Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tình Ca Cho Huế Đổ Nát - Nhã Ca

M i Ki thân mến, Tôi phải nói với Ki về thành phố đó. Chúng ta đã sinh ra, đã sống ở đó, ít nhất là một phần của tuổi thơ ấu. Tuổi thơ ấu của Ki đã cho tôi thật đầy đủ. Những ngày ở bãi biển Thuận An, đi lang thang ngoài biển, bắt cào cào, đào trộm khoai, chơi cút bắt, hay thơ thẩn một mình ngoài đồng rộng chạy đuổi theo những bông cỏ lăn theo gió. Tắm ở phá Tam Giang, giữa trưa nắng, cát nóng bỏng như lửa. Ki đã chạy nhảy, chân giẫm từ đám cỏ khô này qua đám cỏ khô khác để tới rừng dương, nhìn một cái hồ nhỏ đầy cá mặt trăng. Cá mặt trăng, những mặt trăng nhỏ, trắng muốt của tuổi thơ chúng ta tung tăng trên mặt hồ, bên những cành dương rủ bóng, kênh kiệu một cách đáng yêu với bờ đê, với bãi biển kêu gọi, rủ rê suốt ngày tháng. Rời bỏ Thuận An, Ki bé nhỏ, quê mùa của tôi bước chân lên thành phố. Bỡ ngỡ và rụt rè, bị bắt nạt, nước mắt, đó là đặc điểm của Ki thời đó. Bị bắt nạt là đáng lắm, bởi Ki chỉ biết có bãi cát trắng phau, với những đợt sóng liếm vào bờ suốt ngày không biết chán. Ki chỉ biết có những con đường làng cát bẩn rụng đầy hột keo khô, lẫn với vỏ nghêu, vò sò vỡ. Bị ném vào một thành phố đầy trẻ con tinh ranh, Ki làm sao chống đỡ nổi. Tội nghiệp Ki của tôi hồi tám chín tuổi với một phố Huế xa lạ, giục giã sự tò mò. Ki vẫn giữ khuôn mặt đen dịu, đôi mắt vàng chói nắng biển, mái tóc cắt ngắn kiểu con trai, mặc quần sọt với áo sơ mi bởi vì ba chúng ta muốn có một đứa con gái ngộ nghĩnh hơn là xinh đẹp. Ki bắt đầu đi học, Ki có bạn mới, Ki quên bãi biển Thuận An, quên làng quê buồn hiu nhưng thơ mộng đến nỗi có những đêm mơ thấy bầy cá mặt trăng bơi lội tung tăng trên mặt hồ đớp ánh sáng xanh mát, hoặc những cành dương dài như những cánh tay khẳng khiu vẫy vẫy, Ki đã khóc trong giấc ngủ. Hoặc đôi khi đang ngồi trong lớp học, Ki bỗng nghe thấy một âm thanh gì rì rào quen thuộc, Ki nôn nao cả người và chợt nhớ ra âm thanh đó giống tiếng sóng biển mà Ki đã nghe hoài huỷ hồi ở quê mẹ. Chúng ta thực tức cười phải không Ki, hồi đó chúng ta cứ tưởng Huế với Thuận An là hai miền xa cách như bây giờ Sài Gòn với Hà Nội vậy. Vừa biết Huế, gia đình ta ở An Cựu, cạnh nghẹo đường xay. Chúng ta có thể chạy lông bông, nhưng không còn được thong thả như hồi ở nhà quê nữa vì chúng ta phải canh chừng những chiếc xe nhà binh với những ông Tây to lớn, mặt luôn luôn đỏ kè như say rượu. Chúng ta thấy phía này có ruộng, phía kia có bờ sông, có cầu đúc nối sang bên chợ. Ki có còn nhớ cây bông búp cao mọc ở cạnh chân cầu đó chớ. Cây búp mà chúng ta thường ao ước nhặt những búp khô rụng, thổi phồng lên như đã từng thổi chiếc bong bóng lợn của dượng Tin cho hồi còn ở Thuận An. Thêm một hai tuổi gì đó, chúng ta rời An Cựu, được gửi học nơi nhà một ông giáo nhà ở tít dưới Mù U, Ki đã trốn học, đã khóc và bị ăn roi đến quắn đít vì bướng. Ki đi học đàng hoàng. Mùa nắng Ki mặc áo hoa, đi guốc. Mùa mưa, Ki còn nhớ không, chúng ta mang cái tơi bằng lá, tròng từ đầu xuống cổ, có sợi dây thừng nhỏ rút trước cổ, buộc chặt cho gió khỏi bay. Ngôi trường tiểu học ở thật xa tít giữa bãi hoang có nhiều đất sét. Xung quanh lại có nhiều mồ mả nữa. Những đứa trẻ tinh quái thường doạ có nhiều mả Tàu Ô lắm, rồi chúng ta được nghe nhiều chuyện kinh hoàng về giặc Tàu Ô. Nhà chúng ta ở nơi một con đường rất dốc. Dốc cao đến nỗi người lớn nói đứng trên đầu dốc có thể nhìn thấy cột cờ Phú Văn Lâu. Nhưng Ki nghểnh cổ, nhón chân, cũng chỉ nhìn thấy những đọt phượng mùa hè đầy bóng đỏ rực, mùa đông lủng lẳng những quả dài sắc cong như lưỡi mác. Phía trên đầu dốc kia là Đàn Nam Giao, nghe nói đường đi xa lắm, chân của Ki thì quá ngắn. Cho tới khi tôi đi được chiếc xe đạp, ngang qua con đường đất vòng quanh Đàn Nam Giao, tôi cười mãi về sự tưởng tượng của Ki hồi còn nhỏ, và nhớ Ki như một phần hồn, phần thơ ngây của mình đã mất vĩnh viễn. *** Nhã Ca, tên thật là Trần Thị Thu Vân (sinh 1939), là một nữ văn sĩ người Việt với nhiều tác phẩm viết thời Việt Nam Cộng hoà, hiện định cư ở Hoa Kỳ. Nhã Ca sinh trưởng tại Huế đến năm 1960 thì vào Sài Gòn nơi bà bắt đầu viết văn. Trong thời gian 1960 - 1975, 36 tác phẩm của bà được xuất bản gồm nhiều thể loại như thơ, bút ký và tiểu thuyết. Một số tác phẩm của bà lấy xứ Huế làm trọng điểm. Theo lời kể của ông Nguyễn Đắc Xuân (nhà văn) thì bà vốn là một nữ sinh Huế (cùng thế hệ với Nguyễn Đắc Xuân), bỏ học Trung học vào Sài Gòn đi theo Trần Dạ Từ - một người Bắc di cư. Trần Dạ Từ viết báo chống các Phong trào tranh đấu chống Mỹ, hai vợ chồng Trần Dạ Từ và Nhã Ca là hai cây viết tâm lý chiến của Đài Tự do của Mỹ (Đài có nhiệm vụ tuyên truyền chiêu hồi và viết bài tấn công về tư tưởng đối với binh lính đối phương) Cũng vì nội dung trong những tác phẩm của bà, sau năm 1975, Nhã Ca bị chính quyền giam hai năm vì tội "biệt kích văn hóa" (có cuốn sách mang tên là ‘Biệt Kích Văn Hoá’ do các học giả, nhà văn ủng hộ Mặt trận giải phóng như Trần Văn Giàu, Lữ Phương, Vũ Hạnh... viết về 10 tác giả miền Nam. Trong sách này, ngoài bà có Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn, Nhất Hạnh, Doãn Quốc Sỹ, Võ Phiến...). Trong tù, bà bị biệt giam và chính quyền tiến hành chính sách "khoan hồng, nhân đạo của Đảng" nhằm hạ gục uy tín của bà. Chính cuốn Giải khăn sô cho Huế bị liệt vào hạng tối kỵ, trưng bày trong "Nhà Triển Lãm Tội Ác Mỹ Ngụy" là chứng tích kết tội bà. Chồng bà, nhà văn Trần Dạ Từ, thì bị giam 12 năm. Do sự can thiệp của hội Văn Bút Quốc tế phối hợp với hội Ân xá Quốc tế và thủ tướng Thuỵ Điển Ingvar Carlsson, bà được sang Thuỵ Điển tỵ nạn. Năm 1992 bà cùng gia đình sang California định cư và lập hệ thống Việt Báo Daily News tại Quận Cam. Theo nhà văn Nguyễn Đắc Xuân thì cặp vợ chồng Trần Dạ Từ - Nhã Ca còn từng phụ trách nguyên cả một chương trình của đài Á Châu Tự do (RFA) của Mỹ. Tác phẩm: Nhã Ca mới (1965) Đêm nghe tiếng đại bác (1966) Bóng tối thời con gái (1967) Khi bước xưống (1967) Người tình ngoài mặt trận (1967) Sống một ngày (1967) Xuân thì (1967) Những giọt nắng vàng (1968) Đoàn nữ binh mùa thu (1969) Giải khăn sô cho Huế (1969) đoạt Giải Văn chương Quốc gia Việt Nam Cộng hòa năm 1970[4] (tái bản ở Hoa Kỳ năm 2008) Một mai khi hòa bình (1969) Mưa trên cây sầu đông (1969) Phượng hoàng (1969) Tình ca cho Huế đổ nát (1969) Dạ khúc bên kia phố (1970) Tình ca trong lửa đỏ (1970) Đời ca hát (1971) Lặn về phía mặt trời (1971) Trưa áo trắng (1972) Tòa bin-đing bỏ không (1973) Bước khẽ tới người thương (1974) v.v... Phim Đất khổ do Hà Thúc Cần sản xuất và hoàn tất năm 1973, đã một phần dựa theo cuốn Giải khăn sô cho Huế và Đêm nghe tiếng đại bác, do Nhã Ca viết đối thoại. Tại hải ngoại, bà tiếp tục sáng tác, như: Hồi ký một người mất ngày tháng Đường Tự Do Sài Gòn (2006). Mời các bạn đón đọc Tình Ca Cho Huế Đổ Nát của tác giả Nhã Ca.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Lão Goriot - Honoré De Balzac
  Tiểu thuyết Lão Goriot ra đời sau cách mạng tư sản Pháp năm 1789, khi mà sự xuất hiện của chủ nghĩa tư bản đã khiến đồng tiền ngự trị và biến đổi sâu sắc mọi mặt của xã hội. Trong hoàn cảnh đó, tiểu thuyết hiện thực phê phán góp một ý nghĩa quan trọng đối với xã hội Pháp lúc bấy giờ. Đây là một tác phẩm thuộc phần Những cảnh đời riêng(Scènes de la vie privée) của bộ tiểu thuyết đồ sộ Tấn trò đời(La Comédie humaine). Câu chuyện bắt đầu ở một nhà trọ bình dân, với bà chủ Vauquer và 7 người khách trọ. Trong đó, gây tò mò nhất là lão Goriot vì ban đầu người ta tưởng lão có nhiều tiền và nhìn lão cũng sang trọng. Nhưng sau đó lão sa sút dần, cùng lúc đó xuất hiện  bên cạnh lão những quý cô xinh đẹp, danh giá. Và người ta tưởng rằng đó là tình nhân của lão. Nhưng anh chàng sinh viên Luật Rastignac ở gần phòng lão mới là người phát hiện ra đó là hai cô con gái của lão Goriot tên là Anastasie và Delphine. Để bước chân vào xã hội thượng lưu, Rastignas đã nhờ cô em họ dẫn đường để tiếp cận với Delphine. Rastignas đem chuyện kể cho lão Goriot, lão rất cảm động và muốn giúp đỡ cho 2 người hạnh phúc. Mặt khác, ở nhà trọ bình dân, còn xuất hiện thêm tên tù vượt ngục đó là Vautrin. Lão ta rất xảo quyệt, lão đã chỉ đường cho Rastignac giàu sang bằng nhưng âm mưu độc ác. Lão Goriot rất chiều chuộng hai cô con gái, từ một người làm mì, lão đã tranh thủ cơ hội giàu có lên, và gả 2 cô con gái đến chỗ giàu sang danh giá, đưa hết tiền cho chúng sau đó bản thân mình thì đến nhà trọ bình dân. Hai cô con gái liên tục bòn rút, kể lể, than vãn với lão, trong một lần lão xúc động và sinh ốm nặng. Trong lúc đó chỉ có Rastignac và Bianchon chăm sóc cho lão. Ngay đến cuối đời, hai cô con gái của lão cũng không hề đến thăm, lão đã chết trong sự tủi hờn. Lễ tang của lão được tổ chức một cách sơ sài nhờ vào số tiền ít ỏi của Rastignac. Hôm đưa tang, người ta thấy có hai chiếc xe mang gia huy của hai dòng họ Restaud và Nucingen nhưng trên xe trống rỗng. Tác phẩm khép lại bằng cảnh Rastignac nhìn xuống phố phường Paris và thốt lên một câu đầy thách thức: "Bây giờ chỉ còn ta với mi" với dự định đến ăn tối ở nhà Nucingen Lão Goriot là một trong những tiểu thuyết thành công nhất của Honore’ de Balzac. Với ngòi bút hiện thực sắc sảo, Balzac đã trở thành một trong những đại diện xuất sắc nhất của tiêu thuyết hiện thực phê phán. Ông đã sử dụng thành công những thủ pháp ngệ thuật của tiểu thuyết hiện thực phê phán thể hiện tư tưởng của mình phơi bày hiện thực xã hội từ đó thức tỉnh con người, hướng họ tới những giá trị tốt đẹp hơn. *** Honoré de Balzac (1799-1850) là nhà văn hiện thực Pháp lớn nhất nửa đầu thế kỷ 19, bậc thầy của tiểu thuyết văn học hiện thực.  Ông là con trai của Bernard-François Balssa và Anne-Charlotte-Laure Sallambier, họ Balzac được lấy của một gia đình quý tộc cổ Balzac d'Entraigues. Cuộc đời ông là sự thất bại toàn diện trong sáng tác và kinh doanh - đó là tổng kết chung về thời thanh niên của Balzac từ khi vào đời cho đến năm (1828). Ông chỉ thật sự được văn đàn Pháp công nhận sau khi đã mất. Người ủng hộ ông nhiều nhất khi còn sống là Victor Hugo. Ông có một sức sáng tạo phi thường, khả năng làm việc cao, thường chỉ ngủ một ngày khoảng 2 đến 3 tiếng, thời gian còn lại làm việc trên một gác xép. Balzac sớm có ý thức về sự tái hiện cuộc đời một cách hoàn chỉnh ở đủ mọi góc cạnh của nó và được đặt trong hệ thống mà ông ví như một "công trình kiến trúc của vũ trụ" với tính chất vừa hệ thống vừa hoành tráng từ các tác phẩm của ông. Vũ trụ ấy là cuộc đời nhìn qua nhãn quang của ông tạo nên một "thế giới kiểu Balzac" in rõ dấu ấn của "cảm hứng vĩ mô". Vì vậy, vũ trụ trong tiểu thuyết Balzac là một "vũ trụ được sáng tạo hơn là được mô phỏng". Honoré de Balzac từng nói một câu nổi tiếng " Ai cũng có thể làm thầy ta !" ; chính sự sâu sắc này của ông đã ảnh hưởng rất lớn về cách sống cũng như trong nghệ thuật của ông. Một số tác phẩm tiêu biểu : Miếng da lừa, Lão Goriot, Bước thăng trầm của kĩ nữ, và đặc biệt là bộ tiểu thuyết đồ sộ Tấn trò đời. Mời các bạn đón đọc Lão Goriot của tác giả Honoré De Balzac.
Di Sản Của Eszter - Márai Sándor
Được xuất bản năm 1939,  Di Sản Của Eszter  tập hợp trong một câu chuyện ngắn gọn tất cả những gì tạo nên nghệ thuật của Márai Sándor. Sống ẩn dật trong ngôi nhà sắp sụp đổ, đờ đẫn trong chính sự cô đơn đang che chở cho mình, người phụ nữ đứng tuổi bỗng nhiên đón nhận sự trở về của người đàn ông duy nhất mà bà yêu thương, người đã lấy đi của bà tất cả, hoặc gần như tất cả, trước khi biến mất hai mươi năm trước. Sự đối mặt giữa hai con người phức tạp – Eszter đúng mực, không biết chính những mất mát của mình, và lajos, khó hiểu, quyến rũ và lọc lừa, là cơ hội thể hiện những xung đột của con người mà Márai Sándor là bậc thầy khắc hoạ. Sự căng thẳng bi kịch tột độ, bầu không khí như trong mộng, lối viết giản dị và rõ ràng, đã biến cuốn tiểu thuyết ngắn gọn này thành một kiệt tác thực sự. *** - “Một tinh thần định mệnh mang đậm chất Đông Âu, sự căng thẳng đầy hiệu ứng bi kịch, những nhân vật tinh tế, văn phong trong sáng… và phép màu hiện ra” – Lire - “Một người phụ nữ chẳng mong gì nữa, chẳng mong đợi ai nữa bỗng thấy tình yêu đầu tiên và cũng là tình yêu cuối cùng của mình trở về - để trả lại tất cả hay lấy đi nốt chút gì còn lại của bà? Bà không biết rằng trong con người đó, thiên thần và ác quỷ cùng mang những đôi cánh rực rỡ như nhau” – Amazon.fr - “Một cuộc gặp gỡ diễn ra khi quá khứ gần như sống lại nguyên vẹn từ những tro tàn của nó đã đến lúc màn cuối cuả tấn bi kịch nổ ra bởi “quy luật của thế giới này là những gì đã khởi đầu sẽ giành quyền kết thúc” – NXB Albin Michel - “Tác giả Hungary này thích miêu tả những cuộc trở về - sự đối mặt giữa hai con người mà cuộc sống đã chia rẽ họ và những tình cảm vẫn còn dang dở. Di sản thực sự của Eszter: “Bà đã biết bí ẩn lớn nhất của cuộc sống: biết sống cô độc” – Lire. *** Márai Sándor họ Grosschmid, sinh ngày 11.4.1900, tại Kassa, Hungary, nay là Kocise thuộc nước Cộng hòa Slovakia. Năm 1923, Márai sang Paris, lưu lại năm năm. Năm 1926 ông bắt đầu hành trình dài ngày tìm hiểu vùng Cận Đông và viết cuốn Theo dấu chân các bậc thánh (Istenek nyomában), xuất bản năm 1927. Thời kỳ sáng tác sung sức nhất của Márai là khoảng từ năm 1928 đến năm 1948, khi ông trở về sinh sống tại Hungary cùng vợ. Ông làm thơ, viết tiểu thuyết, dịch thuật, viết kịch bản và để lại gần một trăm đầu sách, trong đó có những tiểu thuyết nổi tiếng như Casanova ở Bolzano, Di sản của Eszte, Những ngọn nến cháy tàn, Nhật ký, Lời bộc bạch của một công dân… Márai cũng là bậc thầy của thể đoản văn, những suy niệm của ông bao giờ cũng mang âm hưởng triết lý, cô đọng. Márai được bầu là Viện sĩ Thông tấn năm 1942 và Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Hungary năm 1945. Từ 1948, ông sống lưu vong tại Ý và Mỹ. Tác phẩm của Márai đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và ông được xếp trong số những nhà văn lớn nhất của châu Âu thế kỷ XX. “Và đến giây phút cuối cùng, cho tới khi còn được cầm bút viết nên con chữ, tôi muốn làm chứng rằng: đã có một thời và vài thế hệ mà ở đó trí tuệ đã ca khúc khải hoàn trước bản năng, và tin vào khả năng phản kháng của tinh thần… tôi đã thấy và đã nghe châu Âu, đã nghiệm sinh một nền văn hóa… liệu tôi có thể nhận được gì hơn từ cuộc đời?” - Márai Sándor Mời các bạn đón đọc Di Sản Của Eszter của tác giả Márai Sándor.
Cậu Chó - Trần Đức Lai
Trong kinh Địa Tạng phầm đệ tử nói về Diêm Phủ chúng sanh nghiệp cảm Đức Phật có bảo với Ngài Địa Tạng Bồ Tát rằng: "Nhất thiết chúng sanh, vị giải thoát giả, tánh thức vô định, ác tập kết nghiệp thiện tập kết quả" nghĩa là "Những chúng sanh mà chưa giải thoát tánh thức của nó không định, hễ quen làm dữ thời kết thành nghiệp báo dữ còn quen làm lành kết thành quả báo lành". Trong kiếp nhân sanh, một gia đình tưởng mình phú quý tột bậc đó là do phúc đức cha mẹ, ông bà để lại mà quên việc làm lành cố làm theo dữ để được sung sướng trong kiếp tạm thời ở thế gian nên có nhiều khi Trời Phật quả báo nhỡn tiền, cho trông thấy cái nghiệp chướng ác đức hiện ra ngay trong kiếp người hầu mong những người làm ác nghĩ lại mà hối quá. Ngày xưa cũng như ngày nay có nhiều gia đình, tự nhiên sanh con bán thân bất toại hoặc sinh nhiều chứng tật nguyền kỳ lạ khác hẳn thiên hạ. Đó là nghiệp chướng báo oán. Họ lấy khoa học hoặc dựa vào Duy vật Biện Chứng pháp của Cộng sản để chứng minh hầu chối chạy tội lỗi họ đã gây ra. Chúng tôi sẽ lần lượt thuật lại hầu bạn đọc những câu chuyện nghiệp chướng kỳ lạ, kinh dị mà khoa học cũng đành bó tay không làm sao giải thích nổi. *** Trần Đức Lai, tên thật là Bùi-Bá-Nhân, quê ở làng Do-Xuyên, tổng Vân-Trai, Phủ Tỉnh Gia, Tỉnh Thanh-Hóa. Vào nghề viết báo từ năm 1938, làm Thông-Tín-Viên cho Nhựt Báo Đông Pháp ở Thanh-Hóa. Năm 1940, làm Thông Tín Viên cho Nhựt Báo Tin Mới của Bác-Sĩ Nguyễn-văn-Luyện do Nhà Văn kiêm Nhà Báo Tam Lang làm Chủ Bút. Bắt đầu viết văn từ năm 1942. Truyện ngắn đầu tiên mang bút hiệu Thiềm Cung đăng trong số Xuân Tin Mới, nhan đề : « MỘT THỜI XUÂN ». Thỉnh thoảng viết trên báo ĐÀN BÀ, TIỂU THUYẾT THỨ BẢY với bút hiệu MÃ GIANG TỬ. Năm 1951 hồi cư viết cho tờ Quốc Dân, Thăng Long, Bạn Dân. Năm 1952, làm công chức và viết báo DÂN CHÚNG, DÂN NGUYỆN với bút hiệu TÔ VĂN. Năm 1955, di cư vô Nam làm Biên Tập Viên cho Nhựt Báo NGÔN LUẬN, DÂN CHÚNG. Tổng thơ Ký Tòa Soạn Nhựt Báo CÁCH MẠNG QUỐC GIA, SAIGON MAI cộng tác với CÁT HỮU viết chung nhiều mục lấy bút hiệu là CÁT VĂN. Năm 1962, Biên Tập Viên Nhựt Báo ĐỒNG NAI, chủ bút Nhựt Báo BẾN NGHÉ, chủ bút Nhựt Báo CÔNG CHÚNG, biên tập viên Nhựt Báo SỐNG, DÂN, THỜI SỰ MIỀN NAM, ĐIỆN TÍN, các Tuần Báo DẠ ĐÀM, PHỤ NỮ MỚI, Giám Đốc Chánh Trị Nhựt Báo TRẮNG ĐEN. Với bút hiệu TRẦN ĐỨC LAI, ký giả TÔ VĂN thường viết truyện Ma Quái, Kinh Dị trên các Nhựt Báo DÂN CHÚNG, ĐỒNG NAI, SAIGON MAI, TRẮNG ĐEN được đọc giả cũng như các Văn hữu tặng danh hiệu MA SƯ. Ngoài bút hiệu TRẦN ĐỨC LAI, ký giả TÔ VĂN còn có bút hiệu MINH ĐẠO khi viết chuyện Tình Cảm Xã Hội, bút hiệu ĐIỆP-VIÊN khi viết tiểu thuyết phóng sự và P. Y. 65 khi viết truyện Trinh Thám, GIÁN ĐIỆP. Nhà Văn TRẦN ĐỨC LAI là một trong những nhà Văn có nhiều độc giả nhứt và cũng là một trong những cây bút đắt giá nhứt. Mời các bạn đón đọc Cậu Chó của tác giả Trần Đức Lai.
Em Là Nhà - Lan Rùa
“Em chẳng sợ cuộc đời nhiều biến cố, chỉ sợ không có anh siết chặt tay em.” Dành cho những ai trải qua bao nhiêu vụn vỡ, vẫn muốn một lần nữa tin vào  tình yêu. Cuốn tiểu thuyết đạt tới 20 triệu lượt đọc trên Internet của tác giả Lan Rùa và ngoại truyện chưa từng được công bố của Em là nhà. Đằng sau một cuộc tình tan vỡ là điều gì? Lời xin lỗi liệu có là đủ để làm nguôi ngoai nỗi đau của người bị bỏ lại? Tình yêu thời nay, chỉ yêu thôi chưa bao giờ là đủ? Nếu bạn còn chưa thể chắc chắn khi đưa ra câu trả lời của mình, vậy thì hãy cùng đi tìm đáp án cho những câu hỏi trên trong Em Là Nhà – Cuốn tiểu thuyết viết về những mối ​ tình đan xen, là món quà, là lời nhắn nhủ của một người trẻ, gửi đến nhiều người trẻ. Xoay quanh những đổ vỡ tình cảm, những thách thức, những sự lừa dối mà cô gái trẻ Như Nguyệt phải chịu đựng, chuyện tình yêu trong Em là nhà sẽ đưa bạn qua những ​ cung bậc cảm xúc từ ngọt ngào đến cao trào uất hận, từ bình yên êm ấm đến những nỗi đau chỉ có thể âm thầm chịu đựng. Tình yêu là điều duy nhất trên đời này không thể lên kế hoạch, không thể lường trước. Thời gian của một cuộc tình dường như chẳng thể đảm bảo về một cái kết hạnh phúc, giống như mối tình kéo dài suốt 7 năm của Như Nguyệt và Việt An. Hai con người đã dành cả thanh xuân ở bên nhau, sau cùng đã trở thành những người xa lạ. Chàng trai quay lưng, kết hôn với người bạn thân nhất của người con gái mình từng yêu. Đó là Hà Vi​ – cô gái xinh đẹp và phía sau là cả một gia đình bề thế. Sóng gió từ đó cứ đổ ập vào đời Như Nguyệt. Bình yên hết lần này đến lần khác rời bỏ cô mà đi. Em là nhà​ là câu chuyện tình với nhiều nước mắt, nhiều thù hận, nhưng cũng không thiếu những điều ngọt ngào và những hạnh phúc bình dị. Mỗi trang sách bạn lật mở, mỗi nỗi đau bạn cảm nhận cùng những nhân vật chính là mỗi lần bạn xóa đi lớp sương mù đang giăng trong mình về tình yêu. Và những câu hỏi ở trên sẽ trở nên dễ dàng trả lời hơn bao giờ hết. Chẳng phải tự nhiên mà Việt An bỏ Như Nguyệt để đến với Hà Vi. Chẳng phải tự nhiên mà Mai và Như Nguyệt trở thành đối thủ và nhìn nhau bằng ánh mắt hình viên đạn, dù trước đó họ từng rất thân. Cũng chẳng phải tự nhiên mà Như Nguyệt có thể dễ dàng bước qua những đổ vỡ của đời mình. Vậy đó, chuyện tình yêu trong Em là nhà​ không chỉ đơn thuần là những lần yêu – chia tay, cũng không hẳn là những thù hằn hay những mưu kế trả thù. Đó là cuộc sống của những người trẻ chông chênh, mỏng manh và đơn độc giữa những tháng ngày bão tố. Tuổi trẻ của họ được yêu, được nông nổi, được khờ dại, được nếm trải những nỗi đau để rồi nhận ra rằng: Tình yêu thôi là không đủ để làm nên một cuộc đời hạnh phúc. Em là nhà​ nhẹ nhàng như vị tình yêu đầu đời, đắng chát như mùi thù hận và bất ngờ với những bí mật thẳm sâu. Hãy đọc, cảm nhận để tự tìm đáp án cho những câu hỏi vẫn còn đang bỏ ngỏ trong trái tim bạn. *** Tác giả tự giới thiệu: Mình cung Kim Ngưu, rất vui được làm quen với các nàng. Về nick name Lan Rùa, thực ra biệt danh của mình là Nhím, chứ không phải là Rùa, mọi người yêu quý đều gọi mình là Nhím. Rùa là biệt danh người bạn thân nhất, khi viết truyện lập nick chơi chơi, sau ngại đổi. *** Cuộc sống mà, luôn có những lúc gập ghềnh. Nhớ mãi năm đó giáo sư bị tai nạn. Một người cẩn thận như anh sao có thể gặp tai nạn? Lúc nghe người ta báo mình còn tưởng nhầm với ai. Mất một lúc đơ mới vội vàng chạy vào viện. Được cái người đưa vào người ta kể đường chỗ đó bé, ông xã tránh hai thằng say rượu đi nghênh ngang rốt cuộc lao xuống mương. Mịa nó chỉ muốn đập cho hai thằng khốn ấy một trận. Tình hình xấu quá bác sĩ bảo chuyển lên tuyến trên, thế là đêm hôm ấy vợ với hai con theo chồng đi. Nói thật muốn gửi chúng về quê lắm nhưng có cô y tá khuyên anh không được tốt, chị cứ cho hai bé đi nhỡ có gì còn được gặp mặt ba lần cuối. Nghe xong mà nước mắt mình chảy không ngừng, vội vã nhờ người về nhà đón Mun Sa. Ba mẹ con nhếch nha nhếch nhác, con khóc mẹ khóc, đau như xé từng khúc ruột. May mắn hôm đấy thoát, nhưng chuyển biến của anh cứ như trêu đùa người ta vậy, rõ là ban sáng khám qua các kiểu thấy rất tốt, tỉnh tỉnh rồi, vợ nói gì cũng hiểu, còn cầm tay mình và hai con. Thế nào mà chiều lại đột nhiên yếu đi, nhịp tim thất thường doạ mình sợ gần chết. Ai có người nhà đi viện chắc mới thấm được, lúc nào cũng như ngồi trên đống lửa vậy. Qua một tuần bác sĩ chịu trách nhiệm chính vào khám tổng thể, nói sắp tới tiến hành phẫu thuật lần nữa. Mọi người ba mẹ họ hàng chị em đều ở bên động viên không sao đâu, nhưng cái thời khắc đọc thoả thuận rồi đặt bút kí giấy đúng là như bị đày xuống địa ngục vậy, căng thẳng kinh khủng. Lúc chồng ở trong đó, vợ ở ngoài chẳng biết làm gì khác ngoài cầu nguyện cả. Nửa tiếng trôi qua thì dì Hạnh đưa Mun và Sa tới, Sa nắm tay mẹ an ủi. -"Chiều qua lúc mẹ đi tắm ba tỉnh nhé, ba khoẻ mạnh lắm, ba còn viết gì cho mẹ ý..." Nghe con nói mà giật nảy người luôn. Mình quay sang hỏi hai đứa dồn dập mà con Mun nhất định không khai, nó bảo hứa với ba rồi, con Sa thì bị chị lườm nên câm nín. Không biết thì thôi chứ thế này ai mà chịu được? ... Mời các bạn đón đọc Em Là Nhà của tác giả Lan Rùa.