Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Ảnh Phổ Diện

Vua John ra sắc lệnh Công nương Gabrielle xứ St. Biels phải rời khỏi quê hương Anh quốc của cô để kết hôn với một lãnh chúa Cao nguyên. Cô biết mình phải tuân lệnh và gói ghém đồ đạc đến Scotland cùng với đội cận vệ. Trên đường tới tu viện nơi dự định tiến hành lễ cưới, họ bắt gặp một nhóm người đang muốn chôn sống một kẻ khác. Cô đã giải cứu kẻ gần chết đó và bí mật mang anh ta đến tu viện.  Vì cô đến đó chờ để làm lễ kết hôn, hai nam tước đồi bại người Anh đang tranh giành để có được cô cũng đến tu viện. Nhưng vị lãnh chúa mà cô buộc phải cưới thì không. Ông ta bị sát hại trước khi tới nơi. Giờ hai nam tước đang tranh cãi xem ai là người thay mặt cho đức vua để quyết định tương lai của Gabrielle.  Lãnh chúa Colm MacHugh đến tu viện để đón em trai mình, người đã gần như bị chôn sống. Anh không khám phá ra người nào đã cứu em trai mình nên quyết định đưa vị linh mục đã giúp Liam hồi phục lại về vùng đất của anh để xem xem liệu anh có tìm hiểu được thêm gì nữa. Khi mệnh lệnh của hai nam tước người Anh đặt ra cho Gabrielle dẫn đến kết quả không mong đợi, anh liền giải cứu cho cô và đưa cô về với anh. Để đáp trả món nợ cũ, anh chấp thuận kết hôn với cô và trở thành người bảo hộ cho cô.  Ảnh Phổ Diện (Shadow Music) là cuốn tiểu thuyết lãng mạn, vì thế người đọc đều biết cuối cùng thì Colm và Gabrielle sẽ yêu thương nhau và cùng chống lại những thế lực đen tối vây quanh. Các nam tước dồn hết sức lực, đặc biệt là một kẻ trong số họ muốn “kho vàng ẩn” của St. Biel. Có cả những xung đột thị tộc tại Scotland – điều luôn luôn xuất hiện trong loại tiểu thuyết lãng mạn này.  Công nương Gabrielle có một cá tính mạnh mẽ. Cô không thắc mắc gì khi tuân lệnh nhà vua. Mặc dù vậy, cô sẽ sống cuộc sống của cô khi thấy phù hợp theo những hạn chế về mặt văn hóa và tín ngưỡng của thời bấy giờ. Colm nhanh chóng học được cách giải mã một số những từ ngữ của cô để biết cô sẽ làm điều mà cô thích. Colm là một vị lãnh chúa mạnh mẽ, điển hình và cũng là một chú rể bất đắc dĩ. Anh học được rằng cuộc hôn nhân này không phải là sự trói buộc như anh tưởng. *** Wellingshire, nước Anh. Công nương Gabrielle chỉ mới có 6 tuổi khi bị triệu đến bên giường người mẹ đang hấp hối. Hộ tống là người cận vệ trung thành, đằng sau là hai người lính hai bên, bước chân họ chậm rãi để cô bắt kịp khi họ trang trọng diễu qua hàng lang dài. m thanh duy nhất chỉ là tiếng những đôi ủng dập xuống nền nhà bằng đá lạnh buốt. Gabrielle đã được gọi đến giường mẹ nhiều lần đến nỗi cô bé không tài nào đếm nổi. Chân bước và mái đầu cúi xuống, ánh nhìn dán chặt vào viên đá sáng bóng mà cô vừa tìm được. Mẹ sẽ rất thích nó. Đó là một viên đá đen tuyền với một đường sọc màu trắng mảnh mai lượn vòng quanh. Một bên mặt trơn nhẵn như bàn tay mẹ lúc vuốt ve khuôn mặt Gabrielle. Mặt bên xù xì như những cái chạm của cha cô. Hàng ngày lúc hoàng hôn buông xuống, Gabrielle mang đến cho mẹ một món quà quý giá khác nhau. Hai ngày trước cô bé bắt được một con bướm. Đôi cánh của nó thật xinh đẹp, vàng óng xen lẫn những mảng màu tím biếc. Mẹ tuyên bố đó chính là chú bướm xinh đẹp nhất mà bà từng thấy trên đời. Bà khen ngợi Gabrielle vì đã biết nâng niu một tạo vật của Chúa lúc bà tiến về phía cửa sổ và thả cho nó bay đi. Ngày hôm qua Gabrielle hái những bông hoa ở ngọn đồi phía ngoài lâu đài. Hương cây thạch nam và mật ong vất vít quanh cô bé, và cô bé nghĩ mùi hương này thậm chí còn dễ chịu hơn cả mùi dầu thơm và nước hoa đặc biệt của mẹ cô. Gabrielle buộc một dải lụa xinh xắn quanh phần cuống bó hoa và cố gắng tạo thành một chiếc nơ đẹp, nhưng cô bé không biết cách và cuối cùng làm rối tung nó lên. Cô bé đã dỡ nó ra trước khi mang cả bó hoa đến cho mẹ mình. Những hòn đá là những món quà quý ưa thích của Mẹ. Mẹ giữ một hộp đầy những viên đá mà Gabrielle thu nhặt cho bà và đặt nó trên bàn ngay cạnh giường, chắc Mẹ sẽ thích viên này nhất cho mà xem. Gabriella không hề tỏ ra lo lắng về cuộc gặp gỡ ngày hôm nay. Mẹ đã hứa sẽ không đi tới thiên đường sớm, và mẹ chưa bao giờ thất hứa với cô. Những vệt nắng trải dài trên những bức tường và sàn nhà lát đá lạnh buốt. Nếu như Gabrielle không bận rộn với viên đá của mình, cô bé sẽ thích được đuổi bắt theo bóng nắng và cố gắng giành lấy một vệt cho mình. Hành lang dài là một trong số những chốn đùa nghịch ưa thích của cô bé. Cô bé thích co chân nhảy lò cò từ viên nọ sang viên kia trên mặt đá lát sàn, và quay lại xem xem khoảng cách xa đến bao nhiêu trước khi ngã phịch xuống. Thi thoảng cô bé nhắm chặt mắt, hai cánh tay giang rộng, và xoay tròn xoay tròn cho đến tận lúc loạng choạng ngã nhào xuống nền nhà, mặt mũi tối tăm đến nỗi những bức tường đá dường như bay lượn ngay trên đầu. Nhưng thích nhất là được chạy dọc hành lang, đặc biệt khi cha có ở nhà. Ông là người đàn ông to lớn, trang nghiêm , cao hơn bất kì chiếc cột chống nào trong nhà thờ. Cha cô sẽ gọi cô đến và chờ cô sà vào lòng ông. Rồi ông sẽ nhấc bổng cô lên trong vòng tay mình và nâng cô đến ngang đầu. Nếu đang ở khu sân trong, cô với hai bàn tay lên trời, cảm giác chạm vào được cả một đám mây. Cha lúc nào cũng vờ thả lỏng tay mình để cô tưởng ông sẽ làm cô rơi xuống. Cô biết ông sẽ không bao giờ làm thế, nhưng cô vẫn kêu thét lên thích thú. Cô bé quàng tay quanh cổ cha và bám thật chặt khi ông sải bước đến phòng mẹ. Khi tâm trạng cha đặt biệt vui vẻ, ông sẽ cất tiếng hát. Cha có một giọng hát dễ sợ, thỉnh thoảng Gabrielle cười rúc rích và bịt chặt lấy hai tai tỏ vẻ khiếp đảm cực kì, nhưng cô chưa bao giờ thực sự cười phá lên. Cô không muốn tổn thương đến những tình cảm dịu dàng của cha mình. Hôm nay cha vắng nhà. Ông rời Wellingshire để đến thăm chú Morgan ở phía bắc nước Anh, và vài ngày tới cũng sẽ chưa về. Gabrielle không hề lo lắng. Nếu không có cha ở nhà, bà sẽ không chết. Stephen, chỉ huy của đội cận vệ, mở cánh cửa phòng mẹ cô và vỗ về Gabrielle bước vào phòng bằng một cú thúc nhẹ qua vai. “Nào, Công nương,” anh hối thúc. Cô quay lại với một cái cau mày bất bình. “Cha nói anh phải gọi mẹ em là Công nương Geneieve, và gọi cháu là Lady Gabrielle chứ.” “Ở nước Anh, em sẽ là Lady Gabrielle.” Anh đập nhẹ vào chỏm lông trang trí trên chiếc áo dài của mình. “Nhưng ở St. Biel, em chính là công nương của chúng ta. Giờ thì đi đi nào, mẹ em đang đợi.” Nhìn thấy Gabrielle, mẹ cô lên tiếng gọi. Giọng nói phát ra yếu ớt, còn mặt bà trông trắng bệch. Từ lúc cô bé nhớ được tới bây giờ , mẹ đã nằm trên giường rồi. Hai chân mẹ đã quên mất bước đi, bà giải thích với Gabrielle như thế, nhưng cô bé vẫn hy vọng, cầu nguyện rằng một ngày nào đó chúng sẽ nhớ ra. Nếu như điều nhiệm màu ấy xảy đến, mẹ hứa với Gabrielle rằng mẹ sẽ đứng chân trần trên nền nhà sạch sẽ để đếm gạch cùng với cô bé. Và mẹ cũng sẽ khiêu vũ cùng với Cha. Phòng ngủ chật ních toàn những người là người. Họ nhích thành một lối nhỏ giành cho cô. Vị mục sư, Cha Gartner, đang lẩm bẩm lời cầu nguyện của ông qua tiếng thì thầm gần hốc tường, và thầy thuốc, người lúc nào mặt mày cũng cau có và thích chọc lấy máu mẹ bằng những con đỉa nhày nhụa, đen sì, cũng có mặt. Gabrielle thầm biết ơn vì ông ta đã không đặt những con vật đó vào cánh tay mẹ ngày hôm nay. Các tớ gái, người hầu và quản gia lảng vảng bên cạnh giường. Mẹ đặt khung thêu và chiếc kim của bà xuống, xua tay cho người hầu tránh sang một bên, và ra hiệu cho Gabrielle. “Lại đây ngồi cạnh mẹ nào,” bà ra lệnh. Gabrielle bước tới, trèo lên bục, và chìa hòn đá ra cho mẹ. “Chà, đẹp quá,” mẹ thì thầm khi cầm lấy viên đá và cẩn thận quan sát nó. “Đây hẳn là viên đá đẹp nhất,”, mẹ thêm vào với một cái gật đầu. “Mẹ, lần nào con mang tới cho mẹ một viên đá mẹ đều nói thế. Lúc nào cũng là viên đẹp nhất.” Mẹ cô chạm nhẹ vào cô bé. Gabrielle dịch tới gần hơn. “Mẹ không thể chết hôm nay được. Nhớ không? Mẹ hứa rồi.” “Mẹ nhớ mà.” “Cha sẽ rất giận dữ, vì mẹ không khỏe lên.” “Lean closer, Gabrielle,” her mother said. “I have need to whisper.” “Xích vào với mẹ, Gabrielle,” mẹ cô bé đáp. “Mẹ nói thầm thôi.” Một tia sáng lóe lên trong mắt báo cho Gabrielle biết mẹ lại đang bắt đầu trò chơi của mình. “Một bí mật ạ? Mẹ sẽ nói cho con biết?” Đám đông tiến lại gần. Ai cũng hăm hở giỏng tai nghe lời bà sắp nói. Gabrielle nhìn quanh phòng. “Mẹ, tại sao mọi người đều ở đây hết vậy?” Mẹ hôn lên má cô bé. “Họ nghĩ mẹ biết nơi cất giấu kho báu, và hi vọng mẹ sẽ nói cho con nghe.” Gabriella cười rúc rích. Cô bé rất thích trò chơi này. “Mẹ sẽ nói cho con chứ?” “Không phải hôm nay,” mẹ trả lời. “KHông phải hôm nay,” Gabrielle lặp lại để cho đám người tò mò đang vây xung quanh có thể nghe thấy. Mẹ cô bé gắng gượng ngồi dậy. Một người hầu nhanh chóng tiến lại đặt thêm gối vào sau lưng bà. Ngay tức khắc thầy thuốc loan báo rằng sắc mặt bà đã khá hơn. “Ta cả thấy khỏe hơn nhiều rồi,” bà lên tiếng. “Giờ hãy rời đi,” bà ra lệnh, giọng nói nhấn mạnh từng lời. “Ta muốn có phút giây riêng tư với con gái mình.” Vị thầy thuốc nhìn như thể ông muốn cự lại, nhưng vẫn im lặng giải tán đám đông ra khỏi phòng ngủ. Ông ra hiệu cho hai người hầu gái ở lại bên trong. Những người khác đứng túm tụm bên ngoài để chờ lệnh của bà chủ. “Có phải hôm nay mẹ khỏe hơn nhiều nên mới kể chuyện được cho con phải không?” Gabrielle hỏi. “Phải,” bà đáp. “Con muốn nghe chuyện gì nào?” “Câu chuyện về nàng công chúa,” Cô bé hăm hở lên tiếng. Mẹ cô bé không hề ngạc nhiên. Lúc nào Gabrielle cũng đòi bà kể đúng một câu chuyện. “NGày xửa ngày xưa có một nàng công chúa sống ở vùng đất xa thật xa tên gọi là St. Biel,” mẹ cô bắt đầu. “Chỗ ở của nàng là một lâu đài màu trắng thật lộng lẫy nằm tên đỉnh một ngọn núi cao. Nhà vua trị vì nơi ấy là chú của nàng. Ngài đối với công chúa rất ân cần và nàng vô cùng hạnh phúc.” Khi mẹ cô bé dừng lại, Gabrielle nôn nóng tiếp lời. “Mẹ là nàng công chúa đó.” “Gabrielle, đúng như thế, con biết mà. Và đó là câu chuyện của cha và mẹ.” “Con biết, nhưng con vẫn muốn nghe mẹ kể chuyện cơ.” Mẹ cô bé tiếp tục. “Khi nàng công chúa đến tuổi trưởng thành, một giao kèo được lập với Nam tước Geoffrey vùng Wellingshire. Công chúa buộc phải cưới vị nam tước và sống với anh ta tại nước Anh.’ Vì bà biết rằng con gái mình thích nghe đoạn kể về lễ cưới, những bộ váy áo xúng xính, âm nhạc, thế là bà đi vào chi tiết. Cô con gái bé nhỏ vỗ hai tay vào nhau đầy hào hứng khi nghe đến bữa tiệc cưới long trọng, đặc biệt là lời miêu tả những chiếc bánh tạc nhân hoa quả cùng với những chiếc bánh ngọt nhân mật ong. Đến cuối câu chuyện, lời kể của người mẹ trở nên chậm chạp và nặng nề. Bà kiệt sức. Cô con gái bé nhỏ nhận thấy điều đó và , theo thói quen, cô lại bắt mẹ cô hứa sẽ không được chết hôm nay. “Mẹ hứa. Giờ đến lượt con kể cho mẹ nghe câu chuyện mẹ đã dạy cho con đi nào.” “Đúng y như mẹ dạy, phải không Mẹ? Và cũng y như mẹ của mẹ dạy mẹ phải không?” Bà mỉm cười. “Từng từ một. Và con sẽ nhớ và lại kể cho con gái con một ngày nào đó để chúng biết về dòng dõi của chúng và vùng đất St. Biel.” Gabrielle trở nên trịnh trọng, hai mắt cô bé nhắm lại đầy tập trung. Cô bé biết mình không được bỏ sót một từ nào trong toàn bộ câu chuyện. Đây là di sản của cô, và mẹ cô chắc chắn rằng một ngày nào đó cô sẽ hiểu ý nghĩa của câu chuyện này. Cô bé đặt hai tay lên lòng mình và rồi mở bừng mắt. Nhìn vào nụ cười khích lệ của mẹ, cô bé bắt đầu. “Này xửa ngày xưa vào một năm nhiều bão lớn ập vào từ ngoài biển khơi…” Mời các bạn mượn đọc sách Ảnh Phổ Diện của tác giả Julie Garwood.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Từ Trái Đất Đến Mặt Trăng
Khi cuộc nội chiến Hoa Kỳ gần kết thúc, những tay súng cuồng tín của Câu lạc bộ Súng ở Baltimore rất nhàn rỗi. Một ngày đẹp trời, chủ tịch Impey Barbicane đưa ra một đề xuất được chào đón một cách nhiệt tình. Đó là việc liên hệ với Mặt trăng bằng cách phóng một quả đạn khổng lồ bằng một khẩu pháo khổng lồ! Trong khi dự án đáng kinh ngạc này đang được thực hiện, một người Paris, Michel Ardan, gửi điện báo cho Barbicane: “Hãy thay thế quả đạn hình cầu bằng quả đạn hình nón. Tôi sẽ ngồi vào trong đó”... Với các nhân vật được xây dựng hoàn hảo, sự hài hước luôn hiện hữu, Từ Trái đất đến Mặt trăng là một trong những tác phẩm vĩ đại của Jules Verne, một trong những dự đoán táo bạo nhất của ông. Tác phẩm được Thanh Yên dịch từ bản dịch tiếng Anh. *** Jules Gabriel Verne sinh ngày 8 tháng 2 năm 1828 tại Pháp và được coi là cha đẻ của thể loại Khoa học viễn tưởng. Để theo đuổi việc viết văn, Jules Verne đã bỏ học luật, nghề cha ông định hướng. Cuốn tiểu thuyết đầu tay thành công Năm tuần trên khinh khí cầu (1863) đã mở đầu cho hàng loạt các tác phẩm nổi tiếng về sau của Jules Verne như Cuộc Thám Hiểm Vào Lòng Đất (1864), Hai vạn dặm dưới biển (1870), 80 Ngày Vòng Quanh Thế Giới (1873)… Các  tác phẩm của ông được dịch khắp nơi trên thế giới. Jules Verne mất ngày 24 tháng 3 năm 1905. Sau khi ông qua đời, nhiều tiểu thuyết chưa in của ông vẫn được tiếp tục xuất bản. - Ông là nhà văn Pháp nổi tiếng, được coi là người khai sinh ra thể loại văn học Khoa học viễn tưởng. - Tác phẩm của ông được dịch nhiều thứ ba trên thế giới và được chuyển thể thành phim nhiều lần. - Danh tiếng ấy chắc hẳn đã là đẹp đẽ lắm rồi. Tuy nhiên ông còn xứng đáng được nhiều hơn thế. Và thật không công bằng khi chúng ta kể lại lịch sử văn học của thời đại này mà không đặt tiểu thuyết gia có lẽ là có tính sáng tạo bậc nhất vào một vị thế đúng đắn. - Ông đã dùng phòng thí nghiệm và kính viễn vọng để viết tiểu thuyết phiêu lưu. Ông không chỉ ghi lại quá trình các nhà bác học tạo nên những phát minh lớn, mà còn tiên đoán chúng. Đọc những tác phẩm cùa ông, ta có thể nhận thấy những mâu thuẫn vì trong số những ý tưởng khoa học còn có những kiến phát chưa thể xác minh. Và bỗng dưng năm sau, hoặc vài năm sau, những giả thuyết mà ông đặt ra mà đôi khi thậm chí ông còn không tin, đã trở thành sự thật, một cách hoàn toàn chính xác. Những nhà bác học đã hoàn toàn đồng tình với ý tưởng của ông, hay nói cách khác, ông đã đi trước họ!.. - Trước đây, người ta vẫn đặt câu hỏi liệu khoa học thực sự có đi ngược hướng với trí tưởng tượng văn chương hay không. Các nhà triết học thì đồng tình, lules Verne chứng minh điều ngược lại qua hành động. Ông dùng chất liệu khoa học để xây dựng nên những câu chuyện hấp dẫn, những cuộc phiêu lưu lôi cuốn. *** T rong cuộc nội chiến Hoa Kỳ, hay còn gọi là cuộc chiến tranh giữa các tiểu bang (1861-1865), tại thành phố Baltimore, bang Maryland đã xuất hiện một câu lạc bộ mới và có sức ảnh hưởng ngoài mong đợi của những người sáng lập. Nó nổi lên cùng với nguồn năng lượng đến từ những tham vọng quân sự đang lớn dần giữa các nhóm chủ tàu, chủ hiệu và thợ cơ khí. Các nhà buôn thuần túy bỏ bàn tính để trở thành đại úy, đại tá và tướng lĩnh mà chưa hề có mặt dù chỉ một ngày ở Trường đào tạo West Point; thế mà, họ vẫn mau chóng sánh ngang với những kẻ đồng cấp nơi lục địa già và cũng như những kẻ kia, giành được thắng lợi nhờ các khoản chi vô tội vạ vào đạn dược, tiền bạc và con người. Nhưng lĩnh vực trong đó người Mỹ đặc biệt bỏ xa người châu Âu là khoa học chế tạo đại bác. Không phải vũ khí của họ có độ hoàn hảo cao hơn mà đơn giản chỉ là họ tạo ra các kích thước lớn hơn; lớn chưa từng thấy, thậm chí lớn tới mức xưa nay chưa từng thấy. Có người còn bạo mồm nói rằng kể cả mãi mãi về sau… Ở các khoản bắn quét, phóng, xiên, hay lia, hoặc bắn thẳng, người Anh, Pháp và Phổ chẳng có gì cần học hỏi; nhưng súng đại bác, bích kích pháo và súng cối của đám người này chỉ là thứ súng lục bỏ túi nếu so với những cỗ máy ghê gớm của pháo binh Mỹ. Sự thật này chẳng làm bất ngờ ai. Người Yankee, dù đây là theo cách gọi coi thường của người miền Nam trong thời kỳ nội chiến dành cho dân Bắc Mỹ, thì chính họ, những thợ cơ khí đầu tiên trên thế giới, là các kỹ sư – cũng như người Ý là nhạc công còn người Đức là các nhà siêu hình học bẩm sinh. Chẳng gì nghiễm nhiên hơn, thế đấy, việc nhìn họ ứng dụng tài hoa ấn tượng của mình vào khoa học chế tạo đại bác. Chứng kiến sự kỳ diệu của các loại súng Parrott, Dahlgren và Rodman, thì lục địa già với những súng Armstrong, Palliser và Beaulieu vang lừng tên tuổi một thời đã buộc phải cúi đầu trước những kình địch ở bên kia Đại Tây Dương. Giờ đây khi một người Mỹ có kế hoạch hành động, anh ta sẽ trực tiếp tìm một anh Mỹ thứ hai để bàn bạc và mời hợp tác. Nếu có ba, họ sẽ chọn ra một thủ lĩnh. Khi có bốn, họ sẽ chỉ định người quản lý hồ sơ và văn phòng sẵn sàng hoạt động. Nếu có năm, họ sẽ tiến hành mọi nghi lễ cần thiết để cho ra đời một câu lạc bộ. Chính là cái câu lạc bộ nói trên. Mọi thứ diễn ra tại Baltimore. Nhà sáng chế ra loại đại bác mới ủng hộ các thợ đúc và thợ khoan. Từ đó hình thành nên cốt lõi, nền tảng cho sự ra đời Câu lạc bộ Súng. Rồi, chỉ vẻn vẹn một tháng sau ngày thành lập, câu lạc bộ đã có tới 1.833 hội viên hợp thức và 30.565 hội viên thông tấn. Một điều kiện được coi như yếu tố tiên quyết đối với mỗi ứng viên khi gia nhập câu lạc bộ này, là phải đã hoặc đang thiết kế, hoặc (ít hay nhiều) từng hoàn thiện một khẩu đại bác; hoặc, nếu không đại bác, chí ít cũng là loại súng ngắn nào đó. Ấy thế mà, nghe nói, chỉ các tay sáng chế ra súng lục ổ quay, súng cạc bin khạc lửa và các vũ khí tương tự cỡ nhỏ, mới gặp ít soi xét nhất. Riêng lính pháo binh luôn được xếp hạng ưu trong điều khoản chiếu cố. Quy ước để tổ chức các quý ông này, theo một trong những diễn giải khoa học nhất và cũng mơ hồ nhất, của Câu lạc bộ Súng, là “tương ứng với số lượng súng của họ và tỷ lệ thuận với bình phương khoảng cách đạt được khi đạn bắn ra”. Khi Câu lạc bộ Súng được thành lập, tương lai về các thiên tài phát minh của người Mỹ thật quá dễ mường tượng. Vũ khí quân sự của họ đạt tới tầm vóc khổng lồ, còn đạn của họ, vượt mọi giới hạn quy chuẩn, thỉnh thoảng chẳng may cắt đôi vài khách bộ hành vô tội. Những sáng chế này, trên thực tế, bỏ xa các thiết bị nhút nhát của pháo binh châu Âu lại phía sau. Cũng là lẽ công bằng khi nói thêm rằng những người Yankee này, dũng cảm như họ từng thể hiện, đã không hạn chế chính mình trong các học thuyết và công thức, nhưng đã phải trả giá đắt, bằng chính bản thân, cho các sáng chế của họ. Trong số họ có đủ các cấp sĩ quan, từ trung úy tới cấp tướng; quân nhân thuộc mọi lứa tuổi, trong đó có người vừa mới gia nhập ngành vũ khí cho tới những người đã già đi cùng xe chở pháo. Phần còn lại của nhiều người được tìm thấy trên chiến trường và dòng tên viết in hoa trong Cuốn sách Danh vọng của Câu lạc bộ Súng, nhiều người khác tỏa ánh vinh quang mang theo những dấu tích của lòng dũng cảm không thể bàn cãi. Nạng đỡ, chân gỗ, tay giả, móc thép, hàm cao su, sọ bạc, mũi bạch kim, đều được tổng kết lại; và nhà thống kê xuất sắc Pitcairn tính toán rằng, suốt thời gian hoạt động của Câu lạc bộ Súng, cứ bốn người thì một thiếu đôi tay toàn vẹn và sáu người thì một không có đôi chân đủ đầy. Tuy nhiên, những pháo thủ can đảm này chẳng dành chút chú ý đặc biệt nào tới những thừa thiếu nhỏ nhoi này, mà chỉ cảm thấy niềm tự hào dâng tràn khi thông báo kết quả gửi về từ trận chiến: Con số tử vong gấp mười lần lượng đạn tiêu hao. Một ngày nọ, ấy vậy mà lại là ngày u buồn! Hòa bình được ký kết giữa những kẻ sống sót sau cuộc chiến; tiếng gầm rú của đạn pháo dần vơi, súng cối trở nên câm lặng, bích kích pháo bị bịt kín miệng trong thời gian không hạn định, đại bác, với những họng súng rầu rĩ, bị kéo vào kho… những hồi ức đẫm máu cũng lu mờ; cây bông mọc sum suê trên những cánh đồng được bón phân cẩn thận, tất cả đồ tang lễ được xếp sang một bên, cùng với nỗi đau thương; còn Câu lạc bộ Súng bị đẩy xuống trạng thái trì trệ vô thời hạn. Dăm ba nhà lý luận cấp cao thâm căn cố đế quay lại với việc sửa đổi các trù tính về luật súng đạn. Họ khăng khăng lật lại vấn đề về đạn pháo khổng lồ và bích kích pháo ngoại cỡ. Nhưng thiếu thực tiễn, mớ lý thuyết này có giá trị gì? Và như vậy, các phòng trong câu lạc bộ trở nên vắng ngắt, những người phục vụ ngủ gà gật nơi tiền sảnh, báo chí mốc meo trên bàn, tiếng ngáy vọng ra từ góc tối, còn hội viên của Câu lạc bộ Súng, khi xưa ầm ĩ trong cả phiên họp lẫn giờ giải lao, nay tụt xuống im ắng vì thứ hòa bình tai họa này và buông bỏ toàn bộ bản thân vào những giấc mơ về một nền pháo binh thuần khiết. “Thật là tệ hại!” Tom Hunter nói khi chiều tối, trong lúc đang mau chóng tôi cacbon cặp chân giả trong lò sưởi phòng hút thuốc. “Chẳng có gì để làm!” anh nói, giọng hằn học. “Chẳng có gì để trông mong! Cái loại tồn tại ghê tởm này! Đến khi nào súng ống lại đánh thức chúng ta dậy buổi sáng bằng tiếng nổ dễ chịu của nó đây?” “Những ngày đó qua rồi,” Bilsby dễ mến nói, cố duỗi đôi tay đã mất. “Đã là ngày xưa vui vẻ rồi! Một người phát minh ra súng và khó khăn lắm mới đúc ra nó, một người vội vã thử dùng để đối đầu với kẻ thù! Sau đó một người quay về doanh trại cùng lời cổ vũ của Sherman hoặc cái bắt tay thân thiện với McClellan. Nhưng giờ các tướng đều quay lại với bàn tính; và thay vì súng đạn, họ gửi đi các kiện bông. Trời ơi, tương lai ngành chế tạo đại bác của nước Mỹ tiêu rồi!” “Ây! Còn chẳng có viễn cảnh chiến tranh nào!” James T. Maston nổi tiếng tiếp lời, cào cào cái sọ nhựa kết của mình bằng bàn tay móc thép. “Chẳng có nguy cơ nào trong tương lai! Mà lại còn ở cái giai đoạn then chốt trong sự phát triển của khoa học pháo binh! Đúng thế đấy, các quý ông! Tôi, người đang nói với các bạn đây, sáng nay đã hoàn thiện một mẫu, đủ cả, gồm bố trí, mặt cắt, góc nâng, vân vân và vân vân của loại súng cối sẽ thay đổi mọi tình thế chiến trận!” “Không… không! Có thể như vậy ư?” Tom Hunter kêu lên, vô tình nhớ lại sáng chế trước kia của ngài J. T. Maston, bằng cách nào đó, trong lần thử nghiệm đầu tiên, đã tiêu diệt ba trăm ba mươi bảy tên địch. Một thành công hơn cả mơ ước. “Nhưng mà,” anh nói tiếp, “tiến hành nhiều nghiên cứu, đánh bại nhiều khó khăn thì cũng có ích lợi gì đâu? Chỉ lãng phí thời giờ! Tân Thế Giới có vẻ đã quyết tâm sống trong hòa bình; còn vị lãnh đạo hiếu chiến của chúng ta dự đoán rằng một số thảm họa sắp phát sinh từ sự gia tăng dân số tồi tệ này.” “Tuy nhiên,” đại tá Blomsberry đáp lời, “ở châu Âu họ luôn phải vật lộn để duy trì nguyên tắc của các dân tộc.” “Thì sao?” “Thôi nào, có thể là vẫn có chỗ cho lòng can đảm ở bên đó và nếu họ chấp nhận sự phục vụ của chúng ta…” “Cậu mơ mộng cái gì đấy?” Bilsby hét lên, “chế tạo đại bác vì lợi ích của lũ ngoại quốc ư?” “Thế chả hơn là vô công rỗi nghề ở đây sao?” đại tá đáp trả. “Chính xác,” J. T. Matson nói, “nhưng chúng ta không cần tính đến cái kế đó.” “Tại sao không?” đại tá gặng hỏi. “Vì quan điểm về sự tiến bộ ở Cựu Thế Giới của họ trái ngược với thói quen tư duy của người Mỹ chúng ta. Những kẻ đó tin rằng không ai có thể trở thành tướng mà ban đầu không phục vụ với vai trò người cầm cờ; thế thì chẳng khác gì nói một người không thể chĩa súng nếu không tự làm ra một khẩu súng trước đó!” “Lố lăng!” Tom Hunter vừa nói vừa gọt đẽo tay ghế bành bằng một lưỡi mác, “nhưng nếu như vậy, tất cả những gì còn lại cho chúng ta chỉ là trồng thuốc lá và chưng dầu cá voi.” “Gì đây!” J. T. Maston gầm lên, “Sao chúng ta không tận dụng những năm còn lại của đời mình để hoàn thiện loại súng cầm tay? Chẳng lẽ không bao giờ có cơ hội tử tế để thử tầm đạn à? Chẳng lẽ ánh chói ngời từ súng của chúng ta sẽ không bao giờ làm bừng sáng không gian nữa à? Không có mâu thuẫn quốc tế nào nảy sinh để chúng ta tuyên bố chiến tranh chống lại các thế lực bên kia Đại Tây Dương hay sao? Chẳng lẽ không người Pháp nào đánh chìm tàu hơi nước của chúng ta, hay người Anh, bất chấp quyền lợi giữa hai dân tộc, treo cổ vài đồng hương của chúng ta hay sao?” “Không may mắn thế đâu,” đại tá Blomsberry đáp, “chẳng cái gì tương tự có khả năng xảy ra đâu, mà dù có, chúng ta cũng chả lợi dụng được gì từ nó. Tính nhạy cảm của người Mỹ đang sụt giảm mau chóng, rồi tất cả chúng ta đều sẽ lụn bại.” “Quá đúng,” J. T. Maston trả lời với giọng giận dữ chưa tan, “Có hàng ngàn chiến trường để chiến đấu, nhưng chúng ta không chiến đấu. Chúng ta hy sinh tay chân cho lợi ích của các dân tộc – những kẻ không biết phải làm gì với chúng! Nhưng khoan – khỏi tốn công tìm động cơ chiến tranh – chẳng phải Bắc Mỹ một lần nữa lại thuộc về người Anh?” “Chắc chắn thế rồi,” Tom Hunter đáp, giậm giậm nạng của mình trong cơn giận dữ. “Chà, nếu vậy,” J. T. Maston nói, “tại sao không đổi lại nước Anh thuộc về người Mỹ?” “Thế mới thích đáng và công bằng,” đại tá Blomsberry đáp lại. “Hãy kiến nghị với tổng thống Mỹ đi,” J. T. Maston ré lên, “và xem xem ông ta sẽ tiếp đón anh thế nào.” “Hừ!” Bilsby gầm gừ giữa bốn chiếc răng chiến tranh đã để lại cho mình, “Điều đó không bao xảy ra!” “Trời ơi!” J. T. Maston la lớn, “Thế thì ông ta hẳn không cần phiếu của tôi cho lần bầu cử tiếp rồi!” “Cũng không cần của chúng tôi luôn,” tất cả các thương binh hiếu chiến nhất trí đáp lời. “Trong lúc ấy,” J. T. Maston tiếp tục, “cho phép tôi nói điều này, nếu tôi không thể tóm được một cơ hội để thử nghiệm súng cối mới của mình trên chiến trường chân chính, tôi sẽ nói lời tạm biệt với tất cả thành viên của Câu lạc bộ Súng và đi chôn vùi bản thân trong các thảo nguyên ở Alaska!” “Trong trường hợp đó, chúng tôi sẽ đi theo anh,” những người khác kêu lên. Chuyện là trong tình cảnh đáng tiếc ấy, câu lạc bộ bị đe dọa trước nguy cơ giải tán, thì một tình huống bất ngờ đã xảy ra và ngăn chặn một kết thúc bi đát. Vào ngày tiếp theo sau cuộc trò chuyện này, mỗi thành viên của hội đều nhận được một giấy báo có niêm phong thuật lại nội dung sau: BALTIMORE, Ngày mùng ba tháng Mười, Chủ tịch Câu lạc bộ Súng trân trọng thông báo tới các đồng sự rằng, tại buổi họp khẩn cấp lần thứ năm, ngài sẽ mang đến cho họ một tin tức vô cùng thú vị. Ngài yêu cầu, do đó, họ sẽ phải chuẩn bị sẵn sàng để tham gia theo đúng lời mời này. Rất thân ái. IMPEY BARBICANE, Chủ tịch Câu lạc bộ Súng. Mời các bạn đón đọc Từ Trái Đất Đến Mặt Trăng của tác giả Jules Verne & Thanh Yên (dịch).
Từ Khung Cửa Sổ Lớp 7D - Tập 2
Vốn là học sinh của một trường chuyên cấp hai tại thành phố lớn, Anri đột ngột phải chuyển về học ở một ngôi trường vùng quê vào mùa hè. Những tưởng sẽ mất nhiều thời gian để làm quen với cuộc sống nơi đây, nhưng cô bé lập tức yêu bầu không khí khoáng đạt và dễ chịu của ngôi trường mới, khác hẳn với ngôi trường trước kia, đặc biệt là những ô cửa luôn để mở... Và cũng chính nơi đây, Anri đã có được những tình bạn thật đẹp cùng những rung động trong trẻo đầu đời… TỪ KHUNG CỬA SỔ LỚP 7D của nữ tác giả Atsuko Asano sẽ đánh thức những kí ức quý giá về thời thanh xuân hoa mộng trong mỗi chúng ta… *** Asano Atsuko sinh năm 1954 ở Okayama. Bà đạt giải Văn học Thiếu nhi Noma với “Battery” giải của Hiệp hội tác giả sáng tác văn học Nhật Bản với “Battery II” ngoài ra loạt truyện “Battery” cũng đạt giải Văn hóa Xuất bản Thiếu nhi của shogakukan. Năm 2011, bà đạt giải Văn học lãng mạn Shimase lần thứ 18 với “Tamayura” (Thoáng chốc). Bà là một tác giả đa dạng về thể loại, từ văn học thiếu nhi cho đến văn học đại chúng, tiếu thuyết lịch sử, tiểu thuyết thế thao. Trong các tác phầm tiêu biếu, ngoài các truyện dài tập như “Trăng của Di Lặc”, “Anh đào Dạ Xoa”, “Hồng chín cây”, “Con đường bình minh”, “Bày vì sao trài đông”, “Làm tổ trên đất” của loạt truyện “Di Lặc”, loạt truyện “No. 6”, loạt truyện “The MANZAI”, “Sáng chói”, còn có “Tựa như quầng lửa”, “Bầu trời của sân”, “Tỉnh mộng”… ***   Nhóm bốn người bạn thân thiết Ijima Anri, Ichii Kazuma, Satodate Miho, Maehata Hisakuni đã lên lớp 9. Một bức tường mới dựng lên phía trước, bốn cô cậu thiếu niên đang đối mặt với ngưỡng cửa chuyển cấp và sẵn sàng tiến bước về phía ước mơ của mình. Mời các bạn tiếp tục đón đọc cuốn tiểu thuyết khắc họa thời thanh xuân của Asano Atsuko, vẽ nên lứa tuổi mười lăm vừa trăn trở với nỗi lo về tương lai, về môi trường mới, vừa trưởng thành trong sự chở che của gia đình, bạn bè.     ***   Gió thổi. Những cành anh đào nở rộ rì rào đung đưa. Vô vàn cánh hoa rơi rụng. Chúng phất phơ bay lên cao như đang chơi đùa với gió trước khi biến mất ở một phương trời xa xăm nào đó. Một khung cảnh làm người ta sinh ra ảo giác rằng cả gió và hoa đều đang bị hút về phía bầu trời. - Ghét quá đi! Vừa khua khoắng chiếc chổi tre, Satodate Miho vừa trề môi. Suốt từ nãy đến giờ cô đã bĩu môi không biết bao nhiêu lần. - Quét hoài quét mãi mà chả hết. Làm vệ sinh ngoài trời mùa này đúng là kinh khủng nhất trần đời. Nói thật, tớ thấy phiền chết được ấy. - Vậy sao? Tớ lại thích quét dọn ngoài trời hơn. Anri trả lời và quét cánh hoa. Từng cánh từng cánh mỏng tang, tưởng như trắng một màu trong suốt, nhưng khi gom với nhau lại chuyển sang màu hồng nhạt. Trong trường trung học cơ sở Ashiwara số I có rất nhiều cây anh đào. Chúng được trồng cả ở hai bên cổng trường, sau bãi đỗ xe lẫn sân trong. Hàng cây anh đào cũng chạy dài như đường viền bao bọc rìa phía Tây của sân trường. Ngôi trường nằm trên một con dốc thoai thoải đầy ắp cỏ hoa này cứ như bị chôn vùi trong hoa anh đào vậy. Mùi hương thoang thoảng ngọt ngào len lỏi vào từng ngóc ngách trong phòng học, nếu vô tình mở cửa sổ thì vô số cánh hoa sẽ ùa vào cùng làn gió. Anri ngừng quét, ngước lên nhìn hoa anh đào. Những đóa anh đào nở rộ lấp lánh trên nền trời xanh trong quang đãng. Thật đẹp làm sao. Cô suýt buông ra một tiếng thở dài. Nếu là Ichii, cậu ấy có muốn vẽ những đóa anh đào này không nhỉ? Không biết từ lúc nào, Anri bắt đầu nghĩ về Ichii Kazuma. Cô tự thấy ngượng ngùng với suy nghĩ ấy. Không muốn bị Miho trông thấy gương mặt đỏ dừ như cà chua chín của mình, Anri càng ngửa mặt lên. - Từ năm ngoái tớ đã thấy hoa anh đào ở đây nở đẹp tuyệt rồi. Với cả, chẳng phải ngắm hoa cũng là sự kiện trong tháng Tư của trường sao? Năm ngoái tớ thấy bất ngờ cực kì luôn. - Hả, thế á? Các trường khác không tổ chức ngắm hoa à? - Ừ. Chắc là không đâu. Tớ chẳng thấy ai nói gì về chuyện này cả. Lòng đen trong mắt Miho đảo qua đảo lại. - Ra thế. Tớ sinh ra ở Ashiwara, lớn lên ở Ashiwara. Bố và mẹ tớ cũng đều học ở trường trung học cơ sở Ashiwara số I, nên tớ không biết gì về những trường khác. Tớ cứ tưởng việc đó rất đỗi bình thường cơ. Nhưng nếu biết về thế giới bên ngoài như Anri thì sẽ thấy khác nhỉ. - Ôi trời. Thế giới bên ngoài nào chứ? Miho lại nói quá rồi. - Tớ nghĩ vậy thật mà. Khi nói chuyện với Anri, tớ nhận ra, a, hóa ra có thể nghĩ như vậy, thì ra có cách nhìn như thế… Ừm, còn có câu thành ngữ cái gì rơi khỏi mắt í. - Vảy cá rơi khỏi mắt?* • Thành ngữ Nhật, ý là nhờ có việc gì đó mà bỗng nhiên hiểu ra điều trước nay không thể hiểu nổi. — end note — - Phải phải, cảm giác như vảy cá rơi khỏi mắt vậy. Cảm tưởng như những thứ đã đông cứng trong đầu bỗng dưng tan chảy. Cho nên… Miho im lặng trong chốc lát, môi vẫn mím, cô bé dùng lòng bàn tay đỡ một cánh hoa đang rơi xuống, nắm lấy nó rồi quay về phía Anri. - Cho nên, Anri chuyển trường về đây là một niềm hạnh phúc lớn lao đối với tớ. Thực sự hạnh phúc vô cùng. - Miho… - À há! Nghe như tớ lại vừa bày tỏ ấy nhỉ. Không rõ có phải vì xấu hổ hay không, Miho bắt đầu hăm hở quét và gom cánh hoa lại. Anri nắm chặt lấy cán chổi. Cô rất vui trước lời bày tỏ của Miho. Dù đồng giới hay khác giới, lời bày tỏ “Tớ thích cậu” vẫn luôn là thứ làm trái tim con người xao xuyến. Ý nghĩ mình làm ai đó hạnh phúc cũng mang lại hạnh phúc cho chính bản thân Anri. - Miho, cảm ơn cậu. - Hử? Cậu nói gì cơ? Chẳng biết Miho không nghe thấy thật hay giả bộ, cô vẫn tiếp tục khua chổi thật lực. Thế rồi, cô vờ than thở. - Ai đó phải làm gì với cây anh đào này đi chứ. Mùa xuân là cánh hoa, mùa hè đến sâu bướm, mùa thu thì lá rụng. Chỉ khổ người phụ trách dọn vệ sinh thôi. - Nhưng hoa anh đào đẹp đấy chứ. Trường học ngập tràn hoa anh đào cũng khá tuyệt mà. Từ xưa trường mình đã nhiều hoa anh đào như thế này rồi à? Anri chuyển trường tới Ashiwara vào học kì hai năm lớp bảy. Trường cấp hai dân lập mà cô theo học trước đó tọa lạc ở vị trí gần như là trung tâm thành phố nên chẳng có lấy một cây hoa nào ấy chứ đừng nói tới anh đào. Và dĩ nhiên sự kiện ngắm hoa cũng không có luôn. Miho dừng tay, lắc đầu hai lần. - Không phải từ xưa đâu… Ừm, theo những gì tớ nghe được thì hiệu trưởng đời thứ năm hay thứ sáu gì đó cực kì thích hoa anh đào, nên vừa nhậm chức một cái là thầy lập tức hăm hở đi trồng cây anh đào khắp trường luôn. - Ồ, thầy hiệu trưởng thích hoa anh đào à? Nghe cũng hay đấy. Chắc hẳn đó là một thầy giáo rất tốt bụng nhỉ. Thấy Anri gật đầu nói vậy, Miho bèn cười ranh mãnh. Khóe môi nhếch lên hết cỡ, nhìn gian không chịu được. - Chuyện đó thì… cậu nhầm rồi. - Ớ? Nhầm là sao? - Phải nói là nhầm to ấy chứ. Nghe đồn thầy hiệu trưởng đó ác như ma, thầy sẽ dùng hình phạt hết sức hết sức tàn khốc với những học sinh chống đối giáo viên hay không tuân thủ nội quy trường. - Hình phạt tàn khốc? - Đúng vậy. Nào là quật kẻ phạm lỗi bằng roi đến mức rách cả da, bắt chạy trên sân với độc bộ đồ lót cho đến khi gục ngã, dội hàng chục gáo nước lên đầu dù đang mùa đông. Thậm chí trong số học sinh chịu hình phạt có người đã chết bởi những hình phạt hà khắc ấy đấy. - Chết á? Như vậy chẳng phải thành to chuyện rồi? - Bây giờ thì đúng. Nhưng ngày xưa quản lí lỏng lẻo lắm. Có điều sau đó thầy hiệu trưởng bị vong hồn đứa trẻ đã chết ám, rồi một ngày nọ, thầy ấy biến thành cái xác lạnh ngắt dưới gốc cây anh đào. Chấm hết. - Miho, cậu đừng dựng chuyện thế chứ. - Hì hì, nhưng thú vị phải không? - Hừm… cũng không đến mức đó. Đến giữa chừng là đọc vị được đoạn tiếp theo rồi. Cảm giác hơi bị thiếu bước ngoặt một chút. - Oa, Anri, cậu có cần nói toạc ra như thế không? Miho cất tiếng cười. Anri cũng cười theo. - Mà nè, lên lớp chín mà chúng mình vẫn được chung lớp, may thật. Khi nhìn bảng xếp lớp hôm khai giảng, tớ còn vô tình giơ nắm đấm lên cơ. Như thế này này. Bắt đầu tái hiện lại cảnh! Nói xong, Miho vung nắm đấm lên cao. - Phải đấy. Chủ nhiệm cũng vẫn là cô Funaki. Lớp 9B chắc sẽ ổn ra trò. 9B. Đó là lớp mới của Anri và Miho. Ichii Kazuma và Maehata Hisakuni học lớp C kế bên. Miho, Kazuma, Hisakuni. Nếu mượn lời của Miho thì việc gặp gỡ ba người bạn này là “hạnh phúc lớn lao” đối với Anri. Ở cùng ba người họ, lúc nào cô cũng vui vẻ, không hề mệt mỏi. Cô hoàn toàn chẳng cần để tâm lựa chủ đề nói chuyện cho khớp, đọc vị không khí xung quanh, hay chú ý để không buột miệng nói ra những điều mình nghĩ. Cô có thể nói thẳng nói thật, ghét thì bảo là ghét, khổ sở thì kêu khổ sở, vui thì nói là vui. Đương nhiên cũng có lúc vô tình làm tổn thương đối phương hay xảy ra trục trặc, nhưng mỗi lần như thế, Anri đều vượt qua được. Đó là bởi đối với Anri, ba người họ là những người bạn không gì có thể thay thế, là những người mà cô chẳng muốn đánh mất từ sâu thẳm trong tim. Anri muốn giữ gìn điều đó. Cô muốn giữ gìn quãng thời gian được ở bên ba người bạn này. Không phải quan sát sắc mặt của nhau hay vì giữ ý mà giấu giếm những điều mình muốn nói, mà là nói ra suy nghĩ của bản thân trong khi vẫn dành cho nhau sự quan tâm chân thành. Truyền đạt suy nghĩ của bản thân và lắng nghe suy nghĩ của đối phương, đó mới chính là giữ gìn. Có phải không nhỉ? Biết đâu như thế lại là nhầm lẫn. Có thể đó chỉ là do cô cả nghĩ thì sao. Trước đây Anri sợ điều đó vô cùng. Suy nghĩ khác biệt hay có cảm xúc lệch lạc so với bạn bè đều làm cô sợ hãi vô cùng. Cô có cảm giác mình toàn bị bạn bè nói: “Anri nghĩ ngợi nhiều quá rồi.”, “Phải phải, cậu nên thoải mái, cởi mở hơn một chút.”, và toàn thân cô như căng cứng lại. Bây giờ cô đã có thể nghĩ rằng dù nhầm lẫn cũng không sao cả. Miễn đó là điều bản thân cảm nhận, suy nghĩ, tâm niệm, dù có khác người thì vẫn nên gạt bỏ nỗi sợ hãi để nói ra. Nghĩ được như vậy, Anri có thể hít thở dễ dàng hơn. Tựa như lồng ngực cô được mở rộng ra và căng tràn không khí trong lành, tươi mới. - Anri này! - Ừ? - Tranh của Kazu thì sao? - Ừm, tớ không biết nữa. Anri trả lời một cách mơ hồ. Kazuma tham gia câu lạc bộ mĩ thuật. Ước mơ của cậu ấy là tương lai tiếp tục tiến bước trên con đường hội họa. Cậu ấy nói rằng muốn vẽ tranh suốt đời, dù dưới hình thức nào đi chăng nữa. Cậu ấy cừ quá, Anri thầm thán phục. Một người còn chưa tròn mười lăm tuổi đã nhìn ra con đường để đánh cược cả cuộc đời thì thật đáng nể. Bề ngoài Kazuma có vẻ hiền lành, nhưng bên trong lại có ý chí mạnh mẽ và kiên định. Đối với Anri, ý chí đó vô cùng rực rỡ. Tuy nhiên, dạo này Kazuma đang rơi vào giai đoạn trì trệ. Bức tranh chân dung vẽ Anri hình như mãi vẫn không tiến triển theo đúng ý cậu. Anri đã hứa rằng sau giờ học, nếu nhận được lời nhờ vả của Kazuma và không bận việc gì, cô sẽ làm người mẫu cho cậu. Trước đây cô cũng đã làm mẫu mấy lần tại phòng học lớp 7D - phòng học bỏ trống nay đã thành kho chứa đồ, đồng thời là nơi Anri và Kazuma lần đầu gặp mặt. Nhưng gần đây, Kazuma không nói gì hết. Hôm trước, cậu ấy đã lẩm bẩm xen lẫn những tiếng thở dài. - Có vẻ như tác phẩm tớ vẽ ra và thứ bản thân muốn vẽ là hai thứ hoàn toàn khác biệt. Vậy nên tớ chẳng hiểu bản thân muốn vẽ bức tranh như thế nào nữa. Cứ đà này thì không vẽ được gì là điều đương nhiên chăng? Tuy giọng điệu có phần hơi tự mỉa mai của Kazuma làm Anri lo lắng, nhưng cô không thể nói được gì. Kazuma muốn vẽ tranh một cách nghiêm túc, không phải như một môn học hay một thú vui. Mà nghiêm túc vẽ là như thế nào thì Anri lại chẳng hiểu được. Chính vì thế, cô không thể tùy tiện thốt ra lời an ủi hay động viên. Miho nói như bông đùa. - Kazu cứ ngẩn ngẩn ngơ ngơ thế nào ấy. Nói khác đi thì là đau khổ, ủ dột, tựu chung lại là đang gặp rắc rối. Tuy tỏ vẻ như đang đùa, nhưng cô thực sự lo lắng. - Kiểu tính cách nghệ sĩ như thế, hễ chán nản là kéo dài dai dẳng lắm. A, ha-ha-ha-hắt xì! Miho phát ra một tiếng hắt hơi rất đáng yêu. Hình như có cánh hoa chui vào mũi cô. Những cánh hoa trắng rơi trên tóc, trên vai, tựa như những hình họa tiết. Anri vỗ bộp hai tay vào nhau. - Nè, hay mình tổ chức ngắm hoa đi? - Ngắm hoa á? - Bốn đứa tụi mình cùng đi ngắm hoa nhé? Vào Chủ Nhật tới. - A, ý hay đấy. Dù cưỡng ép cũng phải lôi Kazu đi bằng được. Miho lại cười ranh mãnh. Gió thổi, hoa anh đào rơi rụng, cơn bão hoa anh đào ôm lấy hai cô gái.   Mời các bạn đón đọc Từ Khung Cửa Sổ Lớp 7D - Tập 2 của tác giả Atsuko Asano & Phương Anh (dịch).
Từ Khung Cửa Sổ Lớp 7D - Tập 1
Vốn là học sinh của một trường chuyên cấp hai tại thành phố lớn, Anri đột ngột phải chuyển về học ở một ngôi trường vùng quê vào mùa hè. Những tưởng sẽ mất nhiều thời gian để làm quen với cuộc sống nơi đây, nhưng cô bé lập tức yêu bầu không khí khoáng đạt và dễ chịu của ngôi trường mới, khác hẳn với ngôi trường trước kia, đặc biệt là những ô cửa luôn để mở... Và cũng chính nơi đây, Anri đã có được những tình bạn thật đẹp cùng những rung động trong trẻo đầu đời… TỪ KHUNG CỬA SỔ LỚP 7D của nữ tác giả Atsuko Asano sẽ đánh thức những kí ức quý giá về thời thanh xuân hoa mộng trong mỗi chúng ta… *** Asano Atsuko sinh năm 1954 ở Okayama. Bà đạt giải Văn học Thiếu nhi Noma với “Battery” giải của Hiệp hội tác giả sáng tác văn học Nhật Bản với “Battery II” ngoài ra loạt truyện “Battery” cũng đạt giải Văn hóa Xuất bản Thiếu nhi của shogakukan. Năm 2011, bà đạt giải Văn học lãng mạn Shimase lần thứ 18 với “Tamayura” (Thoáng chốc). Bà là một tác giả đa dạng về thể loại, từ văn học thiếu nhi cho đến văn học đại chúng, tiếu thuyết lịch sử, tiểu thuyết thế thao. Trong các tác phầm tiêu biếu, ngoài các truyện dài tập như “Trăng của Di Lặc”, “Anh đào Dạ Xoa”, “Hồng chín cây”, “Con đường bình minh”, “Bày vì sao trài đông”, “Làm tổ trên đất” của loạt truyện “Di Lặc”, loạt truyện “No. 6”, loạt truyện “The MANZAI”, “Sáng chói”, còn có “Tựa như quầng lửa”, “Bầu trời của sân”, “Tỉnh mộng”… *** Ijima Anri phải chuyển nhà vào mùa hè năm lớp 7. Cô đã đặt chân vào phòng học lớp 7D, một phòng học không còn được sử dụng nằm trong khuôn viên ngôi trường cấp hai lạ lẫm mà cô mới chuyển đến. Ở đây, cô gặp Ichii Kazuma. Kazuma sau khi gặp gỡ Anri đã nhờ Anri làm người mẫu cho tranh của mình. Rồi câu chuyện khởi đầu từ đó… Anri, Kazuma, và cả những người bạn không thể thay thế cùng gia đình. Cuốn tiểu thuyết khắc họa thời thanh xuân của Asano Atsuko, vẽ nên lứa tuổi mười bốn, vừa trăn trở vừa trưởng thành. *** Phòng học đó nằm ở cuối hành lang tầng ba, bên cạnh lớp 7C. Từ lớp 7A, 7B, 7C, luồng sinh khí, tiếng cười đùa, tiếng hò hét và giọng hát của các học sinh vang tới ồn ào đẩy sức sống. Thế nhưng, phía trước căn phòng đó lúc nào cũng lặng ngắt như tờ. Cái vẻ yên tĩnh ấy cứ như đang thủ thỉ “Chỉ có nơi này là khác biệt, chỉ có ở đây…” Vừa mở cửa, cô đã hắt xì hơi. Trong mũi cũng có cảm giác ngưa ngứa. Lấy tay phải bịt mũi, cô thử thở ra từng hơi ngắn. Phù, phù, phù, đúng ba lần. Ai đã chỉ cho mình cái mẹo chữa chứng hắt hơi này nhỉ? Vẫn bịt mũi, cô ngó quanh một lượt. Có thứ gì đó đang phát sáng lung linh. Là bụi. Trong luồng sáng xuyên vào từ khung cửa sổ, mỗi hạt bụi hóa thành từng hạt sáng nhỏ li ti, ánh lên lấp lánh. Phải chăng đây chính là nguyên nhân làm minh hắt hơi? Nhưng mà đẹp thật đó. Khung cửa sổ treo rèm màu kem, nhưng tấm rèm ấy mới chỉ được kéo hai phần ba. Cái kiểu dở dang như thể ai đó vội vàng không kịp kéo hết hoặc chỉ kéo qua loa cho xong. Cô lại đưa mắt quan sát khắp phòng một lượt. Ánh sáng xuyên qua lớp kính cửa sổ tràn vào trong phòng. Nó làm những hạt bụi sáng lấp lánh. Nắng chiếu sáng trắng cả sàn nhà. Bàn ghế được xếp chổng lên nhau ở trong góc, cạnh đó là chiếc xô, cây chổi (có vẻ) chưa sử dụng và một chiếc bàn giáo viên cũ kĩ. Thứ nào thứ nấy đều phủ lên mình một lớp bụi mỏng. Nhìn kĩ sẽ thấy, bụi cũng phủ lên cả sàn nhà. Chẳng biết nơi này trở thành phòng học bỏ không bao lâu rồi. Nghển cổ lên, tầm mắt Anri chạm tới tấm bảng đen. Tim cô bỗng đập dồn. Ở góc bảng ghi tên những người tới phiên trực nhật có hai cái họ “Otani” và “Ijima” nằm cạnh nhau. ”Ijima” là họ của Anri. Thị trấn này là quê hương của bố cô, có rất nhiều người mang họ Ijima. Ijima nằm rải rác khắp mọi nơi, nào là bệnh viện Ijima, hiệu sách Ijima, cả nhà hàng IJIMA nữa chứ. Khi căn phòng này vẫn còn là một lớp học, khi hai mươi tới ba mươi học sinh tập trung lại cùng học, cùng sinh hoạt, cùng cười đùa hay làm tổn thương lẫn nhau, chắc hẳn đã có một nam sinh hay một nữ sinh mang họ Ijima. Có điều, chuyện cỏn con đó sao lại làm tim cô đập nhanh đến vậy nhỉ? Phải chăng là vì cái tên “Otani” được ghi bên cạnh thật giống với “Kitani”? Dường như gương mặt rám nắng nhìn nghiêng của Kitani Shuya vừa lướt qua trước mắt Anri. Đó là gương mặt nhìn nghiêng cô luôn ngắm nghía từ cửa sổ lớp học. vẫn chưa đầy hai tháng mà cô cảm thấy chuyện xảy ra đã lâu lắm rồi. Từ cửa sổ phòng học, ánh mắt của cô từng đuổi theo bóng hình một thiếu niên ở trên sân. Cô đã chầm chú ngắm cậu mãi mà không biết chán. Chỉ nhìn thôi cũng làm cô thấy hạnh phúc. Quãng thời gian ấy, những ngày hạnh phúc tột bậc ấy, đã thuộc về quá khứ, một quá khứ vô cùng xa xôi. Những giọt mồ hôi chảy xuống đôi gò má. Đặt tay lên trán, Anri nhận ra mình đang mướt mát mồ hôi. Cô luôn bị vã mồ hôi ở mặt trước tiên, rồi mới tới lưng và phần dưới cánh tay. Từ nhỏ đã vậy. Chạng vạng rồi mà ánh mặt trời tháng Chín vẫn gay gắt như mùa hè, khiến cho căn phòng đóng kín cửa sổ nóng như một cái nồi hấp. Anri đặt tay lên cửa, lưỡng lự hồi lâu. Làm sao đây… Anri tự hỏi. Mình có nên bước vào không gian bụi bặm và nóng nực này không nhỉ? Đến giờ này rồi mà mày còn nói gì thế? Chính mày đã hạ quyết tâm rồi còn gì! Một giọng nói có phần cộc lốc và lạnh lùng đáp lại. Đó là giọng nói của chính Anri. Khi phân vân hay trán trở chuyện gì, dù nỏ nhỏ nhặt đến mức nào, Anri vẫn thường tự hỏi bản thân. Nè, phải làm sao đây? Có lúc cô nhận được câu trả lời ngay lập tức, cũng có khi không nghe thấy bất cứ điều gì. Còn lúc này, cô có cảm giác mình bị vỗ mạnh một cái vào lưng và bảo: “Cố gắng lên.” Đây là việc tự mình đã quyết cơ mà. Hãy làm cho đến nơi đến chốn. Lạch cạch. Lạch cạch. Nghe trên đầu có tiếng động, cô ngẩng mặt lên. Tấm biển nhựa ghi “7D” đang đung đưa. Nhiều khi không rõ là do truyền thống của trường hay tính cách của thầy hiệu trưởng, nhưng nhắc tới bầu không khí bao trùm khắp nơi ở ngôi trường cấp hai tư thục mà Anri đã theo học cho đến trước kì nghỉ hè, nếu nói tốt thì là nghiêm trang chuẩn mực, mà nói không tốt thì là xét nét, chú trọng tiểu tiết. So với nơi đó thì ngôi trường cấp hai này, ngôi trường cô mới chuyển tới sau khi kết thúc kì nghỉ hè vào tuần trước, có bầu không khí dễ thở hơn nhiều. Nhìn chung vẫn có quy định về đồng phục và nội quy, nhưng các thấy cô không cứng nhắc bắt học sinh tuân theo. Hôm nay, Anri đã quyết tâm thử buông xõa mái tóc mà cô vẫn luôn buộc túm hai bên. Cô cũng thử sơn lên móng tay chút sơn bóng không màu. Cô còn nâng gấu váy lên cao trên đầu gối. Đó toàn là những việc cô đã muốn làm từ rất lâu rồi. Xõa tóc, sơn bóng móng tay, cuộn váy ngắn lại. Những việc cô rất muốn làm, nhưng lại không biết làm vậy có nên không. Suốt buổi sáng hôm nay, cô cứ để ý ánh mắt của giáo viên, trống ngực đánh thùm thụp rồi lại bất giác cúi gằm mặt. Nhưng không ai nói gì cô cả. Không có lấy một lời nhắc nhở hay giáo huấn nào làm cô thấy hơi hẫng hụt. Trường công lập ở địa phương dễ dãi đến vậy sao? Hay là ngôi trường trung học cơ sở Ashiwara số I này là nơi đặc biệt có tư tưởng phóng khoáng? Khi cô đang mải suy nghĩ chuyện này chuyện kia thì, - Tớ cho cậu mượn dấy chun nhé? Một giọng nói vang lên từ chỗ ngồi kế bên. Đó là một nữ sinh với gương mặt tròn và bầu má láng bóng (dễ làm người ta liên tưởng đến trái táo). Trong lòng bàn tay cô ấy là một chiếc chun màu đen dùng để cột tóc. Ngực áo không đính bảng tên. - A? ơ? Ừm… cậu là… Cô bạn rút chiếc bảng tên bị giấu trong túi áo ngực ra rồi giơ lên trước mặt Anri. Ở đó có viết hai chữ Hán. - Satodate? Cặp mắt đen láy của cô bạn chợt dao động, bờ môi căng mọng hé mở. Nét mặt lộ rõ vẻ ngạc nhiên. - Bất ngờ nha! Sau khi nói vậy, cô ấy lặp lại thêm một lần nữa với giọng rất nhỏ “Bất ngờ thật đấy”. - Chỉ mình Ijima là đọc được họ của tớ ngay lần đấu tiên. Bất ngờ thật, bất ngờ thật nghen. Ijima thông minh ghê. - Không phải đâu… Tớ chuyển trường tới đã được một tuần, cũng nhớ được họ của các bạn thôi ấy mà… - Ôi dào, cậu lại khiêm tốn rồi. Mà vừa rồi là nói dối đúng không? Cô bạn quay mặt về phía Anri nở nụ cười láu lỉnh. - Từ sau hôm Ijima chuyển tới tớ đã nghỉ học suốt mà. Cậu đâu rảnh để nhớ họ của tớ chứ. - Ừm, nhưng mà… cái này… Quả thực là cô đã thốt ra một lời nói dối nho nhỏ. Đến tận ban nãy cô vẫn chẳng hề biết chỗ ngồi bên cạnh mình là của nữ sinh họ Satodate. Tuy biết cô bạn ấy nghỉ học nhưng Anri chẳng hề bận tâm. Cô bạn nhổm hẳn người lên. Từ cô ấy tỏa ra một mùi hương ngọt ngào. Có lẽ là mùi của son môi. - Tớ là Satodate Miho. Chữ Hán của “Miho” gồm có chữ “mi” (mĩ, xinh đẹp) và “ho” trong “inaho” (bông lúa). Bình thường, sau khi giới thiệu bản thân, người ta vẫn hay nói kèm thêm mấy câu chào hỏi xã giao kiều như “Mong sau này được bạn giúp đỡ” hay là “Từ từ làm quen với nhau nhé”, nhưng Miho không hề nói lời nào như vậy. Cô chỉ chìa lòng bàn tay đặt dây chun về phía Anri mà thôi. - Cậu có dùng cái này không? - Hả? - Cậu có thể dùng nó buộc tóc. Chắc thấy nóng lắm hả? - À… Ý cậu là vậy à? - Là vậy đó. Cậu dùng không? - Tớ không cần. Anri lắc đầu. Cô buộc tóc hai bên mãi rồi. Hôm nay là lần đầu tiên cô thả tóc ở nơi được gọi là trường học mà. Kể ra thì cô cũng thấy phần gáy và vai bị tóc phủ lên quả thực rất nóng, nhưng không hề có ý định buộc chúng lại. Sau khi từ chối thẳng thừng, Anri mới nhận ra Miho đã mở lời với cô bởi lòng tốt chứ không phải kiểu lăng xăng nhiều chuyện. Cô bắt đầu bối rối. - Xin lỗi cậu. Tớ để nguyên thế này là được rồi. Miho gật đầu. Cô nắm lấy sợi dây chun và nhét vào túi. Sau đó, cô mở vở và bắt đầu ghi chép gì đó, không có ý định nhìn về phía Anri thêm lần nào nữa. Anri băn khoăn tự hỏi chẳng biết có phải mình đã làm Miho cụt hứng không.   Mình đã chiếu cố bắt chuyện tử tế rồi, thế mà cậu ta lại cự tuyệt. Đồ khó ưa! Cứ thấy chảnh chảnh thế nào ấy nhỉ. Có phải cậu ta nghĩ mình là dân thành phố nên xem thường chúng mình không? Khó ưa quá, khó ưa quá! Đúng là kiểu người không thể mê nổi. Anri cảm giác như nghe thấy tiếng các nữ sinh xì xầm sau lưng. Cô chợt rầu rĩ. Nhưng cũng chẳng sao. Cô thì thầm trong lòng, bàn tay thu thành nắm đấm và đặt trên đầu gối. Vậy cũng được. Dù bị xì xầm sau lưng thế nào, bị ghét bỏ ra sao, bị đối xử tệ cỡ nào, mình vẫn sẽ sống đúng theo cảm xúc của mình. Cô đã quyết định như vậy rồi. Khi việc chuyển trường trở thành hiện thực, cô đã hạ quyết tâm. Mình sẽ sống đúng theo cảm xúc của mình. Không phải vì ai khác, mà sẽ thành thật với chính bản thân. Từ nay về sau mình sẽ làm như thế. Nếu không sẽ bị cuốn trôi, tình cảm của chính mình củng sẽ bị nhấn chìm. Thế cho nên… Miho bỗng ngẩng mặt lên. - Tớ có cả trắng và hồng đấy. - Hả? - Chun buộc tóc ấy. Chắc chả phải do Ijima ghét màu đen đâu nhỉ? Cậu không muốn buộc tóc thôi đúng không? - Ừ, đúng thế. Không liên quan đến màu chun đâu. - Thế thôi vậy. Cậu hợp với tóc dài lắm. Mỉm cười thêm một lần nữa, Miho lại cắm cúi nhìn vào vở. Hoàn toàn không thầy thái độ khó chịu gì hết. Dường như cô chẳng hề bận tâm tới sự cự tuyệt của Anri. Có thể cô cũng chẳng nghĩ là mình vừa bị cự tuyệt. Đối với Miho, chuyện có thể chỉ đơn thuần là “Tóc xõa trông có vẻ nóng → Tính cho mượn chun → Người ta đáp lại là không cần”. Chỉ vậy thôi. Tất cả mọi thứ thật khác với trước kia. Trước đây, bất kể là việc gì cũng đều cần chuẩn bị tinh thần để từ chối, cự tuyệt đề nghị của đối phương. Bởi hành động ấy đi kèm theo nguy cơ phá hủy tận gốc mối quan hệ bạn bè, quan hệ giữa người và người mà ta đã dày công xây dựng cho đến thời điểm đó. Cả Anri lẫn những người xung quanh cô đã phải mài giũa thần kinh thật nhạy bén, sao cho không bước chân vào phạm vi nguy hiểm. Họ phải luôn đề cao cảnh giác. Cảm giác thật nhẹ nhõm. Mọi thứ ở ngôi trường này đều được nới lỏng. Lạch cạch, lạch cạch. Tầm biển “7D” đang đung đưa. Ừm, đúng là lỏng thật. Nếu là trường cũ của mình thì nhất định không có chuyện để nguyên tấm biển của một lớp đã trở thành phòng học trống như vậy. Chắc hẳn người ta sẽ nhanh chóng tháo biển xuống, khóa cửa phòng lại và cấm học sinh ra vào. Rèm chắc chắn cũng sẽ được kéo nghiêm chỉnh, không để lộ một khe hở nào. Quan trọng nhất là, gần đây, vì mức độ ưa chuộng của dân tình dành cho khối cấp hai trực thuộc trường đại học dân lập nổi tiếng mà Anri theo học trước khi chuyển trường đột ngột tăng cao nên chẳng dám nghĩ đến cảnh số lượng học sinh thuyên giảm. Kể cả có mở rộng thì chắc cũng chẳng còn lấy 1 một phòng học trống nào. Anri từng là học sinh lớp 7D của ngôi trường cấp hai đó. Mời các bạn đón đọc Từ Khung Cửa Sổ Lớp 7D - Tập 1 của tác giả Atsuko Asano & Phương Anh (dịch).
Nội Tôi
“Nhiều nhà văn trẻ bắt đầu nghiệp cầm bút bằng một tác phẩm viết về chính mình. Những kỷ niệm thời thơ ấu, mối tình đầu, những ước mơ, khát vọng... Đây là điều bình thường bởi vì tuổi thơ ấu là những năm tháng đẹp nhất và thường đi theo suốt cuộc đời. Nhà văn Bùi Tự Lực đã trải qua những năm tháng tuổi thơ dữ dội, có thể nói, ít người lâm vào những cảnh ngộ éo le như anh. Nhưng cuốn sách đầu tiên của anh, cuốn “Nội tôi”, lại không phải là cuốn sách viết về mình, mà về người bà đã khuất; một người bà ba bốn năm trong một: là bà, là mẹ, là cha, là người dẫn đường, là thần tượng – bà mẹ Việt Nam anh hùng. Cho nên không có gì lạ khi người bà lại là nhân vật chính duy nhất trong suốt một trăm trang sách đầu tay của anh. Cháu yêu thương, kính trọng bà là chuyện bình thường, nhưng nhớ ơn bà, tìm cách đền đáo lại là chuyện khác, còn đền đáp bằng cách viết một cuốn sách về cuộc đời bà thì càng khác nữa, không phải ai cũng làm được. Hẳn Bùi Tự Lực phải xuất thân từ một gia đình có căn cốt tốt đẹp, và việc làm của anh là một việc làm của người có văn hoá... Vâng, Bùi Tự Lực là một nhà văn có căn cốt và có văn hoá. Những người vô ơn không bao giờ là người có văn hoá, dù họ là nhà văn, giáo sư hay là ai đi nữa. Trở lại với hình tượng người bà, Bùi Tự Lực đã kể về rất nhiều chuyện cảm động và đáng khâm phục về người bà anh hùng của mình, ở đây chỉ xin nhắc lại một chuyện nhỏ, rất nhỏ, nhưng có sức ám ảnh không nhỏ. Đó là chuyện làm chông tẩm thuốc độc: “Bà nội vót chông khéo lắm, đủ các loại: chông kép, chông đơn, chông ba lá, có cả loại chông có nganh như cái lưỡi câu, vót đến đâu, bà đem xếp hàng trải phơi nắng đến đó”. “Bà nội để ngay dưới gầm giường một cái ống nhổ, đựng nắm lá rừng đã được vò nát. Bà bảo tôi cứ mối sáng thức dậy, trước khi bước xuống đất, hãy nhổ nước bọt vào đó để bà làm thuốc độc tẩm chông”. Tôi không biết chuyện nước bọt biến thành thuốc độc thực sự thế nào và thứ nước bọt buổi sáng của người cháu có gì đặc biệt, nhưng khi căm thù biến thành lẽ sống, khi người ta đủ bền gan để chờ tre thành gậy “gặp đâu đánh què” chờ nước bọt biến thành thuốc độc để giết giặc thì sự thật đã biến thành huyền thoại. Đây là một chi tiết có thật hoàn toàn nhưng lại có tính biểu tượng rất cao. Hoa chi thơm lạ thơm lùng, Thơm gốc thơm rễ người trồng cũng thơm Vâng, một cuốn sách đáng quý từ chính cuộc đời, tấm lòng người viết cho đến những nhân vật, đặc biệt là người bà.” Trần Đình Nam *** Kính viến hương hồn nội - Bà mẹ Việt Nam anh hùng Lê Thị Đỉnh   MẸ SANG NGANG Đ ời tôi có một thua thiệt lớn trong tình cảnh gia đình, tuổi thơ lớn lên không được sống gần mẹ. Nhưng bù lại, tôi có được sự chăm ẵm và cưng chiều của bà nội từ thuở nhỏ. Đến năm mười hai tuổi, tôi cũng chỉ biết được đại khái rằng, ba tôi bị địch bắt lưu đày, mẹ tôi ở nhà vì một lý do nào đó, nên đi lấy chồng khác ở làng bên khi tôi mới tròn bốn tuổi. Lớn lên, tôi chỉ nhớ lờ mờ về những kỷ niệm tuổi thơ với mẹ. Nghe kể lại, mẹ tôi lúc ấy là một phụ nữ có nhan sắc, quanh năm buôn bán tảo tần. Hằng ngày, mẹ dậy từ mờ sáng, lo nhổ giá sắm sửa gánh xuống chợ Vinh Huy bán, chiều về quảy một gánh gồm mắm, muối, dưa cà...bán dạo quanh xóm. Chắc vì hoàn cảnh như thế, nên lúc nhỏ, trời phú cho tôi là đứa bé dễ nuôi, hay ăn chóng lớn, lúc đói thì giọt sữa bú nhờ, sắn khoai tán nhỏ đều ăn được hết; ai bế cũng theo, bế đi đâu cũng được. Ký ức tuổi thơ của tôi còn nhớ mang máng một ngày cuối năm 1959, mẹ không đi chợ, trong nhà có vài người hàng xóm đến giúp đỡ dọn dẹp, nấu nướng. Tôi đoán chắc là có đám giỗ kỵ gì đó vào ngày mai. Tối hôm ấy, mẹ dẫn tôi sang ngồi nói chuyện với bà nội rất lâu. Mẹ vừa nói vừa khóc. Đêm về, mẹ ôm tôi khóc hoài. Một câu hát ru vô thức đã nhập vào trong tôi ngay từ dạo ấy: “Có cha có mẹ thì hơn, không cha không mẹ như đờn đứt dây.” Sáng hôm sau, bà nội sang đón tôi sớm. Mẹ trao vội cho bà một cái bọc lớn (chắc là áo quần của tôi) và nói trong tiếng nức nở: - Con gửi nó cho mẹ - Mẹ ôm chầm lấy tôi - Từ nay con ở với bà nội - Vừa dứt câu nói, mẹ buông tay chạy vụt vào buồng. Bà nội dắt tôi về nhà, rồi hai bà cháu ra luôn ngoài ao rau muống ở giữa đồng. Được ra ao vừa nghịch vừa tát nước với bà là tôi thích lắm. Khoảng nửa buổi, tôi thấy có đoàn người đi qua, toàn là người quen ở xóm bên, khăn áo chỉnh tề hướng vào ngõ nhà tôi. Thấy tôi mãi nhìn theo, bà nội bảo nhỏ: - Đám cưới của mẹ con đó, mẹ con đi lấy chồng khác, từ nay con ở với bà. Một sự kiện rất quan trọng đối với đời tôi như vậy, nhưng vì còn quá thơ ngây, nên tôi nhận thức mơ hồ và đón nhận một cách vô tư như nghe tin mẹ đi chợ vắng nhà. Mẹ đi lấy chồng ở xóm bên, hay gửi quà bánh về cho tôi. Tôi lần lữa lớn lên bên bà nội, nghe mọi người nói rằng bà nội rất ghét mẹ. Mẹ sợ bà, nên chỉ dám ghé thăm tôi khi bà đi vắng. Tôi nhớ có mấy lần mẹ đang ngồi chơi với tôi, khi thoáng thấy bóng bà ngoài ngõ là mẹ trốn đi cửa sau. Với nhận thức còn non nớt của tuổi thơ, tôi chỉ nghĩ một lẽ rất giản đơn là, tại mẹ bỏ tôi lại cho bà nuôi, để đi theo người khác, nên bà không ưa. Mỗi năm tôi thêm một tuổi. Những ý nghĩ nông cạn của tuổi thơ cứ thế lớn dần lên thành nỗi xót xa như kim châm khi nghĩ cảnh tự dưng mất mẹ; khoảng trống trong lòng sẽ cứ thế nới rộng mãi, nếu không có cái đêm đáng nhớ trước khi tôi thực sự dấn bước vào đời. Đêm cuối cùng trước khi tiễn tôi đi Giao bưu, bà nội căn dặn tôi nhiều điều; trong đó có một chuyện rất hệ trọng. Hôm ấy, tôi mê man trong giọng kể sâu lắng của bà: -Còn một chuyện nầy nữa, con phải ghi nhớ để mà sống cho trọn đạo làm người. Sau nầy lớn lên con sẽ hiểu thêm, phải thương và hiếu thảo với mẹ - Bà im lặng hồi lâu như để lục tìm trong trí nhớ - Vào quảng đầu thu 1954, cái đêm mẹ con chuyển dạ, ba con chỉ dám về đến bìa rừng ngồi chờ đợi, khi nghe con cất tiếng khóc đầu tiên là đi biền biệt luôn, sau đó sa vào tay giặc, bị lưu đày đi khắp các nhà lao, có thời gian bặt tin.  m mưu “Tố Cộng” và “Diệt Cộng” của chính quyền Ngô Đình Diệm lúc bấy giờ thâm hiểm lắm. Gia đình mình bị bọn chúng liệt vào loại “Gia đình Cộng sản”. Bà và mẹ con ở nhà bị chúng nó hành hạ đủ điều; con còn nhỏ phải bế đi hết trại cải huấn nầy đến trại cải huấn khác- Tôi ngồi lắng nghe như nuốt từng lờ i- Mẹ con lúc ấy còn rất trẻ, mới ngoài tuổi hai mươi, lại đẹp người. Bọn đại diện, ấp trưởng, bí thư Quốc dân đảng... la lết suốt ngày đêm trong nhà, buộc mẹ con phải “ly khai gia đình Cộng sản” để làm vợ lẽ chúng nó. Nếu không chịu “ly khai”, thì chúng nó sẽ tìm cách bóp chết giọt máu ba con để lại. Có một hôm, mới vừa sập tối, tên địa chủ chánh đại diện lẻn vào núp chờ sẵn trong buồng; mẹ vừa bế con từ bên bà về, nó xô đến trấn áp, giành giật; may mà có bà đến giải cứu kịp thời, nếu không thì những gì tồi tệ nhất đã phải đến vào đêm hôm ấy - Bà nội ngừng lời, nhìn tôi chăm chú như vẫn còn ngỡ ngàng; bà thở dài rồi kể tiếp - Nghĩ mà cơ cực cho cái cảnh cứ đêm đêm, bà, bác Cả, bác Năm phải thay nhau thức canh chừng. Tình thế gia đình ta lúc ấy éo le lắm! - Ly khai để giữ lấy sự sống cho mai sau, hay một dạ trung thành để có được chữ kiên trinh, hoặc sống chết một phen oán thù với chúng nó. Mẹ con phải định đoạt và lựa chọn. Để tránh chịu tiếng “ly khai Cộng sản” lấy Việt gian và giữ được con, không còn cách nào khác, bà và các bác đành lòng chấp nhận phải bỏ rơi một con người, để giữ lại truyền thống và dòng giống gia đình Cách mạng. Và mẹ con chỉ còn chọn con đường nhận lời lấy một người ở làng bên, để tránh sự nhòm ngó của bọn chúng - Kể đến đây, giọng bà trầm hẳn xuống - Bà coi như từ bỏ mẹ con, vì không thể chịu tiếng gả bán dâu, còn mọi tiếng thị phi thì mẹ con phải gánh chịu hết một kiếp người. Câu chuyện về mẹ mà bà nội kể đêm hôm ấy, đã giải thoát cho tôi nhiều khuất tất trong lòng bấy lâu. Tôi hiểu rõ hơn bà và mẹ, ơn nghĩa cao vời; càng thấu hiểu lời “Ru con” của ba tôi gửi lại:  “Nín đi đừng khóc con ơi! lắng tai nghe mẹ truyền lời ba ru...Con lớn lên ơn với bà, nghĩa với mẹ muôn đời nhớ ghi, ba nguyền giữ dạ tri tri, thương con nhớ mẹ ba đi một đường, vì nhân dân một tình thương, có gian lao khó nhọc mới có con đường vinh quang.” Ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, bà nội tôi không còn nữa! Mẹ tôi đến bây giờ mới ngoài tuổi sáu mươi, nhưng trông bà già hơn trước tuổi rất nhiều. Chắc gì tất cả mọi người đã thông cảm và tha thứ hết cho mẹ tôi. Câu chuyện nầy lưu truyền trong dòng họ và kể suốt các đời con cháu của tôi. Mời các bạn đón đọc Nội Tôi của tác giả Bùi Tự Lực.