm chân chạy bàn, mời các vị theo tôi.” Tôi vội điều hòa hơi thở, theo bốn người kia xuống xe. Vừa đặt chân xuống đất đã thấy mùi cỏ dại và cành thông xộc vào mũi man mát. Khỏi cần hỏi cũng biết, đây là mùi đặc trưng của chốn đồng không mông quạnh, hơn nữa còn là nơi hết sức hoang vu. Tôi nhìn quanh, lờ mờ thấy mấy ngọn núi đằng xa, trông như thú dữ mai phục trong đêm, có thể nhào tới bất cứ lúc nào. Mắt Trố bảo bọn tôi theo sát sau y. Mây đen đang bao phủ bầu trời, che khuất mặt trăng, chỉ có ngọn đèn pin loang loáng thoắt sáng thoắt tối trong tay Mắt Trố soi đường. Cây đèn pin của y có vẻ rất được chăm chút, bóng đèn bọc một khoanh giấy bìa cứng, như vậy cột sáng chỉ tập trung vào phía trước, không chiếu sang hai bên, nên cách hơi xa sẽ không thấy được. Chúng tôi bước thấp bước cao trên triền núi theo y chừng hơn mười phút, rẽ ngoặt liên tục, còn băng qua hai khoảng rừng. Rốt cuộc một người không kìm được lên tiếng hỏi, “Anh đưa chúng tôi đến đâu đây? Cỗ ở đâu vậy?” Mắt Trố quay lại nhe răng cười đáp, “Nôn nóng làm gì, chủ đâu có rời chiếu cỗ được.” Nói đoạn còn cười khà, tiếng cười như quạ. Y vừa cười, nhiệt độ xung quanh chợt hạ xuống, lạnh buốt cả người. Kẻ kia không dám hỏi thêm nữa, đành “hừm” một tiếng rồi đi tiếp. Đám chúng tôi đi chừng hơn nửa tiếng thì tới một khe núi vắng. Khe núi bị hai dãy núi cao ngất kẹp vào giữa, tạo nên một bình nguyên dưới chân núi. Từ đằng xa loáng thoáng nghe thấy tiếng nước chảy róc rách, hẳn là dòng suối từ trên núi chảy xuống, uốn quanh chỗ này, cắt khe núi thành hình tam giác. Khe suối là đáy, hai dãy núi sừng sững hai bên. Địa hình này trong phong thủy gọi là hai rồng xuống nước, là đất lành hợp xây mồ mả. Mắt Trố tiến vào khe núi thì dừng chân, rọi đèn pin về phía trước. “Bên này.” Chúng tôi nhìn theo ánh đèn, thấy thấp thoáng đằng xa một người trẻ tuổi mặc đồ rằn ri đang ngồi trước mặt là một cái hố rộng chừng nửa mét, mép hố còn gác ba chiếc xẻng cán thép và cả đống đất mới đào. Khỏi cần hỏi cũng biết ở nơi đất báu phong thủy thế này đào sâu ba thước ắt có mồ mả, có mồ mả tất có trộm mộ đánh hơi được kéo đến. “Đào tới đâu rồi?” Một tên mặt sẹo đi cùng tôi hỏi. Mắt Trố di chân xuống đất, hể hả đáp, “Tìm ra vị trí mộ rồi, vừa rồi chúng tôi mới đào đến vách sau, chỉ một nhát nữa là tới cửa thôi, đợi các vị đến mở chiếu đấy.” Mấy người đi cùng tôi đến trước hố đất, gạt lớp đất mới đào ra, vẻ mặt không ai giống ai. Nghe nói trộm mộ lâu năm chỉ cần nhìn đất là biết niên đại mộ. Có điều tôi chẳng có tài ấy, chắc hẳn mấy kẻ đi cùng cũng chẳng khá hơn. Chúng nhìn đất chỉ để yên tâm chứ đâu nhận ra cái gì. Kiểm tra đất xong, Mắt Trố cười khì, “Các vị may thật đấy, món lần này là thịt kho của bếp trưởng. Nếu không có gì thắc mắc thì lên món nhé?” Cả năm chúng tôi đồng loạt gật đầu, đứng tránh ra một quãng. Mắt Trố soi đèn pin về phía kia, hô “mở bát”, tức thì tên chạy bàn mặc đồ rằn ri đứng dậy, cầm chùy sắt và xẻng lên. Dáng gã gầy gò, lách vào hầm dễ như bỡn. Mắt Trố rút trong ngực áo ra một chai rượu trắng hàng chiết lẻ và năm cái chén, lần lượt đưa cho năm chúng tôi, “Trong núi sương dày lạnh giá, làm ít rượu trắng cho ấm người, phải chờ một lúc nữa cơ.” Không nói thì thôi, y vừa nói tôi liền thấy gió lạnh bốn bề, sương mù bảng lảng, vô thức liếc nhìn vào cánh rừng tối om. Mắt Trố đưa chén tới trước mặt tôi cười, “Chú em lần đầu ăn trên chiếu à?” Thấy tôi cười ngượng, y nói, “Ăn quen bén mùi, anh em mình vất vả một tí, nhưng chắc ăn hơn, có phải không?” Tôi gật đầu lia lịa, đón lấy chén rượu uống cạn, rượu trắng cay nồng như ngọn lửa cháy lan theo cổ họng xuống tận dạ dày, song mắt tôi vẫn dán vào đống bùn đất đang không ngừng đùn ra từ cửa hầm, lòng quặn lên. “Ăn trên chiếu” như lời Mắt Trố là một hoạt động khá kín đáo trong giới đồ cổ, trước đây tôi chỉ nghe nói, không ngờ hôm nay cũng được tận mắt chứng kiến. Phần lớn đồ cổ đến từ hai nguồn: một là đồ gia truyền đời đời lưu giữ, hai là đồ tùy táng bị đào ra. Loại trước được truyền đời rõ ràng, nhưng loại sau hơi khó phân định thật giả. Anh bảo món đồ này đào được trong mộ ra, bằng chứng đâu? Lỡ lừa gạt người ta thì sao? Phải biết có những món đồ cổ bản thân nó hoàn toàn không đáng tiền, tất cả giá trị đều nằm ở xuất xứ. Cùng một hạt dưa, mua từ hàng tạp hóa thì chẳng đáng một xu, nhưng nếu từ trong bụng xác nữ ở gò Mã Vương thì nghìn vàng chưa mua nổi. Thế là có kẻ nảy ra một cách, thăm dò xác định vị trí mộ đâu vào đấy, đào đường hầm đến cạnh mộ rồi để đó, mời vài người mua đến hiện trường, mở cửa mộ ngay trước mặt họ, đào lên bán sang tay luôn. Người mua chính mắt thấy đồ được đào dưới mộ lên, dĩ nhiên khỏi cần lo hàng giả. Trò này trong ngành đồ cổ gọi là “ăn trên chiếu”, không phải chiếu rượu, mà là chiếu cói, chiếu cói để làm gì? Thời xưa người ta dùng chiếu cói bọc xác chết, nên nó ý chỉ mồ mả. Những người mua như chúng tôi gọi là “khách”, trộm mộ thì gọi là “chạy bàn”, dĩ nhiên “chủ” chỉ người chết trong mộ. Bởi vậy vừa rồi Mắt Trố nói “chủ không rời được chiếu cỗ” khiến mấy người kia sợ quá nín thít. Mời bạn đón đọc Bí Ẩn Thanh Minh Thượng Hà Đồ của tác giả Mã Bá Dung & Tố Hinh (dịch).
Tiệm Bá Nghệ Tada Trước Ga Mahoro
Tada Keisuke, một nhân viên bán ô tô quyết định bỏ nghề, mở tiệm bá nghệ. Gyoten Haruhiko, một nhà nghiên cứu bệnh lý bỗng nhiên bỏ việc, lang bạt nay đây mai đó. Hai người bạn cấp ba chung lớp chưa một lần trò chuyện và chẳng khác nào hai đường thẳng song song ấy chỉ vì một lần trùng phùng nơi trạm xe buýt mà bước vào cuộc sống của nhau. Để rồi, ngày ngày họ rong ruổi khắp những con phố ở Mahoro trên chiếc xe tải nhẹ, làm đủ loại việc vặt mà khách yêu cầu; dắt chó đi dạo, thăm nom người ốm, quét dọn vườn tược, sửa chữa chuồng chó… Hai con người với hai tâm hồn cô độc chưa bao giờ cố để hiểu nhau, càng chẳng đòi hỏi gì ở đối phương, chỉ lặng lẽ sống như vậy qua ngày. Bởi họ biết rằng, một ngày nào đấy, hạnh phúc nhất định sẽ lại tìm đến mình dưới một hình hài nào đó thật khác. *** Miura Shion Cô sinh năm 1976 tại Tokyo, là con gái một học giả cổ điển nổi tiếng của Nhật Bản, vì vậy tình yêu với sách của tác giả được nảy sinh từ khi còn rất trẻ . Khi còn là sinh viên năm cuối khoa Văn Thư tại Đại học Waseda, cô bắt đầu tìm kiếm cho mình một vị trí biên tập, một công ty văn học đã nhận ra được tài năng viết lách của cô và thuê cô để bắt đầu viết một cột nhận xét sách trực tuyến ngay cả trước khi cô tốt nghiệp. Cô đã giành được nhiều giải thưởng lớn như:  Giải thưởng Naoki lần thứ 135.   Giải thưởng Oda Sakunosuke và Giải thưởng Nhà sách Nhật Bản năm 2012.   Một số các phẩm của cô đã được chuyển thể cho phim ngắn hoặc phim truyền hình. Sách của cô đã được dịch sang tiếng Trung, tiếng Hàn, tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Đức và tiếng Ý. Tác phẩm: Bước Chạy Thanh Xuân Người Đan Chữ Xếp Thuyền Tiệm Bá Nghệ Tada Trước Ga Mahoro Những Vị Khách Của Tiệm Bá Nghệ Tada ... *** Bà Soneda đã tiên đoán như vậy “Sang năm là mầy bận rộn lắm đó con.” Vào buổi chiều một ngày cuối năm nọ, bầu trời quang đãng, bà Soneda đã buông một câu như vậy. Phòng khách của bệnh viện yên ắng quá đỗi. Ngoài khung cửa là bãi cỏ khô và những lùm cây rụng lá. Hai chiếc ti vi cỡ lớn đều giảm âm lượng xuống mức tối thiểu, một chiếc đang phát lại phim truyền hình dài tập, chiếc khác thì chiếu trận đua ngựa. Các ông già bà cả tập trung ngoài phòng khách thích ngồi bàn nào thì ngồi bàn đó, tự chia làm hai tốp rồi dán mắt vào một trong hai chiếc ti vi. Thi thoảng đâu đó sẽ vang lên những tiếng thọc tay vào gói bánh kiều mạch mang từ phòng bệnh tới hay tiếng bánh xe lăn kêu ken két. “Chả có nhẽ lại buôn may bán đắt nhỉ?” Tada Keisuke vừa cắt nhỏ bánh bông lan mật ong mua tới làm quà ra cho vừa miệng, vừa hỏi lại. Bà Soneda thì còn đang bận gườm chiếc bánh bằng cặp mắt sáng quắc như hổ rình mồi. Tada chỉ cắt ra hai miếng để vào đĩa giấy trên bàn rồi cất phần còn lại vào trong hộp nhựa, miệng căn dặn bà già: “Mẹ không thể ăn hết cả cái cùng lúc đâu! Đợi đến giờ ăn vặt rồi chia cho các bạn cùng phòng nhé.” Hắn rót trà nóng mua ở máy bán hàng tự động vào cốc giấy rồi đưa cho bà già. Bà nhúng bánh bông lan vào trà cho mềm ra rồi khởi sự ăn. “Buôn bán thì chả khác gì năm nay đâu! Mầy bận là bận chuyện của mầy ấy!” Bà già lại nói. “Không khéo mất luôn con vợ cũng chẳng biết chừng!” Vợ thì con bỏ từ đời rồi bà ơi! Tada nghĩ thầm trong bụng, song cũng chỉ im lặng nghe bà già nói tiếp. “Tiếp nhé, rồi mầy còn sẽ bắt đầu một cuộc thiên di, khóc khóc cười cười nữa cơ.” “Thiên di? Đi đâu cơ?” “Một nơi rất xa, rất xa. Xa như trong thẳm sâu trái tim mầy vậy.” Kể từ sau cái hồi bị bác sĩ phán rằng: “Những con ma xuất hiện vào ban đêm ấy thực chất chỉ là tâm cảnh của bà thôi, chúng được sinh ra từ trong lòng bà, bà Soneda à...” thì bà già đã không còn mấy lòng tin vào con tim mình nữa. Nên hẳn nơi mà bà nhắc đến phải xa cỡ nước ngoài, nơi người ta nói thứ ngôn ngữ hắn nghe không hiểu một chữ. “Ái chà, bà Kiku lại đang tiên tri kìa.” Nghe một giọng khàn đột ngột cất lên sau lưng, Tada ngoái lại. Ông lão hắn hay thấy trong bệnh viện với cây treo túi truyền dịch kiêm gậy batoong đang đứng đó. “Như nào rồi? Như nào rồi?” Ông lắc đầu, bỏ về phía chiếc ti vi. Bà già tiếp tục xì xụp hớp hết cốc trà. “Tóm lại là mầy sẽ bận bịu lên đấy, và không còn đến chỗ này mấy nữa.” “Kìa mẹ, chẳng có chuyện như vậy đâu!” Những lời sau đó nghẹn lại nơi cuống họng Tada. Hắn đã không thể thốt ra nổi một câu rằng: “Con sẽ lại đến.” Để xua đi giây phút ngượng ngập, hắn đề xuất: “Mình quay về phòng thôi nhỉ?” Nghe hắn nói vậy, bà Soneda chỉ lẳng lặng gật đầu. Bà già lững thững bước trên hành lang, Tada kiên nhẫn bước theo. Bà đã ngót nghét chín mươi đâm lưng còng xuống chỉ còn cao đến thắt lưng Tada. Phòng bệnh của bà là phòng cho sáu người, mỗi bên kê ba giường, giường của bà nằm ở giữa một bên. Tada lại giúp bà thật cẩn thận, cẩn thận, trèo lên giường. Bà già ngồi quỳ gối trên đó, cuộn người lại nom chẳng khác gì miếng bánh giầy Đại Phúc nhỏ bé. Tada đặt hộp nhựa đựng bánh bông lan lên chiếc tủ thép đầu giường rồi tính chào tạm biệt. Vừa lúc một y tá bước vào, khẽ gật đầu chào hắn, và thế là hắn để lỡ mất cơ hội chuồn cho nhanh của mình. Y tá vui vẻ bắt chuyện với bà lão. “Ôi! Bà Soneda có anh con trai ngoan quá. Anh lại đến thăm bà đấy à?” Đoạn cô ghé vào tai cụ già nằm giường trong cùng không rõ là ông lão hay bà lão, hét thật to: “Bác đau lưng ạ? Để cháu đổi tư thế cho bác nhé?” Rồi kéo roẹt tấm rèm ngăn hai giường lại. Có vẻ như ở phía bên kia rèm, cô y tá đang lật người cho cụ già, tránh để cụ bị loét lở vì nằm liệt. Tóc bà Soneda đã bạc trắng, còn lưa thưa có vài sợi. Tada cứ đứng đó hồi lâu nhìn xuống cái xoáy trên đầu bà, cuối cùng hắn nói. “Thế mẹ nhé, mẹ đón năm mới vui vẻ.” “Ừ.” Bà nói như đang thì thầm. Lúc nào chia tay bà cũng trở nên lầm lì ít nói. Tada bước vội ra ngoài hành lang, lúc đi khỏi cửa, hắn còn ngoái lại, bà lão vẫn cứ y chiếc bánh Đại Phúc ở trên giường, cúi gằm mặt xuống. Nếu thật sự là một “đứa con ngoan” thì đã chẳng để mặc bà mẹ già ốm o của mình lủi thà lủi thủi trong bệnh viện đón năm mới, càng chẳng để một người dưng nước lã tới thăm bà thay cho mình. Tuy nghĩ vậy nhưng Tada cũng hiểu chính vì bản thân hắn là một người xa lạ cho nên mới có thể nói ra những lời đãi bôi một cách vô tư như thế. Đến khi leo lên chiếc xe tải nhẹ màu trắng đậu trong bãi, hắn mới có thể thở phào nhẹ nhõm. Cho dẫu những bức tường kia có được sơn bằng màu kem tươi sáng cỡ nào chăng nữa, thì bầu không khí bên trong bệnh viện vẫn khiến tâm trạng người ta u sầu ủ dột chẳng rõ tại làm sao. Tada xoay chìa khóa khởi động xe, và trong lúc chờ hệ thống sưởi hoạt động, hắn đốt một điếu thuốc lá. Hỗn hợp mùi amoniac và thuốc sát trùng vẫn còn đẫm trong cuống mũi hắn. Hắn mở hé cửa sổ xe, đẩy tất cả theo làn khói thuốc thoát ra ngoài. Rút điện thoại khỏi túi áo khoác, hắn gọi vào một dãy số. Phải đến lần gọi thứ năm, hắn mới nghe được giọng một phụ nữ trung niên bắt máy. “Cửa hàng xây dựng Soneda xin nghe.” “Tôi là Tada bên tiệm bá nghệ, cho hỏi anh Masatoshi có đó không ạ?” “Ảnh đi ra ngoài rồi, cậu thăm bệnh xong rồi đó hả?” “Vâng, vừa mới xong.” “Cảm ơn cậu nhé. Tôi sẽ báo lại với chồng tôi.” Ê chị, cẩn thận đi thì hơn, năm sau có lẽ hai người sẽ ly hôn đấy.Hắn còn chẳng kịp nói những lời này thì điện thoại đã bị ngắt cái rụp. Thôi bỏ đi, hắn nghĩ, rồi gập điện thoại lại. Đương nhiên lời bà Soneda cũng có phải lời sấm truyền gì đâu, chỉ là chút thở than của người già thôi mà. Ngày mai hắn sẽ có năm đơn treo cây nêu ngày Tết, một đơn tổng vệ sinh nhà cửa. Tada lái con xe tải nhẹ, quay trở về văn phòng làm việc của mình nằm ở trước ga Mahoro. Mời bạn đón đọc Tiệm Bá Nghệ Tada Trước Ga Mahoro của tác giả Shion Miura & Phong (dịch).
Chiếc Vòng Thạch Lựu
Chiếc vòng thạch lựu, dịch giả Đoàn Tử Huyến. Tình yêu không vụ lợi là đây, đây là 1 trong những tác phẩm tình yêu hiếm hoi mình yêu thích   "Một trong những truyện ngát hương thơm và đầy day dứt về tình yêu - và buồn thảm nhất - đó là truyện Chiếc vòng thạch lựu của Cuprin" (Pauxtopxki) Chiếc vòng thạch lựu là thiên truyện tình hay nhất của nhà văn A. Cuprin, một mối tình trong sáng, mãnh liệt, cao cả, đẹp và buồn, sẵn sàng hi sinh bản thân bởi tình yêu, câu chuyện nhẹ nhàng đầy tính chất nhân văn. K. Pautovski từng nói về Cuprin rằng: "Chúng ta cần phải biết ơn Cuprin vì tất cả - vì tấm lòng nhân hậu sâu sắc của ông, vì tài năng vô cùng tinh tế của ông, vì tình yêu đối với tổ quốc và niềm tin không gì lay chuyển nổi vào hạnh phúc của dân tộc mình, và cuối cùng, vì khả năng không bao giờ mất đi ở ông, cái khả năng cháy lên từ những lần tiếp xúc dù ngắn ngủi nhất với chất thơ của cuộc sống, và viết về điều đó một cách thoải mái nhẹ nhàng." *** Aleksandr Kuprin là một trong những nhà văn Nga xuất sắc hồi cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20. Ở Việt Nam, ông được độc giả biết đến qua tác phẩm "Chiếc vòng thạch lựu" và "Người tình của vua Sô lô mông" (Суламифь). Aleksandr Ivanovich Kuprin (1870 - 1938) là một trong những đại diện cuối cùng của thế hệ bạc (Sliver Age) của dòng văn học Nga lãng mạn trước Cách mạng. Văn của ông có giọng điệu riêng và chiếm vị trí đặc biệt trong lòng độc giả Nga, ông được gọi một cách yêu quý là “Nhà văn của dân nghèo”.  Trong hơn 40 năm lao động sáng tác, ông đã để lại cho văn học Nga và thế giới một di sản đồ sộ với khoảng 300 tác phẩm lớn nhỏ. Các tác phẩm của ông bao quát nhiều lĩnh vực trong đời sống Nga cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Ông tập trung viết về cuộc sống đời thường, chủ đề tình yêu vẫn chiếm vị trí trung tâm. Các mối tình trong truyện của ông giản dị, không có kết thúc quá bi thảm, nhưng đa số đều không trọn vẹn, và đôi khi rất bất ngờ, để lại trong tâm trí người đọc một câu hỏi tuy chỉ thoáng qua nhưng day dứt. *** Vào giữa tháng tám, vừa mới bắt đầu có trăng non, thời tiết bỗng trở nên tồi tệ, như thường vẫn gặp ở vùng duyên hải bắc biển Đen. Khi thì một màn sương mù dày đặc suốt mấy ngày liền nặng nề bao trùm khắp mặt đất và mặt biển, và lúc đó chiếc còi lớn trên ngọn hải đăng ngày đêm rống lên như một gã trâu điên; khi thì ngày này sang ngày khác mưa phùn dai dẳng không dứt, biến các con đường đất sét lớn nhỏ thành bãi lầy đặc sệt, làm những cỗ xe ngựa chở khách và chở hàng thụt xuống mãi không lên được. Lại có khi một cơn bão tuyết hung dữ từ đồng cỏ hướng tây bắc tràn về, các ngọn cây ngả nghiêng, nằm rạp xuống rồi lại đứng thẳng lên như những cơn sóng biển trong dông tố; đêm đêm, mái nhà bằng sắt tây của các nhà nghỉ ngoại thành rung lên kêu loảng xoảng chắng khác gì có người đi ủng đế sắt chạy trên đó; những khung cửa sổ, của chính bị giật liên hồi; gió hú man dại trong các ống khói lò sưởi. Đã có mấy chiếc xuồng máy đánh cá bị lạc ngoài khơi, và hai chiếc vĩnh viễn không bao giờ về nữa; phải một tuần sau, sóng mới đánh dạt mấy xác người lên bờ ở những chỗ khác nhau. Những người trong khu nhà nghỉ ngoại ô cạnh bờ biển - phần lớn là dân Hi Lạp và Do Thái, yêu đời và cả lo như tất cả những người sống ở phương Nam - vội vã trở về thành phố. Dọc theo con đường cái lớn lầy lội, những đoàn xe bốn bánh chở hàng kéo dài tưởng như vô tận; trên xe chất đầy các vật dụng trong nhà - nệm giường, đi văng, hòm xiểng, bàn ghế, chậu rửa mặt, ấm xamôva. Vừa buốn, vừa thương hại, vừa khó chịu khi nhìn đoàn xe lôi thôi lốc thốc đến tồi tàn, bẩn thiửu và thê lương này qua màn mưa đục; nhìn đám hầu phòng và đầu bếp gái ngồi đè lên những tấm vải bạt ướt phía trên xe, tay giữ khư khư mấy chiếc bàn là, hộp sắt tây hoặc làn giỏ; nhìn những con ngựa kiệt sức, mình đẫm mồ hôi, thỉnh thoảng dừng lại, đầu gối run rẩy, hơi nước bốc lên như khói, cặp sườn thở gấp phập phồng; nhìn những người đánh xe quấn kín mình trong các tấm vải bố và chửi nhau đến khản cả giọng. Nhưng còn đáng buồn hơn nữa khi nhìn những ngôi nhà nghỉ đột ngột trở nên hoang vắng với những bồn hoa bị dẫm nát, những cửa kính bị vỡ toang, những con chó không chủ và đủ các thứ rác rưởi của đám người đi nghỉ bỏ lại - tàn thuốc lá, giấy lộn, mảnh gốm, vỏ diêm và ve lọ đựng thuốc ngổn ngang khắp nơi.   Mời các bạn đón đọc Chiếc Vòng Thạch Lựu của tác giả Aleksandr Kuprin.