Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Nghệ Nhân Và Margarita (Mikhail Bulgakov)

M.Bulgakov - Bản thảo không bị cháy

Từng chương, từng trang sách, đều ẩn chứa trong đó những hàm ý triết học được "phổ" vào ngay cả những sự kiện xoàng xĩnh, khôi hài đến thảm hại của một hiện thực rã nát trong thế giới văn nhân. Và toàn thể tiểu thuyết là một tuyên ngôn nghệ thuật mà cho đến ngày nay các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục khám phá không ngưng nghỉ.

Nghệ Nhân là nhà văn vừa hoàn thành tiểu thuyết, viết về hai nhân vật Lesua và Ponti Pilat: Một là nhà triết học lang thang và một là quan tổng trấn quyền uy. Lesua đã bị gài bẫy, bị bắt và bị hành hình vì những rao giảng của mình. Cái chết của Lesua đã trở thành nỗi ám ảnh kéo dài suốt hai nghìn năm, không để cho Ponti Pilat được yên, bởi quan tổng trấn đã không thể "cứu" được Lesua khỏi án chết, như ước muốn bí mật chỉ riêng ông biết.

Số phận của Nghệ Nhân cũng không hề may mắn hơn: Tác phẩm của anh bị nguyền rủa và khai tử bởi các đồng nghiệp ngay từ lúc chưa công bố, dẫn đến việc anh bế tắc, tuyệt vọng, tự đốt bản thảo và tìm đến nhà thương điên, trốn chạy cả tình yêu định mệnh của Margarita…

Chỉ có quỷ sứ mới cứu nổi nhà văn. Và quả thật quỷ sứ đã xuất hiện. Tìm mua: Nghệ Nhân Và Margarita TiKi Lazada Shopee

Phần lớn số trang của tiểu thuyết đã dành để mô tả những gì mà chúa quỷ Voland và đoàn tùy tùng đã "quậy tưng" thành phố Moscow lên theo cách nào. Bằng những phép thuật được sử dụng như thuốc thử, Voland đã buộc giới văn nhân tự lộn trái mình ra, bộc lộ những phẩm chất tồi tệ: Bất tài, dối trá, ăn bám và hám lợi.

Quả thật, Bulgacov với "Tài năng của nhà văn trào phúng, tài năng của nhà văn giả tưởng và tài năng của nhà văn hiện thực" đã nén đến tối đa những vấn nạn văn chương - tư tưởng, nhằm khẳng định khát vọng của nhà văn. Nó ở trong lời đáp của Voland khi Nghệ Nhân lên tiếng hỏi mình có nên chạy theo Ponti Pilat không: "Không, chạy theo dấu vết của cái đã kết thúc để làm gì?…Chẳng lẽ anh không muốn giống như Faust, ngồi bên chiếc bình cổ cong với niềm hy vọng mình sẽ tạo ra được một giống Homuncul mới?".

Nếu Nghệ Nhân - nhà văn trong tiểu thuyết khá mềm yếu và thụ động thì Bulgacov - nhà văn ngoài đời thực hoàn toàn ngược lại. Mạnh mẽ, quyết liệt, Bulgacov đã gửi một bức thư dài đến chính phủ Liên Xô: "Và tự tay tôi, tôi đã ném vào lò sưởi một tập bản thảo cuốn tiểu thuyết viết về quỷ sứ, một tập bản thảo hài kịch và phần đầu cuốn tiểu thuyết thứ hai của tôi - tiểu thuyết Sân khấu…Tôi xin lưu ý rằng, không được viết đối với tôi cũng có nghĩa là bị chôn sống… Nếu không được làm đạo diễn, tôi xin làm diễn viên đóng vai phụ. Nếu làm diễn viên phụ cũng không được, tôi xin làm công nhân sân khấu. Nếu cả điều đó cũng không thể được, tôi xin chính phủ Xô viết xử trí tôi như chính phủ thấy cần thiết…". Bức thư đã được gửi đi vào trước thời điểm mà Maiakovski đã dùng súng tự bắn vào đầu.

Sự quyết liệt ấy đã thể hiện rất rõ trong tiểu thuyết, ở những đối thoại giữa giữa Lesua - Pilat. Iesua đã trả lời Pilat, nhắc lại những gì mà vì nó, nhà triết học phải bước lên đoạn đầu đài: "Tôi nói rằng ngôi đền của lòng tin cũ sẽ sụp đổ, và ngôi đền mới của chân lý sẽ được dựng lên… Bất kể thứ quyền lực nào cũng là bạo lực đối với con người, và sẽ đến một lúc sẽ không còn quyền lực của các hoàng đế lẫn bất kỳ thứ quyền lực nào khác. Con người sẽ đến được vương quốc của sự thật và công lý, nơi nói chung sẽ không cần một quyền lực nào cả…".

Có lẽ sự quyết liệt ấy đã giúp cho "bản thảo không bị cháy", cho dù Nghệ Nhân, cho dù chính Bulgacov đã đốt nó.***

Năm 2006, Mikhail Bulgakov, một trong những nhà văn lớn nhất và kỳ bí nhất của nước Nga, tròn 115 tuổi.

Hành trình cuộc đời, hành trình văn chương của ông trên dưới trăm năm đầy gian nan thăng trầm nhưng hướng về bất tử, như lời khẳng định của một nhà văn Nga: “Bulgakov - nhà văn đang sống và sẽ sống chừng nào còn tồn tại văn học Nga”. Hơn thế nữa, mối quan tâm đối với sự nghiệp sáng tác của Bulgakov mỗi ngày một tăng ở Nga và ở nhiều nơi trên thế giới, hầu hết tác phẩm của ông liên tục được in, tái bản, dịch, dựng phim… Xuất hiện ngày càng nhiều những công trình nghiên cứu “Bulgakov học”. Ông là một trong số rất ít nhà văn ở Nga được làm “Bách khoa toàn thư”; và đặc biệt, Bulgakov có lẽ là một trong những nhà văn có tác phẩm được đưa lên và được đọc nhiều nhất trên mạng Internet.

Nghệ nhân và Margarita là cuốn tiểu thuyết lớn nhất của M. Bulgakov, một trong những đỉnh cao của nghệ thuật ngôn từ Nga. Tác phẩm này đã được dịch sang tiếng Việt hai mươi năm trước, có thể nói đây là công trình dịch thuật công phu và tâm đắc nhất của tôi. Tuy nhiên, có một sự thật là, khác với ở nước Nga và phương Tây, kiệt tác này không thật sự được phổ biến và tiếp nhận rộng rãi ở bạn đọc Việt Nam - có lẽ là do những khác biệt nhất định về văn hóa. Lần này, 65 năm sau khi tác phẩm ra đời, chúng tôi xin tái bản lại bản tiếng Việt trong một nỗ lực tiếp tục đưa Bulgakov đến gần hơn nữa với bạn đọc Việt Nam, nhất là bạn đọc trẻ tuổi, thế hệ mà tôi hi vọng sẽ dễ dàng tiếp cận Nghệ nhân và Margarita hơn. Ngoài bản dịch cuốn tiểu thuyết, chúng tôi đưa thêm phần Phụ lục để phần nào giúp bạn đọc trong việc cảm thụ tác phẩm này.

Hà Nội, 27 tháng 1 năm 2006

Ðoàn Tử Huyến

***

Một buổi chiều mùa xuân, vào cái giờ mặt trời lặn nóng chưa từng thấy, trong công viên Hồ Pat’riarsi1 ở Moskva xuất hiện hai vị nam công dân. Người thứ nhất dáng thâm thấp, béo tốt, hói đầu, mặc bộ quần áo mùa hè màu xám nhạt, chiếc mũ còn khá lịch sự bóp lại cầm trong tay, cặp kính gọng sừng đen to quá cỡ ôm ngang khuôn mặt cạo kỹ lưỡng. Người thứ hai còn trẻ, vai rộng, tóc vàng hung rối bù, mũ cát két sọc vuông đội lệch ra sáu gáy, áo sơ mi kẻ ô, quần dài trắng nhàu nát và chân đi đôi giày vải đen.

Người thứ nhất không phải ai khác, mà chính là Mikhail Aleksandrovich Berlioz2, chủ tịch ban chấp hành của một trong những hiệp hội văn học lớn nhất Moskva, viết tắt là MASSOLIT3, và ông đồng thời cũng là tổng biên tập một tờ tạp chí văn học lớn; còn người bạn đường trẻ của ông là nhà thơ Ivan Nikolaievich Ponưrev, bút danh Bezdomnưi4.

Bước vào dưới dãy bóng râm của hàng cây lipa5 đang bắt đầu nhú lá xanh, việc đầu tiên của hai nhà văn là chạy vội đến bên chiếc quầy dựng bằng ván sơn sặc sỡ với dòng chữ “Bia và nước giải khát”.

Mà quên, có lẽ cần phải thông báo ngay cho bạn đọc biết điều kỳ lạ thứ nhất của cái buổi chiều tháng Năm khủng khiếp này. Ðó là, không chỉ ở cạnh quầy giải khát, mà suốt dọc cả con đường có trồng cây chạy song song với phố Malaia Bronnaia cũng không thấy một bóng người nào. Vào cái giờ đó, khi hình như mọi người đã hết cả sức để thở, khi vầng mặt trời, sau một ngày thiêu đốt Moskva, đang bọc mình trong màn sương khô lặn xuống một nơi nào đấy phía sau tuyến đường vòng Sadovoie, chúng ta không hề gặp một ai đi dạo hóng mát dưới bóng hàng cây lipa, không thấy một người nào ngồi trên những chiếc ghế băng “suốt dọc con đường dài vắng tanh vắng ngắt.”

“Cho cốc nước khoáng narzan”, Berlioz nói với người đàn bà bán hàng.

“Không có narzan đâu”, người đàn bà trong quầy đáp, và không hiểu tại sao bà ta lại tỏ vẻ phật ý.

“Có bia không?” Bezdomnưi hỏi bằng giọng khàn khàn.

“Bia tối mới chở về”, người đàn bà trả lời.

“Thế có gì?” Bezdomnưi lại lên tiếng.

“Nước mơ ấm”, người đàn bà nói.

“Thôi được, cho xin, cho xin, cho xin!…”

Hai cốc nước mơ sủi rất nhiều bọt màu vàng, và trong không khí bốc lên một thứ mùi như ta thường thấy trong các cửa hiệu cắt tóc. Uống xong, hai nhà văn lập tức đua nhau nấc cụt; họ trả tiền và ngồi xuống một chiếc ghế băng, mặt ngoảnh ra hồ, lưng quay về phía phố Bronnaia.

Ðúng lúc đó bắt đầu xảy ra điều kỳ lạ thứ hai của buổi chiều hôm đó, nhưng nó chỉ liên quan tới một mình Berlioz: ông bỗng thôi nấc, tim bỗng đập mạnh một cái rồi lặn hẫng đi đâu mất; và thoáng sau nó trở lại nhưng hình như có kèm theo một mũi kim tù nằm mắc bên trong. Thêm vào đó, Berlioz bỗng cảm thấy một nỗi sợ hãi vô cớ nhưng rõ rệt đến nỗi ông muốn ngay lập tức bỏ chạy khỏi nơi đây không ngoái lại. Không hiểu cái gì khiến ông hoảng sợ, Berlioz đưa mắt rầu rĩ nhìn quanh. Mặt ông tái mét; ông lấy khăn mùi soa lau trán, nghĩ thầm: “Cái gì xảy ra với mình thế này nhỉ? Trước đây chưa bao giờ như vậy cả… Hình như tim mình bị sao ấy… Mình mệt mỏi quá rồi. Có lẽ cần phải vứt tất cả lại để đến nghỉ ở Kislovodsk6 thôi…”

Ðúng lúc đó, làn không khí oi ả bỗng cô đặc lại trước mắt Berlioz, tạo thành một người đàn ông trong suốt có hình thù hết sức kỳ dị. Trên mái đầu nhỏ tí của anh ta là chiếc mũ lưỡi trai của dân đua ngựa, áo vét kẻ ô mỏng ngắn cũn cỡn… Người này cao khoảng một sagien, nhưng vai hẹp, gầy không thể tưởng được, và bộ mặt, xin bạn đọc lưu ý cho, đầy vẻ nhạo báng!

Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Nghệ Nhân Và Margarita PDF của tác giả Mikhail Bulgakov nếu chưa có điều kiện.

Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.

Nguồn: thuviensach.vn

Đọc Sách

Harry Potter Và Phòng Chứa Bí Mật -Tập 2
Harry Potter Và Phòng Chứa Bí Mật -Tập 2 Harry Potter và Phòng chứa Bí mật (tiếng Anh: Harry Potter and the Chamber of Secrets) là quyển thứ hai trong loạt truyện Harry Potter của J. K. Rowling. Truyện được phát hành bằng tiếng Anh tại Anh, Hoa Kỳ và nhiều nước khác vào ngày 2 tháng 7 năm 1998. Đến tháng 12 năm 2006 riêng tại Mỹ đã có khoảng 14.9 triệu bản được tiêu thụ. Bản dịch tiếng Việt được nhà văn Lý Lan dịch và xuất bản bởi Nhà xuất bản Trẻ thành 8 tập, in thành sách tháng 2 năm 2001. Harry Potter được chuyển thể thành bộ phim ăn khách cùng tên mang lại danh tiếng lẫy lừng cho tác giả và khiến đây trở thành cuốn tiểu thuyết có doanh thu lớn nhất mọi thời đại. Tổng hợp 7 phẩn Harry Potter Những Cuộc Phiêu Lưu Của Tom Shawyer The Hobbit Harry Potter Và Phòng Chứa Bí Mật -Tập 2 – J. K. Rowling “… Ông Dursley nói: “Khi nhận đứa bé về nuôi, ta đã thề sẽ làm chấm dứt hết những trò tà ma quỷ thuật, ta đã thề sẽ trụ hết tà ám ra khỏi người thằng nhỏ. Cái đồ phù thủy!” Harry kêu lên: “Nghĩa là dượng biết từ trước? Dượng đã biết trước con là… là… phù thuỷ?” Bà Dursley bỗng ré lên: “Biết chứ! Tất nhiên tao biết từ trước! Mày thế nào rồi cũng giống như má mày. Hồi đó, má mày nhận được một lá thư giống như vậy, liền bỏ nhà vô cái trường quỷ đó, để rồi mỗi mùa hè lại tha về nhà cả túi đầy nòng nọc, biến mấy cái tách trà thành chuột nhắt! Tao là người duy nhất biết tỏng má mày là cái gì? – Đồ đồng bóng! Chỉ có ông bà ngoại là một điều Lily hai điều cũng Lily, lại còn tự hào là có một con mụ phù thuỷ trong nhà nữa chứ!” Bà Dursley ngừng lại hớp hơi để lấy sức nói tiếp. Có vẻ như bà đã chờ đợi lâu rồi cái cơ hội này để trút ra: “Rồi má mày gặp cha mày ở cái trường quỹ đó, ra trường thì cưới nhau, rồi đẻ ra mày, và dĩ hiên tao biết mày cũng cùng một giuộc với cha mẹ mày, cũng quái dị, cũng bất bình thường. Được rồi, nếu mày muốn biết tới cùng, thì tao nói luôn cho mà biết, ba má mày cứ làm ba cái trò phù thuỷ nên đã bị nổ tung, để cho tụi ta phải lãnh cục nợ là mày.” Harry chết lặng, mặt tái dần. Khi nó bật ra được tiếng nói, nó hỏi: “Nổ tung à? Dì từng nói với con là ba má đã chết vì tai nạn xe cộ mà”. “Tai nạn xe cộ!” Lão Hagrid gầm lên, giận dữ nhảy xổ tới, khiến cho ông bà Duraley lùi ngay trở vô góc tối. Lão Hagrid gầm gừ tiếp: ”Làm sao mà một tai nạn xe cộ giết được ông bà Potter? Thật là đáng nổi điên lên! Một vụ xì-căn-đan chứ chẳng chơi! Hừ, đây: Harry Potter không được biết chút gì về câu chuyện của chính mình, trong khi mọi thằng nhóc trong thế giới chúng ta đều biết rành tên tuổi nó!” Harry khẩn thiết hỏi: ”Nhưng mà tại sao? Chuyện gì đã xảy ra?” Cơn giận dường như tắt đi trên gương mặt lão Hagrid. Bỗng nhiên trông lão có vẻ căng thẳng. “Ta không bao giờ ngờ tới điều này. Khi cụ Dumbledore nó là ta sẽ bị nhiều khó khăn mới tìm gặp được con, rằng con không biết gì hết, ta vẫn không thể nghĩ ra nông nỗi này. Harry à, ta không chắc là ta có đủ tư cách để nói cho con biết – rồi sẽ có người nào đó làm điều này – nhưng con không thể đến Hogwarts mà lại không hề biết gì về gia thế và bản thân mình”. Lão quẳng một cái nhìn căm ghét vào ông bà Dursley. “Thôi được, tốt nhất là ta nói cho con biết những gì ta biết. Nhưng mà ta không thể nói cho con hết mọi thứ, đó là một bí mật ghê gớm, nhiều phần trong câu chuyện…”.
Trại Hoa Vàng
Trại Hoa Vàng Trại Hoa Vàng – Nguyễn Nhật Ánh Có lẽ hiếm có nhà văn nào ở Việt Nam lại có thể hiểu được tâm lý tuổi mới lớn như chú Ánh. Tôi đã đọc hàng chục tác phẩm của chú và có cảm giác như những tác phẩm đó sẽ không bao giờ cũ đối với những thế hệ sau. Đương nhiên, truyện Trại Hoa Vàng cũng không phải là ngoại lệ. Từng trang sách đã dẫn bước tôi vào một thế giới lạ kì với muôn vàn cảm xúc khác nhau. Nhưng có lẽ hai hình ảnh mà tôi ấn tượng nhất chính là cái tam giác “Béc-mu-đa” – chi tiết mà mỗi lần nghĩ đến tôi không thể nhịn được cười, và không thể không nhắc đến cái kết ấn tượng, khiến người đọc không khỏi suy ngẫm: trong không gian thơ mộng của Chuẩn và Cẩm Phô, anh chợt nhận ra sự hiện diện của cô bạn hàng xóm bé nhỏ, người mà có lẽ đã mến anh từ lâu lắm rồi. Đây là một trong những truyện dài mang đầy đủ đặc trưng văn phong của chú Nguyễn Nhật Ánh: hài hước, trong sáng, nhẹ nhàng, và cái kết dù có hậu vẫn thoáng chút man mác buồn. Bạn đọc chắc không thể quên được chi tiết hài hước “tam giác Béc-mu-đa” trong câu chuyện. Bồ Câu Không Đưa Thư Tôi là Bêtô Tuyển tập Nguyễn Nhật Ánh Rồi cả những cảm nhận của nhân vật chính về người cha khó tính nhưng giàu tình yêu thương, đều được chú Ánh thuật lại rất tự nhiên mà không kém phần hài hước. Trại hoa vàng thực sự là một trong những truyện dài không thể bỏ qua của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh.
Thất Tịch Không Mưa
Tiểu thuyết ngôn tình lấy đi nước mắt của hàng triệu người Từ nhỏ cô đã thầm yêu anh, như số kiếp không thể thay đổi tình yêu trong sáng ấy, như lần đầu được nếm mùi vị của quả khế mới chín. Sau đó cô và anh xa nhau, gặp lại đều cách nhau ba năm. 15 tuổi, anh lên phía bắc học, từ đó mất liên lạc; 18 tuổi, cô nông nổi đi gặp anh, đổi lại là sự đau lòng; 21 tuổi, cuối cùng anh cũng quay về để chịu tang mẹ; 24 tuổi, anh kết hôn, đưa người vợ mới cưới tới tận nơi xa. Anh từng là thần hộ mệnh của cô, dịu dàng, cẩn thận che chở, bao dung. Đã từng ngoắc tay với cô, thề sẽ mãi mãi ở bên nhau. Cô có thể mất đi tất cả, nhưng không thể không có anh – người hiểu cô nhất. Ngày 7-7 là ngày gặp mặt của Ngưu Lang Chức Nữ, mưa ngày 7-7 là nước mắt của nỗi nhớ nhung vậy. Giờ cô 27 tuổi, liệu có thể có một ngày 7-7 không mưa, để cô được gặp lại anh một lần nữa… Thất Tịch Không Mưa Hai con người yêu nhau đến tận xương tủy, yêu đến vụn vỡ con tim nhưng lại không thể nào đến với nhau. Hai con người ấy mang theo con tim khiếm khuyết đi tìm kiếm yêu thương trong thế giới ngoài kia nhưng không thể. Vì với cô, anh là Thẩm Hàn Vũ độc nhất vô nhị không ai có thế thay thế, chỉ có một mình anh. Còn với anh, cô là Thẩm Thiên Tình mà anh yêu quí nhất, là người mà anh thề sẽ bảo vệ suốt đời, không có cô anh chỉ là một cái xác không hồn. Một tình yêu đẹp đến thế, sâu nặng đến thế, thế nhưng họ lại không thể là của nhau. Không thể trách anh, không thể trách cô, có chăng là oán hận cái số phận đã đặt tình yêu nồng đậm của họ vào một tình huống quá éo le, biến nó trở thành bi kịch của cả cuộc đời. Ai Rồi Cũng Khác Thiên Thần Sa Ngã Tình Yêu Đau Đớn Thế Anh yêu cô, yêu đến đau lòng, nhưng chỉ có thể ở bên cô, chăm sóc cô với tư cách là một người anh trai, anh yêu cô, yêu đến mức thà để cô được thanh thản đã không ngần ngại mang một trái tim trống rỗng đi tìm kiếm hình bóng người con gái anh yêu trong những cô gái khác. Còn cô, cô yêu anh từ bé, yêu đến mức đối với cô, chỉ cần anh là đủ, chỉ cần anh tồn tại thì cô hạnh phúc, thế nhưng tình cảm ấy bị thứ bi kịch đau lòng kia ngăn chặn. Cái chết – có nhiều người sẽ xem nó là một điều tồi tệ nhất, nhưng với cái chết trong câu chuyện này thì nó là cách giải thoát cho họ khỏi số phận đầy bi ai và đau đớn đến xé lòng kia. Và như anh đã nói: “Tình, đợi anh”, cô sẽ đợi, đợi anh thực sự đến bên cô, đợi để được thuộc về nhau trọn vẹn, đợi để chìm đắm trong tình yêu của họ, và đợi, đợi để thực sự được là một người con gái yêu anh.
Con Hoang
Cuốn tiểu thuyết thứ ba của Lê Hồng Nguyên. Ấn tượng đầu tiên khi đọc Con Hoang chính là những kiếp người bị giăng mắc trong những định kiến truyền đời đầy những phi lí, bất công, tàn nhẫn. Khép lại 202 trang sách vui buồn cùng với các nhân vật, sẽ vương vấn lại trong ta cảm giác vừa khép lại một bài ca buồn, nỗi đau xé lòng, tiếng than da diết của người phụ nữ sau lũy tre làng với ham ước được sống, nhu cầu được yêu thương, quyền bình đẳng với chính mình. Mỗi số phận trong cuốn tiểu thuyết là sự giày vò với những khát vọng ấy, là ham muốn giải tỏa bản năng của mình đang bị chôn kín, bị đày ải trong bức tường vô hình mà đáng sợ của cái gọi là định kiến, là dư luận xã hội. Con Hoang Văn chương Lê Hồng Nguyên đẹp, buồn, nhưng chứa chan nỗi yêu thương da diết của một ngòi bút nữ. Thiên nhiên trong tiểu thuyết của chị cũng rất đẹp, sống động. Và chắc chắn phải khởi thủy từ một tâm hồn lãng mạn tha thiết với cuộc đời chị mới có thể dành cho thiên nhiên những áng văn mềm mại và có sức gợi cảm như vậy. “Lại đêm nữa, bà đơn phương vùi khát thèm bằng trắng đêm giã gạo. Những đêm trăng quê yên tĩnh trải rộng miên man dài. Những đêm giã gạo toát mồ hôi, gió vừa đủ lạnh thấm lỗ chân lông gời gợi. Ngoại Tình Số Đỏ Vũ Trung Tùy Bút Những đêm không chịu nổi, bà ôm chặt cái thân cối giã gạo, òa khóc cho hả lòng hả dạ, cho bớt tủi nhục cô đơn. Trong đêm, cái khúc gỗ nhãn làm thân cối giã gạo được bào nhẵn vuông tròn mịn màng hiển hiện như một thân thể đàn ông. Tại sao không cho bà được yêu thương, được ôm ấp, được giận hờn”. Thư viện Sách Mới trân trọng gửi đến bạn đọc tiểu thuyết Con Hoang của tác giả Lê Hồng Nguyên.