Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Nhật Ký Bí Mật của Tiểu Thư Miranda - Julia Quinn

Tiểu thuyết lãng mạn lịch sử xuất sắc nhất - RITA Awards 2007 Hôm nay mình đã yêu. Ở tuổi lên mười, tiểu thư Miranda Cheever không cho thấy bất cứ dấu hiệu nào của một Sắc đẹp Lộng lẫy. Cô bé đã học được cách chấp nhận những kỳ vọng của xã hội đối với mình… cho đến một buổi chiều, khi Nigel Bevelstoke - chàng Tử tước Turner đẹp trai, phong nhã – nghiêm trang hôn tay cô bé và hứa rằng: một ngày kia em sẽ trở thành chính mình, em sẽ thật xinh đẹp và thông minh. Ngày hôm ấy, Miranda đã biết mình sẽ yêu Turner mãi mãi. Mười năm sau, tất cả đều thay đổi, trừ tình yêu của Miranda dành cho Turner. Đi qua một cuộc hôn nhân đau khổ, Turner giờ trở thành một người đàn ông không còn niềm tin, cô độc và cay nghiệt. Còn Miranda, cô vừa tròn hai mươi, xinh đẹp theo cách của riêng mình, ngọt ngào vừa đủ, điềm tĩnh vừa đủ và mạnh mẽ vừa đủ. Đủ để không cho phép tình yêu kéo dài mười năm dành cho Turner một lần nữa trôi qua tầm tay… *** Ở tuổi lên mười, tiểu thư Miranda Cheever không hề bộc lộ dấu hiệu nào hứa hẹn một Sắc Đẹp Lộng Lẫy. Mái tóc nâu thảm hại đồng màu với đôi mắt; đôi chân dài khác thường từ chối bất cứ chuyển động nào có thể coi là duyên dáng dù mơ hồ nhất. Lúc nào mẹ cô bé cũng thấy cô nhảy loi choi khắp nhà. Thật không may cho Miranda, cái xã hội nơi cô bé sinh ra lại rất coi trọng vẻ bề ngoài của nữ giới. Và dù chỉ mới mười tuổi nhưng cô bé đã hiểu rằng về mặt này mình bị coi là thua kém so với hầu hết các bạn nữ khác trong vùng. Trẻ con thường có cách khám phá ra những điều như vậy, thường là từ những đứa trẻ khác. Chẳng hạn như sự cố không mấy vui vẻ xảy ra tại bữa tiệc sinh nhật lần thứ mười một của tiểu thư Olivia và công tử Winston Bevelstoke, cặp sinh đôi của vợ chồng ngài Bá tước xứ Rudland. Nhà Miranda khá gần Haverbreaks, điền sản của tổ tiên dòng họ Rudland gần Ambleside, quận Lake, Cumberland, và cô bé thường học bài cùng Olivia và Winston khi bọn trẻ về đây ở. Chúng trở thành bộ ba không thể tách rời và hiếm khi chơi với những đứa trẻ khác trong vùng, vì hầu hết đều sống cách đó khoảng một giờ đi ngựa. Khoảng chục lần mỗi năm, đặc biệt là những dịp sinh nhật, con cái tất cả các gia đình quý tộc và thượng lưu trong vùng lại tụ họp với nhau. Vì lý do này mà nữ Bá tước Rudland phải thốt ra một tiếng rền rĩ chẳng hề ra dáng quý bà; mười tám thằng nhóc tai quái đang hào hứng tha bùn đất khắp phòng khách nhà bà sau khi bữa tiệc của cặp sinh đôi tổ chức trong khu vườn bị trận mưa phá hỏng. “Má cậu dính bùn kìa, Livvy,” Miranda vừa nói vừa đưa tay lên lau vết bùn. Olivia thở hắt ra vẻ mệt mỏi đầy kịch tính. “Thế thì tốt hơn hết là mình nên vào phòng rửa mặt. Mình không muốn mẹ trông thấy mình thế này. Mẹ ghét bẩn, còn mình thì ghét phải nghe mẹ kêu ca bà ghét bẩn đến thế nào.” “Mình không hiểu bà lấy đâu ra thời gian để phàn nàn về vết bùn nhỏ trên mặt cậu trong khi cả tấm thảm của bà giờ toàn bùn đất thế kia cơ chứ.” Miranda liếc William Evans, thằng bé vừa mới hô “XUNG PHONGGGGGG” rồi phóng người lên trường kỷ. Cô bé phải bặm môi lại để khỏi cười. “Và cả đồ đạc nữa.” “Cũng thế cả thôi, tốt nhất là mình nên làm gì đó.” Nói rồi cô bé lẻn ra khỏi phòng, bỏ lại Miranda ở gần lối ra vào. Miranda quan sát cuộc bạo loạn chừng một vài phút rồi khá bằng lòng chấp nhận cái vị trí người-quan-sát thường lệ của mình, cho tới khi qua khóe mắt, cô bé thấy có ai đó đang đi tới. “Bạn tặng quà sinh nhật gì cho Olivia vậy Miranda?” Miranda quay sang thì thấy Fiona Bennet đang đứng trước mặt mình, xinh xắn trong chiếc váy yếm trắng kèm khăn quàng màu hồng. “Một cuốn sách,” cô bé đáp. “Olivia thích đọc sách. Còn bạn mang gì tới?” Fiona giơ ra một chiếc hộp có họa tiết vui mắt được thắt dây nơ màu bạc. “Một bộ sưu tập các dải ruy băng. Bằng lụa và xa tanh, thậm chí là bằng nhung nữa. Bạn có muốn xem không?” “Ôi, nhưng tớ không muốn làm hỏng lớp giấy gói đâu.” Fiona nhún vai. “Bạn chỉ cần tháo sợi dây buộc cho cẩn thận là được. Tớ vẫn làm thế với quà Giáng sinh mà.” Nói rồi cô bé kéo sợi nơ buộc và nâng cái nắp hộp lên. Miranda nín thở. Ít nhất có tới một tá ruy băng nằm trên lớp lót bằng nhung đen của chiếc hộp, mỗi sợi được thắt nơ bướm cực kỳ trang nhã. “Đẹp quá Fiona. Mình có thể xem một cái không?” Fiona nheo mắt. “Tay tớ không có tẹo bùn nào đâu. Thấy không?” Miranda giơ hai bàn tay lên để cô bạn kiểm tra. “Ừ, được rồi.” Miranda thò tay vào chọn một chiếc ruy băng màu tím. Chất xa tanh trơn mượt khủng khiếp và mềm mại trôi trong bàn tay cô bé. Cô bé đặt cái nơ bướm điệu đà ướm thử lên mái tóc mình. “Bạn nghĩ sao?” Fiona đảo tròn mắt. “Không phải màu tím, Miranda ạ. Ai cũng biết chúng dành cho tóc vàng cơ. Màu này thường bìm trên nền nâu. Bạn hiển nhiên không thể đeo nó rồi.” Miranda đưa trả dải ruy băng cho cô bạn. “Vậy màu nào thì hợp với tóc nâu? Xanh lá à? Mẹ mình có mái tóc màu nâu và mình đã thấy mẹ buộc những dải ruy băng màu xanh lá.” “Xanh lá cây có thể chấp nhận được, tớ nghĩ thế. Nhưng trên mái tóc vàng thì sẽ đẹp hơn. Mọi thứ đều đẹp hơn trên nền tóc vàng.” Miranda cảm thấy một thoáng phẫn nộ dâng lên trong lòng. “Vậy thì tớ không hiểu bạn sẽ làm gì hả, Fiona, bởi vì tóc bạn cũng nâu như tóc tớ mà.” Fiona giật lùi lại, nổi cáu. “Không phải!” “Đúng thế mà!” “Không phải!” Miranda nhoài người tới trước, hai mắt nheo lại vẻ đe dọa. “Bạn nên soi gương khi về nhà, Fiona ạ, bởi vì tóc bạn không phải màu vàng.” Fiona đặt dải ruy băng tím trở lại hộp và sập nắp đánh cạch một cái. “Vậy à, nó đã từng là màu vàng, còn tóc cậu chẳng bao giờ có màu đó cả. Và ngoài ra, tóc tôi có màu nâu nhạt, mà mọi người đều biết là nó đẹp hơn màu nâu sẫm. Sẫm như tóc bạn ấy.” “Tóc nâu sẫm chẳng có gì là sai trái cả!” Miranda đáp trả. Nhưng cô bé cũng biết rằng đa số người Anh đều không đồng tình với ý kiến của mình. “Và,” Fiona đắc thắng bổ sung, “bạn có đôi môi bự như con sên!” Bàn tay Miranda vụt đưa lên che miệng. Cô bé biết mình không đẹp; cô bé biết mình thậm chí còn không được coi là xinh xắn nữa cơ. Nhưng từ trước đến giờ cô bé chưa bao giờ thấy đôi môi của mình có gì không ổn cả. Cô bé ngước nhìn nhỏ bạn đang mỉm cười tự mãn. “Còn bạn thì có tàn nhang!” Cô la lên. Fiona giật lùi lại như vừa bị một cái tát. “Tàn nhang sẽ biến mất dần. Các nốt trên mặt tôi sẽ biến đi hết trước khi tôi bước sang tuổi mười tám. Tối nào mẹ tôi chẳng dặm nước chanh vắt lên.” Cô nàng cười khẩy vẻ khinh miệt. “Nhưng bạn thì vô phương cứu chữa, Miranda ạ. Bạn xấu xí.” “Bạn ấy không xấu!” Cả hai cô bé cùng quay sang nhìn Olivia - vừa mới từ phòng rửa mặt quay trở lại. “Ồ, Olivia,” Fiona nói. “Mình biết bạn kết thân với Miranda bởi vì cô ta sống gần nhà và cùng học bài với bạn, nhưng bạn phải thừa nhận là cô ta không xinh. Mẹ mình nói cô ta sẽ chẳng bao giờ lấy chồng được.” Đôi mắt xanh của Olivia lóe lên ánh nguy hiểm. Cô con gái độc nhất của Bá tước Rudland không bao giờ tha thứ một lỗi lầm nào, và Miranda lại là người bạn thân nhất của cô bé. “Miranda sẽ lấy được người chồng tốt hơn bạn đấy, Fiona Bennet ạ! Ba bạn ấy là một Tòng nam tước trong khi ba bạn chỉ là thường dân.” “Là con gái Tòng nam tước cũng chẳng có gì khác biệt cả trừ phi cô ta có nhan sắc hoặc có tiền,” Fiona ngân nga nhắc lại những lời mà cô bé hiển nhiên đã được nghe lúc ở nhà. “Mà cả hai thứ ấy Miranda đều chẳng có.” “Im đi, bạn là đồ bò già ngu ngốc!” Olivia giậm chân quát. “Đây là tiệc sinh nhật của tôi, nếu bạn không thể cư xử tử tế thì bạn có thể về!” Fiona nuốt giận. Cô bé biết tốt hơn là không nên làm cho Olivia - con gái của những người có đẳng cấp xã hội cao nhất vùng - xa lánh mình. “Mình xin lỗi, Olivia,” cô bé lẩm bẩm nói. “Đừng xin lỗi tôi. Xin lỗi Miranda ấy.” “Tôi xin lỗi, Miranda.” Miranda vẫn im lặng cho tới khi Olivia phải đá cô bé một cái. “Tôi chấp nhận lời xin lỗi của bạn,”miễn cưỡng nói. Fiona gật đầu rồi chạy biến. “Mình không thể tin được cậu lại gọi cậu ta là con bò già ngu ngốc,” Miranda nói. “Bạn cần phải học cách tự bảo vệ mình, Miranda ạ.” “Trước khi cậu tham gia vào, mình vẫn đang tự bảo vệ rất tuyệt đấy chứ, Livvy. Mình chỉ không muốn tự bảo vệ một cách quá ầm ĩ thôi.” Olivia thở dài. “Mẹ bảo mình không có chút xíu khả năng kiềm chế hay lương tri gì cả.” “Đúng là vậy,” Miranda tán thành. “Miranda!” “Đó là sự thật, cậu đúng là như thế mà. Nhưng dù thế nào mình vẫn yêu cậu.” “Mình cũng yêu cậu, Miranda. Và đừng để tâm đến Fiona già ngớ ngẩn. Khi nào lớn cậu có thể cưới Winston và rồi chúng mình sẽ thật sự là chị em.” Miranda liếc ngang qua phòng nhìn Winston vẻ hoài nghi. Cậu đang giật tóc một cô bé con. “Mình không biết nữa,” cô bé e dè nói. “Mình không chắc là mình muốn lấy Winston đâu.” “Vớ vẩn. Như thế thật hoàn hảo. Mà nhìn xem, anh ấy mới làm đổ rượu pân ra váy của Fiona kìa.” Miranda cười toe toét. “Đi với mình nào,” Olivia nói, cầm tay cô bạn. “Mình muốn mở quà. Mình hứa là sẽ reo to nhất khi nhận quà của cậu.” Hai cô bé trở lại phòng khách, rồi Olivia và Winston mở quà. Tạ ơn Chúa (theo ý kiến của Phu nhân Rudland), hoàn tất việc mở quà vào đúng bốn giờ, thời điểm những đứa trẻ phải về nhà. Đứa nào cũng được đích thân phụ huynh đến đón, ai cũng xem chuyện được mời tới nhà Haverbreaks là một niềm vinh dự, và không vị phụ huynh nào lại muốn bỏ lỡ cơ hội làm thân với ông bà Bá tước. Ngoại trừ bố mẹ của Miranda, đúng thế. Đến năm giờ, cô bé vẫn còn ở phòng khách nhà Bevelstoke, cùng Olivia xem xét các chiến lợi phẩm. “Ta không biết có chuyện gì với bố mẹ cháu thế, Miranda,” Phu nhân Rudland nói. “Ôi, cháu biết đấy ạ,” Miranda hào hứng đáp. “Mẹ cháu đã đến Scotland thăm bà ngoại, và cháu dám chắc là ba cháu đã quên béng cháu rồi. Ba cháu vẫn thường thế khi ông mải làm việc với một bản thảo nào đó. Ông dịch từ tiếng Hy Lạp.” “Ta biết,” Phu nhân Rudland mỉm cười. “Hy Lạp cổ đại.” “Ta biết,” Phu nhân Rudland thở dài. Đây không phải lần đầu tiên ngài Rupert Cheever quên mất cô con gái của mình. “Chà, phải tìm cách đưa cháu về nhà thôi.” “Con sẽ đi với bạn ấy,” Olivia đề xuất. “Con và Winston cần phải cất đồ chơi mới và viết thiệp cảm ơn. Nếu không làm việc đó tối nay, con sẽ không nhớ được ai đã tặng con thứ gì.” “Nhưng mẹ không thể để một người hầu đưa Miranda về nhà được. Bạn ấy sẽ không có ai để trò chuyện cả.” “Tớ có thể nói chuyện với người hầu mà,” Miranda nói. “Tớ vẫn thường xuyên nói chuyện với bọn họ ở nhà.” “Không phải với người hầu nhà tớ,” Olivia thì thầm. “Bọn họ cứng nhắc và câm như hến, lại còn thường nhìn tớ vẻ không bằng lòng nữa chứ.” “Hầu như lúc nào con cũng đáng bị nhìn với vẻ không hài cả,” Phu nhân Rudland ngắt ngang, âu yếm vỗ đầu cô con gái. “Ta tìm ra giải pháp cho cháu rồi đây, Miranda. Tại sao chúng ta không nhờ Nigel đưa cháu về nhà nhỉ?” “Nigel ư!” Olivia kêu lên. “Miranda, cậu thật là chú vịt may mắn.” Miranda nhướn mày. Cô bé chưa bao giờ gặp anh trai lớn của Olivia. “Được thôi,” cô bé từ tốn nói. “Tớ mừng vì cuối cùng cũng được gặp anh ấy. Cậu vẫn luôn miệng kể về anh ấy mà, phải không Olivia.” Phu nhân Rudland ra lệnh cho một cô hầu gái đi tìm Nigel. “Cháu chưa bao giờ gặp Nigel sao Miranda? Kỳ lạ thật. À, ta cho là vì nó thường chỉ về nhà vào dịp Giáng sinh, mà Giáng sinh thì cháu lại hay đi Scotland. Ta đã phải dọa sẽ từ mặt nó để bắt nó về nhà vào ngày sinh nhật của hai đứa sinh đôi đấy. Nó không dự bữa tiệc vì sợ một trong mấy bà mẹ kia sẽ cố gắng gả một đứa trẻ mười tuổi cho nó.” “Nigel mười chín rồi, anh ấy là một đám rất sáng giá đấy,” Olivia thản nhiên nói. “Anh ấy là một Tử tước. Và cực kỳ đẹp trai. Trông anh ấy giống mình.” “Olivia!” bà Rudland nhắc nhở vẻ không hài lòng. “Thì đúng thế mà mẹ. Nếu là con trai thì con sẽ rất đẹp trai cho xem.” “Là con gái thì cậu cũng xinh xắn thế còn gì, Livvy,” Miranda thành thực nói, nhìn những lọn tóc vàng của cô bạn với vẻ hơi ghen tị. “Cậu cũng vậy. Này, cậu chọn một dải ruy băng của con bò Fiona đi. Dù gì mình cũng không cần toàn bộ chỗ ruy băng này.” Miranda mỉm cười trước lời nói dối của cô bạn. Olivia là người bạn tốt như thế đấy. Cô bé nhìn xuống hộp ruy băng và ngoan cố chọn sợi xa tanh màu tím. “Cảm ơn cậu, Livvy. Thứ Hai mình sẽ buộc nó đến trường.” “Mẹ gọi con ạ?” Nghe giọng nói trầm ấm, Miranda quay mặt về lối cửa ra vào và gần như há hốc vì kinh ngạc. Đang đứng ở đó là một sinh vật lộng lẫy tuyệt vời nhất mà cô bé từng trông thấy. Olivia đã nói rằng Nigel mười chín tuổi, nhưng Miranda ngay lập tức nhận thấy anh đã ra dáng đàn ông lắm rồi. Đôi vai rộng cân đối trông như vẽ, thân hình thanh thoát nhưng rắn chắc. Tóc anh đậm màu hơn tóc Olivia nhưng vẫn có ánh vàng kim, bằng chứng cho thấy anh thường xuyên ở ngoài trời. Nhưng phần đẹp nhất của anh, Miranda lập tức nghĩ ra, chính là đôi mắt. Nó sáng ngời, màu xanh lam rạng rỡ, giống đôi mắt của Olivia. Chúng cũng lấp lánh ánh tinh nghịch, láu lỉnh. Miranda mỉm cười. Mẹ cô bé vẫn thường bảo rằng có thể nhìn vào đôi mắt của một người mà nói về người đó, mà anh trai của Olivia thì có đôi mắt tuyệt đẹp. “Nigel, con hộ tống Miranda về nhà được không?” bà Rudland hỏi. “Ba của cô bé dường như bị cầm chân ở đâu đó mất rồi.” Miranda tự hỏi tại sao Nigel lại nhăn mặt khi nghe mẹ gọi tên mình. “Chắc chắn rồi, thưa mẹ. Olivia, em đã có một bữa tiệc vui vẻ chứ hả?” “Đập phá tanh bành.” “Winston đâu rồi?” Olivia nhún vai. “Anh ấy đi chơi với thanh kiếm Billy Evans tặng rồi.” “Anh hy vọng không phải là đồ thật.” “Chúa phù hộ chúng ta nếu nó là đồ thật,” bà Rudland xen vào. “Được rồi, Miranda, chúng ta sẽ đưa cháu về. Ta tin là áo choàng của cháu đang ở phòng bên.” Bà biến mất qua khung cửa và xuất hiện trở lại vài giây sau với chiếc áo choàng bền chắc màu nâu của Miranda. “Chúng ta lên đường chứ, Miranda?” Sinh vật đến từ thiên đường ấy đưa tay ra cho cô bé. Miranda khoác áo rồi đặt bàn tay mình vào tay anh. Thiên đường! “Mình sẽ gặp cậu vào thứ Hai nhé!” Olivia gọi với theo. “Và đừng lo lắng về những gì Fiona nói. Cậu ta chỉ là con bò già ngớ ngẩn thôi.” “Olivia!” “Thì đúng thế mà mẹ. Con không muốn bạn ấy quay lại đây nữa.” Miranda mỉm cười khi để anh trai Olivia dẫn xuống tiền sảnh, giọng của Olivia và bà Rudland nhỏ dần, nhỏ dần. “Cảm ơn anh rất nhiều vì đã đồng ý đưa em về nhà, Nigel,” cô bé khẽ nói. Anh lại nhăn mặt. “Em... em xin lỗi,” cô bé vội nói. “Đáng lẽ em nên nói ‘thưa ngài’, đúng không? Chỉ tại Olivia và Winston thường nhắc đến anh bằng tên riêng nên em...” Cô bé khổ sở nhìn xuống sàn nhà. Chỉ mới hai phút được đi cạnh anh mà cô bé đã mắc sai lầm ngớ ngẩn rồi. Anh dừng lại và cúi xuống để cô bé có thể nhìn thấy mặt mình. “Đừng lo lắng về cái từ ‘thưa ngài’ ấy, Miranda. Anh sẽ nói cho em một bí mật nhé.” Đôi mắt Miranda tròn xoe, cô bé quên cả thở. “Anh ghét tên thánh của mình.” “Đó không hẳn là một bí mật, Nig... ý em là, thưa ngài, mà mặc kệ anh muốn được gọi là gì cũng được. Cứ khi nào mẹ anh gọi anh bằng cái tên đó là anh lại nhăn mặt.” Nigel mỉm cười với Miranda. Có điều gì đó khiến trái tim anh nhói lên khi Nigel nhìn thấy cô gái bé nhỏ với nét mặt quá ư nghiêm nghị này chơi với đứa em gái ương bướng không thể khuất phục của anh. Cô bé là một sinh vật nhỏ nhắn trong cái vẻ ngoài thật buồn cười, nhưng đôi mắt nâu to tròn rất có hồn của cô lại ánh lên vẻ gì đó khá đáng yêu. “Thế anh được gọi là gì ạ?” Miranda hỏi. Anh mỉm cười với cô bé, không hề kiểu cách. “Turner.”[1] [1] Có nghĩa là Thợ tiện. Mất một lúc anh tưởng cô bé sẽ không nói gì. Miranda chỉ đứng đó, hoàn toàn bất động, chỉ có đôi mắt vẫn long lanh. Và rồi, như thể cuối cùng đã tìm ra kết luận, cô bé nói, “Cái tên hay thật. Hơi kỳ lạ một chút, nhưng em thích.” “Hay hơn Nigel nhiều, em không nghĩ thế à?” Miranda gật đầu. “Anh đã chọn nó à? Em vẫn nghĩ rằng người ta nên tự chọn tên cho mình. Em cũng biết hầu hết người ta sẽ chọn một cái tên nào đó khác với tên mình được đặt.” “Và em sẽ chọn tên gì?” “Em không chắc nữa, nhưng không phải là Miranda. Thứ gì đó mộc mạc hơn, em nghĩ thế. Người ta kỳ vọng một điều gì đó khác khi nghe đến cái tên Miranda và hầu như thường thất vọng khi họ gặp em.” “Vô lý,” Turner mạnh mẽ phản đối. “Em là một Miranda hoàn hảo.” Cô bé cười rạng rỡ. “Cảm ơn anh, Turner. Em có thể gọi anh như thế không?” “Dĩ nhiên rồi. Và anh e là không phải anh chọn cái tên này. Nó chỉ là một tước hiệu lịch thiệp. Tử tước Turner. Từ hồi tới Eton đến giờ anh vẫn dùng cái tên ấy thay cho Nigel.” “Ồ. Nó hợp với anh, em nghĩ thế.” “Cảm ơn em,” anh trang trọng đáp lại, hoàn toàn bị đứa trẻ nghiêm nghị này mê hoặc. “Giờ thì, đưa tay em cho anh lần nữa nào, chúng ta sẽ lên đường.” “Cái gì thế?” “Cái này ạ? Ồ, ruy băng ấy mà. Fiona Bennet tặng khoảng hai chục chiếc cho Olivia, và Olivia nói em có thể giữ mộtchiếc.” Mắt Turner hơi nheo lại rất khẽ khi anh nhớ lại Olivia đã nói gì lúc tạm biệt Miranda. Đừng lo lắng về những gì Fiona nói. Anh kéo dải ruy băng ra khỏi tay cô bé. “Anh nghĩ chỗ của ruy băng là ở trên mái tóc chứ nhỉ.” “Ờ, nhưng nó không hợp với váy của em,” Miranda yếu ớt phản đối. Lúc này anh đã buộc nó thật chặt lên đỉnh đầu của cô bé rồi. “Nó trông thế nào ạ?” cô bé thì thầm. “Tuyệt vời.” “Thật ạ?” Cô tròn xoe mắt vẻ hoài nghi. “Thật mà. Anh luôn nghĩ rằng ruy băng màu tím trông đặc biệt xinh xắn trên mái tóc nâu.” Miranda thấy mình phải lòng Tuner ngay tức khắc. Cảm xúc quá mãnh liệt đến nỗi cô bé quên cả cảm ơn lời khen của anh. “Chúng ta khởi hành chứ?” anh nói. Cô gật đầu, không tin tưởng chính giọng nói của mình nữa. Họ rời ngôi nhà đến tàu ngựa. “Anh nghĩ chúng mình có thể cưỡi ngựa,” Turner nói. “Một ngày quá đẹp để ngồi trong xe.” Miranda lại gật đầu. Thời tiết ấm áp khác thường đối với tháng Ba. “Em có thể lấy chú ngựa con của Olivia. Anh chắc chắn là con bé không thấy phiền đâu.” “Livvy không có ngựa con,” cuối cùng thì Miranda cũng tìm lại được giọng nói của mình. “Bây giờ cậu ấy có một con ngựa cái hẳn hoi. Em cũng có một con ở nhà. Bọn em không phải là trẻ con.” Turner nén cười. “Ừ, anh có thể thấy là bọn em không còn nhỏ nữa. Anh mới ngớ ngẩn làm sao chứ. Anh chẳng suy nghĩ gì cả.” Vài phút sau, yên ngựa đã thắng xong, và họ bắt đầu chặng đường mười lăm phút đi ngựa đến nhà Cheever. Miranda vẫn im lặng khoảng một phút đầu, quá hạnh phúc đến nỗi không muốn làm hỏng khoảnh khắc này bằng những lời nói. “Ở bữa tiệc em có vui không?” rốt cuộc Turner lên tiếng. “Ồ, vâng. Phần lớn thời gian rất vui ạ.” “Phần lớn thời gian thôi à?” Anh thấy Miranda nhăn mặt. Rõ ràng cô bé không định nói quá nhiều. “À,” cô bé chậm rãi đáp, cắn môi rồi lại nhả ra, “một cô gái đã nói những lời không tốt với em.” “Ồ?” Anh biết tốt hơn là không nên tò mò thái quá. Và quả nhiên anh đã đúng, bởi vì khi Miranda nói chuyện, cô bé gợi anh nhớ đến em gái mình - đang ngước nhìn anh chăm chú với ánh mắt thẳng thắn trong khi từ ngữ thì ào ào mạnh mẽ. “Đó là Fiona Bennet,” cô bé nói với vẻ cực kỳ chán ghét, “Olivia gọi cô ta là con bò già ngu ngốc, và em phải nói là em không thấy hối tiếc khi cậu ấy làm vậy.” Turner vẫn giữ thái độ trang nghiêm thích hợp. “Anh cũng không thấy tiếc vì con bé đã làm vậy, nếu Fiona đã nói những lời tàn nhẫn với em.” “Em biết mình không xinh đẹp,” Miranda bùng nổ. “Nhưng thật là thô lỗ bất lịch sự khi nói vậy, ấy là chưa kể còn ám chỉ thẳng thừng color="black">Turner nhìn Miranda một lúc lâu, không chắc mình phải an ủi cô gái bé nhỏ này như thế nào. Miranda không xinh đẹp, đó là sự thật, và nếu anh cố bảo rằng cô bé xinh xắn thì cô bé sẽ không tin anh. Nhưng cô bé không xấu xí. Chỉ... hơi vụng về. Tuy nhiên anh đã được giải thoát khỏi tình huống khó khăn này, không phải nói bất cứ điều gì nhờ câu bình luận tiếp theo của Miranda. “Đó là vì mái tóc màu nâu này, em nghĩ thế.” Anh nhướn mày. “Nó chẳng đúng mốt gì cả,” Miranda giải thích. “Và cả đôi mắt nâu nữa. Em cũng quá gầy và mặt em quá dài, em quá xanh xao nữa.” “Chà, những cái đó đều đúng cả,” Turner nói. Miranda quay sang đối diện với anh, đôi mắt cô bé mở to, nhòa lệ và gương mặt đượm vẻ buồn rầu. “Hiển nhiên em có mái tóc và đôi mắt màu nâu. Không có gì phải bàn cãi ở điểm đó cả.” Anh nghiêng đầu vờ săm soi nghiên cứu cô bé thật toàn diện. “Em khá gầy, và mặt em đúng là hơi dài một tí. Và em rõ ràng là trông xanh tái.” Môi Miranda run run, và Turner không thể trêu chọc cô bé thêm nữa. “Nhưng mà,” anh mỉm cười, “anh lại thích phụ nữ có tóc và mắt màu nâu hơn.” “Không phải thế!” “Đúng thế đấy. Lúc nào anh cũng thích như vậy. Anh cũng thích họ gầy và xanh xao nữa.” Miranda nhìn anh vẻ hoài nghi. “Thế còn mặt dài thì sao?” “À, anh phải công nhận anh chưa bao giờ nghĩ ngợi nhiều về vấn đề ấy, nhưng anh chắc chắn là không thấy phiền lòng với một khuôn mặt dài.">“Fiona Bennet nói em có đôi môi bự,” cô bé vẫn bướng bỉnh nói. Turner hơi mỉm cười đáp lại. Cô bé thở dài thườn thượt. “Trước đây em thậm chí chưa bao giờ nhận thấy là mình có đôi môi bự.” “Không quá bự đâu.” Cô bé ném cho anh ánh nhìn cảnh giác. “Anh đang nói thế để làm em thấy dễ chịu hơn thôi.” “Quả là anh muốn em cảm thấy khá hơn thật, nhưng đó không phải là do anh nói thế. Và lần tới Fiona Bennet mà nói em có đôi môi bự thì hãy bảo với nó là nó sai rồi. Em có đôi môi đầy đặn.” “Có gì khác nhau đâu?” Cô bé nhìn anh nôn nóng, đôi mắt tối sẫm hết sức nghiêm nghị. Turner hít vào một hơi. “Chà chà,” anh nói tránh. “Môi bự thì không hấp dẫn. Nhưng môi đầy đặn thì có đấy.” “Ồ.” Điều đó có vẻ làm cô bé hài lòng. “Môi Fiona mỏng dính.” “Môi đầy đặn thì tốt hơn nhiều, nhiều so với môi mỏng,” Turner nói dứt khoát. Anh khá thích cô gái bé nhỏ vui nhộn này và muốn cô bé vui hơn. “Tại sao?” Turner thầm cầu xin các vị thần của nghi thức xã giao và tính đúng đắn chừng mực tha lỗi trước khi trả lời: “Đôi môi đầy đặn thì hôn sẽ tuyệt hơn.” “Ồ.” Miranda đỏ mặt, và rồi cô bé mỉm cười. “Hay quá.” Turner cảm thấy hài lòng với bản thân một cách ngớ ngẩn. “Em có biết anh nghĩ gì không, tiểu thư Miranda Cheever? “Dạ?” “Anh nghĩ em chỉ cần trở thành chính mình thôi.”[2] Vừa nói ra điều đó, anh lập tức cảm thấy hối tiếc. Chắc chắn cô bé sẽ hỏi ý anh là gì, và anh chẳng biết phải trả lời cô ra sao nữa. [2] Nguyên văn là “I think you just need to grow into yourself” và Miranda hiểu lầm ý của anh nói cô bé cần phải lớn hơn để cơ thể cân đối với đôi chân quá dài của mình. Nhưng cô bé lớn trước tuổi này chỉ nghiêng nghiêng đầu suy nghĩ về tuyên bố của anh. “Em mong là anh đúng,” cuối cùng cô nói. “Hãy nhìn chân em mà xem.” Một tiếng ho kín đáo lấp liếm nụ cười nén vội trong họng Turner. “Ý em là gì?” “Thế đấy, chân quá dài. Mẹ em thường nói rằng chân dài đến nách vậy.” “Có vẻ như chân em bắt đầu từ phần hông của em đấy chứ.” Miranda cười rúc rích. “Em đang nói ẩn dụ mà.” Turner nháy mắt. Cô bé mười tuổi này quả là thích lý sự. “Ý em là,” cô tiếp tục, “đôi chân của em có kích thước không cân đối so với phần còn lại của cơ thể. Em nghĩ đó là lý do em không thể học khiêu vũ được. Em cứ giẫm vào ngón chân của Olivia hoài.” “Giẫm lên ngón chân của Olivia?” “Chúng em tập khiêu vũ cùng nhau,” Miranda mau lẹ giải thích. “Em nghĩ nếu các bộ phận trên cơ thể em ăn khớp với đôi chân thì em sẽ không quá lóng ngóng vụng về. Vì vậy em cho là anh đúng đấy. Em đúng là phải lớn hơn để cho vừa với chính mình.”[3] [3] Nguyên văn là “I do have to grow into myself.” “Tuyệt vời,” Turner nói, vui mừng nhận ra chẳng hiểu xoay xở thế nào mà anh đã nói trúng điều cần nói. “À, có vẻ như chúng ta đến nơi rồi.” Miranda ngước nhìn ngôi nhà đá xám xịt của mình. Nó tọa lạc ngay trên một trong những dòng suối ăn thông với các hồ trong vùng, và dòng suối này chảy qua cây cầu nhỏ bằng đá cuội dẫn đến cửa trước của ngôi nhà. “Cảm ơn anh rất nhiều vì đã đưa em về, Turner. Em hứa sẽ không bao giờ gọi anh là Nigel.” “Em cũng hứa là sẽ véo Olivia nếu nó gọi anh là Nigel chứ?” Miranda khẽ bật ra tiếng cười khúc khích và bụm tay che miệng. Cô bé gật đầu. Turner xuống ngựa rồi quay sang giúp cô bé xuống. “Em có biết anh nghĩ em nên làm gì không hả Miranda?” anh đột nhiên hỏi. “Gì ạ?” “Anh nghĩ em nên viết nhật ký.” Cô bé chớp mắt ngạc nhiên. “Tại sao? Ai muốn đọc nó chứ?” “Không ai cả. Em giữ riêng nó cho mình thôi. Và có thể một ngày nào đó sau khi em qua đời, con cháu của em sẽ muốn đọc nó để biết được hồi còn trẻ em sống như thế nào.” Cô nghiêng nghiêng đầu. “Ngộ nhỡ em không có con cháu thì sao?” Turner bất giác đưa tay vò tóc cô bé. “Em hỏi nhiều quá đấy, mèo con ạ.” “Nhưng nhỡ em không có con cháu thì sao?” Chúa ơi, cô bé thật cứng đầu. “Có lẽ em sẽ nổi tiếng.” Anh thở dài. “Và bọn trẻ học ở trường sẽ muốn được biết về em.” Miranda ném cho anh ánh mắt hoài nghi. “Ôi, thôi được rồi, em muốn biết tại sao anh thật sự nghĩ em nên viết nhật ký không?” Cô bé gật đầu. “Bởi vì một ngày nào đấy em sẽ lớn lên và trở thành chính mình, em sẽ xinh đẹp và thông minh. Rồi em có thể đọc lại nhật ký và nhận ra những đứa con gái như Fiona Bennet mới ngốc nghếch làm sao. Và em sẽ cười khi nhớ lại rằng mẹ em đã nói chân em dài tới tận nách. Và có thể em sẽ dành cho anh một nụ cười tủm tỉm khi nhớ lại buổi trò chuyện tuyệt vời giữa chúng ta hôm nay.” Miranda ngước nhìn anh, nghĩ rằng anh chắc hẳn phải là một trong những vị thần Hy Lạp mà ba vẫn thường đọc cho mình nghe. “Anh biết em nghĩ gì không?” cô bé thì thầm. “Em nghĩ Olivia rất may mắn vì có anh là anh trai.” “Anh nghĩ nó rất may mắn vì có em là bạn.” Môi Miranda run run. “Em sẽ dành cho anh một nụ cười rạng rỡ, Turner ạ,” cô bé thì thầm. Anh cúi xuống ân cần hôn lên mu bàn tay của cô bé đúng như anh hẳn sẽ làm với một tiểu thư xinh đẹp nhất London. “Hãy chờ xem nhé, mèo con.” Anh mỉm cười và gật đầu chào trước khi lên ngựa, dắt con ngựa cái của Olivia đi đằng sau. Miranda dõi theo cho tới khi anh biến mất ở đường chân trời, rồi cô bé cứ nhìn đăm đăm thế thêm mười phút tuyệt vời nữa. Khuya hôm đó Miranda thơ thẩn đi vào phòng làm việc của ba. Ông đang cắm cúi vào một văn bản, quên bẵng cây nến sáp đang nhỏ giọt trên bàn làm việc. “Ba, đã bao nhiêu lần con phải nhắc ba để ý đến mấy cây nến rồi ạ?” Cô bé thở dài đặt cây nến vào giá cắm. “Gì cơ? Ồ, con yêu.” “Và ba cần nhiều hơn một cây nến. Ở đây tối quá không thể đọc được.” “Thế à? Ba không để ý.” Ông chớp mắt và rồi nheo lại. “Không phải đã quá giờ đi ngủ của con rồi à?” “Vú nói đêm nay con có thể thức thêm ba mươi phút nữa.” “Vú nói vậy à? Ờ ờ, miễn là bà ấy đồng ý.” Ông lại cắm cúi trở lại bản thảo, tỏ ý không muốn nói chuyện nữa. “Ba à.” Ông thở dài. “Gì nữa thế, Miranda?” “Ba có quyển sổ thừa nào không? Giống như những cuốn ba dùng khi đang dịch ấy, nhưng là trước khi ba chép ra bản nháp cuối cùng cơ?” “Chắc là có đấy.” Ông mở ngăn kéo dưới cùng của bàn làm việc ra lục tìm trong đó. “Đây rồi. Nhưng con muốn làm gì với nó thế? Đây là một cuốn sổ rất tốt, con biết đấy, và không rẻ đâu.” “Con sẽ viết nhật ký.” “Bây giờ ư? À, thế thì ba cho là cuốn sổ này xứng đáng đấy.” Ông đưa cuốn sổ cho Miranda. Cô bé cười rạng rỡ trước lời tán dương của ba. “Cảm ơn ba. Con sẽ cho ba biết khi nào hết chỗ viết và cần một cuốn khác.” “Được rồi. Chúc ngủ ngon, con yêu.” Ông quay trở lại với đống giấy tờ của mình. Miranda ôm cuốn sổ vào ngực chạy lên lầu về phòng ngủ. Cô bé lấy ra một lọ mực và cây bút lông rồi mở cuốn sổ ra. Ở trang đầu tiên, cô bé ghi ngày tháng, và rồi, sau một hồi cân nhắc, cô viết một dòng duy nhất. Dường như đó là tất cả những gì cần viết. 2 THÁNG BA 1810 Hôm nay mình đã yêu. Nigel Bevelstoke, vốn được tất cả những kẻ muốn lấy lòng anh biết đến nhiều hơn với cái tên Turner, biết rất nhiều thứ. Anh biết đọc tiếng Latin và tiếng Hy Lạp. Anh biết tán tỉnh phụ nữ bằng tiếng Pháp và tiếng Ý. Anh biết vừa cưỡi ngựa vừa nhắm bắn một mục tiêu di động, và biết chính xác phải uống bao nhiêu ly thì không đánh mất phẩm giá địa vị của mình. Anh biết tung một nắm đấm hoặc một đường gươm với phong thái bậc thầy, và cũng có thể làm cả hai việc đó trong khi vẫn ngâm nga Shakespeare hay Donne đầy duyên dáng. Tóm lại, anh biết mọi thứ mà một quý ông nên biết, và theo những thông tin thu được thì anh xuất sắc trong mọi lĩnh vực. Người ta nhìn ngắm anh. Người ta tôn kính anh. Nhưng không có gì - không một giây nào trong cuộc đời xuất chúng và vinh quang của anh - giúp anh chuẩn bị sẵn sàng để đối mặt với thời khắc này. Và chưa bao giờ anh cảm thấy sức nặng của những ánh mắt soi xét dè chừng nhiều như lúc này, khi anh bước tới trước và ném nắm đất lên quan tài của vợ mình. Tôi rất lấy làm tiếc, người ta cứ nói đi nói lại mãi. Tôi rất lấy làm tiếc. Chúng tôi rất lấy làm tiếc. Và trong lúc đó, Turner không thể ngăn được cái ý nghĩ rằng không biết có phải đang cười anh không, bởi vì tất cả những gì anh có thể nghĩ đến là... Tôi không thấy tiếc. À, Leticia. Anh cảm ơn cô ta rất nhiều về điều đó. Hãy xem nên bắt đầu từ đâu thì hợp lý? Danh tiếng của anh bị tổn hại, dĩ nhiên rồi. Chỉ quỷ sứ mới biết có bao nhiêu người tường tận rằng anh là kẻ bị cắm sừng. Một lần, hai lần, ba lần,... Thế rồi đến bản tính trong sáng của anh cũng mất. Giờ đây, thật khó lòng hồi tưởng lại, nhưng anh đã từng không hề nghi ngờ bất cứ ai. Anh đã từng tuyệt đối tin vào những gì tốt đẹp nhất của con người - rằng nếu anh đối xử với người khác bằng danh dự và sự kính trọng thì họ sẽ làm như vậy với anh. Và cuối cùng, linh hồn anh cũng mất. Bởi vì trong khi anh bước lùi lại, chắp hai tay cứng nhắc phía sau lắng nghe vị linh mục chuyển thân xác Leticia vào lòng đất, anh không thể trốn chạy cái thực tế là anh đã ao ước điều này xảy ra. Anh muốn thoát khỏi cô ta. Anh đã và sẽ không than khóc cho cô ta. “Thật đáng tiếc,” ai đó phía sau anh thì thào nói. Quai hàm Turner giần giật. Không có gì đáng tiếc ở đây. Nó là một trò hề. Và bây giờ anh sẽ dùng một năm sắp tới để tang cho một người phụ nữ đến với anh mà lại mang thai đứa con của kẻ khác. Cô ta làm anh mê mẩn, bỡn cợt anh cho tới khi anh không thể nghĩ đến điều gì khác ngoài việc chiếm cho được cô ta. Cô ta nói rằng cô ta yêu anh, và cô ta mỉm cười với vẻ ngây thơ dịu dàng đầy vui sướng khi anh tuyên thệ lòng tận tâm và cam kết bằng cả linh hồn mình. Cô ta đã từng là giấc mơ ngọt ngào của anh. Và rồi cô ta trở thành ác mng của anh. Cô ta mất đứa bé đó, đứa trẻ đã dẫn đến cuộc hôn nhân của họ. Bố nó là một vị Bá tước người Ý nào đó, ít nhất là cô ta nói thế. Gã đã có vợ, hoặc không phù hợp, hoặc có lẽ cả hai. Turner đã sẵn sàng tha thứ cho cô ta, ai cũng phạm sai lầm, và cả anh cũng vậy còn gì, chẳng phải anh muốn dụ dỗ cô ta trước đêm tân hôn đó sao? Nhưng Leticia không muốn tình yêu của gã. Anh không biết cô ta muốn cái quái quỷ gì nữa - quyền lực, có lẽ thế, cơn say thỏa mãn khi hãy còn người đàn ông khác đổ nhào xuống vì bùa mê của cô ta. Turner tự hỏi liệu cô ta có cảm thấy thế khi gã chết không. Hay có lẽ nó chỉ là một sự giải thoát. Tính đến khi Turner và cô ta cưới nhau, cô ta đã mang thai được ba tháng. Cô ta không có nhiều thời gian rảnh. Và giờ thì cô ta đây. Hay đúng hơn là, cô ta kia. Turner không biết chính xác dùng từ nào là thích đáng hơn cả cho cái thân xác không còn sự sống trong lòng đất ấy. Mà từ nào cũng được. Anh chỉ thấy tiếc rằng cô ta sẽ chia sẻ sự vĩnh hằng trong mảnh đất của anh, yên nghỉ giữa những người nhà Bevelstoke mãi mãi. Bia đá của cô ta sẽ mang tên anh, và rồi một trăm năm nữa người nào đó sẽ nhìn vào dòng chữ khắc trên tấm đá granit kia mà nghĩ cô ta chắc hẳn là một phu nhân đáng kính, và tự hỏi bi kịch gì đã khiến cô ta ra đi khi còn quá trẻ như vậy. Turner ngước nhìn vị linh mục. Ông ta trẻ nhất trong các đồng đạo, mới đến giáo xứ, và theo anh biết thì vị linh mục này vẫn còn niềm tin rằng có thể biến thế gian này thành một nơi tốt đẹp hơn. “Tro tàn trở về với tro tàn,” linh mục vừa nói vừa nhìn lên người đàn ông giờ đã trở thành góa vợ. À phải, Turner chua chát nghĩ, đó là mình. “Cát bụi trở về với cát bụi.” Phía sau anh, có ai đó sụt sịt. Và vị linh mục, với đôi mắt xanh sáng ngời ánh lên niềm cảm thông được đặt hoàn toàn không đúng chỗ, tiếp tục nói... “Trong niềm hy vọng chắc chắn và vững vàng vào sự hồi sinh...” Chúa nhân từ. “... tới cuộc sống vĩnh hằng.” Vị linh mục nhìn Turner và thực sự nao núng. Turner thắc mắc không rõ chính xác thì ông ta nhìn thấy gì trên gương mặt anh. Chẳng có gì tốt đẹp, điều đó hẳn quá rõ ràng rồi. Ai nấy đồng thanh “Amen!”, và rồi buổi lễ kết thúc. Mọi người nhìn vị linh mục, rồi nhìn Turner, sau đó lại nhìn vị linh mục siết chặt hai bàn tay của Turner mà nói: “Mọi người sẽ nhớ cô ấy.” “Tôi,” Turner nén lại, “thì không.” Mình không thể tin anh ấy lại nói thế. Miranda nhìn xuống những dòng cô đã viết. Cô đang ở trang thứ bốn mươi hai của cuốn nhật ký thứ mười ba, nhưng đây là lần đầu tiên - lần đầu tiên kể từ sau cái ngày định mệnh chín năm về trước - cô không biết viết gì cả. Ngay cả trong những tháng ngày xám xịt ảm đạm (mà chúng thường xuyên xuất hiện), cô cũng xoay xở để viết được một đoạn dài. Tháng Năm năm cô mười bốn tuổi... Thức dậy. Mặc quần áo. Ăn sáng: bánh mì nướng, trứng, thịt lợn muối. Đọc Lý trí và Tình cảm; được sáng tác bởi một tiểu thư vô danh. Giấu Lý trí và Tình cảm. Ăn tối: thịt gà, bánh mì, pho mát. Chia động từ tiếng Pháp. Viết thư cho bà ngoại. Ăn khuya: bò bít tết, xúp, bánh pudding. Đọc tiếp Lý trí và Tình cảm, nhận diện về tác giả vẫn chưa biết. Lui về nghỉ ngơi. Ngủ. Mơ về anh. Còn đây là những điều cô ghi vào ngày 12 tháng Mười một cùng năm đó... Thức dậy. Ăn sáng: Trứng, bánh mì nướng, giăm bông. Thực hiện một cuộc biểu dương vĩ đại đọc bi kịch Hy Lạp. Không có kết quả. Dành nhiều thời gian nhìn chăm chăm ra ngoài cửa sổ. Ăn trưa: cá, bánh mì, đậu Hà Lan. Chia động từ Latin. Viết thư cho bà ngoại. Ăn khuya: bánh mì nướng, khoai tây, bánh pudding. Mang bi kịch đến bàn (sách, không phải sự kiện). Ba không. Lui về nghỉ ngơi. Ngủ. Mơ về anh. Nhưng bây giờ - khi một sự kiện trọng đại đã thực sự xảy ra (điều chưa bao giờ xảy ra) thì cô lại chẳng có gì để viết ngoại trừ... Mình không thể tin anh ấy lại nói thế. “Than ôi, Miranda,” cô lầm bầm, nhìn mực khô đi trên đầu cây viết lông, “mày sẽ không nổi danh được với tư cách là một người viết nhật ký đâu.” “Cậu vừa nói g&igrav

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Những Ngọn Núi Biết Hát
“Chiến tranh là một con quỷ dữ, khi nó chạm vào ai đó nếu người đó không chết thì tâm trí của người đó sẽ bị lấy đi một phần để người đó không còn được toàn vẹn nữa.” Đó là lời người bà nói với cháu mình trong cuốn sách “The Mountains Sing” (Những ngọn núi ngân vang) của Nguyễn Phan Quế Mai, một tác phẩm mà nhà văn Nguyễn Thanh Việt, tác giả giành giải Pulitzer Prize với tiểu thuyết “The Sympathizer” (Cảm tình viên), ca ngợi là “cảm động và lôi cuốn.” Cuốn tiểu thuyết đầu tiên bằng tiếng Anh của Quế Mai, một nhà thơ và nhà văn được sinh ra 2 năm trước khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, nói về thân phận của người Việt khi phải đối mặt với những biến cố lịch sử như “sự đô hộ của thực dân Pháp, sự xâm lược của phát xít Nhật, trận đói thảm khốc 1945, cải cách ruộng đất, và Việt Nam bị chia cắt qua hiệp định Geneva cùng cuộc chiến tranh Việt Nam với sự tham gia của quân đội Mỹ,” qua giọng kể của bà Diệu Lan với cháu ngoại của mình, Diệu Hương. “Quế Mai kể lại câu chuyện về cuộc chiến tranh đã làm Việt Nam chia rẽ, và về một thế hệ bị đánh mất trong cuộc chiến đó, thông qua câu chuyện của hai nhân vật rất đẹp thuộc hai thế hệ - một già một trẻ - trong gia đình,” Thi Bùi, tác giả cuốn truyện tranh cũng về đề tài chiến tranh Việt Nam “The Best We Could Do” (Những điều tốt nhất chúng ta có thể làm), nói về “The Mountains Sing,” được New York Times và Washington Post bình chọn là cuốn sách hay nhất của tháng 3. Không giống như các cuốn sách khác viết bằng tiếng Anh về chiến tranh Việt Nam khi đặt vai trò của người Mỹ hoặc đặt người Mỹ vào trung tâm, cuốn sách mới của Quế Mai “đặt người Việt vào vị trí trung tâm.” *** Nguyễn Phan Quế Mai sinh năm 1973 tại Ninh Bình, lớn lên tại Bạc Liêu. Chị tốt nghiệp chương trình Thạc sĩ Viết văn, Đại học Lancaster. Hiện Nguyễn Phan Quế Mai đang sống và làm việc tại Indonesia.  Quế Mai từng phát hành năm tập thơ: Trái cấm, Cởi gió, Những ngôi sao hình quang gánh, Bí mật của hoa sen. Bên cạnh đó, chị có nhiều tác phẩm văn học dịch, truyện thiếu nhi, sách du ký. Chị được trao tặng giải Nhất cuộc thi thơ Nghìn năm Thăng Long - Hà Nội, Giải thưởng Thơ của Hội Nhà văn Hà Nội năm 2010, giải thưởng từ quỹ Văn hóa Lannan (Mỹ). Mời các bạn đón đọc Những Ngọn Núi Biết Hát của tác giả Nguyễn Phan Quế Mai.
Em
Bạn sẽ làm gì khi một cô nhà văn xinh đẹp, gợi cảm bước vào hiệu sách nơi bạn làm việc? Joe Goldberg đã làm cái điều mà bất cứ ai trong tình cảnh đấy cũng sẽ làm: Google tên của cô.  Chỉ có một Guinevere Beck duy nhất ở thành phố New York này, người sở hữu một tài khoản Facebook và viết Tweet gần như mỗi ngày. Joe biết được mọi thứ mà anh cần biết về cô: bạn cô ấy chỉ gọi cô ấy là Beck, cô ấy học Đại học Brown, sống trên phố Bank và sẽ đi đến một quán bar ở Brooklyn tối nay để kiếm tìm một cuộc hẹn “ngẫu nhiên” hoàn hảo.  Từ kẻ đeo bám trở thành bạn trai, Joe biến mình thành người đàn ông hoàn hảo của Beck, đồng thời lặng lẽ dùng mọi cách – kể cả giết người - loại bỏ những chướng ngại vật, sắp xếp những sự kiện để Beck luôn “an toàn” trong vòng tay anh.  Cuốn tiểu thuyết là một cú tát giáng thẳng vào thực tế thời đại kỹ thuật số siêu kết nối; là lời cảnh tỉnh rằng bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể dễ dàng bị theo dõi và thao túng bởi một kẻ vô hình. *** EM (YOU) là cuốn tiểu thuyết đã được chuyển thể thành phim và có thể xem trên Netflix. Nhưng ngay cả với những ai đã xem qua bộ phim này, cuốn tiểu thuyết này vẫn rất đáng đọc, vì nó một lần nữa tái hiện bầu không khí mê hoặc mà điên rồ, thậm chí còn sắc nét hơn của câu chuyện. Ngay cả khi đã biết được các tình tiết sẽ diễn ra, cuốn sách vẫn mới mẻ và hấp dẫn để đọc đến trang cuối cùng. EM bắt đầu câu chuyện của mình tại một hiệu sách, nơi Joe - nhân vật chính - làm việc, gã là một kẻ bán sách. Và rồi Beck - một cô gái tóc vàng bước vào, xinh đẹp như một quả đào chín mọng, nàng là một nhà văn trẻ. Joe đã yêu Beck ngay từ cái nhìn đầu tiên, và anh đã lên kế hoạch cưa cẩm cô như bất kỳ chàng trai nào phải lòng một cô gái. Như xem cô ấy đăng gì trên Twitter, tìm hiểu xem cô ấy nhà ở đâu, tò mò bạn trai cũ của cô ấy là ai, kết thân với các cô bạn gái thân của cô ấy… EM sẽ dễ dàng đánh lừa các độc giả ngây thơ ở những chương đầu tiên khi nghĩ rằng đây là khởi đầu của một chuyện tình lãng mạn. Một anh chàng bán sách tinh tế thật đẹp đôi với một cô nàng nhà văn trẻ ngọt ngào. Mà thực ra đúng là đã có một chuyện tình nở hoa trong cuốn sách, nồng nàn men say như rượu ủ lâu năm. Tác giả Caroline Kepnes đã dùng những lời lẽ đầy mật ngọt để kể câu chuyện của mình. Như một viên kẹo của mụ phù thuỷ, quá sặc sỡ, quá thơm tho, không thể cưỡng lại. Nhưng khi lớp bọc đường bên ngoài đã trôi đi hết, sẽ dần lộ ra lõi nhân bên trong là kịch độc. Hoá ra loài hoa ái tình ấy là hoa ăn thịt, rượu quý ấy cũng đã hoà lẫn với độc dược tự bao giờ. Joe có lẽ là mẫu bạn trai ao ước của nhiều cô gái khi tinh tế, dịu dàng, sẵn sàng làm bánh kếp bằng cái muôi đỏ vì bạn gái mình thích thế. Joe kéo Beck ra khỏi những mối quan hệ xấu như gã bạn trai tồi, cô bạn thân muốn kiểm soát. Joe thúc đẩy Beck làm việc mà cô cần phải làm - thực sự viết cho xong một cuốn sách thay vì viết Twitter mỗi giờ và email mỗi ngày cho những chuyện chẳng ra đâu vào đâu. Joe muốn bảo bọc Beck và làm cho cuộc sống của cô tốt hơn. Nhưng ấy là khi Joe không trộm điện thoại để đọc các email của Beck. Lẻn vào nhà cô để thó một món đồ riêng tư làm kỷ niệm. Tốt nhất là Joe đừng có một cái lồng - theo đúng nghĩa đen - dưới tiệm sách của mình, nơi gã bảo vệ những cuốn sách quý và cả người cần hắn bảo bọc. Bởi ranh giới giữa bảo bọc và giam cầm đôi khi rất mong manh. Nhẹ nhàng ở các chương đầu, nhưng nhịp điệu càng về sau càng nhanh dần, khiến người đọc khó lòng bỏ cuốn sách xuống trước khi biết được kết thúc cuối cùng. Như thể họ đang là Beck, cũng đang gấp rút bỏ chạy khỏi một bóng ma rình rập, hay vẫy vùng thoát khỏi một cái lồng. Họ nóng lòng muốn được biết kết thúc của chính mình trong cuộc đào thoát ấy, hay chính xác hơn là kết thúc của Beck. Và nếu trốn thoát, có lẽ họ thầm dặn lòng sẽ không bao giờ bước chân vào một cái hiệu sách nào nữa, hoặc chớ có yêu một gã bán sách. *** Em bước vào hiệu sách, một tay giữ trên cánh cửa để chắc chắn cửa không bị đóng sầm lại. Em mỉm cười, có phần ngượng nghịu vì xinh đẹp quá, móng tay em trơn nhẵn và em đang mặc một chiếc áo len cổ chữ V màu be, rất khó đoán em có đang mặc áo ngực hay không nhưng tôi nghĩ rằng em hoàn toàn không mặc gì ở bên trong cả. Em trông “ngoan” tới mức cực kỳ khêu gợi, đôi môi em khẽ lẩm bẩm với tôi “chào anh” trong khi phần lớn mọi người chỉ lướt qua, nhưng có phải thật em không, trong chiếc quần bò màu hồng trễ cạp, kiểu vải sợi gai màu hồng như trong truyện Mạng nhện của Charlotte, và em ơi em từ đâu đến? Em đơn giản và hoàn hảo, như cô nàng Natalie Portman bé bỏng của tôi trong đoạn cuối của bộ phim Closer, khi cô - với vẻ mặt ngây thơ - đi cùng thằng cha xấu tính người Anh về nhà ở Mỹ. Em “đến nhà” của tôi, cuối cùng thì em cũng đến, vào một buổi sáng thứ Ba, lúc 10:06. Mỗi ngày tôi đi từ nhà ở Bed-Stuy đến hiệu sách tại phía Đông1 thành phố này. Mỗi ngày tôi kết thúc ca làm, gói ghém đồ đi về mà chưa bao giờ thấy một ai như em. Nhìn em xem: hôm nay em bước vào thế giới của tôi. Tôi chợt thấy rùng mình và muốn uống một viên thuốc rối loạn lo âu, nhưng thuốc lại đang ở dưới tầng mà thực ra tôi cũng không muốn uống viên thuốc ấy. Tôi không muốn đi xuống. Tôi muốn ở đây để tập trung ngắm em cắn những móng tay trần, không sơn màu của mình và quay đầu sang trái; à không, em đang cắn cái mảng màu hồng kia, mở to đôi mắt, quay sang bên phải; à lại không nữa, em không thích đọc sách tiểu sử, không đọc cả sách self-help (may quá, tạ ơn Chúa), và đi chậm lại đôi chút khi tới kệ chứa tiểu thuyết.   Tuyệt. Tôi để cho em biến mất sau những kệ sách – Tiểu thuyết xếp theo vần từ F tới K. Em không phải kiểu các “nữ thần” bất an về bản thân mà phải đi tìm kiếm Faulkner vì em sẽ không bao giờ đọc hết cũng như không bao giờ nên bắt đầu đọc sách của ông; sách của Faulkner khó nhằn và có khả năng sẽ làm đông cứng đêm hứng tình của em, nếu sách cũng có thể đông cứng được. Faulkner chỉ có duy nhất một giá trị là để thuyết phục em hãy nhập vai vào cuộc tình một đêm khi em thề rằng em không bao giờ chơi kiểu qua đường ấy. Nhưng em sẽ không phải kiểu con gái như thế đâu. Em không thuộc tầng lớp sẽ đọc Faulkner và với chiếc quần bò trễ cạp kia của em thì em thừa tiệc tùng ham vui cho những cuốn sách của Stephen King nhưng lại quá thiếu thời thượng để đọc những cuốn của Heidi Julavits… cuối cùng em sẽ mua sách của tác giả nào đây? Em hắt xì hơi một cái, ầm lên, và tôi tưởng tượng ra ngay sự ồn ã của em khi em ở trên giường. “Chúa phù hộ!”2 tôi nói toáng lên.   Em khúc khích cười và quay lưng lại, cô nàng dâm đãng này. “Anh cũng thế nhé, anh bạn.” Anh bạn. Em đang thả thính tôi, và nếu tôi là cái loại mất dạy hay lên Instagram, tôi sẽ chụp lại những tấm thẻ từ F đến K, chỉnh màu thật đẹp rồi viết lên đó: “F--K3, tuyệt quá, tôi đã tìm thấy em.”   Bình tĩnh nào Joe. Bọn con gái không thích kiểu con trai táo bạo như thế đâu. Tôi phải tự nhắc bản thân mình như thế. Cảm ơn Chúa đã đưa một khách hàng khác đến và thật khó để đọc vị thằng cha này với cuốn sách chẳng có gì bất ngờ của Salinger trên tay gã – thật thế, việc này vẫn luôn luôn chẳng dễ dàng gì. Thằng cha này, gì đây nhỉ, phải đến ba mươi sáu tuổi rồi, mà chỉ đọc đến Franny và Zooey thôi sao? À không, hãy nhìn vào thực tế chút đi. Hắn ta sẽ không đọc nó. Đấy chỉ là cuốn đặt lên trên để che đi cuốn sách của Dan Brown đang nằm dưới đáy giỏ mà thôi. Thời gian làm việc ở hiệu sách đã giúp tôi hiểu rằng phần lớn mọi người trên thế giới này cảm thấy tội lỗi khi thể hiện con người thật của bản thân. Tôi lấy cuốn sách của Dan Brown cho vào túi trước, như thể nó là ấn phẩm ấu dâm và bảo thằng cha kia rằng Franny và Zooey chỉ là đồ bỏ. Hắn ta chỉ gật đầu, còn em vẫn ở trong khu vực F-K bởi vì tôi vẫn thấy chiếc áo len màu be của em thấp thoáng sau những kệ sách. Nếu em kiễng chân lên một chút, tôi sẽ có thể nhìn thấy chút bụng của em hở ra. Nhưng em lại không làm thế. Em lấy một cuốn sách và ngồi xuống ghế, xem ra em định sẽ ngồi ở đấy cả tối. Có thể như thế sẽ giống Natalie Portman trong phim Where the Heart Is, bộ phim chuyển thể không thành công từ cuốn sách của Billie Letts – thuộc chiếu trên so với thể loại phim đó – và tôi sẽ tìm thấy em ở tâm điểm của bóng đêm. Chỉ có điều, em sẽ không có bầu còn tôi thì không phải là thằng khốn kiếp trong bộ phim ấy. Tôi sẽ đến, ngả vào em và nói, “Xin lỗi làm phiền quý cô, nhưng chúng ta đang gần sát sạt vào nhau đấy,” và em sẽ ngẩng lên, mỉm cười, “Đâu có, em đâu có sát sạt gần.” Em hít một hơi và thì thào. “Em đang rất đón chờ anh mà. Anh bạn.” “Này!” Salinger-Brown càu nhàu. Hắn vẫn còn ở đây sao? Hắn vẫn còn ở đây. “Tôi lấy hóa đơn được chưa?” “À phải, xin lỗi nhé.” Hắn giật lấy hóa đơn từ tay tôi. Không phải hắn ta ghét tôi đâu. Hắn ta ghét chính bản thân hắn đó. Nếu mọi người đều có thể tự chăm sóc cảm xúc cá nhân thì phòng dịch vụ chăm sóc khách hàng sẽ vận hành dễ dàng hơn nhiều. “Mày biết không, thằng nhóc? Mày cần phải vượt qua bản thân mày. Mày chỉ làm việc ở một hiệu sách thôi. Mày không xuất bản những cuốn tiểu thuyết này. Mày không hề viết sách và nếu mày có tí ti gì gọi là khá khẩm trong việc đọc sách thì có thể mày đã chẳng làm việc ở một hiệu sách như thế này. Vì thế, hãy bỏ ngay cái thái độ đánh giá người khác ở trong mắt mày và chúc tao một ngày tốt lành đi!” Thằng cha kia có thể nghĩ ra bất cứ cái gì trên đời để nói với tôi nhưng hắn vẫn chỉ là một thằng khốn nạn không dám thừa nhận mình mua sách của Dan Brown. Em xuất hiện với nụ cười từa tựa Portman, rõ là em đã nghe thấy tiếng thằng chó chết kia vừa nói. Tôi nhìn em. Em nhìn thằng kia và hắn thì vẫn đang đợi tôi. “Chúc ông một ngày tốt lành, thưa ông.” Tôi nói và hắn biết thừa rằng tôi cũng chẳng có lòng thành gì, thái độ dành cho một người lạ thì chỉ đến thế thôi. Khi hắn đi rồi, tôi gào toáng lên với hắn nhưng thực ra là để em nghe cho rõ: “Đọc Dan Brown vui nhé ông ơi!” Em đi tới, cười ngặt nghẽo, và cảm ơn Chúa, lúc này đang là buổi sáng, chúng ta đang chết cứng trong một buổi sáng mà không có ai quanh đây làm phiền chúng ta cả. Em đặt cái giỏ đựng sách lên quầy thanh toán và hỏi khẽ: “Thế anh sẽ phán xét cả em nữa phải không?” “Anh là thằng khốn nạn phải không?” “Ừm… không sao, em đoán đó chỉ là do tâm trạng nhất thời của anh thôi.” Em thật ngọt ngào. Em biết cách nhìn thấy phần tốt đẹp nhất bên trong mỗi người. Em đang khen tôi. “Thật ra…” Tôi nói, tôi nghĩ tôi nên im lặng và tôi cũng muốn im lặng, nhưng em lại ra hiệu cho tôi, muốn tôi nói tiếp. “Thằng cha đó chính là lý do mà những con quái thú không nên biến mất.” Em chăm chú nhìn tôi. Em có vẻ tò mò khiến tôi muốn biết nhiều hơn về em, nhưng vì tôi không thể hỏi nên tôi tiếp tục nói. “Ai cũng luôn luôn muốn đấu tranh cho những điều tốt đẹp hơn, gầy đi năm cân, đọc thêm năm cuốn sách, đi đến bảo tàng, mua một đĩa nhạc cổ điển để nghe và thích thú tận hưởng nó. Nhưng thực ra những gì người ta mong muốn ở sâu thẳm bên trong là ăn bánh donut, đọc tạp chí và mua những đĩa nhạc pop. Còn sách á? Quên nó đi. Hãy mua Kindle. Em có biết tại sao Kindle lại thành công như thế không?” Em phá lên cười và lắc đầu, em đang lắng nghe tôi ở chính cái đoạn mà phần lớn mọi người khác sẽ tỏ ra chán nản và tiếp tục cúi đầu vào điện thoại. Nhìn em thật xinh đẹp khi em hỏi, “Là tại vì sao cơ?” “Anh sẽ cho em biết tại sao. Internet đã mang phim khiêu dâm đến tận nhà…” Tôi mới dùng từ phim khiêu dâm, thật là một từ ngu xuẩn, nhưng em vẫn yên lặng lắng nghe, em đúng là một cô nàng búp bê đáng yêu đấy. “Thế là em không cần ra ngoài và nỗ lực để có được nó nữa. Em sẽ không cần phải nhìn thẳng vào mắt của cậu con trai ở quầy hàng, người mà bây giờ đã biết em thích xem các cô gái bị tét mông khi ở trên giường. Nhìn thẳng vào mắt nhau là thứ khiến chúng ta trở thành con người trong xã hội văn minh.” Đôi mắt như hai hạt hạnh nhân của em nhìn tôi và tôi nói tiếp, “Em đã bị lộ tẩy rồi.” Em không đeo nhẫn cưới trên tay, còn tôi tiếp tục nói, “Con người mà.” Trông em rất kiên nhẫn, còn tôi thì lẽ ra phải im đi nhưng tôi lại không thể làm thế được. “Và Kindle ý mà, Kindle mang đến tất cả những thứ mà em cần phải nỗ lực mới có được khi em đọc, tức là làm chính xác như những gì mà Internet đã làm với phim khiêu dâm. Không cần phải gò bó hay cân đối cái gì nữa. Em có thể đọc tiểu thuyết Dan Brown cả ở nơi công cộng lẫn những chốn riêng tư. Và thế là văn minh nhân loại kết thúc. Nhưng…” “Lúc nào cũng có một chữ NHƯNG nhỉ,” em nói và tôi đoán em đến từ một gia đình giàu sang phú quý, nơi mà những con người thân thiện thường trao cho nhau những cái ôm yêu thương và nắm tay hát quanh đống lửa trại. “Nhưng khi không còn chỗ nào để mua các bộ phim hoặc mua album, tất cả sẽ quay trở lại với sách. Khi những tiệm bán băng đĩa biến mất, những thằng mọt sách đứng trông tiệm băng đĩa, đọc lại những câu thoại của Tarantino, chiến đấu vì Dario Argento và ghét những người thuê phim Meg Ryan về xem cũng sẽ không còn nữa. Loạt hành động đó, tức là sự tương tác giữa người bán và người mua, là một sự tương tác hai chiều rất quan trọng mà loài người chúng ta có được. Tất nhiên em không thể giao tiếp hai chiều như thế mà lại không bao giờ hiểu nhầm, em hiểu ý anh chứ?” Tôi cũng không biết liệu em có hiểu được ý tôi không nhưng em đã không bảo tôi ngừng lại giống như tất cả mọi người vẫn làm, em chỉ gật đầu. “Hừm.” “Đấy thấy không, tiệm băng đĩa thực sự là một nơi rất công bằng. Nó mang đến sức mạnh cho mấy thằng mọt sách – Người ta thực sự mua Taylor Swift sao? – mặc dù sự thật là mấy thằng đó sẽ “xóc lọ” với hình Taylor Swift khi về nhà.” Đừng nói đến Taylor Swift nữa. Chẳng biết em đang cười với tôi hay đang cười vào mặt tôi nữa? “Dù sao thì...” Tôi nói, và tôi định sẽ im lặng nếu em bảo tôi làm thế. “Dù sao thì?” Em hỏi, và em muốn tôi nói tiếp. “Vấn đề là thế này, mua một vật dụng gì đó là một trong những điều cực kỳ cơ bản mà chúng ta làm. Thằng cha lúc nãy không đến đây để mua Dan Brown hay Salinger. Thằng cha đó tới đây để thú tội.” “Thế anh là linh mục à?” “Không. Anh là nhà thờ.” “Amen.” Em nhìn xuống giỏ sách của em và tôi như một kẻ cô độc loạn trí khi cũng nhìn vào chiếc giỏ. Điện thoại của em. Em không nhìn thấy, nhưng tôi nhìn thấy. Tôi như vỡ lẽ ra. Chiếc điện thoại có ốp bảo vệ màu vàng. Điều này chứng tỏ em chỉ tự chăm sóc bản thân khi mọi thứ bắt đầu đi quá giới hạn. Tôi cược là em chỉ uống thuốc khi cơn cảm lạnh kéo dài tới ngày thứ ba. Tôi cầm điện thoại của em lên và giả vờ đùa. “Em lấy trộm cái này của gã kia phải không?” Em lấy lại điện thoại của mình và cẩn trọng nói. “Em và chiếc điện thoại này…” Em nói. “Em là một người mẹ tồi.” Mẹ. Em thật sự là gái hư, đúng thế đấy. “Ừ.” Em mỉm cười và bây giờ tôi có thể chắc chắn em không mặc áo lót bên trong. Em lấy những cuốn sách ra khỏi giỏ, đặt giỏ lên sàn nhà và nhìn tôi như thể tôi không có khả năng đánh giá bất cứ điều gì mà em làm từ khoảng cách xa như thế. Núm vú của em nổi lên trên áo. Em đã không che chắn chúng lại cẩn thận. Em thấy đám kẹo dẻo xoắn mà tôi để ở quầy thanh toán. Em chỉ tay vào đó như thể em đang đói lắm. “Em lấy một cái được không?” “Được.” Tôi nói, và tôi có cảm giác như mình đã bón cho em ăn vậy. Tôi cầm cuốn sách đầu tiên của em lên, Kỳ nghỉ không thể tin được4 của tác giả Spalding Gray5. “Thú vị đấy!” Tôi nói. “Phần lớn mọi người đều hiểu được những đoạn độc thoại của ông ấy. Đây là một cuốn sách tuyệt hay, nhưng không phải là kiểu sách mà mọi người đi loanh quanh xem xét và mua, đặc biệt là một phụ nữ trẻ không có ý định tự sát giống như số phận của tác giả.” “Ồ, đôi khi chúng ta sẽ có cảm giác muốn vùi mình ở một nơi nào đó tăm tối, anh hiểu cảm giác đó chứ?” “Ừ.” Tôi nói. “Anh hiểu chứ.” Nếu chúng tôi còn ở thời thiếu niên, hẳn là tôi sẽ hôn em mất. Nhưng hiện tại, tôi đang trong bộ dạng của một nhân viên bán hàng, đeo một cái bảng tên trên ngực và chúng ta đã đi quá thời điểm vàng của thanh xuân rồi. Những bước đi trong đêm không phù hợp với lúc ban ngày, khi ánh nắng vẫn đang chảy trên cửa sổ. Chứ chẳng nhẽ tiệm sách lại phải tăm tối mới đúng ư? Tự chú thích với bản thân: Cần bảo ông Mooney làm chỗ này tối om lại. Bằng rèm cửa. Hoặc bất cứ cái gì. Tôi cầm cuốn sách thứ hai của em lên, Những Nhân Vật Tuyệt Vọng6, tác phẩm của một trong những tác giả yêu thích nhất của tôi, Paula Fox. Đây là một dấu hiệu tốt, nhưng cũng có thể em mua nó bởi em đọc được trên một trang blog ngu xuẩn nào đấy rằng tác giả là bà ngoại của Courtney Love. Tôi không dám chắc chắn rằng em mua Paula Fox bởi vì em thật sự phù hợp với tác giả này, hay là bị ảnh hưởng từ khẳng định trong bài luận của Jonathan Franzen.   Em sờ tay vào ví tiền. “Bà ấy là một tác giả tuyệt vời đúng không? Nếu bảo bà ấy không xứng đáng thì giết em đi còn hơn, bất kể bài luận của Franzen có viết gì về bà ấy đi nữa, anh công nhận không?” Cảm ơn Chúa. Tôi mỉm cười. “Bờ biển phía Tây7.”   Em quay mặt nhìn đi hướng khác. “Em chưa có dịp đến đó.” Tôi nhìn em và em giơ hai tay lên trời như đầu hàng. “Đừng bắn em nhé.” Em khúc khích cười và tôi mong rằng em cũng đang ham muốn. “Khi nào có dịp em sẽ đọc Bờ biển phía Tây, còn Những Nhân Vật Tuyệt Vọng thì em đã đọc cả tỉ lần rồi. Cuốn này em mua cho một người bạn.” “Ừ.” Tôi đáp, và những chiếc đèn đỏ nhấp nháy tín hiệu nguy hiểm trong lòng tôi. Cho một người bạn. “Có thể việc này sẽ chỉ lãng phí thời gian thôi. Anh ấy sẽ chẳng đọc đâu. Nhưng ít ra thì tác giả cũng đã bán được thêm một cuốn sách rồi, phải không ạ?” “Phải.” Có thể anh ta là anh trai, hoặc bố hay gã hàng xóm đồng tính của em, nhưng tôi biết anh ta là bạn của em. Tôi quệt ngón tay vào máy tính. “Tổng cộng là ba mươi mốt đô-la lẻ năm mươi mốt.” “Ôi trời ơi, nhiều thế cơ. Đó, đấy chính là lý do Kindle thống trị thế giới đấy.” Em nói trong khi mở chiếc ví màu hồng da lợn hiệu Zuckerman ra và đưa tôi chiếc thẻ thanh toán, mặc dù em có đủ tiền mặt trong ví để trả cho chỗ này. Em muốn tôi biết tên của em và tôi thì không ngốc đến nỗi không đoán được ý đó, nên tôi quẹt thẻ của em và để cho sự yên lặng giữa hai chúng tôi tự dưng trở nên ầm ĩ - đó là lý do hôm nay tôi đã không bật nhạc và tôi cũng không thể nghĩ ra bất cứ thứ gì để nói. “Xong rồi đây.” Tôi đưa cho em tờ hóa đơn. “Cảm ơn anh.” Em khẽ lẩm nhẩm trong miệng. “Hiệu sách này thật tuyệt.” Em ký vào hóa đơn với cái tên Guinevere Beck. Tên em như một bài thơ và bố mẹ em có lẽ là những kẻ ngớ ngẩn, giống phần lớn những cặp bố mẹ khác trên đời này. Guinevere? Làm ơn đi. “Cảm ơn, Guinevere.” “Anh gọi em là Beck được rồi. Guinevere nghe hơi dài và tức cười lắm, anh có thấy thế không?” “Beck à, em không giống cái tên của em chút nào. Mà này, album Midnite Vultures8 tuyệt thật đấy.”   Em cầm lấy túi đựng sách của mình lên, mắt vẫn không rời khỏi tôi bởi vì em muốn tôi biết em đang nhìn tôi đắm đuối. “Chắc chắn rồi, Goldberg.” “Đừng, gọi anh là Joe được rồi. Goldberg nghe hơi dài và tức cười lắm, em có thấy thế không?” Chúng tôi phá lên cười và dường như em cũng muốn biết tên tôi y như cách tôi muốn biết tên em vậy, hoặc là em chẳng buồn để ý đến cái thẻ tên gắn trên áo tôi. “Em có chắc là em không muốn lấy cuốn Bờ biển phía Tây luôn bây giờ không?” “Nghe có vẻ điên rồ nhưng quả thực là em đang tiết kiệm. Em sẽ để nó vào danh sách đọc lúc dưỡng già.” “Ý em là danh sách những việc nhất định phải làm?” “Không không, không phải. Hai cái này là hoàn toàn khác nhau. Danh sách đọc lúc dưỡng già là một danh sách những thứ anh dự định đọc và xem khi anh vào ở trong viện dưỡng lão ấy. Danh sách việc nhất định phải làm giống như là… như là đến thăm Nigeria hay nhảy khỏi máy bay vậy. Còn danh sách đọc lúc dưỡng già giống kiểu đọc cuốn Bờ biển phía Tây, xem Pulp Fiction và nghe album mới nhất của Daft Punk cơ.” “Anh không thể tưởng tượng ra được lúc em ở trong viện dưỡng lão.” Em đỏ mặt. Em như Charlotte trong truyện Mạng nhện của Charlotte vậy, còn tôi thì thật sự muốn được yêu em. “Anh không định chúc em một ngày tốt lành sao?” “Chúc em ngày tốt lành, Beck.” Em mỉm cười. “Cảm ơn anh, Joe.” Em đã không đến đây vì những cuốn sách, Beck ạ. Em không cần thiết phải gọi tên tôi. Em cũng không cần phải mỉm cười, hay lắng nghe hay đối xử tử tế gì với tôi cả. Nhưng em đã làm như thế. Chữ ký của em còn ở trên tờ hóa đơn đây. Đây không phải một giao dịch chuyển khoản và cũng không phải là một mã số ghi nợ. Cái này hoàn toàn thật. Tôi ấn ngón tay cái vào đoạn mực còn tươi trên tờ hóa đơn và dấu mực từ chữ ký Guinevere Beck của em in hằn trên ngón tay tôi rồi. Mời các bạn đón đọc Em của tác giả Caroline Kepnes & Hoài Anh (dịch) & Trà Fiew (dịch).
Hannibal Và Những Ngày Run Rẩy Bắt Đầu
Được xem là một trong những sự kiện văn chương được chờ đợi nhất, Hannibal và những ngày run rẩy bắt đầu mang người đọc vào cung điện ký ức của một kẻ ăn thịt người, tạo dựng nên một bức chân dung ớn lạnh của tội ác đang âm thầm sinh sôi – một thành công của thể loại kinh dị tâm lý. Với Mason Verger, nạn nhân đã bịHannibal biến thành kẻ người không ra người,Hannibal là mối hận thù nhức nhối da thịt. Với đặc vụ Clarice Starling của FBI, người từng thẩm vấnHannibal trong trại tâm thần, giọng kim ken két của hắn vẫn vang vọng trong giấc mơ cô. Với cảnh sát Rinaldo Pazzi đang thất thế, Lecter hứa hẹn mang tới một khoản tiền béo bở để đổi vận. Và những cuộc săn lùng Hannibal Lecter bắt đầu, kéo theo đó là những chuỗi ngày run rẩy hòng chấm dứt bảy năm tự do của hắn. Nhưng trong ba kẻ đi săn, chỉ một kẻ có bản lĩnh sống trụ lại để hưởng thành quả của mình. Nhận định “Độc giả đang mong ngóng Hannibal và những ngày run rẩy bắt đầu vì tò mò không biết nó có tuyệt như Red Dragon (Rồng đỏ) và  The Silence of the Lambs (Sự im lặng của bầy cừu) không… Thật may mắn khi có thể trả lời bằng một câu phủ định. Không. Không tuyệt như thế. Mà tuyệt hơn.” - Stephen King, New York Times Book Review   “Phải chăng cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất năm nay là cuốn này?.. một kiệt tác… hấp dẫn đến lạnh người… Hannibal và những ngày run rẩy bắt đầu cuốn hút từ phần mở đầu chân thực tuyệt vời đến cái kết đáng sợ và dị thường một cách thú vị… Mỗi dòng trong sách đều ngập không khí của cuộc chiến đấu với cái ác ở bản thể đen tối nhất của nó… Tôi chuẩn bị đặt cược rằng năm nay độc giả Observer sẽ không tìm được cuốn nào lôi cuốn hơn.” - Robert McCrum, Observer     “[Thomas Harris là] Edgar Allan Poe thời nay.”   - Evening Standard Mời các bạn đón đọc Hannibal - Kẻ Ăn Thịt Người của tác giả Thomas Harris & Thu Lê (dịch).
Tổ Ấm Gia Đình
Những kỷ niệm thời thơ ấu không như những kỷ niệm thời đã đứng tuổi, chúng không được sắp xếp trong khung cảnh thời gian. Đó chỉ là những hình ảnh rời rạc, bị sao lãng mọi bề và những nhân vật đại diện cho chúng ta lại rất khác biệt với bản thân chúng ta đến nỗi có rất nhiều hình ảnh như xa lạ hẳn với chúng ta. Nhưng những hình ảnh khác để lại trong tính tình chúng ta những dấu vết khó mà phai nhòa đến mức ngày nay, do những hậu quả mạnh mẽ của chúng, ta nhận ra đó là những thực tế đã qua. Tựa như khi nghiên cứu lịch sử một xứ sở, chúng ta không thể cảm thông thế nào là kiếp sống nô lệ của người nông dân đứng giữa tầng lớp Giáo hội và quý tộc, mà chỉ hình dung ra kiếp ấy qua quan sát ở trong làng xóm chúng ta những nỗi hận thù không sao giải thích nổi còn rơi rớt lại. Vậy nên trong tình cảm chúng ta hiện nay những nỗi chán chường điên cuồng cùng những sở thích đáng lên án mà chúng ta nhận ra những dư ba yếu ớt của sự rung chuyền từ ba mươi năm trước đã từng xáo động những nhóm tế bào mà nay chúng ta là những người nối dõi. Ký niệm xa xưa nhất của Đơnidơ Herpanh là kỷ niệm về một ngày trên bờ biển. Lâu nay, hè nào bà Herpanh cũng thuê một biệt thự ở Bơdơvan bên bờ biển Noocmăngởđi. “Tôi thuê trước hết là cho lũ trẻ”, bà nói. Ngôi nhà mang tên “biệt thự Côlibri”. Hai mươi năm rồi mà Đơnidơ vẫn hình dung lại được cái mái ngói có đường diễu bằng gỗ cắt theo hình những trái tìm cùng các đường xoắn trang trí, những thanh dầm gỗ xiên xiên hay thắng đứng giữa những hàng gạch, hàng hiên có cửa kính, cánh cửa ra vườn mỗi khi mở làm rung cái chuông nhỏ và các bồn sắt to trên cửa số với những cây phong lữ thảo sống lay lắt, ở đó bốc lên mùi đất và mùi lá ủng. Đơnidơ mặc tắm áo may ô đỏ đang đứng chống xẻng bên lũy một cái pháo đài em vừa đào đắp. Em nhìn ra biển. Những mảng bóng đen to lớn, gió cuốn chạy lô xô trên mặt nước xanh khi đỗ đến gần bờ lại trở thành màu cát. Nước triều đã rạc. Phía trước pháo đài trải dài một dải những hòn cuội nhỏ và mảnh sò vỏ ốc vụn, đi đất có thể bị đứt chân. Xa hơn nữa là những cồn cát mịn màng và chắc với những dòng sông uốn khúc quanh co trông đẹp mắt. Dưới đáy những ngòi ấy, cát đóng chắc thành hình sóng lượn. Đơnidơ bỗng thèm được cảm thấy độ bền của lớp cát ấy đưới chân mình, em buông xẻng, chạy về phía các vũng nước. Có tiếng quát: “Đơnidơ...”. Em dừng phắt ngay lại và chậm chạp quay về. Nơtx Kêrinhtơn, cô có những bực dọc trong lòng. Có trời biết tại sao cô lại làm cho cái gia đình Herpanh này, vốn chỉ là dân tiểu tư sản tỉnh lẻ, thậm chí xe riêng cũng chẳng có. Trước đó, cô đã từng dạy dỗ con cái của bá tước Thiănggiơ có cả một tòa lâu đài và con cái gia đình Oetbergiê mỗi năm đến ở Biaritz hàng bốn tháng trời. Nơtx Kêrinhtơn là con gái một người buôn bán tạp hóa ở Phânkớtxtơn. Cô có tham vọng trở về nước Anh khi tuổi chừng năm mươi để mở một ngôi nhà trọ, khách vừa ăn vừa ở. Ở Pháp, cô mong muốn được sống lẫn với các gia đình giầu có hay quyền quý. Trên cái bãi biển còn quê kệch vào những năm 1900 này, cô không thấy có những nữ gia sư người Anh nào khác. Buộc lòng phải ngồi với các chị vú sữa, cô đồ trách nhiệm cho cả vũ trụ về sự sa sút này. Phòng riêng của bọn trẻ bé quá. Nhà chỉ có một buồng tắm. Tính nết Đơnidơ quá tệ không chịu cho hai em là Lôlôtơ' và Bêbê mượn đồ chơi. Yow are a very naughty lile girl...I']I telÏ your mother about you...” Nơtx nói: Đơniđơ hờn dỗi ngồi tách ra một chỗ. Cái xẻng của em tên là Olali, nó cũng là người hẳn hoi thì cho Lôlôttơ mượn làm sao được cơ chứ! Mỗi đồ chơi đều có một cái tên bí mật cắm được nói ra. Cái gối tên là Sêbatchiêng, cái xô đựng nước là ông Ghibôren, như ông cụ làm vườn ở Pông đờ Lorơ vẫn thường đem đến hàng trăm chậu nhỏ đề trồng thu hải đường và hương nhật quỳ. Ngồi bên miệng hố em đã đào làm nơi ấn nấp, em vục đầy tay cát mịn và ấm cho chảy lọt qua kẽ các ngón tay, một viên sỏi hay mảnh vỏ ốc lẫn trong cát mắc lại ở kẽ các ngón tay sít nhau. Nước triều lên. Đơnidơ ngắm nhìn những làn sóng nhỏ từ xa dồn đến tung bọt trắng xóa trải dài trên cát, sóng rút, sau khi được tắm thứ nước ấy, cát trơ ra, bóng loáng như hải cầu. Ở bên trái, về phía Đivơ và Cabua những chiếc thuyền nhỏ đang đánh cá trên mặt biển sáng long lanh. Đơnidơ nghĩ giá được đi trên những con thuyền ấy hẳn là thích lắm và “người lớn thực là bất công và độc ác”. *** André Maurois (1885 - 1967) là nhà văn lớn Pháp, tên thật là Emile Herzog. Viện sĩ trong Viện Hàn lâm Pháp. Ông xuất thân trong một gia đình công nghiệp ở Alsaca. Khi còn ở ghế nhà trường ông là một cao đệ của giáo sư kiêm triết gia Alaine (1868 - 1951), tốt nghiệp Đại học, ông làm giáo sư triết học. Một thời gian sau ông từ chức về quản lí nhà máy dệt của gia đình và bắt đầu viết từ đó. Trong thế chiến thứ nhất (1914 - 1918) , ông làm thông dịch viên trong quân đội Hoàng gia Anh, chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 - 1945), ông sống ở Anh quốc và Hoa Kỳ. André Maurois chuyên về tiểu thuyết, luận văn, sử, phê bình, khảo luận, tùy bút... Với hơn 100 tác phẩm thuộc nhiều thể loại mà có người cho "toàn thể tác phẩm của ông quả là trác tuyệt" đã được các thế hệ trẻ ngưỡng mộ, tin cậy và xem ông như bậc thầy. Hồi André Maurois mất, cuối năm 1967, thọ 82 tuổi, một bạn đồng viện của ông khen ông đại ý như sau : "André Maurois phân biệt ba hạng tác phẩm : trác tuyệt, lớn và hữu ích. Không một tác phẩm nào của ông vào hàng trác tuyệt nhưng toàn thể tác phẩm của ông quả là trác tuyệt". Ông nổi tiếng là nhà luân lí có khuynh hướng tình cảm, lãnh nhiệm vụ hướng dẫn thanh niên trong thời đại nhiều biến chuyển nhất của Pháp (từ Thế chiến thứ nhất tới nay), và ông đã được ba thế hệ trẻ tin cậy, coi như bậc thầy. Sự nghiệp trác tuyệt của ông ở đó. "Người đàn bà không quen biết" mà ông tưởng tượng là một thiếu phụ khoảng ba mươi, đẹp, thông minh, có óc phán đoán, suy xét, thực ra tượng trưng tất cả những phụ nữ thắc mắc về đời sống. Liên tiếp trong sáu chục tuần, ông viết cho họ mỗi tuần một bức thư từ hai tới bốn trang. Trong sáu chục bức thư đó, ông giải đáp tất cả những câu họ có thể hỏi ông về những nỗi vui, buồn và ưu tư của họ, về ái tình, hôn nhân, hạnh phúc, nghề nghiệp, về tâm lí đàn ông, tâm lí đàn bà, về y phục, nhan sắc, cách lấy lòng người, cách xử trí khi chồng có ngoại tình, về quyền lợi và bổn phận của đàn bà, như dạy con, chiều chuộng v.v... Ông lại chỉ cho họ cách bồi dưỡng tinh thần và trí tuệ : đọc sách ra sao, tiêu khiển ra sao. Đôi khi ông cao hứng, nhân một lúc vui hay một lúc bực mình, giới thiệu một tác phẩm, một khúc nhạc, một cảnh đẹp hoặc mạt sát bọn giết thì giờ của ông, mỉa mai bọn làm áp phe, suốt đời chỉ lo kiếm tiền... Tóm lại, ông gặp chuyện gì nói chuyện đó, không sắp đặt trước, lan man y như trong một cuộc đàm thoại. Triết lý của ông là một triết lý lạc quan, khoan hoà, thực tế mà chân chính. Giọng của ông nghiêm trang, thanh nhã mà thân mật, dí dỏm không ra vẻ dạy đời. Ông già tâm lí, giàu kinh nghiệm ; đọc ông ta thấy thích hơn là đọc tác phẩm khô khan của các triết gia, thích hơn cả là những trang tuy sâu sắc, nhưng cô đọng gần như châm ngôn của Alain, sư phụ của ông nữa. Vì ông gần chúng ta hơn.   Mời các bạn đón đọc Tổ Ấm Gia Đình của tác giả André Maurois & Vương Hữu Khôi (dịch).