Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Vị Khách Cuối Cùng

Littleport, Maine là thị trấn mang đến hai ấn tượng đối lập: một điểm nghỉ mát lý tưởng cho giới thượng lưu – nơi có những ngôi nhà xinh đẹp nằm dọc bờ biển; và một cộng đồng dân cư giản dị, mộc mạc ở bến cảng – nơi những người dân địa phương quanh năm kiếm kế sinh nhai bằng việc phục vụ du khách. Trong hoàn cảnh đối lập đến vậy, thật khó để tin rằng tình bạn sâu sắc sẽ nảy nở giữa con gái chủ nhà và cô bé giúp việc, nhưng đó là điều xảy ra giữa Sadie Loman và cư dân của Littleport - Avery Greer. Suốt gần một thập kỷ, hai cô gái luôn đồng hành cùng nhau trải qua những mùa hè tuyệt diệu, cho đến khi Sadie được phát hiện đã chết. Mặc dù cảnh sát kết luận Sadie đã tự sát, Avery không thể ngăn được cảm giác kỳ lạ rằng những người xung quanh có liên quan đến cái chết bí ẩn của cô bạn thân, bao gồm vị thám tử địa phương và Parker – anh trai của Sadie. Ai đó đã không tiết lộ hết sự thật mà họ biết, Avery định sẽ làm sáng tỏ mọi chuyện trước khi sự thật bị đổi trắng thay đen và làm hại cô ấy. Được chắp bút bởi Megan Miranda – tác giả của những cuốn sách bán chạy nhất New York Times: “Những cô gái mất tích” và “Người lạ mặt hoàn hảo”, nhà văn hàng đầu của dòng tiểu thuyết kinh dị; Vị khách cuối cùng sở hữu cốt truyện thông minh với những khúc quanh khó lường khiến người đọc hồi hộp dõi theo và nín thở đến tận trang cuối cùng. Một số nhận định về “Vị khách cuối cùng”: “Một lần nữa, Megan Miranda đã dựng lên câu chuyện kinh dị hoàn hảo cho mùa hè. Vị khách cuối cùng đầy những cú twist căng thẳng khiến trái tim tôi loạn nhịp. Nhớ canh thời gian rảnh để đọc cuốn sách này bởi một khi bắt đầu đọc, tôi cá là bạn sẽ không thể đặt xuống cho đến trang cuối cùng!” – Riley Sager, tác giả “Lần cuối cùng tôi nói dối” - cuốn sách bán chạy nhất New York Time. “ “Cốt truyện thông minh đầy ắp những bất ngờ và khúc quanh không thể lường trước là sở trường của Megan Miranda, nhưng cô vẫn khiến người đọc cảm thấy ấm áp nhờ câu chuyện tình bạn thân thiết giữa Sadie Loman và Avery Greer… Megan thật sự biết cách viết đoạn kết khiến người đọc phải ồ lên tán thưởng.” – Marilyn Stasio, Biên tập chuyên mục Review sách trên tờ The New York Time. “Không ai có thể đoán trước tình tiết cuốn sách mới nhất của bậc thầy tiểu thuyết kinh dị Megan Miranda. Vị khách cuối cùng là một bí ẩn nhanh như chớp, đầy nguy hiểm và chứa đựng những khúc ngoặt bất ngờ khiến độc giả đứng ngồi không yên.” Mary Kubica, tác giả “Cô gái ngoan” – cuốn sách bán chạy nhất New York Time. *** Tác giả: Megan Miranda. Dịch giả: SPENCER Thể loại: mystery thriller – trinh thám hồi hộp . . “Làm thế nào tôi đã trải qua mùa đông trong sự thờ ơ, giống như thời gian đã đóng băng. Uống nhiều rượu như đang tìm kiếm thứ gì đó và càng uống nhiều hơn vì tin rằng chắc chắn tôi sẽ tìm được điều đó. Tôi đã cãi nhau với bạn bè thế nào, khiến tình cảm giữa chúng tôi rạn nứt, những điều ngu ngốc, liều lĩnh mà tôi đã làm. Không tin ai và mất tất cả niềm tin từ mọi người”. Lúc gần nửa đêm tại buổi tiệc Cuối Mùa ở thị trấn Littleport, Avery Greer đang chờ người bạn Sadie Loman đến. Parker Loman – anh trai của Sadie đã đến cùng bạn gái, nhưng em gái anh ta không đi chung xe với họ. Avery lấy điện thoại nhắn tin cho Sadie và nhận thấy đối phương đang gõ tin nhắn trả lời, tuy nhiên tin nhắn đó không bao giờ đến. Thế rồi, cảnh sát gõ cửa và hỏi Parker về dấu hiệu nhận dạng của em gái anh. Cô ấy đã chết, được một người địa phương tìm thấy ngoài vách đá. ____ Một năm sau, nhìn bề ngoài thì cuộc sống của người dân trong thị trấn Littleport vẫn bình thường, nhưng vẫn có một điều gì đó xấu xa đang ngấm ngầm diễn ra chỉ trong cảm giác của một số người tinh ý, trong đó có Avery. Là bạn thân của Sadie, cô mãi bị ám ảnh bởi cái chết của bạn mình, và chậm rãi tiến hành điều tra từ những chi tiết và chứng cứ ít ỏi tìm được sau một năm. Xuất thân và quá khứ của Avery Greer cũng khiến cô gặp một ít rắc rối với người dân trong thị trấn. Nhờ một người anh cho mượn nhầm sách, tôi mới biết trên đời có tồn tại một quyển sách bìa xanh đẹp như thế này, nhưng nội dung thì tàm tạm chứ không xứng với cái bìa lộng lẫy. Một cô gái chết (hay bị giết?) ở đầu truyện, tiếp theo cả quyển sách là quá trình điều tra của bạn cô ấy. Tôi có thể hình dung tác giả viết rất kỹ, liên kết các chi tiết trước và sau một cách chặt chẽ, thỉnh thoảng đưa vào những đoạn nhỏ mang hơi hướm triết lý, nói lên suy nghĩ của nhân vật chính / mà có lẽ là của chính tác giả về cuộc sống. Thế nhưng, cá nhân tôi thấy cuốn này hơi nhạt, cố tình giữ lại những góc khuất trong quá khứ của nhân vật để đánh đố độc giả, bắt độc giả phải hại não nghĩ ngợi xem tại sao cô ấy hành xử thế này thế kia… Như một số quyển trinh thám khác, “Vị khách cuối cùng” được viết theo trình tự quá khứ đan xen hiện tại, thậm chí giờ giấc và sự kiện cũng bị thay đổi cho hợp ý tác giả, kết quả khiến tôi trong lúc đọc bị rối lên, cứ phải giở phần trước để xem mình có bỏ qua chi tiết nào không. Rất may là trong cuốn này không có bạo hành phụ nữ hay lạm dụng tình dục, đọc cũng nhẹ nhõm được một chút. Tuy vậy, cách viết của tác giả khiến tôi chưa cảm nhận sâu sắc được lòng thương tiếc dành cho nạn nhân. Trong ít nhất hai cuốn trinh thám thuộc loạt truyện về Tracy Crosswhite của tác giả Robert Dugoni, khi biết được động cơ và cách thức gây án, tôi đã rơi lệ vì xót thương cho cái chết vô nghĩa của các nữ nạn nhân tuổi đời còn rất trẻ. Tuy cũng thưởng thức được một số cuốn trinh thám Nhật, cũng thích đọc trinh thám Trung (với điều kiện phải hợp gu) nhưng nhìn chung tôi ít do dự khi mua / đọc trinh thám hiện đại phương Tây, vì bất chấp chuyện thường phàn nàn về lối sống phóng túng của nhân vật trong trinh thám Âu Mỹ, tôi vẫn thích những yếu tố như cốt truyện mạnh mẽ, minh bạch, dễ đọc; nhịp truyện không quá chậm như trinh thám cổ điển, và nhất là thường áp dụng khoa học kỹ thuật khiến quá trình điều tra diễn tiến nhịp nhàng và hợp lý. Tuy vậy, tôi vẫn phàn nàn về lối sống phóng túng của nhân vật trong cuốn “Vị khách cuối cùng” này! Các mối quan hệ tình ái đan xen chằng chịt và sự buông thả của các nhân vật khiến tôi liên tưởng đến “Người tuyết” và “Mùa hạn kinh hoàng”. Đồng ý rằng sống thì phải tìm vui, nhưng tìm vui một cách cẩu thả để rồi sau đó bị vướng vào quá nhiều rắc rối thì rốt cuộc những khoảng khắc tìm vui đó có đáng không, có được gọi là “vui” không. Lại càm ràm về lỗi chính tả trong sách: “lẩn quẩn” bị viết nhầm thành “lẩn khuẩn”, và thêm một vài lỗi khác tôi lười nên không ghi chú lại. Tuy nhiên, có một lỗi to đùng lẽ ra phải đập vào mắt ngay trước khi in ấn nhưng đã bị bỏ qua: “Miranda” bị lỗi đánh máy thành “Mỉanda”, chữ này được in trong phần tên tác giả ngay góc trên bên phải của mỗi trang lẻ. Ngoài ra thì phần dịch thuật đọc cũng dễ hiểu, nếu có khó hiểu là do tôi không thấu triệt được dụng ý của tác giả. Hôm nọ tôi thoáng thấy thông tin rằng sách của tác giả Megan Miranda sắp được xuất bản tiếng Việt một cuốn nữa, tuy nhiên riêng tôi thì cho rằng cuốn đã đọc này sẽ “Vị khách cuối cùng” ghé thăm tôi từ tác giả Miranda. (Sea, 8-4-2021) Cảm ơn anh Vũ đã cho em Biển mượn sách  Trong hình, chiếc xe ở phía xa là của vị khách không phải cuối cùng. Weniger anzeigen *** Megan Miranda Là tác giả của những cuốn sách bán chạy nhất New York Time: Những cô gái mất tích, Người lạ mặt hoàn hảo và gần đây là Vị khách cuối cùng. Cô cũng sáng tác một vài cuốn sách nổi tiếng trong cộng đồng người trẻ như Hãy đến tìm tôi, Mảnh vỡ của sự mất mát và Lời nói dối vô hại nhất. Megan lớn lên ở New Jersey, tốt nghiệp Đại học MIT và hiện đang sống ở Bắc Carolina cùng chồng và hai con. Tìm hiểu về nữ nhà văn tài năng này qua Twitter và Instagram @MeganLMiranda hoặc ghé thăm trang web MeganMiranda.com. Tác phẩm: Vị Khách Cuối Cùng Kẻ Lạ Hoàn Hảo - Thị Trấn Nhỏ Với Những Bí Mật Lớn ... *** BỮA TIỆC CUỐI MÙA Đáng lẽ tôi phải quay lại tìm cô ấy; ngay khi cô ấy không tới tham dự bữa tiệc; ngay khi cô ấy không chịu bắt máy; ngay khi cô ấy không trả lời tin nhắn của tôi. Nhưng vì những ly rượu luôn cần được rót đầy, những chiếc xe đang tìm chỗ đỗ đã khiến tôi trở nên quay cuồng. Tôi đã được yêu cầu phải luôn để mọi thứ trong tầm mắt để bữa tiệc hôm đó diễn ra suôn sẻ. Nếu thấy tôi quay trở lại, thế nào cô ấy cũng lại cười thẳng vào mặt tôi rồi đảo đôi mắt tinh nghịch và nói: “Avery, mình có một người mẹ là quá đủ rồi!” Tôi biết tất cả những điều trên chỉ là lời biện bạch. Tôi đến địa điểm tổ chức tiệc sớm hơn tất cả mọi người. Bữa tiệc năm nay được tổ chức vào mùa hè tại một ngôi nhà cho thuê của gia đình nhà Loman. Ngôi nhà nằm phía sau những hàng cây và một con đường lớn, sân nhà không quá rộng, chỉ đủ chỗ cho hai chiếc ô tô đỗ. Nhà Loman đặt tên cho ngôi nhà là Blue Robin* vì tấm gỗ ốp quanh nhà có màu xanh da trời và mái nhà có hình dáng giống như mái của một ngôi nhà tổ chim. Tuy nhiên, tôi lại nghĩ ngôi nhà được đặt tên như vậy là vì nó nằm phía sau những hàng cây, sâu đến mức giống như một đốm sáng xanh hiện lên trên nền bóng tối mà chỉ có thể nhìn thấy rõ khi lại gần. Một loài chim đẻ trứng có màu xanh dương.  Tuy ngôi nhà không phải là một địa điểm lý tưởng bậc nhất hay là nơi có khung cảnh đẹp nhất cho các buổi tiệc tùng; tuy ngôi nhà ở quá xa để thấy biển và chỉ đủ gần mới có thể nghe thấy tiếng sóng rì rào khơi xa nhưng đây lại là nơi cách xa khách sạn Bed and Breakfast nhất, sân nhà cũng được bao quanh với những cây thường xanh* đẹp mắt được cắt tỉa gọn gàng nhất. Mong rằng các vị khách đến đây sẽ không ai than phiền hay chỉ để ý đến những điểm hạn chế của ngôi nhà. Là thuật ngữ khoa học dùng để chỉ cây rừng có lá tồn tại liên tục trong thời gian ít nhất là 12 tháng trên thân chính. Điều này khác biệt với các loài rụng lá hoặc là thân thảo (hàng năm hoặc lâu năm). Các ngôi nhà của nhà Loman cho thuê vào mùa hè đều có điểm chung là kiến trúc nội thất giống y như nhau. Điều này làm cho mỗi khi rời khỏi nhà hay sau khi dẫn khách đi tham quan, tôi đều cảm thấy như mất phương hướng. Một cái xích đu ở mái hiên thay vì đường lót sỏi, nhà ở gần biển thay vì gần núi. Mỗi ngôi nhà đều có lớp gạch lót giống nhau, cùng tông màu đá hoa cương, cùng phong cách nhà cổ mộc mạc. Các bức tường trong mỗi ngôi nhà đều được trang trí với những bức tranh về Littleport (Ngôi làng lớn nhất): ngọn hải đăng, những cánh buồm trắng ở hải cảng, những đợt sóng bọt tung trắng xóa đang vỗ vào các vách đá. Đá ở đây như đang cố gắng vươn mình trước những ngọn sóng, những hòn đảo ở phía xa thoắt ẩn, thoắt hiện theo dòng thủy triều. Littleport luôn mang một vẻ đẹp rất riêng: hoang dã, bí ẩn và tách biệt. Giờ thì tôi đã hiểu tại sao có nhiều người chấp nhận lái xe một đoạn đường dài chỉ để đến đây, tận hưởng cảm giác được nghỉ ngơi, đắm mình vào thiên nhiên. Một thị trấn được bao quanh bởi núi và biển, nhỏ bé và khiêm tốn, lối vào duy nhất là con đường dọc bờ biển đòi hỏi sự kiên nhẫn của người lái xe. Nơi đây tồn tại được hoàn toàn nhờ sự kiên cường trong đấu tranh chống lại sự tàn khốc của thiên nhiên. Nếu lớn lên ở đây, bạn sẽ có cảm giác con người mình cũng được tôi luyện bởi chính sự kiên cường đó. Tôi lấy những chai rượu còn lại trong thùng ra đặt lên bàn đá hoa cương, mang những món đồ trang trí dễ vỡ cất đi và bật đèn bể bơi. Tôi ra hiên sau ngồi và tự thưởng cho mình một ly rượu, lắng nghe những âm thanh theo gió từ biển vọng vào rì rào. Một cơn gió lạnh chớm thu lùa qua những kẽ lá khiến tôi rùng mình và phải kéo kín áo khoác để giữ ấm. Bữa tiệc này luôn được tổ chức vào những thời khắc chuyển mùa, một sự níu kéo cuối cùng của mùa hè trước khi trời sang thu và vào đông. Mùa đông ở nơi đây không chỉ lạnh thấu xương mà còn dài đằng đẵng. Những cơn gió lạnh có thể ùa đến rất nhanh, chỉ ngay khi tiệc tàn và các vị khách rời khỏi. Nhưng hàng năm, những bữa tiệc này luôn diễn ra trước khi mùa đông tới. Một đợt sóng nữa vỗ vào bờ, tôi nhắm nghiền mắt và nhẩm đếm từng giây. Chờ đợi! Bữa tiệc được tổ chức để tạm biệt mùa hè, nhưng mấy ngày hôm nay những cơn gió không biết từ đâu kéo nhau ùa tới khiến tôi nghĩ mùa hè đã bị cuốn theo những ngọn sóng trôi ra mãi xa kia rồi. Khi bữa tiệc bắt đầu trở nên náo nhiệt thì Luciana xuất hiện. Tôi không biết chị ấy tới từ khi nào nhưng khi tôi nhìn thấy thì chị ấy đã đứng ở đó, một mình lẻ loi trong nhà bếp. Dáng hình cao ráo nổi bật của chị dễ khiến người khác chú ý, vậy mà chị lại đang đứng bất động trước sự náo nhiệt của những hoạt động xung quanh. Có lẽ vì đây là lần đầu tiên chị tham gia bữa tiệc như thế này. Nó khác hẳn những bữa tiệc mà chị đã tham dự trong suốt mùa hè vừa qua, bữa tiệc chào đón chị đến với thế giới của Littleport, Maine. Tôi chạm nhẹ vào khuỷu tay của chị, bằng cảm nhận của mình tôi thấy nó lạnh toát. Chị giật mình quay ra nhìn tôi, rồi chị thở phào nhẹ nhõm, dường như chị thấy rất vui khi gặp tôi. “Bữa tiệc này không giống như những gì chị tưởng tượng một chút nào!” Chị ấy không chỉ ăn mặc rất lộng lẫy mà còn chuẩn bị rất chu đáo khi đến tham dự bữa tiệc này. Mái tóc uốn xoăn nhẹ, quần được thiết kế riêng phù hợp với đôi giày cao gót của chị. Cảm giác giống như chị đang chuẩn bị đi dự một bữa tiệc nhẹ buổi sáng hơn là một bữa tiệc buổi tối như thế này. Tôi mỉm cười hỏi chị: “Sadie có đi cùng chị không?”. Sau đó, tôi đưa mắt quan sát để tìm màu sắc quen thuộc là mái tóc vàng đậm được chẻ ngôi giữa, tóc hai bên được tết thành hai dải mỏng và kẹp gọn về phía sau, trông nó hồn nhiên như một đứa trẻ vậy. Tôi kiễng chân và cố dỏng tai tìm kiếm tiếng cười quen thuộc của cô. Luce lắc đầu, những lọn tóc xoăn nhẹ vờn qua vai chị. “Không, chị nghĩ là con bé vẫn đang đóng đồ. Parker chở chị tới đây rồi anh bảo là muốn đỗ xe ở Bed and Breakfast để sau bữa tiệc đi về sẽ tiện hơn.” Chị chỉ tay về hướng Bed and Breakfast, một ngôi nhà từ thời Victoria được cải tạo lại thành khách sạn với tháp chuông nhỏ và có mái hiên. Đứng ở đó bạn có thể nhìn bao quát gần như toàn bộ vùng Littleport, những phần đẹp nhất, từ hải cảng tới dải cát của bãi biển Breaker, một con dốc cạnh ngôi nhà dẫn thẳng ra biển, dẫn đến ngôi nhà của gia đình Loman ở phía Bắc thị trấn. “Anh ấy đáng lẽ không nên đỗ xe ở đó!” - Tôi vừa nói vừa lấy điện thoại ra khỏi túi. Làm sao mà giấu kín được bữa tiệc này với những người chủ của B&B khi mà tất cả các vị khách đều đỗ xe ở đó chứ? Luce nhún vai. Parker Loman luôn làm theo ý mình mà không bao giờ nghĩ đến hậu quả về sau. Tôi áp tai vào điện thoại, cố gắng nghe tiếng đổ chuông trong tiếng nhạc ầm ĩ. Xin chào, bạn đã gọi đến số của Sadie Loman... Tôi dập máy, cất điện thoại vào trong túi và đưa cho Luce một ly vang đỏ. “Của chị đây!” - Tôi nói. Mặc dù, câu mà tôi muốn nói lúc đó là: “Ôi Chúa ơi, hãy hít một hơi thật sâu và thư giãn đi nào!”, nhưng không hiểu toàn bộ vốn từ vựng của tôi đã bay đi đâu mất khiến cho mỗi cuộc trò chuyện giữa tôi và Luciana Suarez thường chỉ gói gọn trong vài từ. Luce nhận lấy ly rượu với thái độ kính cẩn nhất, đó là một trong những điểm tôi thích ở chị. Tôi chuyển những chai rượu đã uống gần hết ra một chỗ để tìm chai whiskey, loại rượu mà tôi biết là chị rất thích. Sau khi tôi rót rượu vào ly, chị nói: “Cảm ơn.” “Không có gì.” - Tôi đáp lại. Mặc dù tôi và chị đã biết nhau cả một mùa hè, nhưng cho đến tận bây giờ tôi vẫn chưa biết chị cảm nhận như thế nào về tôi, một đứa con gái sống bên cạnh phòng khách trong ngôi nhà của bạn trai chị. Bạn hay thù, đồng minh hay kẻ địch. Chị nghiêng người ghé lại gần tôi như để chia sẻ một điều gì đó bí mật, “Đến giờ chị vẫn chưa thể hiểu nổi bữa tiệc này!” Tôi cười: “Rồi chị sẽ hiểu thôi!” Luce đã rất băn khoăn về bữa tiệc này kể từ khi Parker và Sadie kể rằng, hai anh em họ cùng với bố mẹ của mình sẽ không rời khỏi đây vào Ngày lao động, thay vào đó, họ ở lại để dự bữa tiệc này. Mời các bạn đón đọc Vị Khách Cuối Cùng của tác giả Megan Miranda & Spencer (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Những Cột Trụ của Trái Đất - Ken Follett
Những Cột Trụ của Trái Đất của nhà văn Ken Follett về sự phản bội và niềm tin,  thể hiện sự hỗn loạn, quyền lực, chiến tranh cùng những lời nguyền trong nền quân chủ thế kỉ 20 ở Anh. Những Cột Trụ của Trái Đất thực sự là một chuyến đi đầy mê đắm và đầy màu sắc qua thế giới giả sử mà Follett đã tạo dựng nên. *** Ken Follett sinh ngày 05 tháng 6 năm 1949 tại Cardiff, Wales, Anh quốc, con trai lớn nhất của ông Martin, một vị thanh tra thuế vụ và bà Veenie Follett. Cũng như những vợ chồng trẻ sau thời Đệ Nhị Thế Chiến, cha mẹ cậu Ken không thể đầy đủ phương tiện để cho cậu con trai có được một cuộc sống vàng son nên rất tự nhiên, từ năm lên 7 tuổi, đã tự tưởng tượng ra cho mình những cuộc phiêu lưu của cậu. Cha mẹ Ken Follett lại là những người thiên chúa giáo rất sùng đạo, cấm cậu bé không được xem truyền hình, nghe radio hoặc đi xem ciné, nhưng Ken Follett đã vượt qua sự "cô lập" hàng ngày bằng thú đọc sách. Khi được 10 tuổi, gia đình Follett dời Cardiff về Luân Đôn sống. Tại đây Ken Follett hoàn tất trung học và theo học tại University College, London; cũng theo lời của Ken Follet việc chọn lựa triết học như một định mệnh để sau này cho phép ông liên kết giữa triết học và những chuyện hư cấu. Trong lúc chờ đợi những thành công, thực tế khá phũ phàng đuổi bắt Ken Follett: Cô bạn gái của chàng sinh viên triết học mang thai, hai người làm đám cưới và chỉ một thời gian thật ngắn sau đó Emanuele, một đứa bé trai ra chào đời vào tháng 7 năm 1968. Follet đóng hai vai trò cùng lúc vào lúc mới được 19 tuổi: Người sinh viên trẻ và người cha. Bấy giờ người ta đang ở vào thời kỳ cuối những năm 1960, chiến tranh Việt Nam đang trong giai đoạn cao điểm và Follett khởi sự đam mê chính trị. Tháng 9 năm 1970, sau khi tốt nghiệp triết học tại University College Luân Đôn, Ken Follett theo học cấp tốc 3 tháng về nghề ký giả rồi làm việc với tư cách phóng viên cho tờ South Wales Echo ở Cardiff. Rồi năm 1973 sau khi Marie Claire, cô con gái thứ hai ra chào đời, Ken về làm cho tờ Evening News tại Londres. Cùng lúc Ken Follett sáng tác những truyện hư cấu vào ban đêm và những ngày nghỉ cuối tuần. Năm 1974, Ken Follett bỏ nghề báo chí đến làm việc cho nhà xuất bản Everest Books. Cũng trong năm này, Ken Follett xuất bản hai tác phẩm đầu tiên: The Big Needle và The Big Black với bút hiệu Simon Myles. Năm 1975, tác phẩm The Big Hit được Follett cho xuất bản cũng với bút hiệu Symon Myles rồi sau đó tác phẩm The Shakeout với tên thật là Ken Follett. Nhờ vào những lời khuyến cáo của người đại lý văn chương, Al Zuckerman, sách dần dần bán khá chạy. Rồi tác phẩm Eye of the Needle ra đời, một tác phẩm trinh thám căng thẳng và độc đáo với một nhân vật nữ với cá tính khó thể quên được trong vai chính. Tác phẩm đã đoạt giải Edgar và ngay sau đó đã bán được hơn 10 triệu ấn bản - đưa Ken Follett lên hàng đầu những tác giả lừng danh cũng như đã cho phép Ken Follet tậu một ngôi biệt thự ở miền nam nước Pháp để sống và sáng tác. Ba năm sau, gia đình Follet trở về Anh; cư trú tại Surrey. Tại đây Ken Follett lao đầu vào những chương trình quyên góp qũy và trợ giúp vào những vận động bầu cử cho đảng Lao Động Anh. Trong lúc thực hiện những việc này Follett đã quen biết một nữ thành viên của đảng Xã Hội Anh mà ông sẽ lấy làm vợ vào năm 1985, Barbara Follet Broer cũng là dân biểu Stevenage từ năm 1997 và được bổ nhiệm chức vụ bộ trưởng trong chính phủ của thủ tướng Gordon Brown vào ngày 3 tháng 10 năm 2008. Ken Follett đã sáng tác 14 tập truyện trong 23 năm và hoàn toàn là những tác phẩm bestsellers. Sau 5 tập tiểu thuyết gián điệp với thành công vô cùng lớn : Eye of the Needle, Triple, The Key to Rebecca, The Man from St Petersburg và Lie Down with Lions, vào năm 1989 Ken Follett đã gây ngạc nhiên cho độc giả bằng sự thay đổi một cách triệt để với tác phẩm The Pillars of the Earth, một truyện đề cập tới việc kiến tạo một ngôi giáo đường vào thời Trung cổ. Tập sách xuất bản tháng 9 năm 1989 đã nằm trong bảng danh sách những bestsellers kéo dài suốt 18 tuần lễ và nằm hàng thứ 1 tại Canada, Anh, Ý, Đức (suốt 6 năm). Sách được chọn bởi Oprah Winfrey cho hiệp hội sách vào cuối năm 2007, "Pillars" thêm một lần nữa vẫn là một best seller 18 năm sau ngày xuất bản lần đầu tiên. Tiếp sau đó là Night over Water, A Dangerous Fortune, và A Place Called Freedom. Ken Follett lại viết truyện giật gân trở lại. The Third Twin một tiểu thuyết ly kỳ nóng bỏng với một nhân vật khoa học nữ bị vấp phải một kinh nghiệm bí mật về khoa di truyền học. Bản quyền truyện đã bán cho CBS với giá 1 triệu 400 ngàn dollars, kỷ lục cho một phim truyền hình ngắn 4 tiếng đồng hồ. The Third Twin được xếp hạng sách bán chạy thứ 2 trên thế giới sau tác phẩm của nhà văn Hoa Kỳ John Grisham trên hit parade những tiểu thuyết thành công. The Hammer of Eden, một tác phẩm hồi hộp hiện đại xuất bản năm 1998, sau đó Code to Zero xuất bản năm 2000, liên quan đến cuộc chiến tranh lạnh trong những năm 50 được đứng hàng thứ nhất trong danh sách best seller tại Hoa Kỳ, Đức và Ý. Ken Follett lại quay sang viết về thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến với hai tiểu thuyết: Tiếp đó là Jackdaws (2001), nói về những người nữ chiến binh quân đội đồng minh nhẩy dù xuống đất Pháp để phá hoại hệ thống thông tin liên lạc của quân đội Đức quốc xã, tiểu thuyết này đã đoạt giải Corine Prize năm 2003 rồi đến tiểu thuyết Hornet Flight xuất bản năm 2002 đề cập tới cuộc phiêu lưu của những người Đan Mạch trẻ tuổi bỏ trốn quê hương họ trên một chiếc máy bay hai cánh Hornet. Trong thời kỳ tìm kiếm tài liệu viết , Follett đã học lái một chiếc máy bay sưu tập cũ, chiếc Hornet Moth của cơ sở Havilland Aircraft Company. Whiteout, xuất bản năm 2004, đề cập về một chuyện đánh cắp một loại vi khuẩn giết người tại một phòng thí nghiệm... Tiểu thuyết được Ken Follett vừa cho xuất bản vào tháng 10 năm 2007 là World Without End, truyện được người đọc chờ đợi, tiếp theo của The Pillars of the Earth. Suốt 32 tuần lễ tác phẩm World Without End đứng trong bảng danh sách bestseller của tờ New York Times. Tính tới nay Ken Follett là một nhà văn có những tác phẩm bán nhiều nhất trên thế giới, hơn 100 triệu ấn bản. Mời các bạn đón đọc Những Cột Trụ của Trái Đất của tác giả Ken Follett.
Thương
Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Mỹ đoạt giải Nobel vừa được dịch ra tiếng Việt với tên gọi “Thương”. Sách do NXB Phụ Nữ và Công ty sách Alpha phối hợp ấn hành. Beloved được xuất bản tại Mỹ năm 1987 và đoạt giải Pulitzer năm 1988. Tác phẩm kể về cuộc đấu tranh sinh tồn của Sethe và cô con gái Denver sau khi thoát khỏi kiếp sống nô lệ. Một ngày, một cô gái trẻ xuất hiện tại ngôi nhà của hai mẹ con, tự xưng tên mình là “Beloved”. Sethe tin rằng đây chính là đứa con gái xấu số đã bị cô tự tay giết chết từ lúc hai tuổi để đánh đổi lấy sự sống cho mình và Denver. Cuốn tiểu thuyết dựa trên cuộc đời thực của một người phụ nữ da đen tên là Margaret Garner. Là sáng tác quan trọng nhất trong sự nghiệp văn chương của Toni Morrison, cuốn sách được đánh giá là: “Lịch sử thân phận cá nhân tải nặng cả một quá khứ tập thể. Một bản thánh ca dâng tặng tình yêu, tình mẫu tử. Một cuốn tiểu thuyết của lầm lỗi và lòng khoan dung, của sự lãng quên và nỗi ám ảnh, của cái chết cũng như sự hy sinh tất yếu và khát vọng sống mãnh liệt, của những dày vò đau đớn đối với tâm hồn và ngọn lửa yêu thương bất diệt”. Cuốn sách từng được bình chọn là tác phẩm văn học hay nhất của Mỹ 25 năm qua. Toni Morrison sinh năm 1931. Bà là nhà văn da đen đầu tiên của Mỹ đoạt giải Nobel Văn học (1993), ngoài Beloved (Thương), Morrison còn nổi tiếng với những tác phẩm như: The Bluest Eye (Con mắt xanh biếc), Song of Solomon (Bài ca của Solomon), Sula... *** I24 hằn học. Đầy nọc độc trẻ thơ. Những người đàn bà trong nhà biết thế và lũ trẻ cũng biết thế. Đã nhiều năm, mỗi người chịu đựng sự hằn học ấy theo cách riêng của mình, nhưng đến năm 1873, chỉ còn Sethe và con gái Denver là nạn nhân của nó. Bà nội Baby Suggs đã mất, và hai đứa con trai Howard và Buglar đã trốn đi khi chúng mười ba tuổi − khi chỉ nhìn vào gương thôi đã đủ làm nó vỡ tan (dấu hiệu cho Buglar); ngay sau khi hai vết bàn tay nhỏ hiện ra trên mặt chiếc bánh ngọt (thế là xong với Howard). Chúng không đợi để chứng kiến thêm nữa; thêm một nồi đậu đổ chất đống bốc khói trên sàn nhà; bánh quy giòn bóp vụn và rải dọc theo bệ cửa. Chúng cũng không đợi đến lúc mọi chuyện nguôi ngoai, khi nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng trôi qua mà không điều gì bị xáo trộn. Không. Từng đứa tức thì bỏ đi − ngay khi căn nhà phạm một điều đối với chúng là sự lăng mạ không chịu đựng nổi hay không thể chứng kiến đến lần thứ hai. Trong vòng hai tháng, ngay giữa mùa đông, chúng để mặc bà nội Baby Suggs, mẹ Sethe và em gái Denver tự mình xoay sở trong căn nhà trắng xám ở đường Bluestone. Lúc ấy nhà không có số, vì Cincinnati chưa kéo dài đến chỗ ấy. Thật ra, lúc thằng anh rồi đến đứa em nhồi chăn vào mũ, chụp đôi giày, và lẻn trốn khỏi sự hằn học dữ dội căn nhà dành cho chúng thì Ohio chỉ mới tự nhận là tiểu bang được bảy mươi năm. Baby Suggs không buồn nhấc đầu dậy. Từ giường bệnh bà nghe chúng đi, nhưng không phải vì vậy mà bà nằm yên. Với bà, chuyện lạ là mãi đến lúc ấy hai thằng cháu mới nhận ra không ngôi nhà nào giống như ngôi nhà trên đường Bluestone. Ở lưng chừng giữa cuộc sống khốn nạn và cái chết ác mó, rời bỏ cuộc đời hay tiếp tục sống bà đều không thiết tha, nói gì đến nỗi sợ của hai thằng cháu đang lẻn đi. Quá khứ của bà cũng giống như hiện tại − chịu không thấu − và vì bà biết rằng cái chết không là gì khác ngoài sự quên lãng, bà dùng chút hơi tàn để suy ngẫm về màu sắc. “Mang chút màu tím nhạt vào nếu con có. Nếu không, thì mang màu hồng.” ... Mời các bạn đón đọc Thương của tác giả Toni Morrison.
Những Quân Cờ Domino - Minh Nhật
"Ngay khi đó, cô bừng tỉnh. Tất cả chỉ là giấc mơ. Khanh nằm im lặng trong căn gác mái. Chút ánh sáng nhỏ nhoi từ cửa sổ hắt vào ngờ vực. Cô ngồi im, như sự tan mất những cảm xúc còn đọng lại trong mình. Giọt mocha cuối cùng của ảo mộng rót xuống tâm hồn Khanh những kỳ vọng lớn lao. Giấc mơ quá thật đến nỗi cô không muốn tỉnh dậy. Nếu cho Khanh quyền lựa chọn, cô sẽ không nhường  hoàng hôn đỏ rực đầy quyến rũ đó lại cho bất - kì - ai. Không một ai." Cuốn tiểu thuyết đầu tiên của "Hoàng tử teen story" Minh Nhật sau hàng loạt những tập truyện ngắn, tản văn gây sốt, một bước ngoặt trong con đường chinh phục độc giả bằng ngòi bút lôi cuốn đầy sức lay động của nhà văn trẻ này. *** Chủ nhật đẹp trời. Nắng tràn trề rực rỡ trên phố. Thứ nắng này luôn khiến người ta tưởng tượng đến một điều gì đó huy hoàng sắp xảy ra, nhưng thực ra sẽ chẳng có gì xảy ra, chỉ là nắng thôi. Những chùm bóng bay nhiều màu tỏa khắp mọi con đường, giống cảnh quay cuối cùng trong một bộ phim Pháp. Chút gió nhẹ cuối cùng tiễn mùa cũ, từng cành cây bên đường như ngả thấp xuống một chút sát với hơi thở của phố. Cuối cùng thì hè cũng đã đến. Điều khó chịu nhất khi sống ở một nước nhiệt đới là bạn sẽ phải liên tục thay đổi cảm xúc cho phù hợp với mùa. Mùa đông ngày càng ngắn lại, ai cũng có thể nhận thấy rõ điều đó. Nhiệt độ không phải thứ quyết định lối sống tại thành phố này, tuy thế bạn cũng phải có một tủ quần áo đa dạng đủ để không trở nên ngớ ngẩn mỗi khi hè sang đông tới. Khanh thử đi thử lại mớ quần áo trong tủ, cái thì ngắn quá, cái thì nực nội, cái vừa thì lại không biết mặc gì cho hợp, cái hợp với nhau thì lại không hợp với cô. Quả là bi kịch. Một nghiên cứu nhỏ chỉ ra rằng phụ nữ tốn khoảng sáu năm trong cuộc đời chỉ dành riêng cho việc đứng trước gương mỗi ngày thay ra mặc vào mớ vải đủ màu sắc, cá nhân Khanh cho rằng nói như vậy có vẻ hơi quá. Nhưng nếu bạn đã bắt đầu dễ dãi với bản thân trong việc đắp gì lên người cũng ra đường được, thì xin chúc mừng, bạn sắp ế chồng. Tuy còn đến gần mười năm mới phải lo về thảm kịch ấy, Khanh đã mường tượng ra được viễn cảnh từ người dì của mình – một người phụ nữ luôn là chủ đề dèm pha của cả họ hàng gia tộc anh em gần xa gà mèo chim chuột mỗi khi họ có dịp tụ tập lại – một bữa giỗ hay tất niên chẳng hạn. Bản thân cô, hai mươi tuổi, chẳng phiền muộn cuộc đời, mỗi ngày chỉ ăn một bữa rưỡi, ngủ sau mười hai giờ, vẫn còn dán poster một boyband thần tượng ngay đầu giường; nhưng đã sớm ý thức được rằng phụ nữ dẫu có đẹp mấy mà không sớm được nhấc đi trước khi đầu ba ập tới, thì nhất định sẽ thành một của nợ không hơn không kém trong đại gia đình. Có ai đó nói rằng phụ nữ qua hai mươi tám tuổi mà vẫn chưa lấy chồng thì giống như là cái quạt gió giữa mùa đông – đến bố mẹ bạn còn chẳng hiểu nhiệm vụ của bạn trong nhà là gì, nữa là người khác. ... Mời các bạn đón đọc Những Quân Cờ Domino của tác giả Minh Nhật.
Sơn Ca Vẫn Hót
Câu chuyện xoay quanh 2 chị em Isabelle (biệt danh "Sơn ca") và Vianne tham gia kháng chiến, sẵn sàng nhận những nhiệm vụ đầy thách thức trong cuộc chiến tranh năm 1939 tại Pháp. *** Kristin Hannah là tác giả Mỹ đoạt giải và nhà văn ăn khách của hơn 20 tiểu thuyết, bao gồm cả bom tấn quốc tế.  Các tác phẩm tiêu biểu: A Handful of Heaven, The Enchantment, Once in Every Lifetime, If You Believe, When Lighting Strikes, Waiting for the Moon, Home Again, On Mystic Lake, Angel Falls, Summer Island, Distant Shores, Betwwen Sisters, The Thing We Do for Love, Comfort & Joy, Magic Hour… Sơn ca vẫn hót (The Nightingale), là tựa sách đoạt giải Tiểu thuyết lịch sử hay nhất do bạn đọc bình chọn trên Goodreads năm 2015, và thắng giải Bạn đọc bình chọn ở hạng mục sách hay cùng năm. Cô cũng đoạt giải Sách hay nhất của năm trên trang Amazon, iTunes, Buzzfeed, thời báo Wall Street Journal, Paste, và The Week. Sơn ca vẫn hót hiện đang hoàn tất khâu sản xuất tại hãng phim Tri Star, với sự chỉ đạo của đạo diễn giành được nhiều giải thưởng Michelle MacLaren. Home Front đã được hãng phim 1492 Film (nhà sản xuất của bộ phim đề cử Oscar The Help) lựa chọn để dựng thành phim, với Chris Colombus viết kịch bản, sản xuất, và đạo diễn. Cuốn Between Sisters từng được chương trình The Early Show của kênh CBS chọn là một trong những cuốn sách hay nhất trong mùa hè. Những điều chúng ta làm vì yêu là một câu chuyện đầy sâu lắng, trọn vẹn để tôn vinh sự kỳ diệu của tình mẫu tử, những niềm vui sướng khi được trở về nhà, và nhận được kết quả xứng đáng của tình yêu. Tác giả ăn khách nhất của Thời báo New York Times “đã chạm vào nơi sâu lắng nhất, đa cảm nhất trong từng góc nhỏ của trái tim chúng tôi.” (tác giả Tami Hoag).  “Hannah nắm bắt được niềm vui và nỗi đau trong một gia đình khi cuốn hút người đọc vào cuộc đời các nhân vật của cô và khiến họ cảm thấy như những người bạn thân quen, một lần nữa chứng tỏ cô là ngôi sao trong thể loại văn học hư cấu về người phụ nữ.” (Booklist) “Hannah rất giỏi đi sâu vào tâm lý của các nhân vật chính và khắc họa những sắc thái của cảm xúc.” (The Washington Post Book World) “Vô cùng thú vị… Hannah có đôi tai nhậy cảm với lời thoại và khả năng thiên phú đưa người đọc xâm nhập vào trong đầu nhân vật.” (The Seattle Times) “Cuốn sách tuyệt vời này là một ví dụ kinh điển cho những câu chuyện vô cùng xúc động và kích thích tư duy, sở trường của Hannah. Sự ấm áp và đa dạng của các nhân vật đã chạm tới được những cảm xúc sâu kín nhất.” (Romantic Times) *** Những ánh đèn sẽ tắt trên toàn cõi châu Âu; Cả đời chúng ta sẽ không thấy chúng sáng trở lại nữa. SIR EDWARD GREY, VỀ THẾ CHIẾN I   Tháng Tám năm 1939 Pháp Vianne Mauriac rời khỏi căn bếp lạnh lẽo với những bức tường trát vữa giả đá và bước ra sân trước. Trong buổi sáng hè đẹp nắng này ở thung lũng sông Loire, mọi thứ thật rực rỡ. Những tấm khăn trải giường màu trắng bay lật phật trong gió, đám hoa hồng xô nhau hé cười dọc theo tường rào bằng đá ngăn giữa ngôi nhà của chị với con đường. Hai chú ong cần mẫn lượn quanh những bông hoa. Vianne nghe thấy tiếng một đoàn tàu rền rĩ xa xăm, sau đó là tiếng cười đáng yêu của một bé gái. Sophie. Vianne mỉm cười. Chắc đứa con gái tám tuổi của chị đang chạy quanh nhà, khiến bố con bé phải làm đủ thứ để vừa lòng nó trong lúc chuẩn bị cho chuyến dã ngoại ngày thứ Bảy của cả nhà. - Con gái em đúng là một bạo chúa. - Antoine lên tiếng khi xuất hiện trên ngưỡng cửa. Anh đi về phía vợ, mái tóc bóng mượt loang loáng dưới ánh nắng. Anh vừa tút tát lại đồ nội thất sáng nay - chà giấy ráp một cái ghế đã nhẵn bóng - nên trên mặt và vai anh có một lớp bụi gỗ mỏng. Anh cao lớn, vai rộng, khuôn mặt chữ điền, và có một lớp râu mỏng đen nhánh luôn đòi hỏi phải nỗ lực để ngăn nó trở thành một hàm râu rậm rì. Antoine vòng một cánh tay quanh người Vianne và kéo vợ sát vào người anh. - Anh yêu em, V. - Em cũng yêu anh. Trên thế giới này không còn điều gì chân thật hơn thế. Vianne yêu mọi thứ nơi người đàn ông này: nụ cười của anh, cách anh lầm bầm trong khi ngủ, cười ngượng nghịu sau khi hắt hơi, và hát ông ổng trong lúc tắm. Chị đã phải lòng anh từ mười lăm năm trước, trên sân trường, trước cả khi hiểu được tình yêu là gì. Anh là tất cả những điều đầu tiên đối với chị - nụ hôn đầu, mối tình đầu, người yêu đầu. Trước khi gặp Antoine, Vianne chỉ là một con bé gầy như que củi, vụng về, hay lo lắng và nói lắp bắp mỗi khi sợ hãi, mà sợ hãi là chuyện khá thường xuyên. Một đứa con gái mồ côi mẹ. - Giờ con sẽ là người lớn trong nhà, - ba đã nói với Vianne như thế khi họ đến ngôi nhà này lần đầu tiên. Lúc đó Vianne mới mười bốn tuổi, mắt đỏ hoe và đau buồn không chịu nổi. Chỉ trong một khoảnh khắc, ngôi nhà này đã từ một chỗ nghỉ mát của gia đình trở thành một dạng nhà tù. Mẹ mất chưa được hai tuần, ba của Vianne đã từ bỏ vai trò người cha. Khi họ đến đây, ông không còn nắm tay hay đặt tay lên vai con gái, hay thậm chí là đưa cho nó một cái khăn mùi xoa để thấm nước mắt. - Nhưng con... con còn nhỏ mà, - Vianne đã nói như thế. - Con không còn nhỏ nữa. Lúc đó Vianne đã nhìn xuống đứa em gái, Isabelle, một đứa bé bốn tuổi chỉ biết mút ngón tay và chẳng hiểu được chuyện gì đang diễn ra. Isabelle cứ hỏi đi hỏi lại khi nào thì mẹ về. Khi cửa nhà bật mở, một phụ nữ có cái mũi như vòi nước và hai con mắt nhỏ xíu, đen thui như quả nho khô xuất hiện. - Bọn trẻ đây à? - Người phụ nữ hỏi. Cha Vianne gật đầu. - Chúng sẽ không gây rắc rối cho ông nữa. Chuyện đó diễn ra rất nhanh. Vianne không thực sự hiểu hết. Người cha rũ bỏ hai đứa con gái như người ta thay quần áo bẩn và để chúng lại với một người xa lạ. Hai đứa bé chênh tuổi nhau quá nhiều, đến nỗi dường như chúng không phải chị em ruột. Vianne muốn dỗ Isabelle, nhưng bản thân còn đang đau buồn tới mức chẳng thể nghĩ đến ai khác, đặc biệt là một đứa bé cứng đầu, nóng nảy và ồn ào như em gái mình. Còn nhớ những ngày đầu tiên ở đây, Isabelle cứ khóc ré lên và bị bà kia đánh đòn. Vianne phải xin cho con bé và cứ nhắc đi nhắc lại: “Chúa ơi, Isabelle, đừng khóc nữa. Nghe lời đi em”. Nhưng dù chỉ mới bốn tuổi, Isabelle đã tỏ ra là một đứa bất trị. Vianne đã trở nên tuyệt vọng vì tất cả chuyện đó - nỗi đau mất mẹ, nỗi buồn bị cha bỏ rơi, sự thay đổi gia cảnh đột ngột, và việc đòi mẹ đến ngán ngẩm của Isabelle. Chính Antoine là người đã cứu Vianne. Mùa hè đầu tiên sau cái chết của mẹ, hai đứa đã không thể tách rời nhau được. Với Antoine, Vianne đã tìm được một lối thoát. Năm mười sáu tuổi Vianne đã mang thai, và đến năm mười bảy thì kết hôn, trở thành bà chủ của Le Jardin. Hai tháng sau, Vianne sẩy thai và hoang mang, bối rối một thời gian. Không có cách nào khác hơn để diễn tả điều đó. Vianne thu mình lại với nỗi đau buồn và để nó vây kín mình, không thể quan tâm đến bất kỳ ai, hay bất kỳ điều gì, đặc biệt là đứa em gái nhỏ ưa khóc lóc vòi vĩnh. Nhưng chuyện đó đã qua rồi. Đó không phải là ký ức mà Vianne muốn nghĩ đến trong một ngày đẹp trời như hôm nay. Chị dựa người vào chồng trong lúc đứa con gái chạy đến chỗ hai người, tuyên bố: - Con xong rồi. Mình đi thôi. - Ồ. - Antoine nhăn mặt. - Công chúa đã sẵn sàng, chúng ta phải lên đường thôi. Vianne mỉm cười quay trở vào nhà để lấy chiếc mũ treo trên cái móc cạnh cửa. Vốn có mái tóc vàng hoe ánh đỏ, làn da trắng sứ và đôi mắt xanh, chị luôn phải bảo vệ mình khỏi ánh nắng. Trong lúc chị đội chiếc mũ rơm rộng vành, lấy đôi găng tay ren và chiếc làn đựng đồ ăn, Sophie và Antoine đã ra khỏi cổng. Vianne nhập bọn với hai cha con trên con đường đất trước nhà Nó chỉ vừa đủ rộng cho một chiếc xe hơi chạy qua. Bên kia đường là những đồng cỏ mênh mông, điểm xuyết cỏ xanh, hoa anh túc đỏ, thanh cúc lam, và những cánh rừng. Trong khu vực này của thung lũng sông Loire, những cánh đồng thích hợp để trồng cỏ khô hơn là trồng nho. Chỉ cách Paris chưa đầy hai giờ xe lửa, nhưng nó giống như một thế giới khác hẳn. Khách du lịch ít khi đến đây, kể cả trong dịp hè. Thỉnh thoảng một chiếc xe hơi bình bịch chạy qua, hoặc một chiếc xe đạp, xe bò, nhưng chủ yếu chỉ có gia đình họ trên đường. Họ sống cách Carriveau khoảng một cây số rưỡi, thành phố chưa đến một ngàn dân được biết đến như một điểm dừng chân trên con đường hành hương đến với thánh Jeanne d’Arc. Thành phố không có ngành công nghiệp nào, và chỉ có rất ít việc làm - ngoại trừ những chỗ làm ở sân bay, niềm tự hào của Carriveau. Đó là sân bay duy nhất của cả vùng. Ở Carriveau, các con đường nhỏ hẹp lát đá cuội len lỏi giữa những tòa nhà xây bằng đá vôi nép vào nhau một cách vụng về. Vữa rơi ra từ những bức tường đá, dây thường xuân che giấu sự sụp đổ khó thấy bằng mắt nhưng luôn cảm nhận được. Trải qua nhiều thế kỷ, ngôi làng đã được xây dựng theo kiểu chắp vá từng phần: những con đường cong queo, những bậc thang khấp khểnh và ngõ cụt. Màu sắc làm cho các tòa nhà trông sống động hơn: bạt đỏ căng trên khung sắt đen, ban công tô điểm những cây phong lữ trồng trong chậu sành. Đâu đâu cũng thấy thứ gì đó hút mắt: một khay bánh hạnh nhân với các tông màu nhạt, những chiếc làn đan bằng cành liễu đầy phô mai, giăm bông và xúc xích khô, những thùng cà chua, cà tím và dưa chuột đầy màu sắc... Các quán cà phê đông khách trong một ngày Chủ nhật đẹp trời. Cánh đàn ông ngồi quanh những chiếc bàn sắt, uống cà phê và hút thuốc lá tự cuốn, tranh luận sôi nổi. Đó là một ngày như mọi ngày ở Carriveau. Ông LaChoa đang quét quáy phía trước tiệm bán xa lát, bà Clonet lau tủ kính bày bán mũ, một nhóm các cậu thiếu niên sánh vai nhau đang đi bát phố, chuyển tay nhau một điếu thuốc lá và đá tung những món rác rưởi trên đường. Khi đến cuối thành phố, cả nhà rẽ về phía dòng sông. Tại một bãi cỏ phẳng phiu bên bờ sông, Vianne đặt làn đồ ăn xuống và trải khăn dưới bóng một cây dẻ. Chị lấy từ trong làn ra một ổ bánh mì que nóng giòn, một miếng phô mai béo ngậy, hai quả táo, vài lát giăm bông Bayonne, và một chai Bollinger’36. Chị rót cho chồng một ly champagne rồi ngồi xuống bên cạnh anh trong khi Sophie chạy ra bờ sông. Ngày hôm ấy trôi qua trong bầu không khí khoan khoái ấm áp của mùa hè. Họ trò chuyện, cười đùa và ăn uống. Chỉ đến cuối ngày, khi Sophie đã vác cần đi câu cá và Antoine đang làm cho cô bé một vòng hoa cúc đội đầu, anh mới nói: “Hitler sẽ sớm lôi tất cả chúng ta vào cuộc chiến tranh của hắn.” Chiến tranh. Đó là tất cả những gì người ta nói tới trong những ngày ấy, nhưng Vianne không muốn nghe nhắc đến nó. Đặc biệt là trong một ngày hè đẹp trời như thế. Chị khum tay che mắt quan sát con gái. Bên kia dòng nước, thung lũng sông Loire được canh tác cẩn thận và tỉ mỉ. Không có hàng rào, ranh giới, chỉ có những cánh đồng xanh mướt trải dài nhiều dặm, các mảng rừng và đây đó những ngôi nhà hoặc kho chứa xây bằng đá. Nhiều bông hoa nhỏ xíu màu trắng bay lơ lửng trong không khí, tựa như những túm bông nhỏ. Vianne đứng dậy và vỗ tay. - Sophie, đến giờ về rồi con. - Em không thể phớt lờ chuyện này được đâu, Vianne. - Em có cần phải bận lòng không? Mà tại sao chứ? Mẹ con em có anh bảo vệ đây rồi. Nói đoạn Vianne bật cười, có lẽ hơi to quá mức. Chị thu dọn đồ dã ngoại rồi dẫn cả nhà quay về con đường đất. Chưa đầy ba mươi phút sau, họ đã ở trước cánh cổng gỗ vững chãi của Le Jardin, trang viên của gia tộc chị từ ba trăm năm qua. Ngôi nhà hai tầng xây bằng đá đã ngả màu xám theo thời gian, có các cửa sổ cánh chớp màu xanh dương nhìn ra vườn cây. Dây thường xuân leo lên tận hai ống khói và phủ kín lớp gạch. Diện tích của khu đất chỉ còn lại bảy mẫu. Hai trăm mẫu đã bị bán đi trong hai thế kỷ, khi tình hình tài chính của gia đình suy sụp dần. Bảy mẫu là quá đủ đối với Vianne. Chị không nghĩ mình cần nhiều hơn thế. Vianne đóng cửa lại sau khi mọi người đã vào nhà. Trong bếp, xoong chảo bằng đồng và gang được treo phía trên bếp lò. Những bó oải hương, hương thảo và cỏ xạ hương được treo trên xà nhà. Ngoài ra còn một cái chậu bằng đồng đã gỉ xanh qua năm tháng, đủ to để tắm cho một con chó nhỏ. Theo thời gian, lớp thạch cao trên tường đã bong tróc nhiều chỗ. Phòng khách là một sự pha trộn lung tung các món đồ và vải trang trí: ghế trường kỷ bọc dạ, thảm Aubusson, đồ gốm cổ Trung Hoa, rèm hoa và tranh vải. Một vài bức tranh treo trên tường rất đẹp và có thể được giá, số còn lại có vẻ nghiệp dư. Bao trùm lên tất cả là nét lộn xộn chắp vá của tình trạng sa sút tiền nong và gu thẩm mỹ lỗi thời, hơi tồi tàn, nhưng dễ chịu. Vianne dừng lại trong phòng khách và nhìn qua cửa kính trông ra sân sau, nơi Antoine đang đẩy Sophie trên chiếc xích đu anh làm cho con bé. Chị nhẹ nhàng treo mũ lên cái móc cạnh cửa rồi với lấy chiếc tạp dề, mặc vào người. Trong khi hai bố con chơi ngoài trời, Vianne nấu bữa tối. Chị bọc một miếng thăn lợn trong khoanh thịt hun khói cắt dày, buộc dây nhiều vòng rồi rán vàng trong dầu nóng. Trong lúc món thịt lợn được nướng trong lò, Vianne chuẩn bị các món ăn còn lại. Đúng tám giờ tối, chị gọi cả nhà vào dùng bữa rồi mỉm cười mãn nguyện khi nghe thấy tiếng chân chạy rầm rập, tiếng trò chuyện vui vẻ và tiếng kéo ghế ken két bên bàn ăn. Sophie ngồi ở đầu bàn, con bé đội vòng hoa cúc mà bố đã làm cho ở bờ sông. Vianne đặt đĩa thức ăn lên bàn. Một mùi thơm phức bốc lên - thịt lợn nướng và thịt xông khói rán giòn nấu táo, bên trên phủ một lớp nước xốt rượu vang béo ngậy, bên dưới là một lớp khoai tây nướng. Cạnh đó là một bát đậu Hà Lan tươi rưới bơ và rắc lá ngải giấm nhà trồng. Và để dùng kèm thì không thể thiếu bánh mì mà Vianne đã nướng sáng hôm qua. Như thường lệ, Sophie huyên thuyên suốt trong bữa ăn. Về khoản này thì con bé giống y hệt dì Isabelle của nó, không thể giữ mồm giữ miệng được. Cuối cùng, lúc họ ăn đến món tráng miệng - île flottante, đảo trứng nổi trên một lớp kem Anh -, sự im lặng hài lòng bao trùm quanh bàn ăn. - Thôi. - Cuối cùng Vianne đẩy món tráng miệng mới ăn hết một nửa của mình sang một bên và tuyên bố. - Đến lúc rửa bát rồi. - Mẹ ơi... - Sophie mè nheo. - Không được làm nũng. - Antoine nói. - Con lớn rồi. Vianne và Sophie đi vào trong bếp như mọi buổi tối. Hai người đứng vào vị trí - Vianne cạnh cái chậu đồng, Sophie cạnh cái bàn đá - và bắt đầu rửa rồi lau khô bát đĩa. Vianne có thể ngửi thấy thứ mùi ngòn ngọt và hơi gắt của điếu thuốc mà Antoine hút sau bữa tối phảng phất trong nhà. - Hôm nay bố chẳng thèm cười với mấy câu chuyện con kể. - Sophie nói trong lúc Vianne xếp đĩa lên chiếc kệ gỗ treo tường. - Bố bị làm sao ấy. - Không cười á? Ờ, chuyện đó cũng đáng báo động đấy. - Bố đang lo lắng vì chiến tranh. Chiến tranh. Lại nữa rồi. Vianne xua con gái ra khỏi bếp. Hai mẹ con lên gác rồi vào phòng của Sophie. Chị ngồi trên chiếc giường đôi, lắng nghe con gái huyên thuyên trong khi thay đồ ngủ; đánh răng và lên giường. Chị cúi xuống hôn con bé. - Con sợ lắm. - Sophie nói. - Chiến tranh sắp xảy ra ạ? - Đừng sợ. - Vianne nói. - Bố sẽ bảo vệ mẹ con mình. Nhưng ngay khi nói câu vừa rồi, chị chợt nhớ ngày trước mẹ cũng từng bảo chị đừng sợ. Đó là khi cha Vianne ra chiến trường. Sophie có vẻ chưa yên tâm. - Nhưng mà... - Không nhưng nhị gì cả. Con không việc gì phải lo lắng. Giờ thì ngủ đi. Vianne hôn Sophie lần nữa và để môi mình nấn ná lâu hơn trên má con bé. Chị xuống cầu thang rồi bước ra sân sau. Trời đêm khá oi bức, không khí đượm mùi hoa nhài. Chị tìm thấy Antoine đang ngồi ở chiếc ghế uống cà phê bằng sắt đặt trên bãi cỏ, chân choãi ra, người ngả sang một bên. Chị đến bên cạnh và đặt một tay lên vai chồng. Antoine nhả khói, rồi rít một hơi thuốc dài. Sau đó anh ngước nhìn vợ. Dưới ánh trăng, khuôn mặt anh tái nhợt và u ám, gần như không thể nhận ra. Anh thò tay vào trong túi áo và lôi ra một tờ giấy. - Anh bị động viên rồi, Vianne. Cùng với hầu hết đàn ông tuổi từ mười tám đến ba lăm. - Động viên? Nhưng... chúng ta chưa có chiến tranh mà? Em không... - Thứ Ba tới anh sẽ phải lên đường. - Nhưng... nhưng... anh chỉ là một bưu tá. Anh nhìn sâu vào đôi mắt chị, khiến chị đột nhiên nghẹn ngào. - Giờ anh đã là một người lính. Hình như thế. Mời các bạn đón đọc Sơn Ca Vẫn Hót của tác giả Kristin Hannah.