Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Thanh Lâu - Tập 2

Tôi là người phụ nữ khổ nhất thế giới (Tự bạch của nhân vật chính) Tôi sinh ra vào thời kỳ đầu những năm 30 trong cuộc hỗn chiến quân phiệt. Vừa sinh ra cõi đời, tôi hoàn toàn không được lựa chọn, phải sống cảnh đói nghèo, khổ nạn và gian nguy. Bảy tuổi mất mẹ, tôi thành cô nhi, chín tuổi bị bán vào công quán làm kẻ hầu hạ, mười tuổi lưu lạc làm ăn xin, mười một tuổi vào đại vũ đoàn Hóa Nghinh tập võ học kịch, mười hai tuổi làm con dâu, mười bốn tuổi bị người ta gạt bán vào kỹ viện làm kỹ nữ. Tuy thân mang tuyệt kỹ, cũng từng thi triển võ công để phản kháng, nhưng tôi không thể thoát khỏi hắc động của xã hội ghê gớm đó. Trong cuộc sống bán thân bán nụ cười, tôi bị người ta bán như bán súc vật, từ Thành Đô đến Bảo Kê, đến Lan Châu, chuyển bán qua ba thành phố lớn, bốn kỹ viện. Tôi, thân nô lệ phải theo họ của chủ nhân, từng có sáu cái tên: Lưu Hồng Chi, Khang Tiểu Muội, Tô Thu Chi, Điền Thanh Đệ, Mã Hương Ngọc, Thù Hương Ngọc. Trong sáu tên này, thời gian gọi tên Khang Tiểu Muội là dài nhất, vì lúc này tôi mười một tuổi tập võ học kịch, trưởng đoàn ban ân, cho tôi giả làm cháu của Khang Tử Lâm thuộc hàng thái sơn bắc đẩu của võ học Tứ Xuyên. Tôi từng tiếp khách là sĩ quan Mỹ, cũng từng tiếp qua nhân vật trọng yếu của Quốc Dân Đảng là Hồ Tông Nam, Mã Bộ Phương. Cuối cùng tôi theo Ngụy Sấu Bằng lớn hơn tôi ba mươi tám tuổi, là thư ký của tướng quân Phùng Ngọc Tường. Từ đó tôi thoát khỏi hầm chông sống đời hoàn lương. Tháng 8 năm 1949, Lan Châu giải phóng, tôi bước lên bến bờ mới, làm lại con người mới, cũng từ đây tôi chính thức có một cái tên công dân thuộc về mình, trong nước Trung Quốc mới – Khang Tố Trân. Nhớ lại chuyện cũ, những chị em trong thanh lâu đã tử nạn luôn sống trong lòng tôi. Tôi vừa học văn hóa, vừa tập luyện võ công, tôi muốn tra tìm hung phạm để báo thù cho chị em tử nạn, nhưng tâm nguyện lớn nhất của tôi chính là viết một quyển sách, đem những chuyện bi thảm của chị em chúng tôi viết ra, truyền lại đời sau. Mùa xuân năm 1951, Sấu Bằng đi Tây An công tác, ông đưa tôi đến những nơi tôi từng chịu khổ: Bảo Kê, Thành Đô để khảo sát thực địa. Ở Tây An, tôi làm quen Điền Cửu Hồng là danh kỹ Tây An mà tôi gọi là cô cô. Cô cô giúp tôi tích lũy tài liệu phong phú hơn cho việc viết sách sau này. Năm 1957, tôi từ biệt Tây Bắc, theo người chồng đã về hưu trở lại quê hương làng Mộc Điếm, huyện Thúc Lộc (nay là thành phố Tân Tập) tỉnh Hà Bắc. Thoái ẩn điền viên, vốn muốn luyện võ viết sách, thay đổi nhanh chóng cuộc đời, tôi đến vùng đất công nghiệp Hải Hà, rèn luyện trong lao động gian khổ. Tôi dần mất đi hương thơm và dịu dàng của nữ tính, tay chân tôi trở nên thô kệch. Hàng ngày tôi cùng các dân công vật lộn trong con kênh mới đào, tôi có thể vật ngã hàng mấy thanh niên hai mươi mấy tuổi khỏe mạnh. Ngày tháng sau này là thời kỳ khốn khó: lũ lụt dìm huyện Thúc Lộc, thiên tai vừa qua, lại gặp phải cách mạng văn hóa. Tôi và Sấu Bằng cùng chịu đả kích trở thành phản cách mạng, bị nhốt vào chuồng bò. Hơn một trăm ảnh của chị em mà tôi trân quí cất giấu gần như toàn bộ bị Hồng Vệ binh lục xét tịch thu, coi là văn hóa phẩm độc hại, thảy vào lửa đốt. Sấu Bằng bị đàn áp đến nhảy giếng tự tử. Tôi cũng ba lần cải giá, từ Mộc Điếm đến Hình Gia Trang đến Quách Tây. Tôi chịu khổ tận cùng bị chồng đánh đập tàn nhẫn. Sau đó, tôi kiên quyết ly hôn, may là cán bộ của Quách Tây cho tôi con đường sống, cho tôi làm cấp dưỡng của đội sản xuất, chuồng bò trở thành nhà chính thức của tôi... Mãi đến sau đại hội toàn Tam Trung, tôi mới được giải phóng lần thứ hai. Ngày giờ vừa thong thả, giấc mộng cao xa mà tôi chôn vùi bao năm nay dần dà sống lại trong lòng tôi. Đúng lúc này, tôi nghe người ta đồn rạp phim Tân Tập đang chiếu bộ phim “Vọng hương”, tả lại cuộc sống của kỹ nữ, thế là tôi xin nghỉ phép một ngày vào thành phố xem phim. Quyết tâm viết sách lại sôi sục như núi lửa phun trào, tôi nghĩ rằng chuyện của tôi và các chị em so với “Vọng hương” của Nhật Bản phong phú hơn nhiều lắm, màu sắc hơn nhiều lắm. Người ta có thể quay thành phim, tôi không thể viết một quyển sách sao? Sau khi về làng, tôi lập tức đến quầy hàng mua giấy bút. Nửa đêm ở trong chuồng bò, bên cạnh ánh đèn dầu leo lét và đám bò ngựa hiền hòa, tôi âm thầm viết lại cuộc đời mình: Tôi không biết viết tiểu thuyết, chuyện xưa theo máu và nước mắt của tôi và các chị em mà chảy ra, khóc khóc viết viết, viết viết khóc khóc. Mặc dù viết đầy chữ sai tôi cũng viết xong mấy quyển lớn. Tôi nhảy lên xe đạp, đạp cả hai mươi lăm cây số, giao bản thảo cho Phòng Văn hóa huyện. Sau đó tôi biết bản thảo ấy như muối liệng vào biển. Tôi lại lần nữa chết cả lòng... Tháng 5 năm 1985, Liên hiệp Văn hóa thành phố được thành lập (năm 1986 Tân Tập được nâng thành thành phố cấp huyện). Đảng và Chính phủ giúp tôi cầm lại bút. Cấp trên cử người giúp tôi chỉnh bản thảo thành tiểu thuyết. Sự tích tôi “viết sách” từng vang dội một thời và việc người khác chỉnh lý bản thảo giúp tôi biên tập thành tiểu thuyết cũng gây xôn xao mấy năm. Nhưng khi đó tôi không xác định được rốt cuộc ai có thể đem cuộc đời truyền kỳ của tôi viết thành một bộ toàn tập có phong cách thống nhất, chân thực, cảm động lòng người. Mãi đến năm 1995, tôi mới biết hai bộ “Thanh lâu hận” và “Thanh lâu hận tục tập” có ảnh hưởng tương đối lớn. Vương Diên Niên là tác giả chấp bút cho tôi hoàn thành bộ tiểu thuyết này. Tuy ông đã chuyển sang viết trường thiên tiểu thuyết khác nhưng tôi nghĩ mình không thể mất đi người này. Tôi kiên trì trong một tháng viết cho ông ba bức thư. Tôi muốn ông tiếp tục viết toàn tập cho tôi. Đáng tiếc, tôi khổ nhọc viết mười năm, gần hai trăm quyển viết tay của tôi thất lạc trong dân gian tìm lại không được. Mùa đông năm 1996, tôi u uất thành bệnh. Tôi dự cảm mình sắp làm “láng giềng” của Diêm vương rồi. Tối rất sợ một khi tôi xuôi tay nhắm mắt thì chuyện kể đầy lòng của tôi sẽ chui vào quan tài. Thời gian không cho phép chậm trễ, tôi lập tức nhờ chồng sau của tôi là Dã Hoài Khởi gửi thư cho Vương Diên Niên mời ông đến giường bệnh của tôi. Tôi đem một phần hình ảnh tư liệu quý giá cất giấu bấy lâu giao hết cho ông, ủy thác ông viết toàn tập cho tôi, tuy bản thảo viết tay thất lạc khó tìm lại được nhưng chuyện kể chân thật nhất nằm trong tim tôi. Đối diện với Vương Diên Niên cũng bằng như đối mặt với hàng ngàn hàng vạn độc giả trên xã hội, tôi muốn tố cáo với mọi người, muốn đem cả cuộc đời mình dùng chân tình, dùng nước mắt kể ra, khóc ra, ngâm ra, hát ra... Mở đầu của câu chuyện chính là năm đại tai nạn mà tôi ra đời. *** Thảm nạn thình lình của danh hoa Tiền Cửu Hồng tức thời lôi bảng hiệu của Hồng Lâm đảo xuống theo. Mà không chỉ riêng Hồng Lâm đảo, cả con đường Trung Châu cũng trở nên tiêu điều ảm đạm. Khi thấy Tiền Cửu Hồng bị hủy hoại dung nhan, trong nỗi kinh sợ, cảm thương trong tôi còn tiềm ẩn một cảm giác khoái trá, thích thú. Tôi cho rằng một khi hồng cô nương đứng đầu ngã rồi tất sẽ đến phiên Điền Thanh Đệ tôi làm vua một cõi, phất riêng ngọn cờ độc tôn. Nhưng qua mấy ngày vắng teo khách, tôi mới sâu sắc ngộ ra rằng tôi vĩnh viễn không làm được hồng cô nương hạng nhất. Trước kia, tôi toàn “dựa hơi, ăn theo người ta” để tôn uy phong của mình. Cây đại thụ Cửu Hồng đột ngột trốc gốc, cành nhánh mà tôi bám vào không còn thì tôi chẳng khác chú chim non trong đêm đen ủ rũ tìm tổ, tìm một cây ấm áp để trú thân. Mấy ngày nghiền ngẫm, hối hận, tôi cảm thấy chị Điền Thanh Hà là người đáng yêu, đáng kính, đáng gần gũi biết bao. Chị có tính cách của người mẹ cao cả, vĩ đại. Chị giống như thứ đất ấm màu mỡ chân chất ở đại bình nguyên Hà Bắc của chị, cung cấp dưa ngọt quả thơm, cao lương, đậu đen, thu nạp hết những ai bỏ ác tùng thiện không chốn dung thân. Điền Thanh Hà chính là quê hương của tâm linh tôi. Trước đây tôi làm nhiều điều có lỗi với chị. Chị không những không báo thù mà khi tôi nhận lỗi chị vẫn coi tôi như đứa em gái ruột thịt. Càng thân thiện tôi càng hiểu Thanh Hà thêm. Chị không phải không có khí chất tốt đẹp. Sở dĩ chị dựa dẫm vào Điền Trưởng Tam vì trong hoàn cảnh ác liệt như vậy có thể nương tựa vào sự bảo hộ của đại thụ này thì có thêm được chút tự do, giữ gìn được bản sắc lương thiện chất phác của bản thân. Ngày ngày, mỗi sáng sớm, tôi và Thanh Hà một lớn một nhỏ đứng ở ngạch cửa để mong ngóng giùm má Điền, mong chờ Điền Trưởng Tam trở về, nhưng chúng tôi chỉ trông thấy khắp đường bầy quạ đen bay lên đáp xuống tìm thức ăn. Buổi tối, hai chị em tôi cũng đứng trên ngạch cửa mong ngóng khách đến. Cửu Hồng vừa ngã quỵ, đám khách quý đó liền như bóng chim tăm cá, vắng bặt không còn một người. Những người buôn bán nhỏ trên đường rất ít ai lên dốc bán. Hai chị em tôi đứng thẫn thờ nhìn con đường quạnh quẽ, nhìn lầu cao im lìm mà cảm thấy ảo não. Nhớ lại một năm trước, khi Nghiêm Mạc Lợi, Uyển Ngọc còn sống, mỗi tối Mạc Lợi đứng trước cửa Dao Nguyệt đình cách chỗ này không xa nghêu ngao mấy bài hát dâm đãng, cười lẳng lơ, quậy tưng bừng cả nửa con đường. Hồng Lâm đảo càng nhộn nhịp. Xe hơi sang trọng thường đậu trước cửa. Trên lầu tiếng cười nói, ăn uống rôm rả. Cửu Hồng đàn hát thì mọi người trên con đường đều nghiêng tai lắng nghe, chít lưỡi khen hay. Còn có Uyển Ngọc linh lợi, thơ ngây thường lén chạy đến Trưởng Tam hành viện tìm Thanh Hà. Nó bị uất ức thì đến tìm người chia sẻ; vui vẻ nó cũng đến; không có chuyện gì nó cũng thích đến. Bây giờ, Mạc Lợi, Uyển Ngọc đều đã đến thế giới khác. Hồng Lâm đảo cũng tối đèn không sáng lại nổi nữa. Tôi đau lòng rớm nước mắt. Chị Thanh Hà cũng đưa tay áo lau mắt. Cũng buổi tối này, hai chị em tôi đang lặng lẽ đau lòng rơi nước mắt, bất chợt tôi nhìn thấy dưới dốc có một người mặc quân phục cũ trông như thổ phỉ xăng xái đi về phía bọn tôi. — Không xong, khâu bát lại đến rồi. – Tôi giật tay Thanh Hà một cái. Thanh Hà giật mình nhìn vào người đó, bóp chặt bàn tay tôi nho nhỏ trấn an: — Đừng sợ, có lẽ chỉ có một tên. Tôi ngầm nắm chặt nắm đấm. Khâu bát đó đi đến trước mặt bọn tôi thì đứng lại nhưng không lên tiếng. Đôi con ngươi vàng lườm lừ lừ quan sát bọn tôi. Tôi bất giác cảm thấy chán ghét tên này, ngẩng đầu lớn gan nhìn chằm chằm hắn. Tên này thật quá xấu xí. Cái đầu hắn hình tam giác, mặt gầy ốm dài, vóc dáng giống cái thuổng, người ngợm đen đúa, dơ bẩn. Tôi vừa nhìn đã biết hắn không phải người tốt. Thanh Hà cũng chẳng thèm nhìn gã. Trái lại gã đưa đôi mắt mèo nhìn Thanh Ha chăm chú. Lúc này Cao Bộ Hoa bước xuống lầu vừa thấy người khách này cũng giật thót người, vội đon đả nói: — Quý khách lần đầu đến đây à? Anh chấm cô nương nào? Đây là Điền Thanh Hà con gái lớn của tôi. Đây là Điền Thanh Đệ con gái nhỏ của tôi. Chúng nó... “Cái thuổng” khoát tay, toét hàm răng vàng ệch cười nói: — Khỏi giới thiệu. Đêm nay tôi mua suất của Điền Thanh Hà. Tôi vừa thấy nhẹ nhõm vừa bực dọc, không rõ là may mắn hay là đố kị. Cao Bộ Hoa tính tiền suất xong mặt mày tươi rói: — Hà nhi, còn không đỡ vị huynh đệ này lên lầu. Thanh Hà thò cánh tay ra. “Cái thuổng” này rất cổ quái xoay người tự mình nghênh ngang bước lên lầu. Ông khách này quả thật làm người ta chán ghét, người xấu xí mà ra vẻ cao quý. Vừa vào phòng, hắn ngồi lên giường, bắt chéo chân: — Thuốc đâu? Thanh Hà lấy trong hộc bàn ra hộp thuốc lá ném cho hắn ta. Hắn cầm thuốc ngước mắt nhìn lên, trong con ngươi đầy vằn đỏ, trán nhăn hằn rãnh sâu. Mày mắt vừa sụp xuống, trán tam giác cũng bằng phẳng. Hắn rút một điếu thuốc cắm vào đôi môi dày khô nứt nẻ: — Lửa. Thanh Hà lại ném hộp diêm cho hắn. Hắn bật lửa đốt thuốc rít mấy hơi, kèm theo một cơn ho khùng khục. Cái mặt dài đỏ lừng, ra lệnh: — Trà, trà đâu? — Có ngay, có ngay. – Cao Bộ Hoa vội nhấc bình trà. “Cái thuổng” đưa tay ngăn lại: — Bảo cô ấy châm. Cao Bộ Hoa cười giả lả: — Được, được, hai người vui vẻ. Hà nhi tiếp đãi khách tử tế. – Nói xong bước xuống lầu. Điền Thanh Hà như cái máy châm trà cho người khách. Đôi mắt mèo rừng lom lom nhìn vào gương mặt đẹp đẽ của Thanh Hà, tủm tỉm cười. Hắn nhấp một ngụm trà, lại cười cười, lại nhấp một ngụm trà. Thanh Hà cúi đầu ngồi trước mặt hắn, bực bội chịu đựng cái nhìn soi mói đó. — Này, sao cô không cười? Đại ca này đến đây cô phải vui vẻ đón tiếp. Cười cho tôi xem. Thanh Hà thấy chán ghét nhưng sợ đắc tội với khách thì mang họa nên cố nhẫn nhịn, lạnh nhạt nói: — Tôi không biết cười. “Cái thuổng” lại nhướng đôi mày xám lên, chảy xệ gương mặt dài: — Ê, trên đời có ai mà không biết cười? — Tôi không biết. – Thanh Hà đáp. “Cái thuổng” như trâu rồn rột rồn rột uống sạch tách trà. Hắn đưa móng tay dài dài búng lách cách vào tách, đùa cợt: — Cô nàng xinh đẹp như vậy mà không biết cười. Hỏng bét! Hôm nay đại ca này phải dạy cô cười. Tôi có thuốc tiên để cười, cô tin hay không? Thanh Hà cũng muốn trêu lại, ngẩng mặt lên nói: — Vậy tiên sinh bảo tôi cười thử xem. — Được. – “Cái thuổng” đặt tách trà xuống, đứng lên nói – Tôi niệm chú, chỉ nói hai tiếng thì cô sẽ cười. Thanh Hà có hứng thú, truy hỏi: — Nếu tôi không cười thì sao? “Cái thuổng” móc ra mấy tờ tiền giấy ném lên giường, nói: — Nếu cô không cười được thì tiền này của cô. Tôi lập tức đi ngay. Thanh Hà cũng đứng phắt dậy, nói: — Tốt, một lời đã định, vậy chúng ta thử xem. — Thử, thử, trước tiên cô đừng quấy rối tôi. Tôi niệm mấy câu thần chú sẽ nói hai tiếng đó. – “Cái thuổng” quay người qua, giơ một bàn tay đặt trước ngực, miệng lầm rầm không biết lẩm nhẩm cái gì. Thanh Hà bình thản ngồi xuống, lòng nghĩ: Khâu bát bọn bây khiến người ta căm hận muốn chết, còn muốn làm người ta cười sao? “Cái thuổng” chậm rãi lầm rầm niệm. Hắn đứng như tượng gỗ một lát, đột nhiên quay cái đầu tam giác qua: — Hồng Bảo! Thanh Hà giật mình, đứng bật dậy lắp bắp: — Ông... ông gọi ai? Đôi mắt mèo rừng nhìn chằm chằm: — Tôi gọi cô, Hồng Bảo. — Ai la Hồng Bảo? — Cô, Hồng Bảo của Yến Tử Nhai, Hà Bắc. Thanh Hà vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, hỏi: — Ông là ai tại sao biết tên tộc của tôi? “Cái thuổng” cười lớn rồi sầm mặt ngồi xuống, nói: — Cô cười cho tôi, gọi tôi một tiếng Cảnh đại ca tôi mới nói cho cô biết. Tim của Thanh Hà bắt đầu đập loạn. Chị nhìn Cảnh đại ca, cảm thấy ông ta biến thành đẹp trai: mái tóc hung hung đó biến thành bồng bềnh, cái mặt hình tam giác thô đen đó biến thành chất phác cương liệt, đôi mắt mèo vàng biến thành đặc biệt, nói năng thô kệch là đùa cợt sảng khoái. Chị bật cười, cười rất đẹp, mắc cỡ gọi: — Cảnh đại ca. Mời các bạn mượn đọc sách Thanh Lâu - Tập 2 của tác giả Vương Diên Niên.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Nạn Nhân Buổi Giao Thời - Pearl S. Buck
Pearl Buck, nữ nhà văn Mỹ, được tặng giải thưởng Nobel Văn học vì các tác phẩm mô tả cuộc sống đa diện mang tính sử thi của người dân Trung Quốc trong những biến động dữ dội đầu thế kỉ XX và vì những kiệt tác tự truyện. Bà là nhà hoạt động xã hội tích cực, được coi là một chiếc cầu nối văn hóa Đông-Tây. Pearl Buck (tên thật là Pearl Comfort Sydenstricker, có tên Trung Quốc là Trại Chân Châu) là con một nhà truyền giáo người Mỹ. Sau khi ra đời chưa đầy 5 tháng, bà đã được cha mẹ đưa sang Trung Quốc sinh sống. Từ nhỏ và suốt cả cuộc đời bà yêu mến và thích tìm hiểu cuộc sống của người dân Trung Quốc, cảm thông với những người dân địa phương bị nhiều tầng áp bức. Năm 15 tuổi, bà được gửi trọ học tại một trường dạy Anh văn ở Thượng Hải. Năm 17 tuổi, cha mẹ cho Pearl Buck về Mỹ, học tại Trường Đại học Randolph Macon (tiểu bang Virginia). Năm 1917 bà kết hôn với một mục sư và theo chồng đi truyền giáo tại miền Bắc Trung Hoa. Từ năm 1922, bà dạy ở Đại học Nam Kinh và Kim Lăng. Năm 1925, Pearl Buck bắt đầu viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên Gió Đông, Gió Tây (do chạy loạn Quốc dân đảng, năm 1930 mới xuất bản được). Sau đó hàng loạt tiểu thuyết nổi tiếng khác về đề tài Trung Quốc ra đời, như Đất Lành, Những Người Con Trai, Một Nhà Chia Rẽ, Người Mẹ, Những Đứa Trẻ Chậm Lớn… trong đó tiểu thuyết Đất Lành được nhận giải Pulitzer năm 1931. Năm 1933, bà được Đại học Yale tặng bằng Cử nhân Văn chương Danh dự. Năm 1938, bà được Đại học West Virginia và Đại học St. Lawrence trao tặng bằng Tiến sĩ Văn chương Danh dự. Năm 1938 Pearl Buck nhận giải thưởng Nobel vì các tác phẩm mô tả đời sống nông thôn Trung Hoa một cách phong phú và xác thực (chủ yếu với tiểu thuyết Đất Lành và hai cuốn tự truyện Người Tha Hương (1936) viết về người mẹ và Thiên Thần Chiến Đấu (1936) viết về cha của bà). Sau khi nhận giải, Pearl Buck tiếp tục sáng tác rất nhiều, ngoài văn xuôi bà còn viết kịch, kịch bản phim, tiểu luận và sách cho thiếu nhi. Bà cũng là người đã dịch Thủy Hử (All men are brothers) và một số tác phẩm văn học Trung Quốc sang tiếng Anh. Trong Thế chiến II, Pearl Buck viết nhiều sách báo chính luận chống chủ nghĩa phát xít. Những năm 50, bà xuất bản một số tác phẩm về đề tài gia đình và xã hội Mỹ, kí bút danh I. Sedge. Năm 1951, Pearl Buck được bầu làm thành viên Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn học Hoa Kỳ. Năm 1955, bà li dị chồng và tục huyền với giám đốc một hãng quảng cáo. Cuối đời, bà quan tâm đến đề tài các nhà bác học nguyên tử buộc phải chế tạo vũ khí giết người hàng loạt. Đồng thời, bà tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, xã hội như: sáng lập ra tổ chức không vụ lợi Hiệp hội Đông Tây (The East and West Association, 1941) nhằm truyền bá những hiểu biết giữa các dân tộc trên thế giới; cùng chồng lập nên tổ chức Căn nhà tình nghĩa (Welcome Home, 1949) giúp trẻ mồ côi; lập ra Quỹ Pearl S. Buck (The Pearl S. Buck Foundation, 1963) và tặng cho quỹ này 7 triệu đôla. • Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt: Gió Đông, gió Tây; Sống vì đất; Tiếng gọi đồng quê; Lá thư Bắc Kinh; Tình yêu sau cùng; Người mẹ; Nhớ cảnh nhớ người; Yêu muộn; Nạn nhân buổi giao thời; Mấy người con trai Vương Long; Đứa con người yêu; Một phút một đời; Một lòng với em; Một cuộc hôn nhân; Lưu đày; Lưu đày biệt xứ; Cánh hoa e ấp; Đông phương huyền bí qua truyện cổ thần tiên; Truyện Đông phương; Người vợ tiên; Những người đàn bà tuyệt vời trong gia đình Kennedy; Những người đàn bà trong gia đình Kennedy; Tà áo xanh; Nỗi buồn nhược tiểu; Người yêu nước; Ngoài chân mây; Hứa hẹn; Bão loạn; Mẫu đơn; Quỷ địa ngục chẳng bao giờ ngủ; Yêu mãi còn yêu; Ba người con gái của Lương phu nhân; Trái tim kiêu hãnh; Một trái tim tự hào; Biên giới tình yêu; Tình cõi chân mây; Nô tì Mẫu Đơn; Đóa hoa ẩn mình; Trang; Người thành phố; Bí mật đời nàng; Người yêu nước; Thiên Hậu; Người cung nữ; Từ Hi Thái hậu; Con rồng linh diệu; Hạt giống của rồng; Vương Nguyên; Đất lành; Chuyện Kinh Thánh; Những người con của tiến sĩ Lương; Tiếng nói trong nhà; Tử thần và rạng đông; Người mẹ già; Những mảnh hồn sầu xứ. Mời các bạn đón đọc Nạn Nhân Buổi Giao Thời của tác giả Pearl S. Buck.
Đôi Môi Của Nước - Alberto Ruy Sanchez
Theo những đường nét thư pháp của Azizal-Ghazali, bậc thầy thư pháp của thành Modagor (nay là Essaouira, Maroc) và là tác giả của một khái luận tình yêu nay đã thất lạc có nhan đề Vòng xoáy của những cơn mơ, một người đàn ông đã hiến dâng cả đời mình cho nỗi khát khao yêu đương, làm hồi sinh thế giới huyền bí của những người Mộng du – những người được tình yêu biến đổi và chỉ có họ mới có thể mang lại hạnh phúc và khoái lạc trọn vẹn cho nhau. Chín chương sách được tạo điểm nhấn bởi chín giấc mơ trong khái luận của Aziz tạo nên một bài thơ vịnh về cơ thể người đàn bà, mang đậm chất thi ca và khiến ta chuếnh choáng. Tiếp theo Tên của khí trời, Đôi môi của nước là tiểu thuyết thứ hai trong bộ tiểu thuyết đề cập tới bốn nguyên tố cơ bản tạo nên thực tại theo quan niệm của người xưa (không khí, lửa, đất và nước). Trong khi Tên của khí trời dấn sâu vào dục vọng sâu kín của người phụ nữ, Đôi môi của nước là cuộc khám phá đầy khắc khoải về những giấc mơ tình ái của đàn ông. Cuốn sách tuyệt đẹp này, kết hợp văn xuôi đầy chất thơ với tuyến tự sự lôi cuốn, là ‘một bức thư tình dài viết bởi một người đàn ông đã đánh mất một người đàn bà và lên đường tìm kiếm nàng trên khắp thế gian’ (Lời của chính Ruy Sanchez), trong niềm mong mỏi nhận được hồi âm của người tình vắng mặt mà lại đồng thời hiện diện ở khắp nơi đó. *** Màn đêm em đang giữ trong bàn tay mình, màn đêm em đang vén ra để vuốt ve tôi trùm lên tôi như tấm áo choàng có những nếp gấp nơi tôi có thể ngụp lặn. Tôi chầm chậm tiến về phía em. Trong màn đêm, tia sáng mắt em dẫn bước tôi đi. Tôi thấy gương mặt em trong cơn mơ. Tôi thấy nụ cười em. Em nói với tôi điều gì đó mà tôi cũng chẳng hiểu. Em cười. Rồi em dùng đôi bàn tay chạm vào người tôi để giải thích. Em vẽ tên em trên bụng tôi, giống như hình xăm, với những chữ cái do em nghĩ ra, mà thực chất là những cái vuốt ve. Tôi đi lại phía em, với lòng kiên trì vô hạn - lòng kiên trì của hành trình vượt đại dương -, đi từ bến bờ thân tôi tới bờ bến thân em, và nụ cười nơi môi em là cơn gió lành cho thuyền tôi vượt sóng. Màn đêm trong lòng bàn tay em cùng cất lời ca với sóng biển dạt dào. Em phủ lên lưng tôi những vệt sóng lừng ào tới êm dịu rồi lại lùi xa cùng lúc quàng lên bãi cát sỏi. Em đi vào đôi tai tôi và vẽ lên đó những hình ốc, và tôi mang trong mình những cơn bão của em, những cơn lốc của em, những vực thẳm của em. Những âm thanh của em vang xuống tận cổ họng tôi. Em cũng ùa vào đôi mắt tôi, bằng cái nhìn đổi màu của nước, bằng bộ ngực em áp trên bộ ngực tôi khiến làn da tôi nơi đó run lên xúc động. Hông em cứ khoét mãi trên bãi cát sỏi nơi tận cùng bụng tôi thành rãnh sâu trong những cơn sóng cuồng nộ nhất. Em bao quanh những bãi biển của tôi, em vỗ sóng ập ào lên chúng và em nuốt chửng lấy chúng. Đám bọt biển của em và của tôi, làn môi của em và của tôi cùng hòa quyện. Làn da nước của em cất lời ca, giọng ca ấy cuốn tôi theo dòng nước. Trong bóng tối đôi bàn tay em, tôi tới thăm tất cả những cơn mơ của em. Hãy để tôi kể em nghe những giấc mơ của tôi bằng đôi tay mình. Từ chín năm nay, câu chuyện này khiến lưỡi tôi cháy bỏng. Tôi đã giữ kín nó hơn cả điều bí mật. Sáng nay, cơn mưa bất chợt xối xả đập mạnh vào cửa kính căn phòng tôi đang ngủ. Cứ như là dòng nước bị đôi bàn tay phù thủy của gió hung bạo quật vào những ô cửa kính vô cảm, biến chúng thành những tấm da trống, trên đó người ta đang gióng lên từng hồi để báo cho tôi biết có vị khách không đợi mà đến. Song những tiếng đập do dự của chúng đánh thức tôi dậy không thô bạo, bị lẫn với những hình ảnh cuối cùng trong cơn mơ của tôi. Tôi nghe thấy xa xa, qua tấm màn mưa, giọng nói êm dịu của Maêmoưna, rung rung sâu lắng, đang gọi tên tôi. Thế là tôi nhận ra tiếng nhạc trong như thủy tinh không phải do cơn mưa tạo ra mà do những móng tay nàng đang gõ háo hức vào cửa sổ phòng tôi. Đã bao năm nay tôi không gặp Maêmoưna: tôi sống xa nàng, ở một lục địa khác. Dẫu vậy, trong cơn mơ này, cơn mơ có vẻ thực hơn tất thảy những cơn mơ khác tôi từng trải qua, giọng nàng đang ve vuốt tên tôi. Nàng bảo tôi kể cho nàng nghe chuyện gì đã xảy đến với tôi ở Ma rốc, kể nàng hay xem tôi đã suýt cập bến bờ nào, lần cuối cùng chúng tôi gặp nhau. “Viết thư kể cho em chuyện đó nhé, nàng nói với tôi; khi nào anh viết thư thì chúng ta có thể sẽ gặp lại nhau,” cứ như thể khi viết ra câu chuyện này, tôi sẽ tạo nên những chiếc khóa vạn năng có sức quyến rũ kỳ lạ hay niệm những câu thần chú có quyền năng thay đổi cả cuộc đời tôi. Thế rồi nàng bỏ đi, đưa tôi trở lại với trống vắng - hẳn chính là cái trạng thái trống vắng mà giờ đây tôi đang cố lấp đầy bằng ngôn từ, bằng khao khát, bằng những hình ảnh tạo nên cái cốt của một câu chuyện, bằng những giấc mơ tôi đang dệt lên bề mặt ngày. ... Mời các bạn đón đọc Đôi Môi Của Nước của tác giả Alberto Ruy Sanchez.
Đời Callboy - Nguyễn Ngọc Thạch
Đời Callboy có những đoạn trần trụi khiến người ta hoài nghi về độ thật của nó và tự hỏi: “Xã hội thực sự là thế ư?”, nhưng nếu một lần tận mắt chứng kiến những gì đang xảy ra, mọi người sẽ hiểu rằng “Đời Callboy” của Nguyễn Ngọc Thạch đã đi đến được những góc khuất nhất của “nghề nghiệp” bị người đời coi khinh này. Callboy, những người thanh niên dùng thân xác đổi lấy đồng tiền, vẫn tồn tại trong thế giới bóng tối… Đồng tính – cũng không còn là một chủ đề mới của văn đàn, nhưng đa phần chỉ là những tác phẩm được chấp bút ghi lại theo lời kể của một nhân vật có thật. Tuy nhiên nếu một “người trong cuộc” tự viết về chính mình thì mọi việc sẽ khác hẳn. Hãy đọc “Đời Callboy” của Nguyễn Ngọc Thạch để hiểu hơn về thế giới những người đàn ông yêu nhau nhưng bị chi phối mãnh liệt bởi đồng tiền và tình dục. Và để hiểu hơn rằng, giới tính không phải là thứ quyết định nhân cách sống của bạn.  “Đôi khi tôi nghĩ, mình có duyên với “đĩ”. *** Người ta nói, “đừng nghe đĩ kể chuyện, đừng nghe nghiện trình bày”, nhưng tôi vẫn nghe và tôi ghi lại chúng với độ chân thật nhất mình có thể rồi giới thiệu đến mọi người, để các bạn đọc và tự đánh giá xem, câu chuyện của một thằng con trai làm callboy có thể làm bạn dừng lại và suy nghĩ về cuộc đời mà mình đang sống trong đó không.” (Lời tác giả) *** Tuổi thơ Nơi tôi sinh ra! Tôi sinh ra ở một làng quê nghèo của vùng duyên hải miền Trung. Tuổi thơ chỉ gói gọn trong hai chữ: “Nghèo” và “Khổ”. Nói nghe chua chát nhưng sự thật là vậy, không dễ dàng gì để người ta chấp nhận nó. Ở nơi đó, tôi đã lớn lên cùng với gió, cát, những cơn bão và cái nóng hỗn hào của quê hương. Tôi sinh ra ở một làng chài luôn mặn mùi biển, luôn tanh mùi cá sống. Tuổi thơ tôi ướp bằng tiếng sóng rì rào và những mảnh lưới giăng cá của những bà thím như mẹ tôi ngồi rạp bờ cát – Nơi họ vẫn ngày ngày ngồi đợi chồng, đợi con họ về. Cái nôi của tôi! Gia đình tôi làm nghề chài lưới nhỏ, mặc dù quanh năm cha luôn đầu tắt mặt tối với những chuyến ra khơi kéo dài hàng tuần lễ, có khi là cả hàng tháng trời nếu cha đồng ý theo thuyền lớn ra tận giữa khơi, nhưng cuộc sống vẫn rất bấp bênh, bữa no bữa đói. Mẹ tôi là một người phụ nữ mà trong vốn từ ít ỏi lúc này của mình, tôi chỉ có thể gọi theo kiểu là rất tuyệt vời. Bà yêu thương chồng con hết mực, sẵn sàng làm tất cả cho cha, cho chúng tôi. Bà chưa từng nề hà bất kỳ việc gì, lớn – nhỏ, nặng – nhẹ… chỉ miễn là anh em chúng tôi có đủ cái bỏ miệng mà no bụng. Nhưng rồi sau một cơn bạo bệnh, sức khỏe bà giảm sút và chỉ còn có thể làm những việc nhẹ trong nhà. Nhà tôi có bốn anh em. Anh hai hơn tôi bốn tuổi. Tôi bước chân vào lớp 10 – Cái ngưỡng mà cha, mẹ và anh hai luôn bảo tôi rằng, tôi phải bằng mọi cách đi qua cho bằng được. Sau tôi là hai đứa em nhỏ, một đứa học lớp 6 và một đứa chỉ mới sáu tuổi. Tuy gia đình không khá giả gì hay nói đúng hơn là nghèo đến thảm hại nhưng chúng tôi được cha giáo dục rất nghiêm khắc bằng tất cả khoảng thời gian hiếm hoi ông có mặt ở nhà sau những tháng ngày kiếm cơm cho anh em tôi. Với cha, có sáu chữ mà chúng tôi không bao giờ được quyền quên, “Nghèo cho sạch, rách cho thơm”! Tuy nghèo, tôi vẫn có thể khẳng định rằng gia đình mình sống rất hạnh phúc bên nhau. Những ký ức quên – nhớ và không thể nào quên! ... Mời các bạn đón đọc Đời Callboy của tác giả Nguyễn Ngọc Thạch.
Đàn Bà Xấu Thì Không Có Quà - Y Ban
Một cô nàng tật nguyền nhưng được tạo hóa ban cho trí tuệ sáng lán. Nàng xấu đến nỗi khi một đồng nghiệp say rượu lột truồng ra, nhìn kỹ, tỉnh cả rượu, vái ba vái rồi bỏ đi. Xấu đến mức khi nàng nhìn người anh rể với ánh mắt khao khát, anh rể lại có cảm giác kinh tởm. Đàn bà xấu thì không có quà của nữ nhà văn Y Ban đã đem đến cho nhiều đọc giả một cách nhìn khác về những người phụ nữ “kém may mắn” – và về “Em”. Ai đó đã nói, làm phụ nữ có 2 cái khổ , một là “xấu” và hai là “nghèo”. Nấm- nhân vật chính của truyện là 1 cô gái không may bị dị tật. Nàng xấu đến nỗi khi một đồng nghiệp say rượu lột truồng ra, nhìn kỹ, tỉnh cả rượu, vái ba vái rồi bỏ đi. Xấu đến mức khi nàng nhìn người anh rể với ánh mắt khao khát, anh rể lại có cảm giác kinh tởm. Bù lại, nàng lại có một tâm hồn nhạy cảm đến tuyệt vời và một tài năng văn học. Một cô nàng tật nguyền nhưng được tạo hóa ban cho trí tuệ sáng láng. Cô luôn ôm bao khát vọng sẽ được một người đàn ông yêu thương, nhưng cô không ảo tưởng. Khi quen một người đàn ông qua mạng, chưa bao giờ nàng nghĩ rằng người đó sẽ yêu mình. Nàng chỉ mong được gặp anh một lần. Một cô gái thật đáng thương nhưng cũng rất đáng quý. Nấm chẳng bao giờ có quà, trong khi các cô gái bên cạnh được bao nhiêu người theo đuổi. Xen kẽ trong truyện là những tác phẩm đầy xúc động của Nấm và những nhìn nhận về cuộc sống rất khách quan và xác đáng của tác giả. Cuộc sống đang diễn ra với nhịp độ rất gấp gáp, mọi thứ trôi đi rất nhanh, cái đập vào mắt con người nhiều nhất vẫn là hình thức bên ngoài. Người ta không có thời gian ngồi tâm sự với nhau hàng giờ, không có thời gian để cho những vẻ đẹp nội tâm bộc lộ. Người ta bắt chước nhau nhanh lắm, để tìm được cô này khác với cô kia chỗ nào rất khó. Nhưng chắc chắn, cái gọi là bản sắc, cá tính, vẻ đẹp nội tâm vẫn luôn là hằng giá trị trong thế giới này. *** Y Ban là bút danh của một nhà văn, nhà báo nữ Việt Nam. Bà tên thật là Phạm Thị Xuân Ban, sinh ngày 1 tháng 7 năm 1961 tại Nam Định, trong một gia đình không có truyền thống văn chương. Năm 1978, bà lên Hà Nội theo học khoa Sinh học Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và tốt nghiệp Cử nhân năm 1982. Một số tài liệu lại ghi bà tốt nghiệp Trường Đại học Y Hà Nội. Bà hiện đang ngụ tại Hà Nội cùng với gia đình. Mặc dù là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1996, từng có nhiều tác phẩm xuất bản cũng như nhận được nhiều giải thưởng, bà chỉ thực sự được chú ý khi cho xuất bản cuốn I am đàn bà, một cuốn sách bày tỏ những khao khát về tình dục của phụ nữ và bị Cục Xuất bản thu hồi. Sau đó cộng thêm những phát biểu lạ tai như: Tôi đang viết "tiểu thuyết ba xu"!, tên tuổi của bà dần được biết đến hơn là những tác phẩm. Tác phẩm: - Người đàn bà có ma lực (tập truyện ngắn, 1993) - Người đàn bà sinh ra trong bóng đêm (tập truyện ngắn, 1995) - Vùng sáng ký ức (tập truyện ngắn, 1996) - Truyện ngắn Y Ban (tập truyện ngắn, 1998) - Miếu hoang (tập truyện ngắn, 2000) - Cuộc phiêu lưu trên dòng nước lũ (truyện vừa viết cho trẻ em, 2000) - Cẩm Cù (tập truyện ngắn, 2002) - Cưới chợ (tập truyện ngắn, 2003) - Đàn bà xấu thì không có quà (tiểu thuyết, 2004) - Thần cây đa và tôi (truyện vừa, 2004) - I am đàn bà (truyện ngắn, 2006) - Xuân từ chiều (tiểu thuyết, 2008) - Hành trình tờ tiền giả (tập truyện ngắn, 2010) - Sống Ở Đời Biết Khi Nào Ta Khôn - Đàn Bà Xấu Thì Không Có Quà - Người đàn bà và những giấc mơ - Truyện ngắn Y Ban *** Nàng Nấm rất ghét những buổi trưa. Khi ăn cơm xong, chị em tản đi hết. Họ đi thực hiện những ước mơ ban đêm. Chỉ còn lại một mình nàng Nấm đối diện với thân phận mình trong cái ánh sáng ban ngày, khi không còn giấc mơ bao phủ nữa. Mười ba tuổi, nàng Nấm đã nhận chân được diện mạo của mình. Tạo hóa thật trớ trêu đã cho nàng là thân gái với nước da trắng nõn, khuôn mặt trái xoan. Thiên hạ kháo nhau: mặt trái xoan da trắng, mẹ mắng cũng mua. Nhưng ai dám mua nàng Nấm với đôi chân ngắn cũn chỉ bằng nửa mình trên. Bị chúng bạn cười nhạo, nàng Nấm bỏ học, mặc dù tạo hóa đã kèm thêm cho nàng một trí tuệ sáng láng. Chị gái thương em, mang về thành phố nuôi nấng. Để không phụ công chị, nàng Nấm đã chăm lo việc nhà cho chị. Sáng sáng, nàng Nấm dậy từ năm giờ, quét dọn sạch sẽ nhà cửa rồi đặt nước pha trà cho anh rể, nấu bữa sáng cho chị gái. Đến bảy giờ nàng Nấm gõ cửa căn phòng cuối cùng để đánh thức anh chị dậy đi làm cũng là để quét tước. Tám giờ sáng, nàng Nấm xách làn đi chợ. Ở chợ, người ta gọi nàng Nấm là con lùn khôn ngoan. Nấm đi dạo chợ một vòng để xem chợ sáng nay có món gì ngon nhất mà lại rẻ nhất. Các món ăn trong ngày sẽ được định trong lúc dạo chợ. Thế là các bữa ăn được dọn lên với những món ăn ngon miệng nhưng thường không đắt đỏ. Cuộc sống êm đẹp như vậy diễn ra được ba năm cho đến khi Nấm mười sáu tuổi. Và bắt đầu từ căn phòng cuối cùng đó. Nấm có thói quen gõ cửa căn phòng đó lúc bảy giờ sáng và quen thói nắm tay vào quả đấm cửa rồi mở ra luôn. Rất nhiều lần nàng Nấm nhìn thấy đầu chị gái mình vẫn gối trên tay chồng. Thì phải rồi, họ đang trong thời kỳ mãnh liệt của sức lực, lại được hỗ trợ bởi tình yêu. Trước vẫn hình ảnh đó nhưng không lưu giữ lại gì trong đầu óc Nấm. Nay nó cứ vấn vương trong đầu óc Nấm như một mạng nhện. Nó làm xao nhãng cả những tính toán của Nấm lúc dạo chợ. Đêm đến hình ảnh đó hiện lên trong đầu Nấm rất rõ ràng. Hình ảnh một người đàn ông. ... Mời các bạn đón đọc Đàn Bà Xấu Thì Không Có Quà của tác giả Y Ban.