Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Từ Nước Mắt Đến Nụ Cười - Tận Cùng Khổ Đau Đến Ngời Sáng Tâm Hồn

Tận cùng khổ đau đến ngời sáng tâm hồn • “Phương thuốc tự nhiên” đến từ tình yêu thương và sự tha thứ sẽ giúp xoa dịu những nỗi đau và chữa lành chứng trầm cảm. • Chứng trầm cảm có thể là một sự khởi đầu thiêng liêng dẫn vào hành trình giác ngộ Những tổn thương, mất mát, nỗi thống khổ, hay sự trầm cảm là những điều mà không ai trong chúng ta muốn đón nhận, nhưng lại không thể tránh khỏi trong cuộc đời. Tuy nhiên, Marianne Williamson - tác giả của cuốn sách - khẳng định “Trầm cảm có thể là một sự khởi đầu thiêng liêng dẫn vào hành trình giác ngộ”. Cuốn sách được xem là sự suy tư về nỗi đau của con người, căn nguyên của chứng trầm cảm, và đặc biệt là sự siêu việt mà nó mang lại cho chính chúng ta. “Từ nước mắt đến nụ cười là cuốn sách đào sâu vào gốc rễ của chứng trầm cảm. Sau đó, sẽ giúp bạn nắm bắt được những giải pháp để vượt qua chúng và tiếp tục tiến về phía trước. Đây là một cuốn sách lý tưởng dành cho tất cả chúng ta” - nhà sáng lập Spirituality & Health bình luận về cuốn sách. Cuốn sách mở đầu bằng câu chuyện về cuộc đời của Jonathan - người từng đứng ở đỉnh cao của cuộc đời, đã rơi xuống vực thẳm sâu hoắm và đen tối khi đánh mất gia đình, nhà cửa, tiền bạc, và cả sự nghiệp. Những bất trắc ấy đã khiến Jonathan rơi vào chứng trầm cảm, và buộc phải tham gia những buổi trị liệu của bác sĩ tâm lý để tìm thấy sự chữa lành. Từng là một người cao ngạo và tự mãn, giờ đây, Jonathan đã phải rơi lệ, chịu cúi đầu và khiêm nhường trước người khác để mong cầu sự giúp đỡ. Nếu Jonathan đã phải rất khổ sở mới có thể thốt lên rằng “Tôi mất hết tất cả rồi”, thì tác giả - cũng chính là bác sĩ tâm lý của anh - lại nhẹ nhàng xoa dịu bằng câu nói của một nhà sư: “Cốc phải cạn thì mới có thể rót đầy”. Đôi khi mọi chuyện phải trở nên tồi tệ rồi mới bắt đầu tốt lên. Thế nên, nhiều lúc cuộc sống của chúng ta trở nên trống rỗng lại là một điều tốt đẹp, Marianne Williamson chia sẻ. “Từ nước mắt đến nụ cười” được chia thành 12 phần chính: 1. Phó thác nỗi buồn 2. Xuyên qua bóng tối, vào ánh sáng 3. Chống lại sự tê dại 4. Vũ trụ diệu kỳ 5. Văn hóa muộn phiền 6. Tha thứ 7. Thiên đường quan hệ, địa ngục quan hệ 8. Thay đổi chính mình, thay đổi thế giới 9. Ánh sáng của Đức Phật 10. Ánh sáng của Moses 11. Ánh sáng của Chúa Jesus 12. Nước mắt tới hân hoan Xuyên suốt cuốn sách, Marianne Williamson hướng mọi người đón nhận và trưởng thành từ những nỗi đau thay vì né tránh như cách mà chúng ta hay làm. Nữ tác giả tin rằng: càng phủ nhận những tổn thương, chúng ta càng kéo dài nỗi đau do chúng gây nên. “Chừng nào còn chưa được chữa lành, những vết thương ấy còn tiếp tục đưa cuộc sống của chúng ta đi theo những hướng bất lợi”. Những “phương thuốc tự nhiên” giúp bạn đọc đối diện và vực dậy khỏi những tổn thương mà Marianne Williamson đã nói đến trong cuốn sách bao gồm: Cho phép được buồn, Thoát khỏi quá khứ, Tha thứ cho chính mình, Nhân từ Đặc biệt, với cương vị là một nữ chính trị gia và nhà lãnh đạo tâm linh, thông qua tác phẩm của mình, Marianne Williamson còn đem đến cho độc giả kiến thức về hành trình giác ngộ. Cuốn sách chứa đựng những đoạn kinh ngắn, được sử dụng trong đạo Phật, Công giáo, và đạo Chúa để chữa lành những tổn thương và tìm thấy sự thanh tịnh trong tâm hồn. Với lối văn súc tích, dễ hiểu cùng những câu chuyện đời thường xen kẽ, “Từ nước mắt đến nụ cười” đã chạm đến trái tim của nhiều bạn đọc, đặc biệt là những ai đang phải đương đầu với những mất mát, tổn thương, và sự trầm cảm. Cuốn sách đã nhanh chóng có mặt trong danh mục những tựa sách bán chạy nhất tại Mỹ ngay khi vừa mới phát hành. Về tác giả Marianne Williamson là một tác giả, diễn giả, nhà hoạt động chính trị và lãnh đạo tâm linh nổi tiếng trên toàn thế giới. Đặc biệt, cô là một trong những ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ thuộc đảng Dân chủ năm 2020. Tính đến nay, Marianne Williamson là tác giả của 14 cuốn sách, với hơn 3 triệu bản được bán ra trên thị trường, trong đó có 4 cuốn lọt vào danh mục sách bán chạy nhất theo The New York Times. Sách của Marianne Williamson chủ yếu bàn về những giá trị tinh thần và tình yêu thương con người, giúp độc giả khám phá bản thân và vượt lên trên những nghịch cảnh để tìm thấy niềm vui và sự an yên trong cuộc sống. *** Trong một thế giới vồn vã, quay cuồng và đầy ngổn ngang này, bạn và tôi, có lẽ chúng ta đều có nhiều hơn một lần bị những nỗi khổ đau ăn mòn tâm trí. Có phải bạn đã từng có những suy nghĩ như “Tại sao mình phải chịu đựng những thứ này?”, “Vì cớ gì mà mình lại đau khổ đến như vậy?”, “Giá trị thực sự của mình nằm ở đâu?”, “Mình là ai?”,... cứ quanh quẩn và giày vò trí óc bạn mỗi ngày? Tôi muốn nói với bạn rằng, bạn không chỉ có một mình thôi đâu. Ai trong mỗi người chúng ta trên trái đất này, cũng đều có những lúc mà nỗi đau của sự tồn tại dường như vượt quá sức chịu đựng. Và vì lẽ đó, ai cũng đều có một niềm khao khát, có thể là một niềm khao khát cháy bỏng, đối với tình yêu và cả hạnh phúc. Nếu bạn là một người đang mang trên mình nhiều vết thương tinh thần, một trái tim không lành lặn chứa đầy vết xước đến rỉ máu, hay bạn đang khao khát vươn tay chạm tới thứ ánh sáng phía cuối đường hầm tăm tối, khao khát tìm một hướng đi giải thoát cho thực tại khốn khổ của mình, tôi nghĩ bạn nên tìm đọc cuốn sách Từ nước mắt tới nụ cười - Tận cùng khổ đau đến ngời sáng tâm hồn của tác giả Marianne Williamson. Bạn có thể tìm thấy ở đây một số mảnh ghép mà bạn chưa từng biết. Một bí ẩn. Và, có thể, là một phép màu. Con người ta dường như luôn bị những nỗi lo sợ chi phối trong cuộc sống hàng ngày. Trong khi một sự thật hiện hữu rằng, không ai có thể thật sự chi phối được chúng ta ngoài chính linh hồn sâu thẳm bên trong mỗi người. Khi thứ dịch bệnh Covid ám ảnh cả thế giới bùng phát trở lại ở Việt Nam một lần nữa, nỗi lo sợ mới lại được hình thành, quẩn quanh những âu lo trong cuộc sống thường nhật của mỗi người. Chúng ta có hàng tá lý do cho phép nỗi sợ hãi, muộn phiền hiện diện: lo không thể về được quê của mình, sợ công việc đang làm sẽ có sự thay đổi, lo thu nhập bị ảnh hưởng, sợ mình có thể bị mắc bệnh,... Nỗi sợ càng lớn bao nhiêu, thứ tâm bệnh tà ác ta rước thêm vào người càng nhiều bấy nhiêu. Bạn muốn thoát ra khỏi mớ cảm xúc và suy nghĩ hỗn độn ấy chứ? Cuốn sách Từ nước mắt đến nụ cười - Tận cùng khổ đau đến ngời sáng tâm hồn của tác giả Marianne Williamson có thể sẽ trở thành một sự động viên tinh thần, giúp bạn không còn cảm thấy một mình trên cuộc hành trình vượt qua những khổ đau và nỗi lo hãi trong cuộc sống chìm nổi này. Và tôi nghĩ, cuốn sách này đặc biệt dành tặng cho những người đang cố gắng đấu tranh hằng ngày với căn bệnh trầm cảm ẩn sâu bên trong mình. Về tác giả và cuốn sách Marianne Williamson là một người phụ nữ tài giỏi. Bà vừa là một nhà hoạt động chính trị và là một nhà lãnh đạo tâm linh. Đồng thời, bà cũng chính là tác giả của 14 cuốn sách nổi tiếng, trong đó có bốn cuốn đã được lọt vào danh mục sách bán chạy nhất của The New York Times. Bà là người sáng lập ra Project Angel Food, một tổ chức phi lợi nhuận cung cấp hơn 12 triệu bữa ăn tình nguyện phục vụ cho những người bị AIDS ở nhà và cả các bệnh nhân đang hàng ngày đấu tranh với căn bệnh hiểm nghèo đe dọa đến tính mạng khác. Bên cạnh đó, bà cũng là người đồng sáng lập của Liên minh Hòa bình, một tổ chức giáo dục và vận động cơ sở phi lợi nhuận hỗ trợ các dự án xây dựng hòa bình. Bạn thấy đấy, Marianne quả là một người phụ nữ đa tài. Nhưng tôi hiểu bà đã phải cố gắng đến mức nào để có thể tiếp tục đi con đường của bản thân. Suy cho cùng, trên đường đi của mỗi người, chí ít thì ai cũng có đôi lần phải nếm trái đắng nhỉ? … Có một số người bị nỗi đau đớn tận cùng đè nặng, khó thể nào nguôi ngoai, dù chỉ một chút nhỏ nhoi. Ta chìm mỗi lúc một sâu hơn trong giếng nước mắt của chính mình, chìm vào bóng tối thăm thẳm dường như không đáy. Ta tự hỏi tất cả những đau đớn này đến từ đâu. Và ta tự hỏi nó có bao giờ kết thúc? Nếu bạn, hoặc một người nào đó mà bạn yêu thương, đang phải trải qua khoảng thời gian như thế - khi việc thở thêm một hơi nữa, sống thêm một ngày nữa, dường như cũng là quá sức - Thì tôi rất vui vì bạn đọc cuốn sách này. Tôi biết khổ sở là gì, vì tôi đã hai lần bị chẩn đoán trầm cảm. Tôi đã trải qua bi kịch cá nhân và cái chết của những người thân yêu. Tôi đã phải chịu đựng sự phản bội và thất vọng. Hơn một lần, tôi cảm thấy mất hết mọi cơ hội hạnh phúc từng có. Tôi đã ở quá gần với đau khổ, không chỉ trong cuộc sống của chính tôi, mà còn cuộc sống của nhiều người khác mà tôi đã gặp trong sự nghiệp của mình. Không gì giúp bạn nhìn rõ được nỗi khổ của người khác hơn khi chính bạn cũng phải chịu khổ. Tôi biết khuôn mặt của trầm cảm mà, tôi biết rõ! Nhiêu đó thôi cũng đủ khiến tôi nghĩ rằng bạn nên đọc cuốn sách này. Một người đã từng trải qua trầm cảm, đã chiến đấu và đánh bại được nó, hẳn cũng có thể dẫn dắt và giúp đỡ bạn tự đánh bại được tâm bệnh trong chính mình. Bạn không hề chiến đấu đơn độc một chút nào. Cuốn sách trọn vẹn 293 trang được chia thành 12 chương nhỏ: Phó thác nỗi buồn Xuyên qua bóng tối, vào ánh sáng Chống lại sự tê dại Vũ trụ diệu kỳ Văn hóa muộn phiền Tha thứ Thiên đàng quan hệ, địa ngục quan hệ Thay đổi chính mình Ánh sáng của Đức Phật Ánh sáng của Moses Ánh sáng của Jesus Nước mắt tới hân hoan Cuốn sách Từ nước mắt đến nụ cười là một sự suy tư tinh thần về nỗi đau khổ của con người, cả về căn nguyên và sự siêu việt của nó. Bên cạnh đó, cuốn sách còn chạm đến bề mặt chiều sâu tinh thần của sự sáng suốt trong các giáo lý tôn giáo và tâm linh vĩ đại với hy vọng đến được nơi đang bị che khuất đằng sau những tấm màn phủ giáo điều cùng những hiểu lầm từ xa xưa. Xuyên suốt cuốn sách, các bạn sẽ thường xuyên được nhìn thấy “Chúa Trời”. Chúa Trời mà tác giả nhắc đến trong cuốn sách này không phải chỉ là Chúa Trời trong thiên chúa giáo nói riêng, mà đó còn là từ dùng để chỉ các Đấng Thiêng Liêng của mọi tôn giáo nói chung. Xã hội này đã rước trầm cảm đến bằng cách coi thường tình yêu. Chúng ta đã bán linh hồn của mình cho một mớ hầm bà lằng. Sự tồn tại của con người không chỉ là một tình tiết ngẫu nhiên, chẳng vì mục đích nào ngoài việc tất cả chúng ta đều nên có được những gì mình muốn. Nhìn nhận theo cách đó, không có lớp phủ tinh thần, cuộc sống của chúng ta dường như không còn ý nghĩa tối thượng, trong khi linh hồn khao khát ý nghĩa chẳng khác nào cơ thể thèm khát oxy. Khi không có một khung sườn tinh thần, chúng ta biết các cơ chế của cuộc sống nhưng lại hầu như không hiểu được. Và bởi không hiểu cuộc sống, chúng ta sống sai. Và bởi sống sai, chúng ta gây đau khổ - cho bản thân và cho người khác. Hành trình thiêng liêng của Đức Phật bắt đầu khi Ngài thấy đau khổ lần đầu tiên; Moses xúc động trước những thống khổ của người dân Israel; và Chúa Jesus chịu khổ trên cây thập giá. Nhưng vấn đề không chỉ đơn giản là Đức Phật thấy nỗi khổ, mà là Ngài đã vượt qua nó bằng sự giác ngộ của mình. Vấn đề không chỉ đơn giản là người Do Thái bị bắt làm nô lệ, mà là họ đã được giải cứu và dẫn đến miền Đất Hứa. Vấn đề không chỉ đơn giản là chúa Jesus bị đóng đinh, mà là ngài đã được hồi sinh. Sự đau khổ của con người chỉ là vế đầu của phương trình, điều quan trọng hơn là những gì xảy ra sau khi Chúa Trời cho ta thấy bàn tay của Người. Tận cùng khổ đau Xã hội càng hiện đại, áp lực cuộc sống càng đè nặng lên đôi vai của mỗi người. Gánh nặng ấy không chỉ đến từ những lo toan cuộc sống hàng ngày, mà nó còn đến từ những áp lực của đời sống tinh thần, nặng nề hơn, và đáng sợ hơn. Bạn có thể dễ dàng thấy được những con số thống kê về tỷ lệ người tự tử vì trầm cảm hàng năm trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đa phần trong số đó đều là những người còn rất trẻ. Phải chăng người trẻ của hiện đại đang thiếu đi sự đề kháng với áp lực? Nhiều người nghĩ rằng đó là những hành động nông nổi và bồng bột của giới trẻ. Bạn có thể dễ dàng bắt gặp được câu nói của những người lớn tuổi như “ngày xưa còn khổ hơn gấp nhiều lần mà còn chịu được đó thôi”. Nhưng sự thật thì có thật sự là như vậy hay không? Khi người trẻ chọn tử tự là cách để giải thoát nỗi buồn, theo bạn, đó là điều đáng lên án hay là điều đáng được cảm thông?  Cơ hội lớn nhất cho sự sống còn của loài người trong thế kỷ 21 không nằm ở việc mở rộng tầm hiểu biết về thế giới bên ngoài mà là đào sâu thêm thế giới bên trong chúng ta. Điều đó áp dụng cho mỗi cá nhân, và cũng áp dụng cho toàn thể. Chừng nào còn chưa làm được điều đó, thì ta còn buồn bã. Cơ thể của chúng ta, các mối quan hệ của chúng ta, sự nghiệp của chúng ta, chính kiến của chúng ta sẽ tiếp tục là ngọn nguồn đau khổ trong khi đáng ra nên là nguồn vui. Ẩn trong tất cả các giáo lý tâm linh vĩ đại là chìa khóa để xoay chuyển cục diện. Khi tìm thấy và xoay chìa, chúng ta sẽ ngạc nhiên bởi những gì ẩn giấu đằng sau cánh cửa đã bị khóa trái với Chúa Trời. Không phải là không có hy vọng, chỉ là chúng ta chưa nhìn thấy nó mà thôi. Không phải là không có sức mạnh, chỉ là chúng ta chưa thỉnh cầu. Không phải là không có tình yêu, chỉ là chúng ta chưa sống với tình yêu. Nhìn thấy được những điều này, cuộc sống của chúng ta bắt đầu thay đổi. Tâm trí của chúng ta được đánh thức. Phép màu xảy ra. Và cuối cùng trái tim ta vui sướng. Các bạn có tin vào phép màu không nhỉ? Tôi thì tin vào phép màu lắm. Đôi khi chúng ta hay bỏ quên một điều diệu kỳ của tuổi thơ, đó là chúng ta tin vào phép màu, tin vào những câu chuyện thần tiên cổ tích đầy màu sắc và âm thanh của hạnh phúc. Hẳn là bạn đã từng xem bộ phim hoạt hình Disney nổi tiếng có tên “Lọ Lem” rồi nhỉ? Bạn có còn nhớ lời bài hát trong bộ phim đó không? Tôi xin được tạm dịch một câu trong lời bài hát đó mà tôi nhớ mãi: “Dù bạn có phải chịu đau khổ tới mức nào, nếu bạn tiếp tục giữ niềm tin, giấc mơ sẽ trở thành sự thực”.  Khả năng ta phải đau lòng luôn tồn tại; nó là một phần trải nghiệm của con người. Ở đâu có tình yêu, ở đó có hạnh phúc. Nhưng nơi nào mối ràng buộc của tình yêu tan vỡ, nơi đó có nỗi đau. Nếu thế giới bị chi phối bởi nỗi sợ, và vì vậy chống lại tình yêu theo nhiều cách khác nhau, thì làm sao trái tim chúng ta lại không thể bị xé toạc ra bởi nỗi đau của việc chỉ đơn giản là ta đang sống? Khi đã sống đủ lâu, bạn sẽ hiểu. Nó đến với bạn, và bạn sống với nó một cách yêu kiều. Bạn học cách nhận đòn và biết rằng đó chỉ đơn giản là một phần của cuộc sống. “Chào ông bạn cũ bóng tối, tôi lại đến nói chuyện với ông nữa đây” không chỉ là lời bài hát của Simon và Garfunkel, nó mô tả một thái độ chấp nhận rằng tuần này, tháng này, hoặc thậm chí năm này có thể khó khăn đấy, nhưng bạn biết bạn sẽ vượt qua. Và theo một cách nào đó, con người mà chúng ta sẽ trở thành bởi vì đã sống qua khoảng thời gian đó là một người còn sống động hơn - và có lẽ đẹp hơn - con người lúc trước. Theo lời của Elisabeth Kubler-Rose: “ Nếu che chắn hẻm núi khỏi những cơn bão, bạn sẽ không bao giờ nhìn ra được vẻ đẹp thực sự của những dấu phong hóa.” Cuốn sách này cho tôi nhận thấy được rằng tâm bệnh đến với mỗi người bởi lẽ tâm hồn chúng ta thiếu thốn sự yêu thương, đặc biệt là thiếu thốn sự yêu thương đối với chính bản thân mình. Có nhiều người nghĩ rằng mình đang yêu thương mình, nhưng thực ra, đó có thể lại là sự ích kỷ. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta yêu thương những người thân xung quanh, nhưng cách yêu thương của ta liệu có phải là đúng? Điều đó giống như trong cuốn Yêu của Osho đã chỉ ra, rằng cái cách mà cha mẹ yêu thương con đã không đúng như nhiều cha mẹ đang nghĩ rồi. Nếu bạn đã trót rơi vào vũng bùn lầy lội và tăm tối của tâm bệnh, bạn có muốn thoát ra khỏi nó không? Mời các bạn đón đọc Từ Nước Mắt Đến Nụ Cười - Tận Cùng Khổ Đau Đến Ngời Sáng Tâm Hồn của tác giả Marianne Williamson.

Nguồn: dtv-ebook.com

Đọc Sách

Hành Trình Đến Tận Cùng Đêm Tối - Louis Ferdinand Céline
Louis Ferdinand Céline (1894-1961) tên thật: Louis-Ferdinand Destouches, vừa là nhà văn vừa là thầy thuốc. Ông lấy tên bà ngoại, Céline, làm bút danh. Năm 1912, ông tình nguyện nhập ngũ và giải ngũ năm 1914 với 75% thương tật. Sau đó, ông sang châu Phi tham gia việc chiếm đóng một thuộc địa cũ của Đức là Cameroun; trở về nước năm 1916, với bệnh sốt rét mạn tính. Năm 1918, ông theo học đại học y khoa, từng làm thầy thuốc cả ở New York, Mỹ lẫn Paris, Pháp. Đây là những chi tiết sẽ xuất hiện trong tiểu thuyết đầu tay của ông năm 1932 với tựa đề Hành trình đến tận cùng đêm tối. Đây là một trong những cuốn sách hiếm hoi vừa ra mắt đã lập tức trở thành một sự kiện lịch sử văn học. Céline đã dựa vào thứ ngôn ngữ truyền khẩu và bình dân mà văn học Pháp đã không biết đến suốt ba thế kỷ, để kịch liệt tố cáo thực trạng xã hội, từ đó tạo ra một sức mạnh chưa từng có và dùng nó đế đặt một nghi vấn siêu hình về con người và thân phận làm người. Nhiều từ điển bách khoa Pháp đặt Hành trình đến tận cùng đêm tối ngang với các tác phẩm văn học kinh điển và thường dành một mục từ riêng cho tác phẩm và cho rằng tác phẩm đã "được viết với một văn phong méo mó, tràn ngập những lộng ngôn", nhưng cũng phải thừa nhận "tác phẩm đã ảnh hưởng sâu sắc đến văn học Pháp hiện đại". Năm 1995, tờ tuần báo Pháp L’Évènement du Jeudi cùng Đài Phát thanh và Trung tâm văn hóa Pompidou ở Paris đã tổ chức một cuộc trưng cầu ý kiến để chọn lấy 10 cuốn sách hay nhất trong văn học Pháp cho thế hệ năm 2000. Kết quả là, cuốn Hành trình đến tận cùng đêm tối được xếp thứ hai, sau cuốn Đi tìm thời gian đã mất của Marcel Proust, nhưng đứng trên các tác phẩm xưa nay nổi tiếng của Albert Camus, André Malraux, Marguerite Yourcenar hay Jean- Paul Sartre. Hoàng Phong​ *** Chuyện ấy đã bắt đầu như thế đấy. Tôi thì tôi chẳng bao giờ nói gì đâu. Chẳng nói gì cả. Nhưng Arthur Ganate lại gợi cho tôi nói. Arthur, một thằng bạn sinh viên, cùng khoa y với tôi. Hai đứa gặp nhau ở quảng trường Clichy. Lúc ấy đã sau bữa trưa. Cậu ta có chuyện gì đó muốn nói với tôi. Tôi nghe cậu ta. “Thôi, không ngồi ngoài này nữa, chúng mình về đi”, cậu ta bảo. Tôi về với cậu ta. Thế đấy. Rồi cậu ta bắt đầu câu chuyện. “Ngoài hiên này dành cho khách ăn trứng la-coóc. Chúng mình lại đằng kia đi!” Lúc ấy đường phố vắng tanh, chẳng có ma nào, vì trời nóng bức; xe cộ cũng không, chẳng có gì hết. Trời lạnh thì cũng chẳng ma nào ngoài phố; tôi nhớ rằng chính cậu ta nói với tôi cái ý này: “Dân Paris cứ làm ra vẻ lúc nào cũng bận bịu, nhưng thật ra họ dong chơi suốt từ sớm đến tối. Chứng cớ là khi nào thời tiết không đẹp để họ đi chơi, hoặc lạnh quá hoặc nóng quá thì có thấy họ quái đâu, tất cả còn chúi mũi vào quán cà phê hay quầy bia hơi. Là thế đấy! Họ bảo rằng thế kỷ của chúng ta là thế kỷ tốc độ! Đâu nào? Rồi lại nói đến những thay đổi lớn! Nói thế thôi, thay đổi gì nào? Thật ra chẳng thay đổi cái quái gì cả. Họ chỉ bốc nhau lên đó thôi. Mà cái chuyện bốc nhau thì cũng chẳng mới mẻ gì. Toàn chuyện ngôn từ, mà ngôn từ thì cũng có đổi mới được bao nhiêu đâu! Hai ba cái ở chỗ này, chỗ kia, toàn những đồ nhỏ nhoi, vặt vãnh”. Khoái trí vì gióng được lên những hồi chuông tưởng như là chân lý hữu ích, cả hai đứa chúng tôi ngồi lỳ ở đó, thích thú, nhìn ngó các cô hàng cà phê. Sau đó, câu chuyện quay về với tổng thống Poincaré vừa cắt băng khai mạc, đúng vào sáng hôm ấy, cuộc triển lãm chó cún; và thế rồi, chuyện tán róc rỉ rả trên tờ Thời báo (Le Temps). Arthur nói chọc tôi: “Thằng cha Thời báo quả là bậc thầy làng báo. Không thể có lấy hai tờ báo như thế để mà bênh vực cái giòng giống Pháp này!” Tôi bảo: “Rõ ràng là cần có một giòng giống Pháp, nhưng làm quái gì có!” Trả miếng hắn ta như thế để tỏ ra rằng tôi cũng là thằng nói năng có sở cứ lắm chứ. “Có đấy! Có một giòng giống Pháp, mà lại là giòng giống tốt nữa cơ - hắn nhấn mạnh - thậm chí còn là giòng giống tốt nhất thế giới cơ đấy. Chỉ tội một nỗi là rất khỏe bị cắm sừng mà lại cứ nói ngược!” Thế là hắn ta bắt đầu nổi khùng với tôi. Tất nhiên tôi phải tự trấn tĩnh và vững vàng. “Không đúng đâu. Cái mà cậu gọi là giòng giống, chỉ là một mớ táp nham những kẻ khố rách áo ôm như loại tớ thôi, toàn là một bầy chấy rận, toét mắt, run rẩy trôi giạt vào đất này, lại còn bị đủ thứ đói rét, dịch hạch bám đuổi, những kẻ thất thế khắp bốn phương trời đổ về đây. Họ không còn đi xa hơn được nữa vì biển cả đã ngăn bước chân họ lại. Đấy, nước Pháp và dân Pháp là thế đấy”. Trầm hẳn giọng xuống và đượm vẻ buồn, cậu ta bảo tôi: -     Bardamu ơi, ông cha mình đáng tự hào lắm, chớ có nói bậy! -     Cậu có lý, Arthur ạ. Cái ấy thì cậu có lý! Luôn luôn hằn học và dễ bảo, bị xâm phạm, bị đánh cắp, bị moi ruột và ngốc nghếch... Ông cha ta đáng tự hào lắm chứ! Cậu có thể nói là thế! Chúng ta có gì thay đổi nào? Giầy tất, không thay đổi; chúa tể, không thay đổi, chính kiến cũng không, hay có chăng thì cũng quá muộn mằn, chẳng còn đáng để trông đợi nữa. Chúng ta bẩm sinh đã là những kẻ trung thành, điều ấy thì rõ quá đi rồi! Lính tráng không lương, anh hùng cho tất cả mọi người, cho tất cả những con khỉ biết nói tiếng người... Những từ ngữ đã làm khổ tai nhau quá rồi. Chúng ta chỉ là những thần dân của Đức Vua Khốn khổ. Ngài chính là chúa tể của chúng ta. Chừng nào mà ta không ngoan ngoãn thì ngài siết chặt lại. Những ngón tay ngài siết chặt cổ tất cả chúng ta, nói đã chẳng ra lời, còn phải liệu, thần hồn nếu muốn ăn nuốt cho trôi... Ngài bóp hầu bóp cổ ta chẳng cần có nguyên cớ gì hết... cứ thế thì còn cóc gì là đời nữa... -     Còn chứ, còn tình yêu, Bardamu ơi! ... Mời các bạn đón đọc Hành Trình Đến Tận Cùng Đêm Tối của tác giả Louis Ferdinand Céline.
Về Trong Mưa Bão - Tô Đức Chiêu
Mỗi nhà văn đều có một miền quê suối nguồn cho tác phẩm, với ông Tô Đức Chiêu, đó là bầu trời của quân chủng phòng không và quê hương Hải Dương. Đọc sách của nhà văn Tô Đức Chiêu, như thể nghe thấy hơi thở một thời của thị xã Hải Dương và một vùng Cẩm Giàng nhỏ bé. *** Nhà văn Tô Đức Chiêu sinh năm 1942. Quê ông ở Gia Lộc - Hải Dương. Ông chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết. Các tác phẩm đã xuất bản: Ngày về (1978); Chàng rể (1990); Chân pháo (1986); Về trong mưa bão (1991); Nhớ đàn chim vàng anh (1996). *** Vào những ngày sát Tết âm lịch năm ấy, tôi có dịp về thăm làng Thị. Bởi đó cũng chính là quê tôi. Tôi đạp xe từ phía Thọ Chương, qua khóm tre đầu làng Kim Trang về chùa Mận. Tôi xuống xe dắt mà không đạp nữa vì có quá nhiều người làm đồng vẫy gọi. Đang mùa cấy chiêm. Người ta tháo nước theo các máng nhỏ vào đồng. Đất ải bị bừa vỡ làm nước bạc sàu sàu xô những bãi bọt vô bờ. Những con dế trũi khoét trong vồng đất khô khốc gặp nước nổi lên, bơi chới với, làm mồi cho những con chim có thể bay đứng, phát hiện mồi, lao xuống mổ đánh tốp rồi vút lên không. Nhưng chính những con chim ấy lại làm mồi cho những chú bé đặt bẫy. Đồng đang mùa làm ăn vui say như ngày hội của làng. Bà con phấn khởi. Người người đi lại vội vàng. Anh Thùy gặp tôi ngay chỗ Lò Gạch gần nổ tát Ao Phe. Anh giữ tôi lại và bao nhiêu người tranh thủ kéo đến. Anh nói nhanh: - Chú về vui lắm. Bà con đang mong. Tôi nói: - Em có qua huyện, nhưng bí thư sang Tây Kỳ còn chủ tịch họp trên tỉnh. Chẳng hiểu tình hình hợp tác xã bây giờ thế nào? Anh Thùy khẳng định: - Tốt! Bà con phấn chấn lắm. Huyện và xã đồng ý tạm thời với phương án của nhân dân làng Thị là cứ thử để ban điều hành sản xuất làm việc hết năm nay. Ao hồ cho đấu thầu thả cá hết. Cánh đồng Mạn Điền thì xóm Cổng Và làng Cao đồng ý nhường lại cho một nửa. Còn mười mẫu đồng Mè qua thương lượng được bà con bên ấy đồng ý để lại cho làng Thị. Nếu phương án này tỏ ra ưu việt thì cấp trên sẽ xem xét ra quyết định chính thức. ... Mời các bạn đón đọc Về Trong Mưa Bão của tác giả Tô Đức Chiêu.
Trước Giờ Nổ Súng - Phan Tứ
Tiểu thuyết Trước giờ nổ súng của Phan Tứ (Lê Khâm) ra đời năm 1960, từng gây chú ý một thời. Đã có nhiều bài viết tập trung khai thác tác phẩm ở khía cạnh nội dung tư tưởng. Tuy nhiên, nếu phân tích cuốn tiểu thuyết này từ góc độ Thi pháp học, ta sẽ phát hiện được nhiều điều thú vị về bút pháp ngôn từ, nhất là trên phương diện không gian và thời gian nghệ thuật. Tác phẩm được xây dựng theo kiểu cốt truyện phiêu lưu như sử thi Odyssee và Ramayana. Đặc điểm của kiểu cốt truyện này là có rất nhiều không gian. Tuy nhiên, nhiều tiểu thuyết có cốt truyện phiêu lưu nhưng vẫn không gây hứng thú cho bạn đọc. Lý do chính là các mảng không gian mà nhân vật trải qua là quá êm đẹp, không có kịch tính, bởi vậy không thể hiện đúng bản chất của tiểu thuyết phiêu lưu. “Đặc điểm của tiểu thuyết phiêu lưu là sau mỗi biến cố, nhân vật bị ném vào một không gian mới đầy xa lạ, nhiều hiểm họa” (Trần Đình Sử) [5]. Phan Tứ đã chú trọng xây dựng loại “không – thời gian cản trở” với chức năng thử thách nhân vật. Cả không gian lẫn thời gian đều cộng hưởng nhau gây sức ép lên các hoạt động nhân vật, để từ đó sàng lọc, chỉ giữ lại những anh hùng lý tưởng theo quan điểm cách mạng. Nói tóm lại, “không – thời gian cản trở” là một đặc điểm của cốt truyện phiêu lưu, và khi sáng tác Trước giờ nổ súng, Phan Tứ ý thức rất rõ điều đó. Tác giả không chỉ xây dựng thành công xuất sắc không gian và thời gian nghệ thuật mà còn tỏ ra có tài trong nghệ thuật phân tích tâm lý nhân vật. Giọng văn linh hoạt, uyển chuyển, kết hợp nhiều giọng điệu khác nhau. Trước giờ nổ súng còn lôi cuốn bạn đọc bởi nó cung cấp một kho tàng kiến thức hết sức phong phú về Đất nước và Con người Lào. Nó xứng đáng là một trong những cuốn tiểu thuyết hay của văn học Việt Nam thời chiến tranh. *** Những nóc lô cốt chìm trong đêm, hằn trên nền trời vần vụ một đường sống dài, chen đôi chỗ gãy góc. Ngọn đèn điện treo giữa cổng chính soi ánh vàng ệch xuống một mảng thép gai và mấy thân cọc lổn nhổn chạy vào bóng tối. Cái khối bê tông, gỗ, đá, thép gai úp tròn trên đỉnh đồi này nằm lịm, chỉ hé lên đôi chấm đèn ngái ngủ. Từng lúc, bọn lính trong hầm nói mê lầu bầu, nghiến răng, nhai tóp tép. Tiếng động luồn qua các lỗ châu mai như một hơi thở ngột ngạt, cắt ngang tiếng dế rên ti tỉ từ trong lòng đất thấm ra, rồi lắng đi. Tên lính gác vẫn đứng dựa vào tường lô cốt, gãi, ngáp, xốc cổ áo mưa sột soạt. Lưng hắn bịt giữa lỗ châu mai. Lính gác không đứng trước lỗ châu mai bao giờ. Nhưng hắn là lính mới, hắn ngốc. Hai giờ gác dưới mưa dài hơn hai canh bạc thâu đêm. Hắn vặn người, vươn vai một cái rõ mạnh. Rồi hắn giật thót bụng, bật người sang bên: bàn tay hắn vừa chạm phải vật gì mềm mà tròn trên miệng lỗ châu mai. Như con rắn. Hắn lóng ngóng lên đạn, lại buông súng. Hắn đánh diêm, khum tay che mưa, soi. Không có gì. Chắc con rắn đã bò ra ngoài, hay là hắn mê ngủ cũng nên. Hắn xốc lại áo mưa, chập chờn ngủ đứng. Dưới chân hắn, cách đế giày độ một ngang tay, nền đất không phẳng nữa mà cồn lên lượn xuống thành những nét lạ. Những nét ấy từ từ chuyển, từ từ chuyển, không một tiếng động, như con trăn gió nửa đêm trường lên cây bắt khỉ. ... Mời các bạn đón đọc Trước Giờ Nổ Súng của tác giả Phan Tứ.
Trạng Quỳnh Toàn Tập - Ngô Lăng Vân
Dân Việt Nam ta là dân giỏi cười và lắm chuyện cười nhất thế giới… Đó chính cũng là một trong nhiều yếu tố khác đã làm nước ta trở thành một nước anh hùng quật khởi, không kẻ cường địch nào lấn được. Kể số chuyện cười phải chép cả kho giấy nhà giấy, chỉ riêng những cái cười để sửa sang phong hóa, để chữa bệnh rởm rác, lố bịch, và để vui sống hăng say tranh đấu với mọi hoàn cảnh ở trên các lãnh vực nhân sinh. Trong kho chuyện cười ấy, phải kể chuyện Trạng Quỳnh là một. Chuyện Trạng Quỳnh chẳng những dài nhất, hay nhất, mà đọc lên, ngoài cái thưởng thức về thú vị văn chương, chúng ta còn được vô số những cái cười rất khoái, khoái hơn cả lúc động phòng hoa chúc là cái khoái gấp cả trăm ngàn lần những lúc được làm vương làm bá. Những cái cười rất khoái ấy, đại lược là : Cười để chửi thẳng vào mặt bọn vua chẳng ra vua, quan chẳng ra quan, văn chẳng ra văn và võ chẳng ra võ. Cười để vãi tưới lên đầu bọn ăn trên ngồi chốc, mũ cao áo rộng, tác oai tác quái, mà người chẳng ra người, ngợm chẳng ra ngợm. Cười để lột trần bề trái lũ buôn thần bán thánh, gá Phật thầu Trời, ma giáo quỷ thuật, giả nhân giả nghĩa, giả đạo đức thánh hiền, cũng như bọn tu hành ẩu tả, bọn trưởng giả học sang, phường ăn càn nói ẩu, bọn tham ô nhũng lạm và hành động lố lăng… Vân vân và v.v… Nói chung là những hạng đáng đem lột trần nọc cổ ra mà đánh cho bét đít sịt ngòi, nếu không phải dùng đến gươm đao súng đạn. Bởi các cớ ấy, và bởi chuyện Trạng Quỳnh tuy cũ mà tinh thần vẫn còn như mới ở trước cảnh huống của xã hội bây giờ, nên chúng tôi tổng hợp các chuyện do đồng bào đã kể và tham khảo những tài liệu đã viết để soạn ra quyển TRẠNG QUỲNH TOÀN TẬP này. Mục đích của chúng tôi không ngoài việc nhằm làm sống lại những cái cười đời trước để dọi lại đời nay. Còn việc chuyện tích có thật hay không, xin nhường để quý bạn đọc suy ngẫm… cũng như suy ngẫm để… Định Tường đầu Thu Nhâm-Tý 1972 NGÔ LĂNG VÂN *** Trạng Quỳnh dân gian là Nguyễn Quỳnh, sống dưới thời vua Lê, chúa Trịnh, quê ở làng Bột Thượng nay là xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Nguyễn Quỳnh (1677–1748 có tài liệu chép 1720–1770) là một danh sĩ thời Lê–Trịnh (vua Lê Hiển Tông), từng đỗ Hương cống nên còn gọi là Cống Quỳnh. Ông nổi tiếng với sự trào lộng, hài hước tạo nên nhiều giai thoại nên trong dân gian vẫn thường gọi ông là Trạng Quỳnh dù ông không đỗ Trạng nguyên. Ông còn có tên Thưởng, hiệu Ôn Như, thụy Điệp Hiên, quê tại làng Bột Thượng, xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Thân sinh ông là ông Nguyễn Bổng và bà Nguyễn Thị Hương. Thuở nhỏ, ông học với ông nội và cha (vốn là giám sinh ở Quốc Tử Giám). Năm 1696, Quỳnh thi đỗ Giải nguyên, nhưng đi thi Hội nhiều lần bị hỏng. Về sau, triều đình bổ nhậm ông làm giáo thụ các huyện Thạch Thất, Phúc Lộc (Sơn Tây), tiếp đến làm huấn đạo phủ Phụng Thiên ở kinh thành Thăng Long. Năm 1718, đỗ khoa Sỹ vọng được bổ làm tri phủ Thái Bình, rồi về làm Viên ngoại lang ở Bộ Lễ; sau bị giáng xuống chức Tu soạn ở Viện Hàn lâm. Tuy không đỗ cao, Quỳnh vẫn nổi tiếng là người học hành xuất sắc. Đương thời đã có câu: “Nguyễn Quỳnh, Nguyễn Nham, thiên hạ vô tam” (nghĩa là thiên hạ không có người thứ ba giỏi như hai ông). Sách “Nam Thiên lịch đại tư lược sử” đã nhận xét về ông: “… Nguyễn Quỳnh văn chương nổi tiếng ở đời, nói năng kinh người, thạo quốc âm, giỏi hài hước…”. Tác phẩm còn lại của Nguyễn Quỳnh, gồm một số bài ký, văn tế mẹ, văn khóc em (vốn tài hoa, nhưng chết yểu ở tuổi 14) và hai bài phú chép trong tập: “Lịch triều danh phú”. Lịch triều danh phú là tuyển tập của các danh sĩ thời bấy giờ, tất cả đều đỗ đại khoa, chỉ có hai người đỗ Hương cống là Nguyễn Quỳnh và Đặng Trần Côn. Tương truyền Trạng Quỳnh là bạn thơ của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. Do tính cách trào phúng nên dân gian thường đồng hóa ông vào nhân vật Trạng Quỳnh – một ông Trạng dân gian nổi tiếng với tính trào lộng. Để tôn vinh ông, nhà nước Việt Nam đã cho xây dựng nhà lưu niệm Trạng Quỳnh tại quê hương ông. Mời các bạn đón đọc Trạng Quỳnh Toàn Tập của tác giả Ngô Lăng Vân.