Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Lê Thánh Tông 1442-1497 PDF (NXB Hàn Thuyên 1943) - Chu Thiên

Lê Thánh Tông tên thật là Lê Tư Thành, là con thứ tư của Lê Thái Tông. Cuối năm 1442, Hoàng đế Thái Tông mất, Thái tử Lê Bang Cơ lên ngôi tức Lê Nhân Tông, phong Tư Thành làm Bình Nguyên vương. Năm 1459, người con cả của Thái Tông là Lê Nghi Dân đột nhập cung cấm giết vua Nhân Tông. Nghi Dân tự lập làm vua, cải phong Tư Thành làm Gia vương. Nghi Dân chỉ ở ngôi được 8 tháng. Ngày 6 tháng 6 âm lịch năm 1460, các tể phụ Nguyễn Xí, Đinh Liệt, làm binh biến, bức tử Nghi Dân. Hai ngày sau, họ bàn nhau đón Tư Thành nối ngôi. Lê Thánh Tông lên ngôi Hoàng đế, xưng làm Thiên Nam Động chủ, đặt niên hiệu là Quang Thuận, sau đổi thành Hồng Đức.Lê Thánh Tông 1442-1497NXB Hàn Thuyên 1943Chu Thiên256 TrangFile PDF-SCAN

Nguồn: dantocking.com

Đọc Sách

TẠO LẬP VŨ TRỤ VÀ SINH HÓA MUÔN LOÀI VẠN VẬT
Những lời tiên tri về Thiên Cơ ( Bộ Máy Trời) thường được giữ kín bằng ẩn ngữ, vì tục ngữ có câu "Có Trời mà cũng có ta". Bộ máy Trời do Đấng Sáng Tạo ấn định trước bằng Luật Thiên Điều với Tam Giáo Tòa và những luật trong thiên nhiên như: Luật Âm Dương, Nhân Quả, Luân Hồi, Hy Sinh và Tiến Hóa theo chu kỳ và sự quân bình công bằng trong trời đất. Tuy nhiên, ở Hậu Thiên thì loài người có thể tự điều chỉnh luật Trời, tự sửa đổi số mạng mình bằng cách trả nợ hay nghiệp cũ, tạo phước mới và tu tiến thì Luật Trời cũng phải theo con người, vì "Thuận nhơn tức là thuận Thiên, thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong". Những lời tiên tri về Thiên Cơ ( Bộ Máy Trời) thường được giữ kín bằng ẩn ngữ, vì tục ngữ có câu "Có Trời mà cũng có ta". Bộ máy Trời do Đấng Sáng Tạo ấn định trước bằng Luật Thiên Điều với Tam Giáo Tòa và những luật trong thiên nhiên như: Luật Âm Dương, Nhân Quả, Luân Hồi, Hy Sinh và Tiến Hóa theo chu kỳ và sự quân bình công bằng trong trời đất. Tuy nhiên, ở Hậu Thiên thì loài người có thể tự điều chỉnh luật Trời, tự sửa đổi số mạng mình bằng cách trả nợ hay nghiệp cũ, tạo phước mới và tu tiến thì Luật Trời cũng phải theo con người, vì "Thuận nhơn tức là thuận Thiên, thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong".Nói riêng Trái Đtấ hay Quả Cầu 68 nầy thì Hậu Thiên đã có hằng tỉ năm rồi. Đã có không biết số lần chu kỳ và không biết bao nhiêu nền văn minh đã bị chôn vùi dù nền văn minh khoa học vật chất rất cao hơn cả nền văn minh hiện nay và những người còn sống sót phải làm lại từ A,B,C cho nền văn minh kế tiếp. Những chu kỳ : Thành, Trụ, Hoại, Diệt lớn của Vũ Trụ lại có những chu kỳ nhỏ. Nói riêng Trái Đtấ hay Quả Cầu 68 nầy thì Hậu Thiên đã có hằng tỉ năm rồi. Đã có không biết số lần chu kỳ và không biết bao nhiêu nền văn minh đã bị chôn vùi dù nền văn minh khoa học vật chất rất cao hơn cả nền văn minh hiện nay và những người còn sống sót phải làm lại từ A,B,C cho nền văn minh kế tiếp. Những chu kỳ : Thành, Trụ, Hoại, Diệt lớn của Vũ Trụ lại có những chu kỳ nhỏ.
THẦN TIỀN - TẢN-ĐÀ NGUYỄN KHẮC HIẾU
Có nhiều là giầu Có nhiều là giầuCó ít là nghèo Có ít là nghèoAi mà không có Ai mà không cóKhốn khó trăm điều! Khốn khó trăm điều!Thần Tiền! Cuốn tiểu thuyết đối thoại của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu tiên sinh làm vào khoảng 1917-1919 tả hai đồng bạc con gái năm canh nói chuyện với nhau về công dụng đồng tiền ở thế giới và tội ác của xã hội vì tiền mà sinh ra: nhất là những tội ac tiền ở xã hội ta hồi bấy giờ. Kết luận tác giả cho là người ta chỉ sỡ dĩ vì tiền mà mắc vào tội ác chỉ ở sự kém đạo đức. Nếu làm cách nào cho người ta giầu lòng đạo đức lên thì công dụng và ích lợi của đồng tiền lại vô giá. Thần Tiền! Cuốn tiểu thuyết đối thoại của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu tiên sinh làm vào khoảng 1917-1919 tả hai đồng bạc con gái năm canh nói chuyện với nhau về công dụng đồng tiền ở thế giới và tội ác của xã hội vì tiền mà sinh ra: nhất là những tội ac tiền ở xã hội ta hồi bấy giờ. Kết luận tác giả cho là người ta chỉ sỡ dĩ vì tiền mà mắc vào tội ác chỉ ở sự kém đạo đức. Nếu làm cách nào cho người ta giầu lòng đạo đức lên thì công dụng và ích lợi của đồng tiền lại vô giá.