Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Những Linh Hồn Chết - Nikolai Vasilyevich Gogol

Ngay sau khi ra đời, Những linh hồn chết của Gogol đã gây một cơn chấn động lớn trên toàn nước Nga. Rất nhanh chóng, cơn địa chấn này đã lan rộng ra nước ngoài. Theo viện sĩ B.L. Riftin, tập I tác phẩm Những linh hồn chết hoàn thành vào năm 1842, thì năm 1846, khi tái bản lần thứ 2, đã được dịch sang tiếng Đức, năm 1849 được dịch sang tiếng Tiệp. Năm 1854 xuất hiện bản dịch Những linh hồn chết bằng tiếng Anh. Tới năm 1858, cùng với thiên trường ca, tác giả Quan thanh tra đã nổi tiếng khắp châu Âu và phương Tây. Đánh giá về vai trò của Gogol đối với văn học Nga, nhà nghiên cứu I. Zolotuski khẳng định: Gogol là người đầu tiên có công đưa văn học Nga hội nhập với thế giới. Thiên tài của Gogol là một thiên tài nhiều mặt, ít thấy ở một nhà văn. Mới hai mươi sáu tuổi, Gogol đã có những tác phẩm mẫu mực của năm loại văn rất khác nhau, tựa hồ của nhiều nhà văn khác nhau: truyện dân gian quái dị với Những đêm trong thôn gần Đikanka, tiểu thuyết sử thi hùng tráng với Tarax Bunba, truyện châm biếm hài hước với Câu chuyện về sự bất hòa giữa Ivan Ivanovits và Ivan Nikiforovits, tiểu thuyết hiện thực phê phán với Một đôi vợ chồng trang chủ kiểu xưa và Cái áo khoác, hài kịch đả kích xã hội với Quan thanh tra. Với cái thiên tài nhiều mặt, mà mặt nào cũng lớn và đang độ phát triển, dồi dào sinh lực ấy, Gogol bắt tay vào viết tác phẩm chủ yếu của đời mình, lớn hơn tất cả các tác phẩm kia: Những linh hồn chết. Từ lúc ấy, cuộc đời của Gogol còn mười sáu năm nữa, nhưng chỉ còn có một mục đích, một công việc, một sứ mạng: hoàn thành Những linh hồn chết, phấn đấu gian lao, đau khổ khủng hoảng tinh thần, lịch sử mười sáu năm cuối của đời Gogol chính là lịch sử của Những linh hồn chết. Ý định viết tác phẩm lớn ấy đến với Gogol, như trong Sám hối của một tác giả, văn hào viết: “Chính Puskin làm cho tôi quan niệm vấn đề một cách nghiêm túc. Từ lâu Puskin khuyến khích tôi bắt tay viết một tác phẩm lớn; Puskin bảo tôi: “- Tại sao có cái tài đoán ra chân tướng con người để chỉ phác vài nét là lẽ ra như nó sống thật, mà anh lại không bắt tay vào viết một tác phẩm lớn? Như thế thật quả là một tội lỗi!”. Để kết luận, Puskin cho tôi đề tài mà chính anh dự định viết thành một trường ca và, theo lời anh, thì không bao giờ nhường lại cho bất kỳ một ai. Đó là đề tài của Những linh hồn chết”. Puskin từng khuyên Gogol sáng tác Những linh hồn chết thành một thiên “trường ca” - poema - Chữ “poema” đây không phải có nghĩa là một tập thơ, mà là một tiểu thuyết trường thiên có tính chất sử thi rộng lớn. Đến khi xuất bản tác phẩm, Gogol cho in lên bìa chữ “poema” to hơn tên sách. Càng viết và càng nghĩ, Gogol càng thấy cái tầm rộng lớn của tác phẩm; vì vậy mà những cuộc phiêu lưu buồn cười của nhân vật chính Tsitsikôp hợp thành tình tiết của thiên trường ca đã được khoác một ý nghĩa biểu tượng: Tsitsikôp không phải chỉ là một tên bịp bợm đi mua nông phu chết, mà còn là Gogol đi tìm những “linh hồn sống”, nhưng chỉ gặp toàn những “linh hồn chết” - trong tiếng Nga cái từ “đusi” có cả hai nghĩa “những linh hồn” và “những nông phu”. Năm 1843, trong một bức thư Gogol viết rõ ràng: - “Quả thật có thể tin được điều người ta nói là: tất cả đều chết hết rồi, rằng ở nước Nga, những linh hồn sống đã nhường chỗ cho những linh hồn chết”.  Bởi vậy mà nhan đề của thiên trường ca trước dự định là Những cuộc phiêu lưu của Tsitsikôp (Pôkhôjdênia Tsitsikôva) với phụ đề là Những linh hồn chết (miôrtvưe đusi) phải đổi lại là Những linh hồn chết với tiêu đề Những cuộc phiêu lưu của Tsitsikôp. Mùa hè 1841 phần thứ nhất Những linh hồn chết được hoàn thành. Tháng chín Gogol mang về nước để xuất bản. Ngày 12 tháng 11 bản thảo nộp cho Ủy ban kiểm duyệt Mạc tư khoa và dĩ nhiên là gặp ngay phải vô số khó khăn. Nhờ phu nhân Xmirnôva và mấy bạn vương công thần thế bảo trợ văn học, Những linh hồn chết mới được phép in, chỉ phải chữa lại đoạn nói về đại úy Kôpêikin. Ngày 23 tháng 5 năm 1842, Những linh hồn chết xuất bản lần thứ nhất. Tờ Người đương thời, trong bài phê bình, đã suy tôn tác giả cuốn sách là đệ nhất văn hào Nga; quả là một danh hiệu chính đáng; từ trước Biêlinxki vẫn nói rằng Puskin sớm chết thì Gogol đã thay vào chỗ mà Puskin để lại trong văn học Nga. Với những điều hiểu biết của một nghệ sĩ thiên tài, Gogol đã “vẽ lại cuộc đời với bộ mặt thật của nó”, và cái bộ mặt của xã hội Nga với các tầng lớp thống trị của nó thời ấy là ghê tởm; thì Gogol đã bắt các đại diện của chúng ta, “giật bộ trang phục mỹ lệ và cái mặt nạ anh hùng” của chúng, bắt chúng “đem thân cho thiên hạ mua cười”. Chỉ với Những linh hồn chết, sự nghiệp của Gogol cũng đã xứng đáng đặt ngang hàng với sự nghiệp của một nhà văn lớn khác của thế giới: Xervantex với bộ Đông Kisôt. Thuộc thể tiểu thuyết phê phán và châm biếm phong tục, - thể tiểu thuyết Picaret theo thuật ngữ văn học, do cái từ Tây Ban Nha picarô, chỉ tên bịp bợm, mà ra, - thì Những linh hồn chết của Gogol, Đông Kisôt của Xervantex và Những di văn của câu lạc bộ Pickuych của Dickenx là ba kiệt tác đứng hàng đầu trong văn học thế giới, và so với các tác phẩm cùng thể tài châm biếm ấy thì Những linh hồn chết đậm tính chất chân thực, gần với cuộc đời hơn cả. *** Bốn Bức Thư Của Tác Giả {Bốn bức thư này in trong chương XVII của cuốn Trích thư từ gửi các bạn tôi xuất bản cuối năm 1846; nhưng những thư này chỉ là những lời thanh minh của tác giả, không phải là những thư gửi đi cho ai cả} I. Anh có tỏ ý phẫn nộ vì cái giọng quá quắt của một số lời chỉ trích Những linh hồn chết. Tôi thấy như thế không được đúng: việc đó cũng có mặt tốt: đôi khi cũng cần có người phỉ báng mình. Người nào đã mê say với những cái đẹp rồi thì không thấy được những cái xấu, cho nên cái gì cũng dung thứ cả; ngược lại người nào đã muốn dèm pha thì cố tìm cho ra những cái xấu của anh và nêu rõ cái xấu đó lên đến nỗi buộc lòng anh phải thấy. Người ta ít khi có dịp nghe sự thật lắm; cho nên chỉ cần được một phần nhỏ sự thật thôi, người ta cũng đã có thể dung thứ cái giọng phỉ báng của kẻ lên tiếng nói sự thật. Những lời phê phán của Bungarin Xenlôpxki, Pôlêvôi có nhiều cái đúng, kể cả lời họ khuyên tôi nên học tiếng Nga trước khi có tham vọng viết lách {Những linh hồn chết phần thứ nhất, ra đời năm 1842, bị những nhà phê bình lạc hậu và phản động ghen ghét la ó. Trong tờ Tín sứ Nga, nhà phê bình lãng mạn chủ nghĩa N.A Pôlêvôi cho rằng Những linh hồn chết chỉ là một bức biếm họa, không thể xem là nghệ thuật được và tác giả chưa biết viết văn, còn mắc nhiều lỗi ngữ pháp; Pôlêvôi viết: “- Hãy gác sang một bên những cảm hứng bồng bột của anh mà đi học tiếng Nga đi!”. Có người chế giễu chữ poema ở bìa sách và suy diễn ra, gọi cả những sách giáo khoa vật lý học và sách dạy làm vườn là poema. Nhưng những lối phê bình ấy làm cho quần chúng chân chính rất căm phẫn}. Quả nhiên, giá tôi giữ bản thảo trong ngăn kéo thêm một năm nữa, chứ đừng vội vã cho in; thì chính bản thân tôi cũng đã thấy rằng không thể nào đem nó ra mà xuất bản dưới một hình thức kém cỏi như vậy. Tuy những bài thơ châm biếm và những lời chế giễu lúc đầu có làm cho tôi khó chịu thật; nhưng vẫn rất bổ ích cho tôi. Ôi! Những lời dèm pha liên miên ấy, cái giọng phỉ báng và những lời chế giễu cay cú ấy, thật có lợi cho ta không biết bao nhiêu mà kể! Trong thâm tâm ta thường giấu nhiều tự ái ti tiện, nhiều tham vọng xấu xa, đến nỗi ta cần phải luôn luôn bị châm chích, đánh đập bằng đủ mọi thứ khí giới; và phải cảm ơn bàn tay đã đánh ta. Tôi những mong được phê phán nhiều hơn nữa, nhưng lại muốn rằng người phê phán không phải là những người làm văn học, mà là những người có kinh nghiệm về thực tế. Tiếc thay, ngoài những người làm văn học, không có một bộ óc thực tiễn nào lên tiếng cả. Tuy nhiên Những linh hồn chết cũng đã gây nên lắm xôn xao bàn tán, lắm lời đồn đại, đã xúc phạm đến lòng tự ái của khá nhiều người vì lối giễu cợt, vì tính xác thực, vì lối biếm họa. Tuy đầy rẫy những sự lầm lẫn, sai lệch hiển nhiên; nó cũng đả động đến một tình hình mà ai nấy đều được chứng kiến hàng ngày. Tôi lại còn xen vào đấy một số đoạn có tính chất khiêu khích, hy vọng rằng sẽ có người lên tiếng quát mắng tôi và trong cơn phẫn nộ, sẽ vô tình mách cho tôi biết cái sự thực mà tôi đang tìm kiếm. Tại sao chưa có ai lên tiếng cả? Ai ai cũng đều có thể làm việc đó, và có đủ cơ sở để làm việc đó. Người viên chức có thể công khai chứng minh cho tôi thấy rằng câu chuyện tôi kể là không xác thực, bằng cách kể ra vài ba sự kiện có thật đã xảy ra và như vậy là đã đưa ra một lời cải chính hùng hồn hơn bất cứ lời biện luận nào. Vả chăng, cũng bằng cách ấy, người kia cũng lại có thể xác nhận thêm những lời miêu tả của tôi. Việc dẫn sự kiện có sức thuyết phục hơn là những lời lẽ rỗng tuếch và những bài luận văn về văn học. Nhà buôn, trang chủ, nói tóm lại là bất cứ ai biết cầm bút, cũng đều có quyền làm như vậy; dù người ấy chỉ sống quanh quẩn trong nhà hay vẫn thường đi đây đó khắp đất nước Nga. Ngoài ý kiến cá nhân của mình ra, bất cứ người nào, dù giữ chức vụ gì, ở địa vị xã hội nào, nghề nghiệp, học vấn ra sao, cũng đều có dịp quan sát sự việc trên một quan điểm riêng. Với đề tài của Những linh hồn chết, lẽ ra quần chúng độc giả có thể viết nên một cuốn sách hay hơn Những linh hồn chết không biết bao nhiêu mà kể; một cuốn sách có thể dạy nhiều điều, không những cho tôi, mà ngay cho các bạn đọc nữa; bởi vì giấu giếm mà làm gì, chúng ta đều biết nước Nga rất ít. Chao ôi! Tại sao không có ai công khai lên tiếng! Thật có thể tưởng chừng như mọi vật đều đã chết; và ở nước Nga, những linh hồn sống đã nhường chỗ cho Những linh hồn chết! Thế mà người ta lại trách tôi không biết rõ nước Nga! Làm như thể do một phép lạ của Đức chúa Thánh thần tôi nhất thiết phải biết rõ tất cả những sự việc xảy ra ở bất cứ xó xỉnh nào; phải học cho kỳ hết, không cần ai chỉ dẫn cả. Tôi làm thế nào mà học hỏi được! Thử nghĩ một nhà văn như tôi, vì nghề nghiệp phải ngồi ru rú ở nhà, sống cuộc đời khổ hạnh, lại thêm bệnh tật nữa và buộc lòng phải sống xa nước Nga; thì còn học hỏi làm sao được? Tôi không thể học hỏi các nhà văn hay các nhà báo, vì họ cũng sống cô độc và quanh quẩn trong phòng giấy. Nhà văn chỉ có một người thầy: bạn đọc. Thế nhưng những bạn đọc ấy đã từ chối, không chịu dạy dỗ tôi. Tôi biết rằng tôi sẽ phải chịu trước Thượng đế một trách nhiệm ghê gớm vì đã không làm tròn bổn phận; nhưng tôi lại biết rằng những người khác cũng sẽ phải chịu một trách nhiệm như thế. Và đây không phải là những lời nói suông: có Thượng đế chứng giám cho tôi, đây không phải là những lời nói suông. 1843 II. Tôi đã cảm thấy từ trước là những đoạn mạn đàm trữ tình trong thiên trường ca của tôi sẽ bị hiểu sai. Những đoạn ấy thiếu minh xác, ít ăn nhập với tình tiết và phong cách của cuốn truyện, đến nỗi khiến cho những người công kích tôi, cũng như những người bênh vực tôi, đều bị lầm. Người ta đã tưởng lầm rằng tất cả những đoạn nói về nhà văn nói chung, đều nhằm nói về tôi cả; tôi đã lấy làm xấu hổ khi thấy họ giải thích những đoạn ấy để bênh vực tôi. Chẳng qua, cũng đáng kiếp cho tôi! Lẽ ra, dù sao tôi cũng không nên cho xuất bản một tác phẩm tuy cắt khéo, nhưng khâu thì lại vụng, bằng chỉ trắng lên vải đen; như một bộ áo quần mà người thợ may vừa lược chỉ qua để thử. Tôi lấy làm lạ sao người ta ít có lời chê trách tôi về nghệ thuật và nghiệp vụ như vậy. Âu cũng tại những người phê phán tôi quá phẫn nộ, mà cũng tại họ không đủ sức khảo sát cách cấu tạo của một tác phẩm. Lẽ ra phải nêu rõ phần nào có vẻ dài một cách quái gở so với các phần khác; ở chỗ nào nhà văn đã tự phản mình, vì không nhất quán dùng cái giọng mà mình đã chọn từ đầu. Thậm chí cũng không có ai nhận thấy phần thứ hai của cuốn sách không được gọt giũa bằng phần đầu; nó chứa đựng những chỗ hổng lớn; những nét thứ yếu được khai triển quá mức, choán hết chỗ của những nét chính; các chương quá khác nhau, làm cho cuốn sách có tính chất vá víu, khiến người đọc không thấy tinh thần chung của nó. Nói tóm lại, lẽ ra nhà phê bình có thể có những lời phê phán sáng suốt và chính xác hơn, chê trách tôi nhiều hơn và một cách đích đáng hơn không biết bao nhiêu mà kể. Nhưng vấn đề không phải ở chỗ ấy. Đây tôi muốn nói đến cái đoạn mạn văn trữ tình đã bị các nhà báo công kích nhiều hơn cả, vì họ thấy nó biểu lộ một sự kiêu ngạo, một lòng tự mãn {Biêlinxki phê bình Những linh hồn chết, phần thứ nhất, ngay khi sách mới xuất bản, trong tạp chí Niên san của Tổ quốc, ca tụng khả năng hiện thực chủ nghĩa và tâm hồn nhiệt thành của tác giả: nhưng cho rằng tác phẩm có những đoạn tỏ lòng yêu nước quá huênh hoang}, một lối khoác lác xưa nay chưa từng thấy ở một nhà văn nào. Đó là đoạn mạn văn ở chương cuối: sau khi tả Tsitsikôp ra đi, tác giả bỏ nhân vật của mình ở giữa đường thiên lý, thay mình vào chỗ đó và ngạc nhiên trước vẻ đơn điệu chán ngắt của sự vật, trước khoảng không gian bao la hoang vắng và tiếng hát ai oán từ dải đất Nga vang lên suốt từ biển này sang biển kia; trong một phút cảm khái, đã lên tiếng hỏi bản thân nước Nga, van xin nước Nga cắt nghĩa mối cảm xúc khó hiểu đang làm lòng mình thắt lại: tại sao cứ có cảm giác như tất cả mọi sinh linh, mọi sự vật trong nước Nga đều như đang nhìn mình đăm đăm và chờ đợi ở mình một cái gì? Người ta đã thấy trong những lời lẽ đó bằng chứng của kiêu ngạo, một sự huênh hoang không tiền khoáng hậu; nhưng thật ra đây không phải là huênh hoang, cũng chẳng phải là kiêu ngạo, mà chỉ là sự diễn đạt một cách vụng về của một tình cảm chân thành. Ngay giờ phút này, tôi vẫn còn cảm thấy ấn tượng đó. Tôi không sao chịu đựng nổi những âm thanh ai oán, não lòng của một bài ca Nga khi nó rung lên trong không gian vô tận của thôn quê ta. Những âm thanh ấy ám ảnh tâm hồn tôi. Thậm chí tôi còn lấy làm lạ sao mỗi một người trong chúng ta lại không biết đến cái cảm giác đó. Ai là người trông thấy những không gian vắng lặng, lạnh lẽo ấy mà không thấy lòng mình se lại; ai là người trong những âm thanh thê thiết của bài dân ca Nga, không nhận thấy những lời trách móc đau xót đối với bản thân mình - tôi nói rõ: đối với bản thân mình - thì người ấy đã làm xong bổn phận của mình một cách trọn vẹn, trừ phi không có một tâm hồn Nga. Sự vật như thế nào, ta hãy cứ nhìn nhận nó như thế. Gần một trăm năm mươi năm đã trôi qua kể từ ngày Hoàng đế Piôtr đệ nhất mở mắt ra cho chúng ta, dắt dìu chúng ta bước lên con đường văn hóa Âu châu, và đặt vào tay chúng ta đủ mọi phương tiện hành động: thế nhưng nông thôn của ta vẫn buồn tẻ và hoang vắng như xưa. Quanh ta mọi vật đều có vẻ ghẻ lạnh, thù địch; tưởng chừng chúng ta chưa phải đang ở trong nhà mình, mà chỉ là đang cắm trại trên đường trường; tưởng chừng đối với ta, nước Nga không phải là một nơi trú ẩn ấm áp, thân tình, mà là một ngôi trạm phủ tuyết lạnh ngắt; ở đấy chỉ thấy hiện ra một gã coi trạm lãnh đạm buông thõng một câu trả lời gắt gao: “- Không có ngựa!”. Tại sao lại như thế? Lỗi tại ai? Tại chính phủ hay tại ta? Nhưng chính phủ vẫn hoạt động không ngừng: chứng cớ là những tập quy chế, chỉ thị, sắc lệnh dày cộm, cái số khổng lồ những tòa nhà đã xây, những cuốn sách đã xuất bản; những thiết chế đủ loại, giáo dục có, từ thiện có, bác ái có; không kể những thiết chế mà ở nước ngoài không thấy chính phủ nào lập ra. Từ trên có những câu hỏi đưa xuống, ở dưới có những lời giải đáp đưa lên. Đôi khi ở trên đưa xuống những câu hỏi chứng tỏ sự đại lượng của một vài nhà vua đã dám hy sinh cả quyền lợi bản thân. Thế mà ở dưới đã trả lời ra sao? Tất cả đều tùy ở cách thức, ở nghệ thuật ứng dụng một tư tưởng sao cho nó thành hiện thực và đi hẳn vào đời sống. Một đạo dụ, dù nội dung có hay ho, dù lời lẽ có chính xác bao nhiêu chăng nữa, cũng vẫn chỉ là một tờ giấy không hồn; nếu ở dưới không tỏ ra có ý muốn đem ứng dụng nó theo một cách thức thích đáng, theo cái cách thức mà chỉ có người nào quan niệm sự công bằng dưới ánh sáng của Thượng đế, chứ không phải dưới ánh sáng của con người, mới tìm ra được. Nếu không, tất cả sẽ thành ra có hại. Chứng cớ là những tay gian lận và ăn hối lộ tinh ma của chúng ta vốn biết cách xoay xở với tất cả các quy chế; một đạo dụ mới đối với họ là một nguồn thu hoạch mới, một phương tiện mới để làm cho sự giải quyết công việc rối ren thêm, để thọc thêm một gậy vào bánh xe. Nói tóm lại, nhìn về đâu tôi cũng thấy rằng thủ phạm chính là những kẻ có bổn phận thi hành pháp luật. Có người vì quá ước ao danh vọng và huân chương, mà đâm ra hấp tấp. Lại có người vì muốn tỏ ra nhiệt thành và tận tụy - một thói xấu rất Nga, - mà cứ đâm đầu vào công việc, không chịu khó nghiên cứu, những tưởng mình có thể điều khiển công việc một cách thành thạo; nhưng hễ thất bại một lần là nản chí ngay, và sau đó, - cũng một thói xấu không kém tính chất Nga, - lập tức thờ ơ với công việc. Lại có người, khi lòng tự ái nhỏ nhen của mình bị tổn thương, liền để lọt vào tay một tên trùm bịp bợm cái cương vị mà ở đấy mình đã bắt đầu phấn đấu cho chính nghĩa. Nói tóm lại, trong chúng ta, ít có người biết yêu cái thiện đến mức có thể vì việc thiện mà hy sinh tham vọng, tự ái cùng tất cả những cái nhỏ nhen của một lòng vị kỷ dễ đâm ra cay cú đến mức có thể khép mình vào một luật lệ bất di bất dịch là phụng sự đất nước, chứ không phải phụng sự bản thân mình; luôn luôn nhớ rằng mình ở cương vị là để mưu cầu hạnh phúc cho người khác, chứ không phải cho bản thân. Ngược lại từ ít lâu nay người Nga chúng ta tuồng như có dụng tâm muốn phô trương tính vị kỷ và dễ chạnh lòng của mình ra. Không biết trong chúng ta liệu có những người mà sau khi làm tròn nhiệm vụ mình rồi, có thể đứng trước toàn thể thiên hạ tuyên bố rằng mình không có lỗi gì đối với nước Nga hết; rằng khắp những khoảng đồng không mông quạnh của đất nước này, không có cái gì có thể coi như một lời trách móc đối với mình cả; rằng mọi vật đều hài lòng về mình và không còn mong chờ gì hơn nữa không? Tôi không biết số người có thể làm như vậy có nhiều không. Tôi chỉ biết rằng riêng tôi, tôi đã nghe thấy lời trách móc thầm lặng đó. Giờ đây, nó vẫn còn văng vẳng bên tai tôi. Sự nghiệp văn chương của tôi có hèn kém thật, nhưng lẽ ra dù sao nó cũng có thể giúp tôi là một việc có ích hơn. Tuy lòng tôi xưa nay vẫn ấp ủ khát vọng làm điều thiện và chỉ vì khát vọng đó mà tôi cầm bút; những cái đó phỏng có gì quan trọng đâu! Tôi đã làm tròn nhiệm vụ ấy như thế nào? Chẳng hạn, cuốn sách vừa rồi của tôi, nhan đề Những linh hồn chết, liệu có gây được cái ấn tượng mà lẽ ra nó phải gây nên; nếu nó được viết cho đúng với yêu cầu không? Vì không biết diễn đạt những ý nghĩ của chính mình; tuy đó là những ý nghĩ khá giản đơn, tôi đã làm cho nó bị hiểu sai, và lại hiểu sai theo một hướng có phần tai hại. Lỗi tại ai đây? Tôi có nên viện cớ là đã nghe theo những thị hiếu xốc nổi của những kẻ tài tử ưa chuộng những phong cách hào nhoáng và trống rỗng không? Tôi có nên đổ lỗi cho hoàn cảnh và tuyên bố rằng vì cần kiếm kế sinh nhai mà phải cho in vội, in vàng tác phẩm của mình không? Không. Ai là người đã từng quyết chí làm tròn nhiệm vụ một cách trung thực thì không thể để cho hoàn cảnh chi phối mình được; nếu cần, thà ngửa tay ra ăn xin, chứ quyết không nhượng bộ trước những lời chê trách hời hợt hay những ước lệ giả dối của xã hội được. Người nào đã vì muốn tuân theo những ước lệ giả dối đó mà làm hỏng một tác phẩm có ích cho nước nhà, thì người đó không phải là người yêu nước. Chính vì tôi đã cảm biết được cái tính nhu nhược đáng hổ thẹn của tôi, cái tính hèn nhát đáng khinh của tôi, nỗi bất lực của lòng yêu nước của tôi; cho nên tôi mới nghe thấu được lời trách móc đau xót mà tất cả những sự vật đang ở trong nưóc Nga đã lên tiếng nói với tôi. Nhưng một sức mạnh cao cả đã nâng tôi dậy; không có lỗi lầm nào không bổ cứu được; và tuy lúc đầu tôi đã chán nản trước cảnh tượng những không gian hoang vắng, về sau chính cảnh tượng ấy đã làm cho tôi đầy nhiệt tình: tôi đã thấy khoảng không vô tận ấy là một môi trường hoạt động tuyệt vời. Và tự đáy lòng tôi đã thốt lên lời kêu gọi đất nước Nga: “- Chẳng phải Ngươi vốn có sứ mệnh sinh ra những bậc anh hùng đó sao? Ngươi hiến cho họ biết bao nhiêu là không gian để xây dựng sự nghiệp!” Đó không phải là một câu văn viết cho kêu để lòe người, cũng không phải là một lời huênh hoang. Không: lời kêu gọi đó tôi thốt ra tự đáy lòng, và đến nay lòng tôi vẫn còn rung cảm vì nó. Giờ đây, sống ở nước Nga bất cứ lúc nào người ta cũng có thể trở thành một bậc anh hùng. Mỗi địa vị, mỗi chức vụ đều đòi hỏi bản lĩnh anh hùng. Mỗi người trong chúng ta đã làm ô uế tính chất thiêng liêng của địa vị và chức vụ của mình (tất cả mọi chức vụ đều thiêng liêng), đến nỗi phải có những sự cố gắng anh dũng mới đưa được địa vị và chức vụ trở lại trạng thái cao cả thích đáng. Trực giác tôi đã cảm thấy được sự nghiệp cao quý ấy, sự nghiệp ngày nay chỉ dành cho dân tộc Nga mà thôi; vì chỉ có dân tộc Nga biết được chủ nghĩa anh hùng và thấy trải ra trước mắt mình những khoảng không vô tận như vậy. Chính vì thế mà tôi đã thốt lên lời than kia, lời than mà người ta đã tưởng lầm là một biểu hiện của tính kiêu ngạo, một lời huênh hoang. 1843 III. Tôi lấy làm lạ rằng một người am hiểu lòng người như anh mà lại có thể đi hỏi tôi những câu ngớ ngẩn chẳng khác gì những người khác. Phần lớn những câu hỏi ấy đều liên quan đến phần sau này của bộ sách: tò mò như vậy mà làm gì? Chỉ có mỗi một câu hỏi thật là tế nhị và xứng đáng với anh; và tuy cũng chưa dám chắc là có thể trả lời một cách thỏa đáng, tôi vẫn ước ao rằng có những người khác cũng hỏi tôi câu đó. Cụ thể là: tại sao những nhân vật trong các tác phẩm gần đây của tôi, nhất là trong Những linh hồn chết, tuy không phải là những bức chân dung của người thật, lại cũng chẳng có gì hấp dẫn cho lắm, mà sao vẫn có vẻ thân thuộc, gần gũi với chúng ta; tưởng như có thể tìm thấy ở các nhân vật đó những nét riêng của bản thân mình? Mới năm ngoái đây thôi, giá có ai hỏi như vậy, dù người đó là anh đi nữa, thì tôi sẽ lúng túng, khó trả lời. Nhưng bây giờ thì tôi xin thú hết: sở dĩ các nhân vật của tôi gần gũi với lòng người là vì chúng ở lòng người mà ra; tất cả những tác phẩm gần đây của tôi đều là lịch sử của tâm hồn tôi. Để anh hiểu rõ hơn những điều này, tôi xin giãi bày để anh rõ tôi là nhà văn như thế nào. Người ta đã bình luận về tôi khá nhiều: người ta đã xác định một số khía cạnh trong tài năng của tôi, nhưng vẫn chưa nhận ra nét căn bản của nó. Puskin là người duy nhất đã nhận thấy nét đó. Puskin vẫn nói với tôi rằng chưa có nhà văn nào có được đến mức như tôi, cái năng khiếu làm hiện rõ sự nhạt nhẽo của cuộc đời, làm cho sự tầm thường dung tục nổi lên, sắc sảo đến nỗi những chi tiết nhỏ nhặt nhất cũng đập ngay vào mắt người ta. Đó chính là cái khả năng thiên bẩm trội nhất của tôi, cái khả năng mà quả nhiên không còn nhà văn nào có. Tôi bẩm sinh đã có khả năng đó, và sau một cơn khủng hoảng tinh thần, nó lại càng phát triển thêm. Và đó chính là điều mà dạo ấy tôi chưa thể thú nhận, dù là với Puskin cũng vậy. Trong Những linh hồn chết, khả năng đó còn thể hiện một cách mạnh mẽ hơn nữa. Sở dĩ Những linh hồn chết đã làm cho nước Nga hoảng sợ và đã gây nên nhiều tiếng xôn xao như vậy, không phải là vì nó phát hiện những ung nhọt hay những bệnh tật ở bên trong; đó không phải là vì nó bày ra cái cảnh đắc thắng của sự xấu xa và cái cảnh những người vô tội bị áp bức, khiến người ta sửng sốt. Không, các nhân vật của tôi không phải là những kẻ vô lại. Tôi chỉ cần thêm một nét dễ ưa vào một trong các nhân vật đó là bạn đọc sẽ vừa lòng với tất cả các nhân vật khác; nhưng vẻ tầm thường dung tục của toàn thể khiến bạn đọc ghê tởm. Các nhân vật của tôi nối đuôi nhau xuất hiện, nhân vật này lại tầm thường hơn nhân vật kia; và độc giả hoài công đi tìm một đoạn có thể an ủi mình, một nơi có thể dừng lại để thở; gấp sách lại, bạn đọc tưởng như vừa từ cái hầm ngột ngạt bước ra để trở lại với ánh mặt trời. Giá đó là những tên gian phi có lắm màu, lắm vẻ đẹp mắt, thì hẳn người ta đã bỏ quá cho tôi; đằng này lại là những kẻ rất mực tầm thường, nên người ta không dung thứ được. Sự vô nghĩa lý của người Nga đã làm cho bạn đọc hoảng sợ hơn là những thói hư tật xấu của họ. Đáng khen thay nỗi kinh hoàng đó! Đã thấy ghê tởm như vậy trước sự đê tiện, hẳn phải có những đức tính trái ngược với sự đê tiện. Vậy thì cái khả năng trội nhất của tôi chính là ở chỗ đó; và xin nhắc lại rằng cái khả năng ấy lẽ ra không phát triển mạnh như vậy nếu tâm trạng của tôi và quá trình diễn biến tinh thần của tôi không góp sức vào đấy. Trong các bạn đọc của tôi, không có ai biết rằng trong khi cười các nhân vật của tôi, họ cũng cười cả chính bản thân tôi đó. Tôi không có một tật xấu, một đức tính nào đủ mạnh để chế ngự các tật xấu, các đức tính khác; ngược lại, tất cả những tính xấu mỗi cái một tí, đều họp nhau trong con người tôi; tôi chưa từng thấy ai tập họp nhiều tính xấu như thế. Thượng đế đã phú cho tôi một bản tính rất phức tạp. Người đã cho tôi một vài đức tính; đức tính đẹp nhất mà tôi không biết làm thế nào để tạ ơn người, là ước vọng tu thân. Tôi chưa bao giờ thích thú với những thói xấu của mình và cũng may mà Thượng đế chí nhân đã cho tôi phát hiện dần từng thói xấu một chứ không phải đột nhiên khám phá ra tất cả một lúc, trong khi tôi chưa quan niệm được lòng từ bi vô cùng vô tận của Người; nếu không thì chắc chắn tôi đã treo cổ mà chết cho rồi. Trong khi tôi dần dần phát hiện ra những tính xấu của mình, thì một sự xui khiến kỳ diệu của bề trên làm cho tôi tăng thêm ý muốn trút bỏ những tính xấu đó đi; một cơn khủng hoảng tinh thần kỳ dị đã thúc đẩy tôi chuyển những tính xấu đó cho các nhân vật của tôi. Cơn khủng hoảng đó cụ thể ra sao thì anh cũng không nên biết làm gì; ví thử điều đó có chút gì bổ ích cho bất cứ ai, thì tôi đã nói ra từ lâu rồi. Từ dạo ấy, tôi bắt đầu lấy những tính xấu của tôi thêm vào các tính xấu của nhân vật. Tôi làm như thế này: tôi lấy tính xấu của tôi gán cho một người nào mà cương vị và chức vụ khác tôi, rồi theo dõi tác dụng của nó trong người ấy; tôi cố gắng hình dung người đó là một kẻ thù không đội trời chung của tôi, đã từng lăng nhục tôi một cách tàn tệ; tôi hằn học, chế nhạo, dè bỉu hắn. Giá có ai trông thấy những quái vật mà ngòi bút tôi đã vẽ ra lúc đầu, người đó hẳn phải rùng mình, sởn gáy. Tôi chỉ xin nói với anh rằng khi nghe tôi đọc những chương đầu của Những linh hồn chết dưới dạng thức nguyên sơ, thì Puskin, - tính vốn hay cười xưa nay và bao giờ cũng vui lên khi nghe tôi đọc, - lần này lại cau mặt, mỗi lúc một thêm ủ dột. Khi tôi đọc xong, Puskin thốt lên, giọng thảm đạm: “Trời ơi, nước Nga của chúng ta thật buồn quá!” ... Mời các bạn đón đọc Những Linh Hồn Chết của tác giả Nikolai Vasilyevich Gogol.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Cõi Mê
Chủ đề mà tác giả hướng tới là sự phân rã trong gia đình, trong cơ cấu xã hội và sự tha hóa khó kìm hãm của con người. Gia đình ông Hoàng, gồm ông và các con trai là những người có năng lực, có tâm huyết với sự đổi mới nhưng nhiều lúc đã chịu thất bại cay đắng bởi cỗ máy bảo thủ và sự tranh giành quyền lực của những kẻ xấu. Gia đình ông Nguyễn Kỳ Hòa, hay là gia đình cụ Nguyễn (bố ông Hòa, tuổi đã tròn trăm) là một gia đình yêu nước có truyền thống, đời đời theo Trương Ðịnh, Nguyễn Tri Phương chống thực dân Pháp xâm lược. Ông Hòa là bộ đội tập kết, lên đến chức đại tá. Anh em ông, các con trai ông đều là liệt sĩ, chỉ để lại đứa cháu nội là thằng Thăng. Do sự cưng chiều và dựa cậy thần thế, thằng Thăng, cái hạt giống duy nhất của một gia đình yêu nước, trượng nghĩa, chưa đến tuổi mười lăm đã đua xe cán chết người, đã làm nát đời con gái người ta rồi tiếp đó là du nhập băng đảng xã hội đen, lao vào dòng đời thác loạn. Sự sa ngã, đúng hơn là lối sống mất dạy, rất nguy hiểm cho xã hội của bọn choai choai như thằng Thăng không chỉ vì sự cưng chiều mà còn vì xã hội còn có mảnh đất cho lối sống ấy. Cái tha hóa của ông Hòa lại ở dạng khác: vì không xin việc được cho thằng Thăng, vì thấy ông Hoàng không tiếp mình, khinh mình nên đã lạm dụng cương vị công tác và uy tín hùa nhau khép tội cho cha con ông Hoàng, những người trung thực và có nhiều tư tưởng đổi mới, đẩy xã hội tiến lên. Cụ Nguyễn đã trụ vững qua nhiều giai đoạn lịch sử để giữ lấy trung nghĩa, nhân đức, sự thanh khiết kể cả dưới chế độ Mỹ - ngụy, cuối cùng đã gục ngã. Sự gục ngã của một trụ cột gia đình, sự thối rữa của một hạt giống duy nhất còn sót lại khiến người đọc bàng hoàng. Liệu rồi dòng máu yêu nước, những đạo lý truyền thống sẽ chảy từ đâu, về đâu? Chỉ ra những chiều hướng xấu trong xã hội, miêu tả sự tha hóa, băng hoại đến tột cùng và những nguy hại nhãn tiền, nguy hại lâu dài cho cả một dân tộc, với tinh thần trách nhiệm và tính chiến đấu cao, tiểu thuyết “Cõi mê” của Triệu Xuân đã góp một tiếng nói thức tỉnh, cảnh giác đối với một thời đoạn lịch sử, đối với tương lai. Dường như nhiều người, nhiều khi chúng ta đang rơi vào cõi mê, đang bị sự quyến rũ chết người nhấn xuống tận đáy của nhơ nhớp lại cứ ngỡ mình đang thăng hoa, đang vinh quang, đang khôn  khéo hoặc tuyệt vời sung sướng. Văn học Việt Nam đang tìm đường để tự đổi mới mình, đang hướng tới những tác phẩm làm tròn thiên chức cao cả của mình là góp phần cải biến xã hội. Có những nhà văn viết về lịch sử, viết về một cuộc sống nào đó trong tư duy chủ quan của mình, nhưng tôi coi trọng hơn những nhà văn viết về cái hôm nay. Triệu Xuân là một nhà văn như vậy. Anh có hiểu biết am tường về lịch sử lẫn mọi ngóc ngách của cuộc sống hôm nay, biết đặt vấn đề hôm nay trong một tiến trình để các sự kiện, vấn đề được soi sáng hơn có ý nghĩa hơn. Tác phẩm “Cõi mê” ngồn ngộn chất liệu đời thực, với những chi tiết chính xác của báo chí, các sự kiện và nhân vật như vừa gặp đâu đó, như đang sống, đang vây lấy người đọc, đòi hỏi anh phải bộc lộ thái độ chứ không chỉ “thưởng thức”... “Cõi mê” đã thật sự thành công khi nói  về sự tha hóa của một số người, sự phân rã trong một số cơ tầng xã hội, đưa ra những vấn đề  bức xúc về lối sống, về giáo dục gia đình, quản lý xã hội, sử dụng con người nhưng chưa mấy thành công khi nói về tương lai, về cái mới với sự mỏng mảnh của  những nhân vật đại diện cho cái mới như Ngọc Bắc, Phương Thảo. Tôi cũng không thích đoạn kết có hậu: mọi người trong hai gia đình “thù địch” lại giảng hòa, vui vẻ ềcả làngể, lại bắt tay cùng xây dựng một cuộc sống mới và sự thanh khiết một cách quá dễ dàng, không đúng ềtôngể với các phần trước đó của cuốn sách, cũng không đúng quy luật của cuộc sống. Cái chết của Ngọc Tiên, sự trả giá của thằng Thăng đã là cái chết của một lối sống trục lợi, chụp giật, thiếu lý tưởng, đã là sự chiến thắng của cái thiện, không cần viết thêm đoạn kết gượng ép. Review Nguyễn Sĩ Đại. *** Nhà văn Triệu Xuân quê Ninh Giang, Hải Dương. Năm 1973, sau khi tốt nghiệp Khoa Ngữ văn ÐHTH Hà Nội, anh vào nam làm phóng viên mặt trận, trải qua đời làm báo dài nhất tại Ðài phát thanh Giải Phóng, sau đó là Ðài Tiếng nói Việt Nam. Hiện công tác tại Nhà xuất bản văn học. Trực diện với cuộc sống, mong muốn được đứng ở hàng đầu của những xung đột và tham gia giải quyết những xung đột ấy là thế sống, là điểm đích của ngòi bút Triệu Xuân trong văn chương cũng như báo chí. Tính từ 1985 đến nay, Triệu Xuân đã có sáu tiểu thuyết: “Giấy trắng” (1985); “Ðâu là lời phán xét cuối cùng” (1987); “Nổi chìm trong dòng xoáy” (1987); “Trả giá” (1988); “Bụi đời” (1990); “Sóng lừng” (1991); “Cõi mê” (2004) và “Hồn rừng” (2005). Anh đã được Giải thưởng văn học giai đoạn 1986-1990 của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam bằng tiểu thuyết “Trả giá”.  *** Cuộc đời có quá nhiều sự quyến rũ! Xưa nay sự quyến rũ có quyền năng vô hạn. Nó có thể làm người ta bừng sáng, thăng hoa đến tót vời, nó cũng có thể đè người ta bẹp dí, nghiền nát, hoặc nhấn xuống tận đáy của sự nhơ nhớp. Nhưng quyền năng vô hạn đó không chỉ có hai mặt, mà mặt thứ ba mới là thực tế: Có những kẻ đang bị sự quyến rũ chết người nhấn xuống tận đáy của nhơ nhớp lại cứ ngỡ mình đang thăng hoa, đang vinh quang, tuyệt vời sung sướng. Thằng Thăng cháu nội ông Nguyễn Kỳ Hòa là kẻ như thế. Nó đang sung sướng lắm! Trời ban cho nó vóc dáng cao lớn, vạm vỡ, điển trai, mắt to đuôi dài rất đa tình. Hồi nó mới mười ba tuổi, đã thèm xe Honda, ông bà nội mua cho liền! Nó cúp cua đi chơi Thủ Đức, Biên Hòa, Vũng Tàu, Đà Lạt, đi bằng xe Honda, và đua với bạn. Cuộc đua nào nó cũng về nhất. Rồi nó mê bơi lội, mê tennis. Nó kiếm được chân nhặt banh trên sân tennis Tri Âm sát sông Sài Gòn. Tại đây, nó nhanh chóng học được môn thể thao này. Nó quan sát những người chơi, nghe họ trò chuyện về những chốn ăn chơi, những cô gái đẹp ở những chốn ấy và hiểu ra rằng những người đàn ông trong nhà nó không là… cái đinh gì, bởi họ không hề biết thưởng thức cuộc đời (câu mà nó thường được nghe đại ca X.O nói)! Chú Hùng Tâm của nó xem ra cũng máu ăn chơi, thế nhưng thằng Thăng ghét Tâm, nó coi Tâm chẳng ra ký lô nào bởi cái tội chảnh chọe với cháu! Chỉ có ông Ba Đào, người mà đàn em tôn vinh là đại ca X.O, và những người bạn của ông ta trên sân Tri Âm mới hiểu đời, biết thưởng thức cuộc sống… Thằng Thăng lớn nhanh như Phù Đổng Thiên Vương sau khi được dân làng góp gạo thổi cơm cho ăn. Mười lăm tuổi mà đã có ria mép, thân hình lực lưỡng như trai mười bảy bẻ gãy sừng trâu. Sừng trâu thì nó chưa bẻ gãy, nhưng nó đã hơn một lần làm nát đời con gái người ta. Không phải nó ác, mà bởi nó đam mê, nó bị sự quyến rũ ngự trị; và nhất là tại các em choai choai thèm lăn xả với nó. Con gái nhìn nó một lần là muốn được lao vào vòng tay nó, dù có chết cũng cam lòng! Bước vô tuổi mười lăm, nó đã cao một mét bảy mươi lăm, người nở nang cân đối và rắn như thép cường độ cao. Nó thông minh, nhưng chán học, triền miên trốn học vì… bị nhiều cô gái đẹp quyến rũ, hay chính nó tạo ra sự quyến rũ không biết. Các cô gái được nó cho thưởng thức mùi đời, biến thành đàn bà thời ấy là bạn học cùng lớp, cùng trường, cùng tuổi choai choai, cùng khao khát ăn chơi, cùng biết xài tiền như nước và cùng thích tốc độ. Băng của thằng Thăng có tám cặp, chỉ có nó đang học lớp tám, còn những đứa kia học lớp mười đến lớp mười hai. Tất nhiên thằng Thăng được tôn làm thủ lãnh. Không làm thủ lãnh sao được khi mà nó chơi bạo nhất, đẹp trai nhất, to cao nhất, nhiều tiền nhất, đa tình nhất, nhiều ý tưởng sáng tạo điên rồ nhất! Ngoài những cái nhất ấy, thằng Thăng còn mang vào chốn giang hồ những tư chất của một kẻ được gia đình chăm sóc, giáo dục kỹ lưỡng: không bao giờ nói tục, không bao giờ chửi thề, ngày đánh răng ba lần, sau khi đi cầu là phải tắm rửa, sau khi đi tiểu dứt khoát dùng giấy vệ sinh thấm… thằng nhỏ, và rửa tay thật kỹ trước khi rời toilet!… Những điều vừa kể đã ngấm vào máu thằng Thăng. Nó thực hiện như một phản xạ bản năng. Bởi thế mà đám đệ tử thấy thằng Thăng như một người của thế giới khác lạ, chúng rất khâm phục. Không biết vì sao Nguyễn Quốc Thăng lại được đám choai choai kêu bằng biệt danh Rồng Xanh? Có lẽ ngẫu nhiên chăng? Vào sinh nhật thứ mười sáu của thằng Thăng, ngày 30 tháng Tư, sau khi ăn chơi nhảy nhót từ sáng tới tối, rồi lao vào chuyện chăn gối đến rã rời cơ bắp, chúng nó vào cuộc đua mới. Không biết là cuộc đua thứ bao nhiêu rồi? Trời cũng chịu, không nhớ nổi! Đêm ấy, băng Rồng Xanh đua với băng Ó Trắng. Tất nhiên là xe phân khối lớn. Tất nhiên là tháo bỏ dây thắng. Tất nhiên là tay đua nào cũng có một em mặc mini jupe khoe cặp chân dài như chân Julia Robert ngồi quặp chặt sau lưng. Điểm xuất phát và đích là cầu Sài Gòn. Rồng Xanh về đích trước tiên. Hai giờ sáng, đúng vào lúc xe thằng Thăng bay tới điểm đích thì bất ngờ xuất hiện chiếc xe đạp của một nữ công nhân đi làm ca đêm về… Người đàn bà xấu số ấy chết không toàn thây! Cả nhà ông Hòa như vừa bị khủng bố. Ai nấy mặt mày dớn dác, cắt không ra giọt máu. Mùa Xuân 1985, đại tá Hòa - nổi tiếng hào hoa, giao thiệp rộng - nhận được quyết định: không trực tiếp chỉ huy đơn vị pháo binh nữa, ông được điều về giữ một trọng trách ở Quân khu. Khi nhận quyết định này, Hòa vừa khấp khởi mừng, vừa lo. Ông hy vọng cấp trên giao cho ông phụ trách thanh tra để rồi thăng lên cấp tướng?! Nhưng, nếu không phải vậy thì… ông lo vì mình đã bước vào tuổi sáu mươi rồi, không được lên tướng thì chỉ còn nước lên làng nướng mà nhậu, nghĩa là về hưu! Quân đội luôn luôn là nguồn cung cấp cán bộ cho các ngành khác. Sau năm 1975, tại miền Nam, hầu hết những cán bộ khung của các ngành công an, kiểm sát, tòa án, thanh tra, thuế, hải quan… đều xuất thân quân đội. Trong đội ngũ ấy, có rất nhiều người là bạn thân hoặc là cấp dưới của Hòa. Hòa làm việc ở Quân khu được hai năm, lập được một vài công tích thì tiếng tăm bay tới cấp trên. Nạn tham nhũng đã và đang hiển hiện. Đại tá Hòa, chưa được lên tướng, nhưng được trên cử làm Phó Ban chống tham nhũng! Mời các bạn đón đọc Cõi Mê của tác giả Triệu Xuân.
An
An là cuốn sách gây xúc động mạnh nhất Nhật Bản về tình người năm 2015 với một diện mạo vô cùng xinh đẹp. C uốn sách best seller: AN của tác giả đa tài Durian Sukegawa đã được đạo diễn nổi tiếng người Nhật Naomi Kawase chuyển thể thành phim điện ảnh vào năm 2015 với tựa đề AN.  Cùng năm, bộ phim được công chiếu ở lễ khai mạc tại Liên hoan phim Cannes trong hạng mục Un Certain Regard Certain Regard. Cuối năm đó, bộ phim được phát hành tại Đức và thiết lập nên những kỉ lục phòng vé đáng tự hào. Cuốn tiểu thuyết cũng đồng thời được xuất bản bằng tiếng Đức vào năm 2016 và tạo được tiếng vang lớn trong lòng bạn đọc với ố lượng bản in tiêu thụ khổng lồ. An là một cuốn tiểu thuyết hấp dẫn được viết bởi Durian Sukegawa kể về cuộc đời của những con người trong một xã hội Nhật Bản đương thời theo một cách không ngờ đến. Từ những cái cái chạm nhẹ diễn tả những mối liên hệ giữa những con người ở từng độ tuổi khác nhau, tới một bài học bất ngờ về định kiến, AN như thể là một câu chuyện cổ tích không thể nào quên về tình bạn vừa đắng chát vừa ngọt ngào. Nằm trên một con hẻm bị lãng quên chạy dọc theo đường ray xe lửa, một cửa hàng Dorayaki nhỏ với tấm biển tìm người làm thuê treo phía trước. Sau bao nhiêu ngày anh chủ tiệm Sentaro ngóng chờ với niềm hy vọng dần mờ nhạt thì một ngày nọ Yoshii Tokue, một bà cụ ngoài 70 tuổi mang khuyết tật ở bàn tay đến xin làm. Ngạc nhiên trước hương vị ngon lành của món mứt đậu đỏ mà bà Tokue làm, Sentaro đã thuê bà và cửa hàng bắt đầu trở nên đắt khách. Một bà cụ Tokue với cuộc đời bị đóng kín bởi những định kiến, một Sentaro mất đi niềm tin vào cuộc sống. Hai con người với những tổn thương mang trong mình  dần bước đến một cuộc sống mới với những giá trị mới. Một kết thúc sẽ khiến bất kỳ ai nghẹt thở bởi sự kỳ diệu và đẹp đẽ của đời người… Bằng cách sử dụng cách thức làm bánh truyền thống của Nhật Bản - bánh dorayaki, Sukegawa đã khéo léo kể một câu chuyện rất đời và rất người về bản chất tự nhiên của định kiến và những con người bị định kiến bủa vây. Thêm vào đó là những câu chuyện lịch sử được tìm thấy qua những trang sách của AN, những khía cạnh văn hóa truyền thống của Nhật Bản được lồng ghép hiện lên thật chân thực và mang nét đặc trưng văn hóa riêng nơi nghề thủ công và chế biến thực phẩm được tôn vinh và lan tỏa tinh hoa ra khắp châu Á. Cuốn sách này sẽ khiến bạn rơi lệ nhưng đồng thời cũng sẽ khiến bạn mỉm cười lấp lánh với những giá trị nhân văn sâu sắc. Một món quà ý nghĩa chắc chắn không thể bỏ lỡ trong mùa xuân – mùa của những khởi đầu mới. Hãy tìm đọc AN để tìm thấy những bình yên giữa thế gian hỗn loạn các bạn nhé !  cuốn sách gây xúc động mạnh nhất Nhật Bản về tình người năm 2015 với một diện mạo vô cùng xinh đẹp. C uốn sách best seller: AN của tác giả đa tài Durian Sukegawa đã được đạo diễn nổi tiếng người Nhật Naomi Kawase chuyển thể thành phim điện ảnh vào năm 2015 với tựa đề AN.  Cùng năm, bộ phim được công chiếu ở lễ khai mạc tại Liên hoan phim Cannes trong hạng mục Un Certain Regard Certain Regard. Cuối năm đó, bộ phim được phát hành tại Đức và thiết lập nên những kỉ lục phòng vé đáng tự hào. Cuốn tiểu thuyết cũng đồng thời được xuất bản bằng tiếng Đức vào năm 2016 và tạo được tiếng vang lớn trong lòng bạn đọc với ố lượng bản in tiêu thụ khổng lồ. An là một cuốn tiểu thuyết hấp dẫn được viết bởi Durian Sukegawa kể về cuộc đời của những con người trong một xã hội Nhật Bản đương thời theo một cách không ngờ đến. Từ những cái cái chạm nhẹ diễn tả những mối liên hệ giữa những con người ở từng độ tuổi khác nhau, tới một bài học bất ngờ về định kiến, AN như thể là một câu chuyện cổ tích không thể nào quên về tình bạn vừa đắng chát vừa ngọt ngào. Nằm trên một con hẻm bị lãng quên chạy dọc theo đường ray xe lửa, một cửa hàng Dorayaki nhỏ với tấm biển tìm người làm thuê treo phía trước. Sau bao nhiêu ngày anh chủ tiệm Sentaro ngóng chờ với niềm hy vọng dần mờ nhạt thì một ngày nọ Yoshii Tokue, một bà cụ ngoài 70 tuổi mang khuyết tật ở bàn tay đến xin làm. Ngạc nhiên trước hương vị ngon lành của món mứt đậu đỏ mà bà Tokue làm, Sentaro đã thuê bà và cửa hàng bắt đầu trở nên đắt khách. Một bà cụ Tokue với cuộc đời bị đóng kín bởi những định kiến, một Sentaro mất đi niềm tin vào cuộc sống. Hai con người với những tổn thương mang trong mình  dần bước đến một cuộc sống mới với những giá trị mới. Một kết thúc sẽ khiến bất kỳ ai nghẹt thở bởi sự kỳ diệu và đẹp đẽ của đời người… Bằng cách sử dụng cách thức làm bánh truyền thống của Nhật Bản - bánh dorayaki, Sukegawa đã khéo léo kể một câu chuyện rất đời và rất người về bản chất tự nhiên của định kiến và những con người bị định kiến bủa vây. Thêm vào đó là những câu chuyện lịch sử được tìm thấy qua những trang sách của AN, những khía cạnh văn hóa truyền thống của Nhật Bản được lồng ghép hiện lên thật chân thực và mang nét đặc trưng văn hóa riêng nơi nghề thủ công và chế biến thực phẩm được tôn vinh và lan tỏa tinh hoa ra khắp châu Á. Cuốn sách này sẽ khiến bạn rơi lệ nhưng đồng thời cũng sẽ khiến bạn mỉm cười lấp lánh với những giá trị nhân văn sâu sắc. Một món quà ý nghĩa chắc chắn không thể bỏ lỡ trong mùa xuân – mùa của những khởi đầu mới. Hãy tìm đọc AN để tìm thấy những bình yên giữa thế gian hỗn loạn các bạn nhé !  *** Tiệm bánh dorayaki Doraharu. Sentaro suốt ngày dài cứ nhìn vào bàn nướng. Từ đoạn đường dọc theo tuyến đường ray xe lửa cắt ngang một con hẻm, có cửa tiệm nằm ở khu phố chợ tên là “đường hoa anh đào”. Đó là một con đường có những tấm cửa cuốn đóng kín còn nổi bật hơn cả những cây anh đào trồng lác đác. Dù vậy không biết có phải vì bị hoa quyến rũ hay không mà vào mùa này lượng người qua lại dường như tăng lên chút ít. Khi nhận ra có người phụ nữ cao tuổi đứng bên đường, Sentaro lập tức quay mắt nhìn vào cái bát anh đang dùng để nhào bột. Ở trước cửa tiệm có cây hoa anh đào. Khi hoa nở rộ, tựa như có một vùng mây trắng nhỏ xíu đang rực lên. Sentaro nghĩ chắc hẳn bà là người đến ngắm hoa. Tuy nhiên, vào lần tiếp theo Sentaro ngẩng đầu lên, người phụ nữ đội nón màu trắng ấy vẫn đang đứng đó. Hơn nữa, bà dường như đang nhìn Sentaro chứ không phải ngắm hoa. Theo phản xạ tự nhiên, Sentaro gật đầu chào. Ngay lập tức, người phụ nữ ấy chầm chậm tiến lại gần cửa tiệm, trên khuôn mặt bà hiện lên nụ cười phảng phất sự gượng gạo. Sentaro nhớ ra đã từng trông thấy bà. Vài ngày trước đây, người này đã đến cửa tiệm một lần với tư cách là khách hàng. “Cái này,” bà đột nhiên chỉ tay vào tờ giấy dán ở cửa kính. Ngón tay bà cong như một cái móc. “Thực sự là không giới hạn tuổi tác sao?” Bàn tay đang cầm cái sạn nhựa của Sentaro dừng lại. “Bà hỏi cho ai, cháu bà phải không?” Không hồi đáp lại, bà chỉ hấp háy một bên mắt. Gió nổi lên. Cây anh đào rung rinh. Len qua khung cửa kính, những cánh hoa anh đào rơi xuống bàn nướng. “À…” Bà ưỡn người về phía trước. “Tôi thì có lẽ không được phải không?” “Hả?” Sentaro đáp lại bằng một câu hỏi. Bà đang chỉ ngón tay vào mũi mình. “Tôi rất muốn thử làm công việc như thế này.” Trong phút chốc, Sentaro bật cười mà không kịp cảm thấy rằng điều đó là thất lễ. “Bà bao nhiêu tuổi rồi?” “Tôi tròn bảy mươi sáu tuổi.” Phải trả lời lại như thế nào để không làm bà tổn thương đây. Trong lúc lựa lời, Sentaro đảo tới đảo lui cái sạn nhựa. “Ừm… ở đây, thấp lắm. Bây giờ, chỉ có 600 yên.” “Hả? Cậu nói gì cơ?” Bà đặt bàn tay lên lỗ tai. Sentaro khom người thấp xuống. Đây là tư thế mỗi khi anh đưa bánh dorayaki cho trẻ con hay người lớn tuổi. “Ở đây trả lương theo giờ thấp lắm. Mặc dù cháu rất muốn thuê người phụ việc nhưng người có tuổi thì…” “À. Cái này.” Ngón tay cong của bà chỉ vào mấy chữ trên tờ giấy. “Lương theo giờ có thể giảm phân nửa cũng được. Cậu trả tôi 300 yên cũng được.” “300 yên?” “Vâng,” từ bên dưới chiếc mũ, đôi mắt bà như mở to hơn. “Không… quả thực là, cháu nghĩ không thể đâu. Xin lỗi. Mong bà thông cảm.” “Tôi tên là Yoshii Tokue.” “Hả?” Không biết có phải vì lãng tai hay không mà người phụ nữ cao tuổi này đã hiểu nhầm gì đó rồi. Sentaro đan chéo hai tay trước ngực làm thành hình dấu X. “Cháu thật sự xin lỗi.” “Hả, vậy là?” Yoshii Tokue cứ nhìn chằm chằm vào khuôn mặt Sentaro. Mắt trái và mắt phải của bà có hình dáng khác nhau. “Đây là công việc lao động chân tay khá nhiều, vậy nên quả thực là…” Yoshii Tokue há miệng như thể muốn nuốt cả không khí vào trong, bà đột nhiên chỉ tay về phía sau lưng mình. “Cây anh đào này, ai trồng vậy nhỉ?” “Hả?” Hướng mặt về phía cây anh đào, Tokue lặp lại: “Cây anh đào này.” Sentaro ngẩng lên nhìn những nhành hoa nở rộ sum sê. “Ai nhỉ?” “Phải có ai đó đã trồng chứ đúng không cậu?” “Xin lỗi, cháu không phải là người lớn lên ở đây ạ.” Khuôn mặt Tokue dường như còn muốn nói điều gì, nhưng khi nhìn Sentaro đã chỉnh lại tư thế cầm sạn nhựa, bà bước ra trước cửa kính chào tạm biệt anh: “Tôi sẽ đến đây nữa nhé!” Bà đi về hướng ngược lại với nhà ga. Dáng đi của bà lóng ngóng tạo cảm giác như thể những khớp xương đã trở nên khô cứng. Sentaro thôi không nhìn bà nữa, anh quay trở lại việc nhào bột. Mời các bạn đón đọc An của tác giả Durian Sukegawa & Kodaki (dịch).
Vịt Con, Anh Xin Lỗi, Anh Yêu Em
Trong tình yêu không có khái niệm của sự lừa dối. Nhưng nếu một tình yêu dựa vào sự lừa dối để nó phát triển thì sao? Con người ai cũng có tham vọng của nó, liệu chúng ta có thể dễ dàng tha thứ? Một tình yêu giả dối nhưng sáng, lừa gạt nhưng thật lòng. Liệu có phải là đúng khi gieo hạt mối quan hệ này... Mong các bạn đọc xong để lại cmt nhận xét nha ^^ Mình không ngại thu gạch xây nhà đâu, hì :)) *** Nhân vật: Trần Tố Nhi (16t): tinh nghịch,quậy phá nhưng đó chỉ là bề ngoài thôi.Là một người tốt bụng nên dễ bị lừa gạt tình cảm. Lâm Vy Vy(16t): BFF của Nhi,dễ thương,xinh xắn, quậy cũng chẳng kém gì Nhi. Nguyễn Hoàng(17t):đẹp trai ,hào hoa nhưng mà anh này phải gọi là cực kì lạnh lùng,gia thế ko ai biết ngoại trừ bạn anh ấy. Lâm Thế Bảo(17t): BFF của Hoàng,trầm tính, ít nói, là thiếu gia tập đoàn BB. Lê Tùng(17t): BFF của Hoàng và Bảo, là người vui tính, lăng nhăng,là một playboy chính hiệu,là thiếu gia tập đoàn GB. Chap 1 Nó đang đứng trước cổng trường WK, nó trông chờ ngày này rất lâu rồi. Hôm nay nó cố tình làm ình nổi bật giữa đám đông với kiểu tóc thắt bím 2 bên, cặp kính dày cộp nhìn như con nhà quê.Khai giảng trong khuôn viên trường rộng lớn và lộng lẫy, ko khổ danh là trường chuẩn,cái gì cũng đẹp. Nó nhanh chóng xếp hàng vào lớp. Nó học lớp 10A2, đang loay hoay tìm chỗ vì với bộ dạng xấu xí thế này thì có ai thèm ngồi cạnh nó đâu, hix. _Em kia đang làm cái gì đó hả?-cái giọng the thé của bà cô chủ nhiệm nó vang lên _Dạ...em...em đang...-nó gãi đầu ko biết trả lời sao _Em...em cái gì, mới ngày đầu tiên thôi mà chị đã muốn kiếm chuyện sao?-bà cô đẩy gọng kính lên và nhìn nó Cả cái lớp nó xôn xao,mấy đứa con gái chảnh choẹ trong lớp huých tay nhau mà thầm thì nói: _Ê tụi bay, con nhỏ này hài vãi, vừa xấu xí vừa cà lâm nữa! Nghe vậy mấy thằng con trai cũng gật gù mà đồng ý. Nãy giờ nghe bọn bạn trong lớp bàn tán mà nó tức đến hộc máu "Bọn này đuôi khi nói mình xấu xí,tuy là mình ko được đẹp nhưng cũng xem là thanh tú dễ nhìn,bà đây nhịn tụi bây". Nó đành miễn cưỡng mà nở nụ cười cầu cứu bà cô thì đột nhiên có một giọng nói dịu dàng vang lên: _Dạ thưa cô, cô có thể cho bạn ấy ngồi cạnh em được ko ạ? _Ê tụi bay người đẹp, quá dễ thương luôn, chắc tao chết mất...-cả chục câu khen ngợi dành cho cô gái đó Bà cô cũng quay sang nhìn cô gái xinh đẹp đó,đập bàn một tiếng: _Im lặng hết cho tôi, em kia, em có chắc là muốn ngồi cạnh bạn gái này ko?-vừa nói bà cô vừa chỉ vào nó _Dạ, em chắc chắn ạ! -cô gái tự tin trả lời _Nếu đã vậy thì em xuống ngồi với bạn ấy đi Nó vui mừng,cúi đầu cám ơn bà cô rồi chóng xuống chỗ ngồi mà quên liếc xéo cô bạn cùng bàn. _Sao mà khó chịu vậy bạn yêu? Đừng cau mày nữa mà Nhi xinh đẹp!- Vy Vy ra sức làm nũng với nó _Cũng chỉ tại cái vụ cá cược ấy mà tao bị bẽ mặt như vậy,mà mày còn đặt ra quy định xem tao có tìm được chỗ ngồi khi xấu xí như vậy nữa chứ! - nó tức tối _Tại mày cá cược thua nên phải hóa trang thế này trong 3 tháng mà nếu mày thấy ko thể thì chịu thua mà bỏ cuộc sau đó người thắng sẽ có một điều ước, sao mày có chịu nhận thua ko?- Vy Vy lém lỉnh nhìn nó _Đừng có mơ,Nhi tao đây sẽ thắng à xem! - Nó tự tin mà đảm bảo nói Vy Vy ko nói thêm gì mà nhìn nhỏ bạn đang đắc chí. Giờ ra chơi, nó lao nhanh xuống dưới căn-tin để mua đồ ăn sáng ko may đụng phải thẳng cha nào làm nó té nhào xuống đất, nó điên tiết: _Nè anh, bộ đuôi hay sao mà ko thấy tui? _Cô có biết tôi là ai ko mà ăn nói kiểu đó hả? -hắn ta lạnh mặt nói _Là ai? -nó nhìn chằm chằm hắn,mắt thấy được cái bảng tên lớp trên áo hắn,mắt nó sáng lên-Ồ, anh chỉ hơn tôi có 1 lớp thôi chứ mấy,tưởng tôi sợ à? _Cô...-hắn tức nghẹn họng _Cô...cô cái gì? -tâm trạng nó vui vẻ hẳn lên Hắn nhìn bộ dạng vui vẻ đó của nó mà khó chịu nhưng nhanh chóng đã được hắn che lấp bằng một nụ cười nửa miệng _Cô đang định gây sự chú ý với tôi sao? Xin lỗi,tôi ko thích loại con gái dữ dằn,tốt nhất là cô hãy tìm cách khác đi! _Anh...anh nghĩ cái gì...-nó lắp ba lắp bắp Hắn chẳng thèm trả lờí,đi ngang qua nó và bỏ lại một câu "Thật là mất mặt mà" Ù ù ù tai nó vừa nghe thấy gì ấy nhỉ? Hắn ta đúng là ôn dịch mà. Hãy đợi đấy, Tố Nhi này sẽ ko tha cho anh đâu đồ đáng ghét,grừ...grừ Chap 2 Đã 5 ngày nay nó đi tìm hắn mà ko thấy hắn đâu, hắn như bóng ma vậy,biệt tăm biệt tích ko thấy đâu. Đang bực mình thì Vy Vy đi tới vỗ vai nó: _Nhi, mày dạo này sao thế? _Tao đang tìm thằng cha đáng ghét dám chửi tao! -nó hậm hực _À,thế mày đã tìm được hắn chưa? - Vy Vy quan tâm hỏi nó _Chưa mà có lẽ hắn sợ tao nên trốn rồi cũng nên. -nó khẽ cong miệng _Hahaha, chắc vậy - Vy cười chọc quê nó _Mày đừng có cười nữa ko tao ghét mày luôn bây giờ -nó đe dọa _Ừ, tao ko cười nữa mà mày tính hóa trang trong 3 tháng thật à, hay là mày chịu thua đi -Vy Vy cố nín cười nói _Mày đừng có mơ,Tố Nhi tao mà ra tay chỉ có thắng thôi nhá, mày chuẩn bị nhận thua đi - nó tự tin nói _Để xem đã mày -Vy Vy bĩu môi nói Hai tụi nó chạy lên lớp, cái lớp vẫn vậy, nó vinh hạnh mang danh hiệu là con vịt xấu xí ngồi cạnh thiên nga xinh đẹp Vy Vy. Trong lớp con nhỏ Bảo Hân đẹp người mà chẳng đẹp nết luôn gây khó dễ cho nó. _Ê, vịt xấu xí, bộ mày ko biết dọn vệ sinh lớp hay sao mà bẩn vậy nè -nhỏ hách dịch nói _Ừ...ừ để mình làm lại -nó tức muốn chửi nhỏ đó một trận nhưng mà đóng kịch phải đóng cho trót."Cái con Bảo Hân này,mày nhớ đấy,chỉ còn 2 tháng 3 tuần 2 ngày nữa thôi là bà đây sẽ ày biết tay" -nó vừa dọn dẹp mà vừa suy nghĩ kế hoạch phục thù.Con Vy ở dưới nhìn nó như vậy mà lạnh hết cả sóng lưng.Đang lúi húi dọn dẹp thì bọn con gái trong lớp hét lên _Ê tụi bây, bộ 3 đến rồi kìa! _Đâu đâu, tao muốn xem thấy 3 ảnh - cái lũ mê trai nhanh chóng bu ra ngoài Nó cũng thấy tò mò nên hỏi Vy bộ 3 đó là gì,Vy Vy say sưa kể cho nó nghe: _Đó là bộ 3 hotboy của trường mình đấy! Nguyễn Hoàng,Lâm Thế Bảo,Lê Tùng đều là người rất được xem trọng trong trường.Mấy ảnh vừa đẹp trai, con nhà giàu, thế thôi cũng đủ ngốn hết cả núi tim của bọn con gái rồi! _Thật ko vậy mày, sao nghe nó ảo ảo thế nào í -nó ko tin cho lắm _Mày ko tin thì có thể ra ngoài xem nha! _Ừ, tao cũng muốn xem hot boy là như thế nào? -nó hứng khởi   Mời các bạn đón đọc Vịt Con, Anh Xin Lỗi, Anh Yêu Em của tác giả lola_babie.
Vị Hôn Thê Bá Đạo
Hôn ước giữa hai người họ đã được định sẵn từ khi họ chưa ra đời. "Không ngờ em giỏi thật đấy! Chưa gặp lần nào mà vẫn nhận ra vị hôn thê của mình!" *** Trăng tròn. Bầu trời đêm hôm nay tuyệt đẹp với vô số những vì sao lấp lánh. Trong căn biệt thự lớn nhất thành phố- và đó cũng là căn biệt thự của tập đoàn LV. “ Chát!”- Bên ngoài một căn phòng nhỏ ở trên gác của biệt thự, từng tiếng hét, tiếng đánh chói tai vang lên phá vỡ không gian tĩnh mịt. Ở bên ngoài căn phòng có một người phụ nữ ăn mặc sang trọng đang đi qua đi lại trước của phòng. Sau lưng bà ấy có hai tên vệ sĩ đeo kính râm và một cô hầu gái. “Mời bà theo chúng tôi về phòng!”-Một tên vệ sĩ lên tiếng. “Con tôi đang ở trong đó thì làm sao tôi đi được?”- Người phụ nữ quay khuôn mặt đang khóc đến sưng cả hai mắt nhìn tên vệ sĩ. “Đây là lệnh của chủ tịch.”-Tên vệ sĩ trả lời. “Nhưng mà……” “Phu nhân. Xin bà đừng làm khó chúng tôi!”-Tên vệ sĩ cắt ngang lời của người phụ nữ. “Cậu…..” “Cạch”- Người phụ nữ đó còn chưa kịp nói hết câu thì cánh cửa phòng bỗng nhiên mở khiến tất cả mọi người đều quay nhìn nó. “Ông co……” “Khuya rồi mọi người đi nghĩ hết đi.”-Người đàn ông vừa bước ra khỏi phòng với khuôn mặt lạnh lùng nói với hai tên vệ sĩ và cô hầu. “Dạ. Ông chủ!”- Ba người cùng cuối đầu đồng thanh đáp. Không thèm liếc mắt nhìn người phụ nữ đang khóc một cái, người đàn ông đó trực tiếp bước về phía hành lang. “Ông…….” “Bà vào trong đó với nó đi!”- Trực tiếp cắt ngang lời của người phụ nữ rồi người đàn ông lại tiếp tục đi về phía hành lang dài. Vội vã chạy vào trong phòng thì cảnh tượng trước mắt khiến bà ta không cầm lòng được mà khóc lớn tiếng. Trên giường là một cô gái khoảng 15-16 tuổi đang nầm sấp. Khẽ mở mắt nhìn người phụ nữ, cô gái mở miệng yếu ớt nói:” Bà vào đây làm gì? Ra ngoài!” “Con nằm đây đợi chút, ta sẽ đi lấy thuốc xức cho con!”-Người phụ nữ vừa khóc vừa nói trong tiếng nấc. “Không cần!”-Cô gái trả lời với người phụ nữ bằng thái độ hơi vô lễ sau đó cố gắng ngồi dậy bước xuống giừơng “Con muốn về phòng sao? Để ta đỡ c…….”- Thấy cô gái định đứng lên thì người phụ nữ đó vội vã vừa hỏi vừa đưa tay ra để đỡ. “Không cần!”- Vừa nói cô vừa hất tay người phụ nữ đó ra, từng từng bước từng bước khó khăn đi ra khỏi căn phòng. ***** “Ông đâu cần phải đánh nó tới mức đó. Dù sao thì nó cũng là con gái của ông mà!”-Người phụ nữ tức giận trừng mắt nhìn người đàn ông lúc nãy. “Bởi vì nó là con gái của tôi cho nên tôi mới cần phải đánh nó.”- Người đàn ông chậm rãi trả lời người phụ nữ. “Ông!”- Vẻ mặt bình thảng của người đàn ông khiến người phụ nữ càng tức giận hơn nhưng không thể nào nói trả lại người đàn ông. “Vậy nó nói sao? Nó có đồng ý không?”- Quyết định không chất vấn người đàn ông nữa, người phụ nữ đành bất lực hỏi lại. “Tất nhiên là không!”- Người đàn ông tiếp tục chậm rãi trả lời người phụ nữ. “Vậy bây giờ làm sao đây? Hay ông thử nói chuyện lại với anh Lương đi, biết đâu…..” “Không thể được.”- Không chờ người phụ nữ nói hết câu, người đàn ông trực tiếp ngắt ngang lời người phụ nữ. “Chuyện hôn sự này là do cha mẹ tôi sắp đặt từ rất lâu rồi. Bởi vì tôi và anh Lương đều là con trai nên chuyện hôn sự năm đó không thể thực hiện được. Còn bây giờ tôi có con gái, anh Lương có con trai, gia thế hai bên môn đăng hộ đối nên làm thông gia chẳng phải rất tuyệt sao? Bên chúng ta có LV, bên anh Lương có TL, nếu như chuyện hôn sự thành công, sau này hai bên hợp tác làm ăn chẳng phải rất tốt sao?” “Chuyên hôn sự này là hạnh phúc cả đời của con bé, với lại năm nay nó mới 16 tuổi thì làm sao có thể kết hôn được?” “Hạnh phúc cả đời thì sao? Trước đây tôi và bà chẳng phải cũng là hôn sự do cha mẹ hai bên sắp xếp sao? Chẳng phải chúng ta vẫn sống rất tốt đó thôi! Với lại chưa đủ tuổi kết hôn thì cứ đính hôn trước, sau đó cho tụi nó ở chung để bồi đắp tình cảm cũng được!” “Tôi thấy cứ để con bé học hết lớp 12 đã rồi hẵng tính, với lại ông dạy con thì dạy nó nhẹ nhàng thôi chứ đừng có đánh nó nữa. Nó cũng lớn rồi mà ông cứ bắt nó nằm sấp để đánh thì…..” “Rồi rồi……sau này tôi không bắt nó nằm sấp nữa, được chưa? Bây giờ thì xin mời phu nhân của tôi ơi, mau lại đây ngủ đi, khuya rồi!”- Không đợi người phụ nữ nói hết câu, người đàn ông đã giành lời. “Từ từ đã, để tôi gọi cho hiệu trưởn xin phép cho con bé ngày mai nghĩ một ngày, chứ nó……” “Không cần đâu. Tôi đã làm thủ tục chuyển trường cho nó rồi.” “Cái gì? Tại sao ông không nói với tôi một tiếng? Mà ông chuyển nó đi trường nào vậy? Chẳng lẽ ông…..”-Người phụ nữ nhìn người đàn ông với vẻ mặt nghi ngờ. “Đúng vậy! Là trường mà con trai của anh Lương học- trường Đông Nam. Tôi cũng đã sắp xếp cho nó học cùng lớp với Gia Huy rồi và cho chúng ngồi cạnh nhau luôn. Bà thấy tôi có giỏi không?”   Mời các bạn đón đọc Vị Hôn Thê Bá Đạo của tác giả Sea Ice.