Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Gia Hương

Marilynne Robinson là tác giả của tác phẩm văn học tân cổ điển đã giành giải PEN/Hermingway, đó là Housekeeping (Gia Hương). *** Bình về tiểu thuyết Gilead của Marilynne Robinson: "Gilead là một cuốn tiểu thuyết đáng đọc, nghiền ngẫm, suy tư... Tôi muốn thấy cốt truyện này xuất hiện trên khắp đất nước tôi và có thể đặt cùng với những cuốn kinh thánh, sách thanh ca và các bộ sưu tập quý giá. Cuốn sách là một điều nhắc nhở chúng ta hướng đến cuộc sống cao thượng và nhân văn và chính vì thế - cuốn tiểu thuyết thật sự đáng trân trọng." - Anne Patchett, The Village Voice. "Những cuốn tiểu thuyết về đời sống tâm linh như thế này thật là hiếm, nhưng đây lại là một trong những cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất." - Newsweek "Những độc giả không quan tâm đến tôn giáo cũng sẽ tìm thấy sự siêu thoát trong những bài thánh ca về sự sống..." câu chuyện đã lưu giữ lại những huy hoàng cũng như cạm bẫy trần thế được thể hiện qua lăng kính hồi kết của một cuộc đời." - The Atlanta Journal Constitution. *** Marilynne Summers Robinson (sinh ngày 26/11/1943)  là một trong số ít nhà văn Mỹ tuy cho ra mắt tác phẩm ít ỏi nhưng sách của bà lại được công chúng độc giả yêu thích và những người viết điểm sách thế giá quí trọng. Kể từ quyển tiểu thuyết đầu tay Housekeeping (Trông nhà - 1980) - được trao giải văn chương Pulitzer năm 1982, mãi tới năm 2004 tác phẩm thứ nhì Gilead (Gia hương) mới ra mắt độc giả - Pulitzer năm 2005, và vào tháng 8 năm 2008 bà mới cho xuất bản Home (Nhà), quyển tiểu thuyết thứ ba. Với quyển tiểu thuyết này, năm 2009, Marilynne Robinson đã đoạt giải Orange dành cho các cây bút nữ trên khắp thế giới.   Marilynne Robinson trưởng thành ở bang Idaho, tốt nghiệp cử nhân năm 1966 và tiến sĩ văn chương ở Đại học Washington năm 1977. Bà là giáo sư thỉnh giảng của nhiều đại học nổi tiếng ở Mỹ và hiện nay dạy ngành sáng tác ở Iowa Writer’s Workshop. Là người thích sống ở vùng quê yên tĩnh nên bà đã chọn tiểu bang Iowa để sinh sống, dạy học, và sáng tác. Năm 2007 Marilynne Robinson nghỉ dạy học một năm để hoàn thành tác phẩm Home.   Marilynne Robinson cũng viết mục điểm sách cho các tạp chíHarper’s, The Paris Review, và The New York Times Book Review.  *** Cốt truyện của quyển Gia Hương rất đơn giản nhưng chúng ta đọc Marilynne Robinson không chỉ để biết cốt truyện mà để trước hết đặt mình trong hoàn cảnh nhân vật, trong tính cách nhân vật xem bản thân mình sẽ nghĩ tưởng và hành động ra sao sau khi đọc những mô tả tình cảm, tư tưởng và hành động của một nhân vật. Đọc Marilynne Robinson cũng còn để thưởng thức văn chương trong từng câu từng chữ tác giả đã viết ra. Viết tiểu thuyết nhắm tới những cái đích này và đạt được tới đích ở một mức độ nào có thể là thước đo một tài năng tiểu thuyết. Truyện có thể tóm lược trong vài dòng như sau: Vào quãng năm 1957 vị Mục sư ở Iowa tên Robert Boughton nay đã ngoài tám mươi, góa vợ từ lâu và đang lâm trọng bệnh. Glory, nay đã 38 tuổi, dạy học, vừa qua một cuộc tình đớn đau sau khi biết được người đàn ông đã có vợ lợi dụng tiền bạc và đã manh tâm đề nghị cưới mình làm vợ nên phải dứt tình bỏ đi. Cuộc tình thất bại, bị phản bội nên Glory tìm về căn nhà của gia đình ở Gilead để trước hết chăm sóc cha già bệnh hoạn, sau nữa cũng để hàn gắn cuộc đời đổ vỡ của mình. Cũng dịp này, người anh của Glory là Jack Boughton, đứa con hoang của gia đình cũng tìm về căn nhà gia đình. Mục đích sự trở về của Glory có thể khá rõ ràng, nhưng mục đích trở về của Jack lại có vẻ mơ hồ. Hai mươi năm trước đây Jack đã làm cha mẹ anh em đau đớn tủi hổ vì anh: Jack hồi đó là một tên nghiện ngập, trộm cắp lừa đảo trong vùng. Jack cũng đã làm cho một thiếu nữ vị thành niên mang bầu rồi anh ta phải bỏ xứ ra đi. Mục sư Boughton và Glory đã phải đến nhà của người thiếu nữ này để tạ lỗi và đề nghị với bà mẹ của người thiếu nữ cho phép nhận con dâu và đứa con trai của Jack nhưng bị từ chối thẳng thừng nên cảm thấy rất tủi hổ nhực nhã. Nghe nói từ khi bỏ nhà ra đi Jack sống lang bạt kỳ hồ, làm nhiều việc bất lương và cũng có dan díu với một phụ nữ da đen tên Dehlia là con gái một mục sư ở St Louis. Hai người đã có một đứa con trai. Trong những na9m xa gia đình Jack cũng đã trải qua nhiều năm tù tội.       Lần cuối Glory gặp Jack khi còn ở nhà khi đó cô mới 16 tuổi. Nay cả hai anh em đã vào tuổi trung niên nên cuộc trùng phùng cũng thật ngỡ ngàng. Câu hỏi “Trở về nhà nghĩa là gì?” là câu hỏi cả Glory, Jack và ngay cả người cha già trên giường bệnh đều cố gắng tìm một câu trả lời. Trở về nhà lần này bề ngoài Jack đã có vẻ như một người biết tu tỉnh: Anh làm vườn, sửa xe, ăn mặc bảnh bao sạch sẽ, lời ăn tiếng nói với cha với em cũng có vẻ tình cảm, nhẹ nhàng, đầm ấm hơn xưa. Nhưng có thật đứa con hoang đó tuy đã trở về nhưng có ở lại không? Marilynne Robinson dùng Glory làm nhân vật thuyết thoại ở ngôi thứ ba của quyển sách. Qua lời kể của Glory người đọc đi vào những góc sâu thẳm nhất trong tâm hồn của mục sư Robert Boughton, Jack, và của cả Glory nữa. Họ không nói năng với nhau nhiều tuy cùng sống dưới mái ấm gia đình. Nhất là giữa Jack và Glory, những hành vi cử chỉ ánh mắt nụ cười của họ nói lên nhiều hơn là những câu đối thoại. Cũng qua những mẩu đối thoại ngắn ngủi hai anh em đã thố lộ cho nhau biết quãng đời riêng của mỗi người từ khi xa cách. Cả Jack lẫn Glory đều biết cha mình là người hết lòng yêu thương con cái nhưng ông yêu thương theo cái cách riêng của ông. Cùng chăm sóc cha già bệnh hoạn chờ chết, Jack và Glory trở nên hiểu biết và thương yêu nhau hơn, và cũng thương xót người cha khá đặc biệt của mình hơn. Vào những giờ phút cuối trong đời ông vẫn cố gắng tìm hiểu đứa con trai hoang tàng, vẫn nuôi niềm hy vọng rất trẻ thơ đứa con hư hỏng này và hy vọng nó sẽ ở lại với gia đình. Nhưng khi Jack nhận được những bức thư anh gủi cho Dehlia bi trả lại, tâm hồn Jack tan vỡ xụp đổ và những thói hư tật xấu trước đây lại tái diễn. Tất nhiên những hành vi này của anh ảnh hưởng lớn lao tới tinh thần và bệnh trang người cha. Và cuối cùng Jack một lần nữa lại bỏ cha già bệnh hoạn em gái cô đơn  ra đi. Làm sao ta có thể hiểu được Jack đứa con hoang này? Mục sư Ames, một người bạn chí thân của mục sư Boughton trước đây khi nhớ về Jack khi còn nhỏ đã có ý cho rằng Jack là một kẻ có tâm hồn ti tiện, xảo quyệt lừa dối, hành vi hoàn toàn vô trách nhiệm. Nhưng với mục sư Boughton cha anh ông nghi rằng những hành vi xấu xa của con trai mình dường như xuất phát từ một cảm thức sơ khai sâu thẳm: nó luôn thấy mình lạ lẫm với tất cả mọi thứ chung quanh. Ông từng nói: “Tôi chưa từng thấy một đứa trẻ nào lại không cảm thấy mình đang ở trong nhà mình khi nó ở ngay trong căn nhà nó sinh ra như thế. Tôi luôn luôn cảm thấy mình phải đối phó với một nỗi u buồn, một thứ cảm giác chĩu nặng trong lòng.”      Khi Jack trở về, ông đã rất cố gắng làm hòa với đứa con hư tuy bề ngoài vẫn tỏ ra nghiêm khắc. Hai cha con có những lần nói chuyện với nhau, cha giảng giải than thở và con làm thinh chịu đựng. Glory luôn khuyên cha hãy đối xử nhẹ nhàng hơn với Jack và ông cũng đã cố gắng làm theo lời con gái. Câu hỏi dằn vặt trăn trở ông là: Không hiểu tại sao Jack lại không thể yêu thương cha và các anh chị em? Câu hỏi này dường như ông không thể có câu trả lời chính vì Jack cũng đã không có một câu trả lới nào. Marilynne Robinson là nhà văn có niềm tin tôn giáo khá độc đáo. Trong quyển Gilead tác giả  cũng đã nói về lòng độ lượng và nhân từ của cha mình qua ký ức của Glory khi nghe ông giảng đạo ở nhà thờ trước đây. “Ông có nhắc tới tội lỗi khi giảng, nhưng theo ông biết tội lỗi thậtlà hiếm hoi, đó chẳng qua chỉ là vấn những hành vi và những sự sơ xuất rất hường tình, cho nên chẳng có ai là người hoàn toàn không có hành vi tội lỗi hay sơ xuất hoặc biết được chúng để tránh, chẳng hạn tránh  một ý tưởng không vị tha hay một hành vi bất cẩn…chính vì vậy ngay một kẻ đúc hạnh nhất cũng không có tư cách gì để phán xét một người khác.” Chính vì quan niệm như vậy cho nên người đọc thấy trong quyển Home/Nhà thiện đi liền với ác, cao thượng song hành với hèn hạ, ân sủng nối gót thất sủng… Marilynne Robinson là người hướng về Thượng đế trong sự trầm mặc tịch mịch. Cho nên tuy viết tiểu thuyết với khung cảnh là thành phố Gilead ở Iowa tĩnh lặng, với những nhân vật thuộc gia đình mục sư nhưng người đọc không bao giờ cảm thấy tác giả rao giảng niềm tin tôn giáo.Truyện bà viết ra tưởng như rất thân thuộc, những đối thoại đầy minh trí tưởng như những lời nói tầm thường nhưng càng đọc lại nghĩ lại thì càng thấy mơ hồ, có thể hiểu theo nhiều cách, nhiều nghĩa khác nhau. Thêm nữa câu văn của Marilynne Robinson viết tuy rất rõ ràng  trong sáng nhưng lại ẩn tàng nhiều nghĩa khác nhau. Nhân vật tiểu thuyết không có nhiều hành động, không có nhiều đối thoại nhưng những liên hệ có ý nghĩa ẩn dấu luôn chập chờn chồng chéo ở phía sau lời nói hay hành vi. Và từ văn chương của Marilynne Robinson toát ra lòng tha thứ quảng đại đúng như câu nói của một nhân vật trong quyển Home/Nhà đại ý: Tha thứ có trước sự hiểu biết, bạn hãy tha thứ rồi sau đó sẵn sàng để hiểu biết và đó chính là khuôn diện của ân sủng.  Review đào trung đạo *** "Cha không nghĩ đó là sự oán giận. Đó là một cái gì đấy thuộc loại trung thành trong đời cha, như thể cha muốn nói cha cũng có một người vợ, cha cũng có một đứa con. Và như thể cái giá để có được họ là phải mất họ. Cha thậm chí không thể chịu đựng nỗi dù chỉ là ngụ ý bởi cái già đó quá đắt. Người ta nói rằng một đứa trẻ sơ sinh không thể nhìn được khi nó còn nhỏ như em gái con, nhưng nó vẫn mở mắt và nhìn vào cha. Nó như một linh vật nhỏ bé . Nhưng khi cha bế nó vào lòng, nó vẫn mở to đôi mắt. Cha biết nó không phải đang suy nghĩ về khuôn mặt của cha. Trí nhớ có thể làm cho một vật dường như tồn tại nhiều hơn thực tế nó có. Nhưng cha cũng biết nó đang nhìn thẳng vào mắt cha. Đó cũng là điều gì đó đáng nói. Và cha rất vui mừng vì cha đã biết được điều đó trong thời điểm này, vì bây giờ, trong tình hình hiện tại của cha, cha sắp từ giả thế giới này, cha mới nhận ra không có gì lạ lùng hơn gương mặt một con người." (Trích đoạn trong Gilead ). *** Mời các bạn đón đọc Gia Hương của tác giả Marilynne Robinson.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Áo Khoác Lông Chồn
Ngay từ lần xuất bản đầu tiên vào năm 1935, Áo khoác lông chồn đã trở thành cuốn sách bán chạy nhất nước Mỹ. Nhà văn John O'Hara - tác giả của tiểu thuyết - đã lấy cảm hứng từ thông báo tìm thấy xác một cô gái trẻ đẹp trôi dạt vào bãi biển Long Island. Đây có thể chỉ là một tai nạn, một vụ giết người hay tự tử? Không ai biết được sự thật về cái chết ấy, nhưng John O'Hara đã chộp lấy tấn thảm kịch này và tưởng tượng ra cuộc đời đầy thăng trầm của một người con gái ở New York vào đầu những năm 1930. Nhà văn O'Hara đã khéo léo khắc họa chân dung cuộc sống của cô gái Gloria Wandrous trẻ đẹp từ giây phút cô tỉnh dậy trên một chiếc giường lạ đến khoảnh khắc cuộc đời của cô chấm dứt. Với sự chân thực đến xấc xược và sự thính nhạy độc đáo, Áo khoác lông chồn đã bóc trần những sự thật thường là xấu xa và được che giấu, ẩn nấp dưới cái vẻ bên ngoài của một xã hội quay cuồng vì ảnh hưởng của cuộc Đại Suy thoái. Có thể nói đây là một tuyệt phẩm trên văn đàn nước Mỹ. *** Một nước Mỹ năm 1935 được miêu tả: "Nhiều đam mê ngấm ngầm, nhiều quy tắc bất thành văn. Có nhiều người giàu không kể xiết và có những anh hùng không được tôn vinh…" Tên sách: Áo khoác lông chồn Tác giả: John O’Hara Dịch giả: Đinh Thị Thanh Vân NXB Văn hóa Sài Gòn   Nhắc đến John O’Hara, người ta thường nghĩ ngay tới cuốn tiểu thuyết nổi tiếng “Appointment in Samarra” (Hẹn gặp ở Samarra) – tác phẩm đầu tay gắn với tên tuổi của tác gia nước Mỹ này chưa bao giờ rời khỏi danh sách 100 tiểu thuyết hay nhất mọi thời đại. Nếu như “Hẹn gặp ở Samarra” từng được đánh giá là đạt đến vẻ đẹp kinh điển của một tác phẩm hiện thực trong thế kỷ 20 thì có một tiểu thuyết khác của ông lại được ví như cuốn “biên niên sử của nước Mỹ”. Tác phẩm ấy là “BUtterfield 8” – được xuất bản ở Việt Nam dưới cái tên “Áo khoác lông chồn”. “Áo khoác lông chồn” ra mắt lần đầu năm 1935, thời điểm mà theo tác gia Fran Lebowitz là lúc nền văn hóa cũng như kinh tế của nước Mỹ đang hồi nhiễu loạn: “Năm 1935, nhiều sự việc không nói ra thì tốt hơn. Nhiều đam mê ngấm ngầm, nhiều quy tắc bất thành văn. Có nhiều người giàu không kể xiết và có những anh hùng không được tôn vinh… Năm 1935, chỉ số Dow Jones đóng cửa ở mức 144.13, không những cho thấy tác động của nạn Đại Suy thoái, mà còn truyền đạt một ý nghĩa đặc biệt, đây là một giai đoạn có không ít việc buôn bán ngoài luồng. Năm 1935, Luật cấm buôn bán rượu mới hết hiệu lực được hai năm, sau khi kéo dài mười ba năm liền. Trong nhiều thành công khác, nó còn có tác dụng dân chủ hóa hoàn toàn và rất quái đản tính chất vụng trộm của nền đạo đức, chi phối các cuộc ngoại tình của tầng lớp thượng lưu Mỹ…” Trong bối cảnh ấy, John O’Hara đã tái hiện lại một cuộc đời đầy những biến động của cô gái trẻ Gloria Wandrous. Mồ côi cha từ rất sớm, Gloria sống trong sự bao bọc của một người mẹ mẫu mực và người bác ruột hết lòng yêu thương, chiều chuộng cô. Nhưng rồi bi kịch thứ nhất xảy đến. Gloria bị lạm dụng tình dục bởi thiếu tá Boam – bạn quân ngũ của bác cô. Cô gái 12 tuổi rơi vào tình trạng rầu rĩ và suy nhược, nên buộc phải chuyển đến New York. Từ một thiếu nữ xinh đẹp, thông minh, có giáo dục, Gloria trở thành một kẻ say xỉn, “nhẵn mặt” hầu hết các quán rượu lậu ở New York. Ở tuổi 20, Gloria đã trở thành người đàn bà sành sỏi chốn tình trường. Bước ngoặt lớn thứ hai trong cuộc đời Gloria là gặp gỡ và quen biết Liggett – một người đàn ông đã có vợ và hai con.   Từ một mối quan hệ qua đường, cô gái trẻ đem lòng yêu người đàn ông đáng tuổi bố mình. Rồi trong một lần ở cùng nhau, bị chi phối bởi phút bốc đồng của những đam mê nhục dục, Liggett đã xé rách chiếc váy dạ hội của Gloria. Điều này tiếp tục đẩy cuộc đời Gloria vào một bi kịch mới: Bi kịch đánh cắp chiếc áo khoác lông chồn trị giá 6.000 đô la và được bảo hiểm với giá 3.000 đô la.   Chẳng phải ngẫu nhiên mà tác phẩm mang tên “Áo khoác lông chồn”. Thứ đồ xa xỉ ấy cũng giống như bộ mặt của giới thượng lưu Mỹ trong thời Đại Suy thoái. Nó là thứ vỏ bọc bên ngoài đẹp đẽ và hào nhoáng, nhưng phù phiếm và vô giá trị về mặt tinh thần. Nó là món quà người chồng tặng cho vợ mình để minh chứng tình yêu nhưng thực chất chính anh ta lại là kẻ ngoại tình đáng khinh nhất.   Nó – chiếc áo lông chồn ấy cũng vẫn là vật cuối cùng mà Liggett tìm đến sau khi chạy trốn như một kẻ tội phạm khỏi con tàu mà Gloria tội nghiệp đã bỏ mạng. Vẫn theo Fran Lebowitz thì John O’Hara đã: “hiểu rõ hơn bất cứ nhà văn Mỹ nào khác rằng, giai tầng có thể vừa bộc lộ vừa nhào nặn lên tính cách, sự hời hợt có thể trọn vẹn đến vô cùng, và quần áo có thể thực sự làm nên con người ra sao”.   John O’Hara viết “Áo khoác lông chồn” ở tuổi 29. Điều này giúp lý giải một cách thấm thía rằng giọng điệu từng trải, thông thái và lối văn chương chân thực mà tinh tế ấy không phải được tạo nên bởi một ngòi bút nhiều trải nghiệm mà bởi một tài năng đáng ngưỡng mộ, cộng với một tầm hiểu biết sâu sắc.   Cũng bởi thế mà tờNew York Times từng có lời khen tặng: "O’Hara chiếm giữ vị trí độc nhất trong nền văn học đương đại của Mỹ. Ông là nhà văn Mỹ duy nhất tái hiện xã hội Mỹ trong cái cách mà nó đã được thể hiện trong tác phẩm của Henry James về nước Mỹ, hay dưới ngòi bút của Proust về nước Pháp". “Áo khoác lông chồn” xứng đáng được coi là một tuyệt phẩm trên văn đàn nước Mỹ. Năm 1960, tác phẩm này đã được chuyển thể thành phim với sự tham gia của hai ngôi sao điện ảnh hàng đầu Elizabeth Taylor và Laurence Harvey. Bộ phim mang về cho huyền thoại Elizabeth Taylor giải Oscar Nữ diễn viên xuất sắc nhất. *** John O’Hara (1905-1970) viết “Áo khoác lông chồn” năm ông mới 29 tuổi. Tác phẩm trở thành kiệt tác và gần công chúng hơn khi được chuyển thể thành phim với sự tham gia diễn xuất của hai ngôi sao điện ảnh hàng đầu: Elizabeth Taylor và Laurence Harvey năm 1960. Áo khoác lông chồn được cho là “biên niên sử của nước Mỹ”. Ngòi bút sinh động và thực tế của John O’Hara đã bóc trần đời sống xã hội Mỹ những năm 30 với những suy thoái về kinh tế và sự chao đảo về đạo đức.   Nhân vật chính của câu chuyện là Gloria Wandrous. Cha cô là một nhà hoá học đã chết vì phóng xạ, Gloria sống cùng mẹ và bác ruột tên là Vandanm. Tuổi thơ của Gloria diễn ra trong tình yêu thương, sự hy vọng của mẹ và bác trai. Nhưng bất hạnh bắt đầu đổ ập xuống cuộc đời của Gloria từ khi thiếu tá Boam - một người bạn quân ngũ của bác cô - sau một lần đến nhà chơi đã giở trò lạm dụng tình dục đối với cô. Giống như nhiều nạn nhân của bi kịch bị lạm dụng tình dục khác, cô bé 12 tuổi Gloria có những biểu hiện khác thường: hay rầu rĩ, hơi suy nhược. Cuộc đời Gloria thực sự rẽ sang một hướng khác. Cô buộc phải chuyển đến môi trường mới để tiếp tục sống và học tập những mong quên đi bi kịch của mình. Nhưng cô đến New York đúng thời điểm nước Mỹ đang trên đà đại suy thoái về kinh tế và đạo đức, lối sống của xã hội Mỹ đang bị chao đảo nặng nề. Gloria chỉ là nạn nhân, nhiều cô gái trẻ khác cũng chỉ là nạn nhân. Sau một lần nạo thai vì vui vẻ với chàng sinh viên trường Yale, Gloria dần dần trở thành người đàn bà sành sỏi chốn tình trường. Cho đến khi gặp Ligget, gã đàn ông đã có vợ và hai cô con gái, thì cô lún sâu hơn vào bùn lầy không thể rút chân ra được. Để thoả mãn đam mê nhục dục, Ligget đã xé toang váy áo của cô. Chính hành động lúc say tình này mà Ligget đã vô tình đẩy cô đến bi kịch khác: Bi kịch của kẻ ăn cắp chiếc áo khoác lông chồn đắt tiền, chiếc áo có giá trị tới 10.000 USD và được đóng bảo hiểm tới 4.000 USD. Chiếc áo khoác lông chồn bị mất, cuộc hôn nhân của gia đình Ligget bị dồn đến bên bờ vực thẳm. Nhưng có điều Ligget thấy kỳ lạ, ông vừa thấy ghê sợ Gloria nhưng lại thấy đam mê cô khủng khiếp. Điều này ông chỉ nhận ra khi phải đứng ở lằn ranh của cuộc hôn nhân đổ vỡ. Người đàn ông thứ hai của Gloria và luôn sát cánh bên cô là Eddie Brunner. Anh cũng nhiều lần muốn có được Gloria nhưng luôn bị ám ảnh rằng cô là mẫu đàn bà dễ dãi và từng chung đụng với nhiều người tình. Eddie Brunner được tác giả xây dựng như một người đàn ông tình nghĩa, một người bạn đích thực. Anh biết mọi bi kịch, sự đổ đốn của Gloria nhưng vẫn luôn âm thầm bảo vệ và xót thương cho cô. O’Hara đã tạo nên nhân vật của mình với sự chân thực đến táo bạo, sự thính nhạy độc đáo đã bóc trần thói xấu xa được che giấu, ẩn nấp dưới cái vẻ bề ngoài của một xã hội quay cuồng bởi Đại suy thoái. T.T. Review Mời các bạn mượn đọc sách Áo Khoác Lông Chồn của tác giả John O'Hara & Đinh Thị Thanh Vân (dịch).
Đứa Con Của Thời Tiết
Tình thơ, gặp gỡ và chia ly là những vòng sóng đồng tâm trong thế giới Shinkai Makoto. Từng có cô Yuki chia tay Takao ở Khu vườn ngôn từ để đến dạy văn cho Mitsuha ở Your Name. Nay lại có Mitsuha và Taki chia tay Your Name. để sang ĐỨA CON CỦA THỜI TIẾT, gặp gỡ các tâm sóng mới là Hina và Hodaka.   Đứa con của thời tiết phác ra thương yêu cô đọng giữa hoang mang của đô thị lớn và ngặt nghèo hơn, là giữa hoang mang của một thời đại biến đổi khí hậu bấp bênh.   Vì một sự cố tình cờ, Hina được tạo hóa ban cho năng lực đặc biệt: làm nắng. Năng lực ấy càng thêm nhiệm màu khi đặt vào bối cảnh Nhật Bản hứng mưa triền miên, mưa đến mức vòm trời âm u trở thành cơm bữa, nước dâng gặm dần các đảo, và Tokyo có nguy cơ biến thành đô thị kênh đào.   Nhưng đến đây, phong cách song hành nhất quán của Shinkai lại trỗi dậy. Trong lạc có bi, trong hạnh phúc sẵn chia ly, được ban phép màu ắt phải đánh đổi. Đứa con của thời tiết cũng không thể tùy ý tắt bật nắng mưa mà không phải trả giá gì. Theo sau một lần làm nắng, là chất chứa hàng chuỗi ăn mòn, hối hận, mạo hiểm, giải cứu, và đằng đẵng cách xa.   Cũng như Your Name, ĐỨA CON CỦA THỜI TIẾT tiếp tục đan cài giữa truyền thống và hiện đại, huyền thoại và thực tế, nguy cơ và mộng ước, thiên tai và con người… nhưng có điểm khác là, lần đầu tiên hạnh phúc cá nhân đã được nhấn mạnh, nhân vật đã bứt mình khỏi tâm thế bao la vì mọi người. *** SHINKAI MAKOTO Sinh năm 1973 ở Nagano. Là đạo diễn phim hoạt hình. Năm 2002, bộ phim ngắn Tiếng gọi từ vì sao xa do anh tự thực hiện đã thu hút rất nhiều sự chú ý. Sau đó các tác phẩm Bên kia mây trời, là nơi hẹn ước, 5 centimet trên giây, Những đứa trẻ đuổi theo tinh tú, Khu vườn ngôn từ, Your Name. lần lượt ra đời và nhận được khá nhiều giải thưởng trong nước. Tiểu thuyết do anh chấp bút, dựa trên nội dung của những bộ phim anh đạo diễn như 5 centimet trên giây, Khu vườn ngôn từ, Your Name. cũng được đánh giá cao.   IPM xuất bản: • 5 centimet trên giây • Khu vườn ngôn từ • Your Name. • Tiếng gọi từ vì sao xa (Shinkai Makoto, Ooba Waku) • Bên kia mây trời, là nơi hẹn ước (Shinkai Makoto, Kanoh Arata) • Những đứa trẻ đuổi theo tinh tú (Shinkai Makoto, Akisaka Asahi) *** Chuyện cậu kể Tiếng còi ngân dài dưới màn mưa tháng Ba báo hiệu phà sắp rời bến. Rung động mạnh khi thân phà to lớn rẽ biển băng về phía trước lan từ mông lên khắp cơ thể. Vé của tôi là vé phòng hạng hai, nằm sát đáy phà. Chuyến hải trình tiến ra Tokyo kéo dài hơn mười tiếng đồng hồ, đến tối phà mới cập bến. Đây là lần thứ hai trong đời tôi đón chuyến phà này ra Tokyo. Tôi đứng dậy, bước tới cầu thang dẫn lên boong. “Hình như tên đó có tiền sự…” “Nghe đâu cậu ta vẫn bị cảnh sát theo dõi…” Sau vụ việc xảy ra tại Tokyo cách đây hai năm rưỡi, tôi bắt đầu nghe mấy lời đồn như thế ở trường. Bị nói này nói nọ cũng chẳng hề gì (thật ra tôi còn thấy đồn đại là tất nhiên), song tôi vẫn không hé răng với ai trên đảo về vụ việc xảy ra ở Tokyo hè năm đó. Tôi từng đề cập vài chi tiết, nhưng chưa bao giờ nhắc đến phần quan trọng nhất, kể cả với bố mẹ, bạn bè hay cảnh sát. Một mực giữ riêng câu chuyện của mùa hè ấy, tôi tìm đến Tokyo lần thứ hai. Giờ tôi đã 18 tuổi. Lần này đi là để sống tại thành phố ấy. Và để gặp lại người ấy. Cứ nghĩ đến đây là ngực tôi lại nóng ran, mặt như có lửa đốt. Tôi leo nhanh hơn để mau ra hứng gió biển. Đặt chân lên boong, tôi liền bị gió lạnh và mưa quất mạnh vào mặt. Như muốn thu hết chúng vào người, tôi hít thở thật sâu. Gió vẫn lạnh nhưng đã nức hơi xuân. Cuối cùng cũng tốt nghiệp cấp ba… Giờ này cảm giác đó mới rộn lên trong lòng tựa bản thông báo đến muộn. Chống khuỷu tay lên thanh vịn, tôi trông về phía hòn đảo đang dần lùi xa rồi ngước nhìn vùng trời cuồn cuộn gió. Vô vàn hạt mưa nhảy múa nơi xa hút tầm mắt. Vào khoảnh khắc ấy, tôi bỗng rùng mình, toàn thân nổi gai ốc. Lại nữa rồi. Tôi bất giác nhắm chặt mắt, bất động. Nước mưa táp vào mặt, tiếng mưa không ngừng dội vào màng nhĩ. Mưa vẫn rơi ở đó suốt hai năm rưỡi nay. Tựa nhịp đập con tim không thể lặng im dù có cố nín thở. Tựa đôi mắt không bao giờ chìm hẳn vào bóng tối dù gắng nhắm thật chặt. Tựa cõi lòng không cách nào bình yên dù nỗ lực trấn tĩnh. Tôi chậm rãi thở ra và mở mắt. Mưa. Mưa liên tục bị hút xuống mặt biển đen thẫm, nhấp nhô như hít thở. Chẳng khác nào trời và biển bắt tay nhau, nghịch ngợm xô đẩy mặt nước. Tôi bỗng thấy sợ. Từng đợt run rẩy dâng lên từ thẳm sâu cơ thể. Tôi ngỡ mình sắp bị xé rách, sắp rã thành từng mảnh. Bám chặt thanh vịn, tôi hít vào thật sâu qua mũi. Hình ảnh người ấy lại hiện về như mọi khi. Cô gái với đôi mắt to, biểu cảm sinh động, tông giọng biến hóa liên tục và mái tóc dài buộc thành hai chùm. Rồi tôi nghĩ, “Sẽ ổn thôi.” Cô ở đó. Cô đang sống ở Tokyo. Chừng nào còn có cô, tôi còn được gắn kết với thế giới. “… Vậy nên Hodaka à, đừng khóc.” Đêm ấy, trong khách sạn ở Ikebukuro nơi chúng tôi ẩn nấp, cô đã nói thế. Tiếng mưa giội xuống trần nhà nghe như tiếng trống vọng tới từ xa. Tóc cô thơm mùi dầu gội hai đứa dùng chung, giọng nói dịu dàng như thể sẵn sàng thứ tha tất cả, làn da ánh sắc trắng xanh giữa bóng tối. Tất cả quá đỗi sống động, đến độ tôi bỗng có cảm giác lúc này mình vẫn đang ở đó. Phải chăng chúng tôi quả thật vẫn ở khách sạn, và tôi chỉ tình cờ gặp hiện tượng kí ức ảo giác mà tưởng tượng cảnh bản thân ở tương lai đi phà? Phải chăng lễ tốt nghiệp hôm qua lẫn chuyến phà hôm nay đều là ảo giác, còn tôi thực sự vẫn nằm trên giường khách sạn? Rồi sớm mai thức dậy, mưa đã tạnh, cô vẫn ở bên tôi, diện mạo thế giới vẹn nguyên như trước giờ, và một ngày như mọi ngày lại bắt đầu? Còi hú vang. Không, không đúng. Tôi xác nhận xúc giác khi nắm lấy thanh vịn sắt, xác nhận mùi thủy triều, xác nhận hòn đảo dần khuất bóng nơi chân trời. Nhầm rồi, giờ không phải buổi tối. Chuyện đã lùi xa vào quá khứ. “Tôi” đang lắc lư trên phà này là tôi thực sự. Ngẫm kĩ đi. Nhớ lại từ đầu đi. Tôi vừa nhìn màn mưa chăm chăm vừa nghĩ. Trước khi gặp lại cô, phải hiểu hết những việc đã xảy đến với hai đứa. Không, dẫu không hiểu cũng phải suy nghĩ cho cặn kẽ. Chuyện gì đã xảy đến với chúng tôi? Chúng tôi đã lựa chọn gì? Còn tôi, sắp tới nên nói gì với cô? Căn nguyên của mọi việc… Phải, có lẽ là hôm đó. Ngày cô chứng kiến hiện tượng kia lần đầu tiên. Sự việc mà sau này cô kể tôi nghe chính là khởi đầu của tất cả. * Mẹ cô hôn mê suốt nhiều tháng nay. Trong phòng bệnh nhỏ chỉ có âm báo điện từ đều đặn phát ra từ màn hình theo dõi bệnh nhân, tiếng tút dài của máy thở và tiếng mưa dai dẳng đập vào cửa sổ. Cùng với đó là bầu không khí tách biệt đặc trưng của những phòng bệnh có bệnh nhân nằm lâu ngày. Ngồi trên ghế đẩu cạnh giường bệnh, cô nắm chặt bàn tay chỉ còn da bọc xương, dõi theo chiếc mặt nạ oxy đều đặn chuyển màu trắng mờ theo nhịp thở, đăm đăm ngắm hàng mi khép chặt của mẹ. Dầu bị nỗi bất an đè nặng, cô vẫn một lòng cầu nguyện. Cầu cho mẹ tỉnh lại. Cầu cho gió mạnh thổi tới như vị anh hùng xuất hiện giữa lúc nguy nan, quét sạch những thứ u ám và nặng nề, bất kể u uất, lo lắng hay mây đen, rồi gia đình ba người lại có thể tươi cười sánh bước dưới trời quang. Tóc cô chợt lay động. Tiếng nước tong tong nho nhỏ vẳng vào tai. Cô ngẩng đầu. Cửa sổ vốn khép chặt, vậy mà rèm vẫn khẽ đung đưa. Ánh mắt cô bị hút về phía khoảng trời ngoài khung cửa. Vầng dương đã chiếu rọi tự khi nào. Mưa chưa ngừng, nhưng một khe hở nhỏ đã xuất hiện giữa tầng mây. Những tia sáng mảnh lách qua khe hở, soi sáng một điểm trên mặt đất. Cô căng mắt nhìn. Vô số tòa nhà trải dài hút tầm mắt. Duy có sân thượng của một trong số đó bừng sáng tựa diễn viên đứng dưới ánh đèn sân khấu. Như thể nghe ai gọi, cô chạy ào khỏi phòng bệnh. Cô dừng bước trước một tòa nhà bỏ hoang. Các kiến trúc lân cận đều mới toanh, riêng tòa nhà phức hợp này mục nát, xám xịt như bị thời gian lãng quên. Hàng loạt biển hiệu gỉ sét phai màu, nào “Bi-a”, “Cửa hàng kim khí”, nào “Lươn”, “Mạt chược”… treo tứ phía. Cô ngẩng đầu, nhìn qua lớp ô nhựa trong suốt. Nắng quả thật đang rọi xuống sân thượng. Liếc sang hông tòa nhà, cô thấy bãi đỗ xe nhở cùng cầu thang thoát hiểm hoen gỉ cũ kĩ dẫn lên sân thượng. Hệt một vũng ánh sáng. Leo hết cầu thang, cô sững lại giây lát, mê mẩn ngắm cảnh sắc trước mắt. Sân thượng có lan can bao quanh, rộng chừng phân nửa hồ bơi dài 25 mét. Gạch lát nền vỡ gần hết, phủ một lớp cỏ dại xanh mướt. Ở góc sân có một cổng torii[1] nhỏ đứng im lìm như nằm trong lòng bụi cây. Nắng xuyên qua tầng mây, chiếu thẳng xuống cổng. Dưới chùm nắng, màu đỏ tươi ánh lên lấp lánh bên những hạt mưa. Đây là nơi duy nhất rạng rỡ giữa thế giới mưa phủ mờ này. Cô chậm rãi băng qua sân, tiến về phía cổng. Cứ mỗi bước giẫm trên lớp cỏ mùa hè đẫm mưa, âm thanh loạt soạt êm tai lại vang lên cùng cảm giác đàn hồi dễ chịu. Những tòa cao ốc trắng đục vươn mình thẳng tắp sau màn mưa. Không gian ríu rít tiếng chim non. Dường như đâu đây có tổ chim. Thoảng trong đó là âm thanh tuyến Yamanote xa xôi tựa hồ vẳng đến từ thế giới khác. Cô đặt ô xuống đất. Cái lạnh của cơn mưa ve vuốt đôi gò má mịn màng của cô. Sau cổng torii có một ngôi miếu nhỏ bằng đá, hoa tím li ti mọc kín xung quanh. Không biết ai đã đặt hai cỗ xe ngựa vong hồn[2] dùng cho lễ Obon[3] tại đó. Trông chúng như bị vùi vào vạt hoa. Một bằng cà tím, một bằng dưa chuột, đứng trên bốn que tre mảnh. Gần như vô thức, cô chắp tay, khẩn thiết cầu nguyện. Cầu cho mưa tạnh. Cô chậm rãi khép mi, vừa cầu nguyện vừa bước qua cổng. Cầu cho mẹ tỉnh lại và cùng cô bước đi dưới trời quang. Qua khỏi cổng torii, không khí lập tức thay đổi. Tiếng mưa ngừng bặt. Và rồi cô mở mắt… giữa bốn bề là trời xanh. Gió lớn thổi cô bay bồng bềnh trên tầng không cao vời vợi. Không, chính xác là cô đang rẽ gió rơi xuống. Tiếng gió hú trầm thăm thẳm chưa từng nghe trong đời cuộn xoáy xung quanh. Cứ mỗi nhịp thở ra, hơi thở lại đông trắng, lấp lánh bay lượn giữa vùng trời xanh thẳm. Vậy mà cô không hề sợ hãi, cảm giác kì lạ như thể đang mơ trong khi vẫn tỉnh táo. Dưới chân là những cột mây vũ tích trông như cây súp lơ khổng lồ trôi lơ lửng. Mỗi đám mây phải rộng đến mấy kilomet, tạo nên một khu rừng trên không tráng lệ. Cô chợt nhận thấy sắc mây đang biến đổi. Từng đốm xanh nối nhau xuất hiện trên đỉnh những đám mây, nơi bằng phẳng như đồng bằng và tiếp giáp với không khí. Cô mở to mắt theo dõi cảnh tượng ấy. Giống thảo nguyên quá. Những chấm màu xanh lục nhộn nhịp hiện ra rồi biến mất trên đỉnh mây, nơi mà người dưới đất chắc chắn không thể nhìn thấy. Để ý kĩ, cô còn thấy thứ gì đó bé xíu tựa sinh vật sống tập trung thành đàn khắp bốn bề. “… Cá?” Quần thể khoan thai uốn lượn thành hình xoáy ấy giống hệt đàn cá. Cô vừa rơi vừa nhìn không chớp mắt. Vô số cá đang bơi lội giữa bình nguyên trên mây. Đột nhiên, ngón tay cô chạm phải thứ gì đó. Cô kinh ngạc nhìn xuống tay. Quả nhiên là cá. Những chú cá nhỏ với cơ thể trong suốt bơi qua ngón tay và tóc cô như những cơn gió có trọng lượng. Có con vây dài ve vẩy, có con tròn như sứa, có con lại mảnh dẻ như cá sóc. Bầy cá trong suốt muôn hình muôn vẻ lấp lánh như lăng kính dưới nắng. Chẳng rõ tự khi nào, cô đã bị vây giữa đàn cá trời. Trời xanh, mây trắng, màu xanh lục lao xao, đàn cá ánh sắc cầu vồng. Cô đang hiện diện giữa thế giới trên không đẹp đẽ và kì lạ, chưa từng nghe qua mà cũng chưa từng tưởng đến. Cuối cùng, mây đen vần vũ dưới chân cô dần biến mất như thể tan chảy. Phố phường Tokyo mênh mông hiện ra dưới tầm mắt. Từng tòa nhà, từng chiếc xe, từng tấm kính cửa sổ tắm mình dưới nắng, kiêu hãnh rực sáng. Cô cưỡi gió, chầm chậm đáp xuống thành phố vừa tái sinh sau khi được mưa gột rửa. Cảm giác hợp thể lạ lùng từ từ lan đi khắp người. Bằng một dạng giác quan tồn tại trước cả ngôn từ, cô hiểu rằng mình là một phần của thế giới. Mình là gió, là nước, là xanh, là trắng, là trái tim, là nguyện ước. Niêm hạnh phúc cùng nỗi day dứt lạ thường xâm chiếm châu thân. Và rồi, ý thức dần tan biến tựa hồ lún sâu vào tấm đệm dày.. * “Cảnh tượng đó… Có thể những gì tớ thấy khi ấy đều là mơ…” Cô từng nói với tôi như thế. Song đó không phải mơ. Giờ đây chúng tôi đã biết đó là thật. Sau ngày cô kể tôi nghe, hai đứa còn tận mắt chiêm ngưỡng khung cảnh tương tự một lần nữa, chiêm ngưỡng thế giới trên trời không ai biết đến. Vào mùa hè tôi cùng cô trải qua năm ấy, trên bầu trời Tokyo, chúng tôi đã thay đổi hoàn toàn bộ mặt của thế giới. Mời các bạn mượn đọc sách Đứa Con Của Thời Tiết của tác giả Shinkai Makoto & Mỹ Trinh (dịch).
Trái Tim Ngọt Ngào
Với một cơ thể đầy thương tích, một tâm thần chìm sâu trong ám ảnh và một trái tim đau khổ, Archie Sheridan quay về với cuộc sống cùng hai đứa con và người vợ cũ mà anh từng yêu thương nồng nàn… Nhưng dường như càng cố gắng anh càng chìm sâu hơn trong nỗi ám ảnh với Gretchen Lowell! Trở lại với công việc, anh gặp ngay một tình huống tương tự vụ án đầu tiên lúc mới vào nghề: Thi thể một cô gái trẻ bị phân hủy được tìm thấy trong công viên, trùng khớp địa điểm phát hiện ra nạn nhân đầu tiên của Gretchen. Và rồi một điều không thể tưởng tượng nổi đã xảy ra: Gretchen trốn thoát khỏi nhà tù. Liệu Archie có bắt được ả để kết thúc tất cả, dù biết rằng mình có thể trở thành nạn nhân cuối cùng của Mỹ nhân đoạt mạng - Gretchen Lowell? *** Chelsea Cain Archie và Gretchen- Kẻ Săn Đuổi và Cơn Ác Mộng của cuộc đời. Mối quan hệ giữa Archie và Gretchen là một câu hỏi lớn cho những ai theo đuổi series này. Đó là một mối quan hệ mập mờ, không rõ ràng theo nhiều khía cạnh và hơn hết, là một mối quan hệ vô cùng khó chịu, khiến người ta vừa bực bội bất lực, lại vừa bị cuốn hút sâu sắc. Gretchen xâm nhập vào cuộc đời của Archie từ lúc nào, ngay chính anh ta cũng không hề biết, nhưng ả là một cơn ác mộng thực sự, phá hoại cuộc đời, sự nghiệp và cả gia đình nhỏ êm ấm của anh. Archie là một nhân vật được xây dựng khác biệt, một con người tồn tại hai thái cực khiến người đọc vừa thương vừa ghét – một cảnh sát thương thiện có trách nhiệm nhưng là một gã đàn ông tồi. (Thật ra từ tồi này, tôi đã giản lược gấp đôi so với nỗi bức xúc của tôi về nhân vật này, với phương diện là một người phụ nữ.) Gretchen giết người từ rất sớm, không biết từ khi nào và lý do vì sao. Ả là một bí ẩn cuốn hút đáng nguyền rủa, một dấu chấm hỏi to bự về thân thế và cuộc đời của ả. Nạn nhân đầu tiên của Gretchen (theo sự nhận định của cảnh sát) là một cô gái tên Heather Gerber, cô gái điếm không thân thích và bị sát hại dã man, xác vứt ở một khu rừng. Đây là cái xác đầu tiên trong cuộc đời làm cảnh sát của Archie, và anh ta ngàn lần không ngờ đến, đó sẽ là vụ án thay đổi hoàn toàn số mệnh của mình. Mười hai năm lần theo dấu vết Gretchen Lowell, Archie dần dần bị ả huỷ hoại đến cùng cực từ tâm hồn đến thể xác. Ả như một con giòi có ánh vàng, bên ngoài đẹp đẽ bao nhiêu, bên trong thối nát bấy nhiêu và không ngừng luồn lách và đục khoét bất kỳ người nào có lợi cho mục đích của ả. Gretchen tàn nhẫn và máu lạnh, ả giết người không chùn tay, ả tìm niềm vui trong sự giết chóc. Ả thú nhận: “Nó là vấn đề làm phong phú cảm xúc trong em. Nó là quyền năng.” Chính thế, Gretchen vờn Archie như Mèo vờn Chuột, vờn anh ta mất cả lá lách, sẹo đầy rẫy người và phải sống bằng thuốc giảm đau, ả vờn anh ta, và chơi trên đầu trên cổ cả lực lượng cảnh sát, chỉ để thoã mãn cái “quyền năng” trong tư tưởng của ả. Còn Archie? Anh ta tập họp mọi ưu điểm và khuyết điểm của một người đàn ông, một cảnh sát tốt và một “con mồi có trách nhiệm”. Archie luôn ý thức được rằng anh ta cần săn đuổi Gretchen Lowell, giam ả sau song sắt, moi ra mọi thông tin về các nạn nhân của ả và buộc ả nhận mọi tội danh đã gây ra. Archie luôn mang một tín niệm rất lớn rằng đó là nhiệm vụ của riêng anh ta, và đặt nó lên hàng đầu. Anh ta không ảo tưởng về việc thực thi công lý với lý tưởng anh hùng, anh ta làm thế bởi cảm thấy một sự liên hệ vô hình với những vụ án mở chưa có lời giải và trách nhiệm công vụ luôn mang trên mình. Nhưng theo một hướng nào đó, việc săn đuổi Gretchen là minh chứng cho sự hấp dẫn của ả đối với anh ta, sự hấp dẫn chết chóc nhưng đầy ma mị mà anh ta không cách nào thoát khỏi. Ả không cần phải câu dẫn Archie theo cái cách của những phụ nữ tầm thường thích chen chân vào gia đình người khác. Ả ngọt ngào và quấn quít khi gần khi xa như mùi tử đinh hương, len lỏi vào tâm trí Archie và ngự trị xúc cảm của con mồi, đẩy anh ta xa ra khỏi gia đình và trói buộc anh ta vĩnh viễn trong lời nguyền và tội lỗi. Về phần Archie, anh ta trượt dài vào cái hố bùn và lún sâu trong sự tuyệt vọng một cách tự nguyện, anh ta sẵn sàng huỷ hoại bản thân để buộc Gretchen vào vòng lao lý, nhưng vẫn ôm ấp ảo mộng và nhục dục dành cho ả. Đó là sự lựa chọn tồi tệ và đốn mạt của một gã vừa mang chứng PTSD, vừa mắc hội chứng Stockholm, nghiện nặng thuốc giảm đau với lá gan trên bờ vực cấy ghép. Cũng như Sự Im Lặng Của Bầy Cừu, series Tim nói chung và tập Trái Tim Ngọt Ngào nói riêng, sở hữu một lực lượng cảnh sát khá mờ nhạt và vô dụng, nhưng bù lại, nhân vật phản diện chính là “spotlight” to bự nhất, cuốn hút nhất. Ở Gretchen có một sự điềm tĩnh biến thái như Hannibal, với cái đầu nhanh nhạy nguy hiểm, thích điều khiển tâm lý người khác, và đôi tay khát máu. Mặt khác, cô ả cũng mang một chút tuỳ hứng và điên loạn như Harley Quinn, hứng thú giết chóc bệnh hoạn của Dexter Morgan, khả năng điều khiển người khác phạm tội như Moriaty và để lại nỗi ám ảnh kinh hoàng trong bóng đêm như Jack Đồ Tể. Sự nguy hiểm của Gretchen không dừng lại ở những cái xác nát bét, hay những miếng thịt bị cắt rời khỏi cơ thể, mà còn là ở khả năng thấu hiểu tâm lý và nét duyên dáng quyến rũ chết người. Tuy có nhiều vấn đề tiêu cực tồn tại trong tính cách nhân vật Archie Sherridan nhưng cuốn sách cực kỳ lôi cuốn với những tình tiết hồi hộp. Chính những vấn đề ấy chính là điểm thu hút khiến tác phẩm đi theo hướng khác và nổi bật so với các câu chuyện truy bắt thường thấy. Các tình tiết vụ án đủ đen tối và máu me, nhưng ngôn từ miêu tả không bị biến đổi theo hướng bạo lực. Tình tiết các khẩu súng phải tránh xa lũ trẻ và cảnh sát hành xử có chừng mực khi tập kết ngôi trường tiểu học khá được lòng độc giả có con nhỏ. Tập Trái Tim Ngọt Ngào khép lại sau một đợt bầm dập khác của Archie Sherridan, sau những nỗ lực truy đuổi cơn ác mộng mang tên Gretchen. Một ngày không xa, ta lại mong chờ những cuộc đối đầu khác. Gigi Bui Mời các bạn mượn đọc sách Trái Tim Ngọt Ngào của tác giả Chelsea Cain & Orkid (dịch).
Phép Màu Tình Yêu
Tiểu thư Johanna kết hôn với Nam tước Raulf khi chỉ mới niên thiếu. Cuộc hôn nhân không tình yêu khiến nàng luôn bị Raulf hành hạ, và lúc gã qua đời, nàng thề sẽ chẳng bao giờ kết hôn lần nữa. Nhưng Đức vua lại yêu cầu nàng tái hôn với một người do ông ta sắp đặt, Johanna có vẻ ưng thuận... cho tới khi anh trai thuyết phục nàng kết hôn với bạn anh, lãnh chúa người Scot điển trai Gabriel MacBain. Ban đầu, nàng vô cùng e sợ người chồng cao ngạo và nóng nảy ấy, nhưng khi nhận được sự quan tâm của Gabriel cũng như cùng hắn chia sẻ những niềm vui tuyệt vời, nàng dần hoài nghi rằng mình đã phải lòng gã chiến binh này. Toàn bộ thị tộc ở Cao nguyên rõ ràng cũng sớm nhận ra lãnh chúa của họ đã hoàn toàn đầu hàng trước tiếng gọi trái tim. Song âm mưu tàn độc của Đức vua cùng tay sai trong cuộc ganh đua quyền lực lại đe dọa sẽ cướp mất nàng khỏi tay Gabriel và hủy hoại người đàn ông mà tình yêu của hắn có ý nghĩa với Johanna hơn những gì nàng hằng mơ... Liệu sóng gió có khiến họ rời xa nhau? Liệu tình yêu thương có thể bù đắp cho những nỗi đau và mất mát của mỗi người? *** Đôi điều về tác giả: Julie Garwood là một tác giả người Mỹ khá thành công ở thể loại tiểu thuyết lãng mạn với hơn 27 đầu sách, 35 triệu bản in được phát hành trên khắp thế giới. Các tác phẩm của Julie thường xuyên góp mặt trong danh sách best-seller của New York Times. Julie viết cả tiểu thuyết lịch sử - lãng mạn lẫn hiện đại lãng mạn pha trộn sự hồi hộp, gay cấn. Bên cạnh Gentle warrior (Chiến binh nhân từ); A girl named summer (Cô nàng mùa hè); Prince Charming (Hoàng tử trong mơ); các series: Crown's Spies (Những chàng điệp viên hoàng gia); Lairds' Brides (Những nàng dâu quý tộc); Highlands' Lairds (Những quý tộc miền cao nguyên)...The Secret (Điều bí mật) là một trong những tác phẩm xuất sắc của Julie Garwood. Sách đã xuất bản và dịch tại Việt nam: Món Quà Tình Yêu Lâu Đài Hạnh Phúc Thiên Thần Hộ Mệnh Danh Dự Huy Hoàng Cô Nàng Sư Tử Rebellious Desire Kẻ Phá Đám Điều Bí Mật Sizzle Người Đàn Ông Lý Tưởng Shadow Music Khát Vọng Nổi Loạn Âm Điệu Bóng Đêm Vì Những Đóa Hồng - Julie Garwood Phép Màu Tình Yêu ... Mời các bạn mượn đọc sách Phép Màu Tình Yêu của tác giả Julie Garwood.