Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Bí Ẩn Thanh Minh Thượng Hà Đồ

Đằng sau mỗi món đồ cổ, là tầng tầng lớp lớp lịch sử và văn hóa truyền thừa bao đời; Đằng sau mỗi món đồ giả, là mánh lới tính toán tinh vi cùng cạm bẫy khó bề tưởng tượng. Hứa Nguyện rửa được nỗi oan cho ông nội, nổi lên như một anh hùng đánh hàng giả trên thị trường cổ ngoạn, song lòng vẫn canh cánh mối thù gia tộc với Lão Triều Phụng - bàn tay đen đứng sau bi kịch bao đời nhà họ Hứa. “Tình cờ” thay, mọi manh mối về kẻ cầm đầu dòng chảy ngầm lớn nhất giới cổ vật này đều dẫn gã đến với quốc bảo Trung Hoa - Thanh minh thượng hà đồ. Một lần nữa Hứa Nguyện đơn thương độc mã dấn thân trên con đường trừ giả giữ thật mà không lường đến những gì mình sẽ phải đương đầu. Lôi Lão Triều Phụng ra ánh sáng, bảo vệ Minh Nhãn Mai Hoa trước nguy cơ lụi bại, giữ vững tôn chỉ của người giám định… ngần ấy nhiệm vụ hệ trọng dường như quá sức với một kẻ đang nôn nóng báo thù như gã. Bởi trong khi con người giám định cổ vật, cổ vật cũng giám định con người… *** Nửa đêm trộm mộ “ăn trên chiếu” Chơi đồ cổ quan trọng nhất là gì? Người nói là mắt nhìn, kẻ lại bảo là quan hệ, thực ra đều không chính xác. Ngành này xét đến cùng phải chú trọng hai chữ: “duyên phận”. Thế nên người chơi đồ cổ thế hệ trước phần nhiều đều tin số mệnh, cho rằng số đã có ắt có, số không có thì đừng cố. Nếu không có duyên với một món đồ mà cứ cố giành về tay, gọi là đi ngược ý trời, sẽ dẫn tới hậu họa khôn lường, món đồ ấy không còn là hàng tốt nữa, mà trở thành vật dữ cắn chủ, nhẹ thì thân bại danh liệt, nặng thì nguy tới tính mạng. Có điều đây đều là cách nói từ xưa, được quy vào mê tín dị đoan. Thời bây giờ ai cũng tiếp thu mấy chục năm giáo dục theo chủ nghĩa duy vật, chẳng tin mấy lời đó nữa. Hễ có tiền đưa tới tay thì bất chấp quy củ cách thức, ta cứ thế xông lên phá vỡ đạp bằng, chẳng sợ gì sất. Thần tài ngồi trên, yêu ma quỷ quái cũng phải đứng sang một bên. Ví như mấy người ngồi cùng xe với tôi hiện giờ, rõ ràng không phải hạng con buôn cổ hủ trọng truyền thống. Tôi đang ngồi trong một chiếc van Toyota chín chỗ cũ nát, ngoài lái xe ra tổng cộng có năm người. Bên trong xe lặng phắc như tờ, chẳng ai bắt chuyện, cũng chẳng ai hàn huyên. Bốn người kia đều ngồi im tại chỗ, trưng ra vẻ mặt hờ hững khó gần. Chỉ khi xe thình lình xóc nẩy lên, họ mới đảo mắt thật nhanh, vờ như vô tình liếc nhau một cái sắc lẻm. Tôi cảm giác được họ không giống mình. Tôi là chủ một tiệm đồ cổ nhỏ trong thành phố, còn họ là con buôn cổ vật chuyên thu mua đồ cũ từ nông thôn. Những người này quanh năm suốt tháng lê la dưới quê, qua lại với đám nông dân vừa chất phác vừa gian xảo nên người cũng thoang thoảng mùi bùn đất và sát khí. Bọn họ là ai? Xe chạy đi đâu? Tôi hoàn toàn không biết. Cửa xe đóng kín, bên ngoài đêm tối như mực, không trông rõ được cảnh vật. Chỉ có tiếng động cơ chạy ì ì cho thấy chúng tôi đang tiến tới một mục tiêu nào đó. Tôi cũng chẳng buồn nghĩ nhiều, dựa đầu vào cửa kính lạnh lẽo, huyệt Thái Dương tì vào chốt cửa, gà gật ngủ. Xe chạy lắc lư tròng trành dữ dội, trong lúc mê man, tôi chợt có một ảo giác lạ lùng: thùng xe chẳng khác nào cỗ áo quan khổng lồ vừa đóng đinh, kín mít không lọt một tia sáng. Tôi nằm trong, bên ngoài có mười sáu người khiêng quan tài băng qua nghĩa địa, bước xuống lối vào mộ, tiến về phía huyệt mộ cuối cùng... Phải rồi, quên chưa tự giới thiệu. Tôi tên Hứa Nguyện, hơn ba mươi, là một tay buôn cổ vật cò con dưới chân hoàng thành. Tôi có một cửa tiệm nhỏ ở Lưu Ly Xưởng, buôn bán kim thạch ngọc khí, gọi là Tứ Hối Trai. Tứ hối là gì? Chính là hối người, hối việc, hối lỗi, hối lòng. Đây là lời trăng trối của bố tôi, dạo Cách mạng Văn hóa, ông bị hãm hại phải nhảy xuống hồ Thái Bình tự tử, chỉ để lại tám chữ này. Song đằng sau đó còn ẩn giấu một câu chuyện dài. Tổ tiên tôi là một chi trong “Minh Nhãn Mai Hoa” gồm năm gia tộc lâu đời trong ngành cổ vật, mỗi nhà sở trường giám định một loại đồ cổ, có địa vị cực cao trong giới sưu tầm. Sau giải phóng, Minh Nhãn Mai Hoa cải tổ thành Hội nghiên cứu giám định cổ vật Trung Hoa, vẫn có sức ảnh hưởng không nhỏ. Hứa Nhất Thành, ông nội tôi là chưởng môn Minh Nhãn Mai Hoa thời Dân Quốc, xuất thân Bạch môn, về sau vì đánh cắp đầu Phật ngọc ở minh đường Võ Tắc Thiên tuồn cho người Nhật nên bị coi là Hán gian đem xử bắn. Từ đó nhà tôi cũng sa sút không gượng dậy nổi, rút lui khỏi Minh Nhãn Mai Hoa. Vào ngày sinh nhật ba mươi tuổi, do sự thúc đẩy của những người cố ý, tôi đã rơi vào vòng xoáy này. Trải qua một phen bôn ba trắc trở, cuối cùng xem như tôi cũng giải oan được cho ông nội, đưa đầu Phật về nước, kết thúc mối dây dưa ngàn năm giữa nhà họ Hứa và đầu Phật ngọc. Sau khi xong việc, tôi quay về Tứ Hối Trai, tiếp tục buôn đồ cổ, sống lặng lẽ. Đột nhiên nghe phanh két một tiếng, người tôi đổ nhào về phía trước, sực tỉnh khỏi dòng ký ức. Xe đã dừng lại, tôi mở mắt ra, lắc lắc đầu. Ngờ đâu vừa quay đầu sang, tôi chợt thấy một gương mặt trắng bệch với đôi mắt cực kỳ quái dị hiện lên giữa bóng tối bên ngoài xe, một bên to tướng như mắt trâu, lòng đen ít lòng trắng nhiều, bên kia lại nhỏ xíu, thi trừng mắt với rùa chưa chắc đã thắng nổi. Cặp mắt một to một nhỏ này, trông như lúc nào cũng đang ngắm bắn. Tôi giật thót mình, vô thức rụt người lại, suýt nữa ngã nhào khỏi ghế. Bốn kẻ cùng xe cười nửa miệng, lộ vẻ khinh bỉ. Bấy giờ tôi mới nhớ ra, gương mặt này hẳn là của tài xế. Chẳng để tôi nghĩ nhiều, cửa xe đã bị kéo đánh “xạch”, tài xế ló đầu vào, đảo tròn con mắt to rồi làm động tác mời, giọng khàn khàn, “Tôi tên Mắt Trố, làm chân chạy bàn, mời các vị theo tôi.” Tôi vội điều hòa hơi thở, theo bốn người kia xuống xe. Vừa đặt chân xuống đất đã thấy mùi cỏ dại và cành thông xộc vào mũi man mát. Khỏi cần hỏi cũng biết, đây là mùi đặc trưng của chốn đồng không mông quạnh, hơn nữa còn là nơi hết sức hoang vu. Tôi nhìn quanh, lờ mờ thấy mấy ngọn núi đằng xa, trông như thú dữ mai phục trong đêm, có thể nhào tới bất cứ lúc nào. Mắt Trố bảo bọn tôi theo sát sau y. Mây đen đang bao phủ bầu trời, che khuất mặt trăng, chỉ có ngọn đèn pin loang loáng thoắt sáng thoắt tối trong tay Mắt Trố soi đường. Cây đèn pin của y có vẻ rất được chăm chút, bóng đèn bọc một khoanh giấy bìa cứng, như vậy cột sáng chỉ tập trung vào phía trước, không chiếu sang hai bên, nên cách hơi xa sẽ không thấy được. Chúng tôi bước thấp bước cao trên triền núi theo y chừng hơn mười phút, rẽ ngoặt liên tục, còn băng qua hai khoảng rừng. Rốt cuộc một người không kìm được lên tiếng hỏi, “Anh đưa chúng tôi đến đâu đây? Cỗ ở đâu vậy?” Mắt Trố quay lại nhe răng cười đáp, “Nôn nóng làm gì, chủ đâu có rời chiếu cỗ được.” Nói đoạn còn cười khà, tiếng cười như quạ. Y vừa cười, nhiệt độ xung quanh chợt hạ xuống, lạnh buốt cả người. Kẻ kia không dám hỏi thêm nữa, đành “hừm” một tiếng rồi đi tiếp. Đám chúng tôi đi chừng hơn nửa tiếng thì tới một khe núi vắng. Khe núi bị hai dãy núi cao ngất kẹp vào giữa, tạo nên một bình nguyên dưới chân núi. Từ đằng xa loáng thoáng nghe thấy tiếng nước chảy róc rách, hẳn là dòng suối từ trên núi chảy xuống, uốn quanh chỗ này, cắt khe núi thành hình tam giác. Khe suối là đáy, hai dãy núi sừng sững hai bên. Địa hình này trong phong thủy gọi là hai rồng xuống nước, là đất lành hợp xây mồ mả. Mắt Trố tiến vào khe núi thì dừng chân, rọi đèn pin về phía trước. “Bên này.” Chúng tôi nhìn theo ánh đèn, thấy thấp thoáng đằng xa một người trẻ tuổi mặc đồ rằn ri đang ngồi trước mặt là một cái hố rộng chừng nửa mét, mép hố còn gác ba chiếc xẻng cán thép và cả đống đất mới đào. Khỏi cần hỏi cũng biết ở nơi đất báu phong thủy thế này đào sâu ba thước ắt có mồ mả, có mồ mả tất có trộm mộ đánh hơi được kéo đến. “Đào tới đâu rồi?” Một tên mặt sẹo đi cùng tôi hỏi. Mắt Trố di chân xuống đất, hể hả đáp, “Tìm ra vị trí mộ rồi, vừa rồi chúng tôi mới đào đến vách sau, chỉ một nhát nữa là tới cửa thôi, đợi các vị đến mở chiếu đấy.” Mấy người đi cùng tôi đến trước hố đất, gạt lớp đất mới đào ra, vẻ mặt không ai giống ai. Nghe nói trộm mộ lâu năm chỉ cần nhìn đất là biết niên đại mộ. Có điều tôi chẳng có tài ấy, chắc hẳn mấy kẻ đi cùng cũng chẳng khá hơn. Chúng nhìn đất chỉ để yên tâm chứ đâu nhận ra cái gì. Kiểm tra đất xong, Mắt Trố cười khì, “Các vị may thật đấy, món lần này là thịt kho của bếp trưởng. Nếu không có gì thắc mắc thì lên món nhé?” Cả năm chúng tôi đồng loạt gật đầu, đứng tránh ra một quãng. Mắt Trố soi đèn pin về phía kia, hô “mở bát”, tức thì tên chạy bàn mặc đồ rằn ri đứng dậy, cầm chùy sắt và xẻng lên. Dáng gã gầy gò, lách vào hầm dễ như bỡn. Mắt Trố rút trong ngực áo ra một chai rượu trắng hàng chiết lẻ và năm cái chén, lần lượt đưa cho năm chúng tôi, “Trong núi sương dày lạnh giá, làm ít rượu trắng cho ấm người, phải chờ một lúc nữa cơ.” Không nói thì thôi, y vừa nói tôi liền thấy gió lạnh bốn bề, sương mù bảng lảng, vô thức liếc nhìn vào cánh rừng tối om. Mắt Trố đưa chén tới trước mặt tôi cười, “Chú em lần đầu ăn trên chiếu à?” Thấy tôi cười ngượng, y nói, “Ăn quen bén mùi, anh em mình vất vả một tí, nhưng chắc ăn hơn, có phải không?” Tôi gật đầu lia lịa, đón lấy chén rượu uống cạn, rượu trắng cay nồng như ngọn lửa cháy lan theo cổ họng xuống tận dạ dày, song mắt tôi vẫn dán vào đống bùn đất đang không ngừng đùn ra từ cửa hầm, lòng quặn lên. “Ăn trên chiếu” như lời Mắt Trố là một hoạt động khá kín đáo trong giới đồ cổ, trước đây tôi chỉ nghe nói, không ngờ hôm nay cũng được tận mắt chứng kiến. Phần lớn đồ cổ đến từ hai nguồn: một là đồ gia truyền đời đời lưu giữ, hai là đồ tùy táng bị đào ra. Loại trước được truyền đời rõ ràng, nhưng loại sau hơi khó phân định thật giả. Anh bảo món đồ này đào được trong mộ ra, bằng chứng đâu? Lỡ lừa gạt người ta thì sao? Phải biết có những món đồ cổ bản thân nó hoàn toàn không đáng tiền, tất cả giá trị đều nằm ở xuất xứ. Cùng một hạt dưa, mua từ hàng tạp hóa thì chẳng đáng một xu, nhưng nếu từ trong bụng xác nữ ở gò Mã Vương thì nghìn vàng chưa mua nổi. Thế là có kẻ nảy ra một cách, thăm dò xác định vị trí mộ đâu vào đấy, đào đường hầm đến cạnh mộ rồi để đó, mời vài người mua đến hiện trường, mở cửa mộ ngay trước mặt họ, đào lên bán sang tay luôn. Người mua chính mắt thấy đồ được đào dưới mộ lên, dĩ nhiên khỏi cần lo hàng giả. Trò này trong ngành đồ cổ gọi là “ăn trên chiếu”, không phải chiếu rượu, mà là chiếu cói, chiếu cói để làm gì? Thời xưa người ta dùng chiếu cói bọc xác chết, nên nó ý chỉ mồ mả. Những người mua như chúng tôi gọi là “khách”, trộm mộ thì gọi là “chạy bàn”, dĩ nhiên “chủ” chỉ người chết trong mộ. Bởi vậy vừa rồi Mắt Trố nói “chủ không rời được chiếu cỗ” khiến mấy người kia sợ quá nín thít. Mời bạn đón đọc Bí Ẩn Thanh Minh Thượng Hà Đồ của tác giả Mã Bá Dung & Tố Hinh (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Những Con Chữ Tình Yêu - Katie Fforde
Một chuyện tình lãng mạn, đầy kịch tính giữa một nữ độc giả nhạy cảm và thông minh với tác giả văn học nổi tiếng đầy quyến rũ. Laura Horsley - một nhân viên bán sách và tổ chức sự kiện văn học- trong lúc buồn chán vì cửa hàng sách nơi cô đang làm việc sắp đóng cửa, đã liều lĩnh nhận lời giúp tổ chức cho một liên hoan văn chương tại một miền nông thôn nước Anh xa xôi. Mọi sự rắc rối nhưng cũng đầy đam mê bắt đầu khi Laura nhận nhiệm vụ phải mời bằng được nhà văn Dermot Flynn - người đang sống ẩn dật tại Ireland, nổi tiếng vì tài năng và tính khí thất thường nhưng cũng vô cùng quyến rũ. Chuyện gì sẽ xảy ra khi một tác giả văn học nổi tiếng lại dính sét ái tình với người hâm mộ, và oái oăm thay nữ độc giả nhạy cảm và thông minh đó lại vẫy vùng trốn tránh sức quyến rũ từ thần tượng mà cô ngày đêm thờ phụng? Một câu chuyện đuổi bắt và chinh phục tình cảm đầy lãng mạn như chỉ có ở trong sách. *** Ai đó thì thào vào tai Laura, khiến cô giật nẩy mình. “Cô nghĩ anh ta thế nào?” Hiệu sách đông nghịt: khu vực họ đã dọn dẹp cho buổi đọc sách chật ních người; một đoàn người rồng rắn dài dằng dặc đang đứng trước bàn ký tặng sách, tán gẫu sôi nổi, ai nấy nắm chặt trong tay những cuốn sách mới mua. Trước đây, Laura cứ ngỡ tổ chức một sự kiện sau lễ Giáng sinh là việc làm khá liều lĩnh, nhưng bây giờ cô đang ngắm nhìn những con người đầy háo hức kia với cảm giác vừa nhẹ nhõm vừa thỏa mãn. Cho dù bạn chuẩn bị cho một sự kiện ở hiệu sách cẩn thận đến mức nào, bạn không bao giờ biết chính xác bao nhiêu người sẽ tới cho đến khi họ xuất hiện. Bạn cũng không thể chắc chắn liệu tác giả có thực hiện tốt vai trò của mình không. Viết lách là một công việc rất riêng tư, thầm lặng, và Laura thường nghĩ quả là tàn nhẫn khi bắt họ đứng trước các độc giả. Nhưng cho dù được đánh giá theo những tiêu chuẩn cao của cô, sự kiện này vẫn là một thành công. Đang mải mê suy nghĩ nên cô không nhận ra có người tiến đến sau lưng. Quay ngoắt lại và cô trông thấy một phụ nữ thấp bé sắp qua tuổi trung niên mặc một bộ đồ nổi bật. Laura lập tức nhớ rằng đã thấy bà ta khi bà ta bước vào hiệu sách trong nhóm người đi cùng với tác giả. Chiếc áo vét của bà ta trông như được may từ thảm thêu và đồ trang sức có vẻ được làm bởi bàn tay của một đứa cháu với bộ đồ hàn, hoặc bởi một nhà thiết kế mới nổi, thật khó mà biết được. Điều khiến cô sửng sốt nhất trước sự tiếp cận của bà ta là ánh mắt khắc nghiệt, xuyên thấu. Đôi mắt giống như đá mã não màu xanh lục. “Dĩ nhiên là rất ổn,” Laura nói, giật mình, nhưng vẫn lịch sự như từ trước đến giờ, cảm thấy mình quá mờ nhạt trong chiếc quần đen phổ biến và chiếc áo sơ mi trắng. Câu trả lời này có vẻ không hoàn toàn thỏa mãn đôi mắt màu xanh lục đang nhìn xoáy vào cô. “Thế cô đã đọc cuốn sách mới của anh ta chưa?” “Dĩ nhiên,” lúc này Laura đã vững vàng hơn, phẫn nộ trước giọng điệu hiếu chiến của người phụ nữ đó. Cô làm việc trong một hiệu sách. Công việc của cô là nắm rõ mặt hàng mình bán. Người phụ nữ kia nhướng một bên lông mày mảnh như đường kẻ bút chì. “Tôi không muốn nghe từ ‘dĩ nhiên’. Cô nghĩ gì về cuốn sách?” Laura định nói “tuyệt vời” nhưng rồi lại quyết định nói thật. Suy cho cùng, lúc này cô chẳng còn gì để mất: công việc yêu thích sắp bị tước đi - cô có thể gạt bỏ khả năng ứng xử khéo léo quen thuộc sang một bên và nói thực lòng mình. “Tôi nghĩ nó không hay bằng cuốn sách đầu tay của anh ta nhưng tôi thực sự đón đợi cuốn tiếp theo.” Cô là một độc giả hăng hái, nhiệt tình nhưng khó tính; cô có thể nhận ra khi nào một tác giả không ở trên đỉnh cao phong độ. Rồi đột nhiên những đồng penny[1] tuôn rào rào trong đầu cô, như những đồng xu từ một máy giật xèng khi ai đó trúng thưởng. “Ôi Chúa ơi, bà là người đại diện của anh ta, phải không?” Nỗi xấu hổ khiến người cô chuyển từ nóng sang lạnh rồi lại từ lạnh sang nóng. Người phụ nữ nheo mắt xác nhận sự thật này, nhưng Laura không biết bà ta đang cười hay đang bày tỏ sự phản đối - miệng bà ta không cử động. “Phải, đúng là tôi có vinh hạnh đó.” Vẫn còn đỏ mặt, Laura vén một lọn tóc lòa xòa ra sau tai và nhìn sang phía chàng thanh niên trẻ măng đang ký sách cho một hàng dài người hâm mộ. Cô nhận thấy mỗi người mua sách đều nhận được một nụ cười quyến rũ, mỗi cuốn sách đều nhận được một thông điệp riêng nho nhỏ cũng như một lời đề tặng. Không chỉ một mà có tới tận hai chuyên viên truyền thông từ nhà xuất bản đi cùng anh ta, không phải để kiểm soát đám đông, mà vì họ ngưỡng mộ anh ta. Những nhà văn như anh ta thật hiếm. Chính vì anh ta có hai người phụ nữ trẻ trung quá đỗi nhiệt tình với việc mở các quyển sách đến đúng trang, nhét chúng vào những cái túi giấy và liên tục rót rượu cho anh ta nên Laura mới đang đứng rỗi rãi như thế này; họ không cần đến sự giúp đỡ của cô. Và Henry, ông chủ tiệm sách, cứ một mực nói. “Cô đã sắp đặt toàn bộ mọi việc; mời được những người này đến đây, gọi rượu vang, mở những suất ăn nhẹ đựng trong hộp xốp. Giờ thì hãy nghỉ ngơi một chút!” “Anh ta là một ngôi sao,” Laura nói sau khi quan sát anh ta thêm một lúc nữa. Cô không nịnh người bạn ghê gớm đang trò chuyện cùng; cô chỉ đang nói sự thật. “Tôi biết. Nhân đây, xin tự giới thiệu tôi là Eleanora Huckleby.” “Tôi biết... ý tôi là bây giờ thì tôi đã biết,” Laura nói, cảm thấy thoải mái hơn một chút. Những người đại diện cho các nhà văn thường không đến tham dự các sự kiện ở hiệu sách, nhưng Damiel Stubbs là người đặc biệt. “Tôi là Laura Horsley.” ... Mời các bạn đón đọc Những Con Chữ Tình Yêu của tác giả Katie Fforde.
Mùa Cưới - Katie Fforde
Tất cả những gì bạn cần là tình yêu…?   Sarah là một nhà lên kế hoạch tổ chức đám cưới đang che giấu một sự thật vô cùng phiền phức - cô không tin vào tình yêu. Hoặc không tin vào chính bản thân cô. Nhưng khi những bông hoa giấy tung bay trong làn gió nhẹ tháng Sáu của một đám cưới thành công khác, cô nhận ra mình đã đồng ý nhận lời tổ chức cho thêm hai đám cưới nữa, vào cùng một ngày và chỉ cách thời điểm hiện tại nữa chưa đến hai tháng. Và khi cô dâu là người nổi tiếng lại dễ thương và hiểu biết, thì em gái của cô lại khiến cô điên lên vì những yêu cầu quá cao nhưng đi kèm với một ngân sách hạn chế.   May mắn thay, Sarah có hai người bạn đáng tin cậy để giúp cô. Elsa, một nhà thiết kế áo đầm đầy tài năng nhưng không thích bị mọi người chú ý, và Bron, một thợ cắt tóc đa tài, người đang sống với anh bạn trai gia trưởng. Họ có thể rất giỏi trong công việc nhưng sự lãng mạn lại không được đánh giá cao trong đời sống của họ.   Khi ngày trọng đại đang đến gần, cả ba người phụ nữ nhận ra rằng sự kiên nhẫn chắc chắn là một đức tính tốt trong trò chơi hôn nhân. Và khi tất cả các giờ làm việc miệt mài của họ dành cho việc chuẩn bị cho một đám cưới của năm, họ chắc chắn chẳng có lấy thời gian để suy nghĩ về tình yêu; hay họ có nhỉ? *** Katie Fforde, nhũ danh Catherine Rose Gordon-Cumming (27/9/1952 ở Wimbledon, London, Anh), là một tiểu thuyết gia văn học lãng mạn hiện đại từ năm 1995.   Là người sáng lập ra Học bổng Katie Fforde dành cho các tác giả mới, chưa từng ký hợp đồng xuất bản. Bà là thành viên ủy ban điều hành của Hiệp hội Các nhà văn Văn học lãng mạn (Romantic Novelists’ Association), từng làm Chủ tịch thứ hai mươi lăm của Hội (2009-2011), và là Tổng thư ký lần thứ tư của Hội. Vào tháng Sáu năm 2010, bà là người bảo trợ cho Tuần lễ Truyện ngắn Toàn quốc lần đầu tiên được tổ chức ở nước Anh. Nhiều tác phẩm của bà từng lọt vào Top 10 sách bán chạy nhất do tờ Sunday Times bình chọn.   Mời các bạn đón đọc Mùa Cưới của tác giả Katie Fforde.
Mù Lòa - Jose Saramago
"Mù lòa" giống như câu chuyện ngụ ngôn giàu triết lý. Với lối viết tỉ mỉ, châm biếm, Jose Saramago cuốn hút người đọc vào từng trang sách, cười khóc với các nhân vật trong truyện. Mù lòa là cuốn tiểu thuyết siêu thực, đa nghĩa, đầy ẩn dụ được nhà văn José Saramago viết năm 1995. Năm 2008, Mù lòa được chuyển thể thành phim và chiếu mở màn tại Liên hoan phim Cannes. Đó là câu chuyện hư cấu về một thành phố kỳ lạ - thành phố bỗng dưng hóa mù.  ... Căn bệnh mù trắng đã lan ra ngoài bốn bức tường của phòng giam, vỏ bọc của xã hội thành thị văn minh sụp đổ hoàn toàn và trở về trạng thái nguyên thủy man rợ. Toàn bộ cơ sở hạ tầng của thành phố bị phá hủy, mối liên kết giữa các cá thể trong cộng động sụp đổ hoàn toàn. Xác chết ngập đường, lương thực thiếu thốn, người nọ chiếm cứ nhà của người kia, ai cũng làm đủ mọi cách để sinh tồn, bất chấp việc chà đạp lên đồng loại… Chứng kiến những cảnh tượng kinh hoàng ấy, vợ ông bác sĩ - người sáng mắt duy nhất đã có lúc thốt lên mong muốn được mù như mọi người, “mù nhưng thấy”. Không phải bỗng dưng tác giả mở đầu cuốn sách bằng câu đề từ: “Nếu ngươi có thể thấy, hãy nhìn. Nếu ngươi có thể nhìn, hãy quan sát”. Lời đề từ như tiếng sấm truyền từ một cuốn sách cổ xưa để lại, khiến người đọc không khỏi bàng hoàng, thảng thốt. Thì ra từ “thấy” đến “nhìn” và “quan sát” là cả một chặng đường dài về nhận thức mà không phải kẻ “mắt sáng” nào cũng làm được.  Mù lòa giống như một câu chuyện ngụ ngôn giàu triết lý. Với lối viết tỉ mỉ, châm biếm, Jose Saramago đã cuốn hút người đọc vào từng trang sách, cười khóc với các nhân vật trong truyện. Hơn hết, Mù lòa đặt ra cho người đọc những triết lý nhân sinh cần suy ngẫm qua lời vợ ông bác sĩ nói trong phần kết của tác phẩm: “Em không nghĩ chúng ta đã hóa mù, em nghĩ từ trước đến giờ chúng ta vẫn mù, Mù nhưng nhìn được, Những người mù có thể nhìn được, nhưng không thấy”. *** Jose Saramago sinh năm 1922 tại Azinhaga, thuộc tỉnh Ribatejo, Bồ Đào Nha. Tác phẩm của ông đầy chất huyền thoại và đa nghĩa, gợi lại cổ tích qua cách nhìn độc đáo về lịch sử, xã hội và con người. Văn của ông đi sâu vào chỉ tiết, châm biếm và dí dỏm, siêu thực và đầy ẩn dụ. Mãi đến năm sáu mươi tuổi ông mới được nhiều người biết đến qua tác phẩm Memorial do Convento (Ký ức về nhà tu kín, 1982). Tiểu thuyết gây nhiều tranh cãi nhất của ông là O Evangelho Segundo Jesus Cristo (Phúc âm theo Chúa Jesus, 1991), bị Thứ trưởng Ngoại giao Bồ Đào Nha loại khỏi danh sách các tác phẩm đề cử giải Văn chương châu Âu. Ông nhận giải Nobel Văn chương năm 1998. Một số tác phẩm của ông gồm có: Manual de Pintura e Caligrafia (Cẩm nang hội họa và thư pháp, 1977), Viagem a Portugal (Du lịch Bồ Đào Nha, 1981) O Ano da Mortc de Ricardo Reis (Năm vua Ricardo băng hà, 1984), A langada de Pedra (Chiếc bè đá, 1986), História do Cerco de Lisboa (Trận bao vây Lisbon 1989), Todos os Nomes (Mọi cái tên, 1997), O Conto da llha Desconhecida (Chuyện hòn đảo vô danh, 1997), A Caverna (Hang động, 2001), O Homem Duplicado (Kẻ giống hệt, 2003), Ensaio sobre a Lucidez (Trong sáng, 2004), Don Giovanni ou O Dissoluto Absolvido (Don Giovanni hay Gã phóng đãng vô tội, 2005), As Intermitências da Morte (Thần chết tạm nghỉ, 2005), As Pequenas Memórias (Kỷ niệm ấu thơ, 2006), A Viagem do Elefante (Chuyến đi của con voi, 2008), Cain (2009). Mù lòa (Ensaio sobre a Cegueira, 1995) dịch từ bản tiếng Anh, Blindness, của Giovanni Pontiero, ông mất trước khi sửa xong bản dịch; Margaret Jull Costa hoàn tất việc sửa bản tiếng Anh; nhà xuất bản Harcourt, Florida, ấn hành năm 1999. “Nếu ngươi có thể thấy, hãy nhìn. Nếu ngươi có thể nhìn, hãy quan sát.” Mời các bạn đón đọc Mù Lòa của tác giả Jose Saramago.
Hội Những Trái Tim Cô Đơn - Elizabeth Eulberg
Dành tặng EEC thân yêu. Dành tặng đặc biệt đến Dav Pilkey, người đầu tiên khích lệ tôi viết cuốn sách này. Đều là lỗi của anh hết đấy nhé! Tớ, Penny Lane, trịnh trọng xin thề suốt cuộc đời còn lại sẽ không hẹn hò với đứa con trai nào nữa. Ừm, có lẽ mươi mười lăm năm nữa tớ sẽ cân nhắc lại lời thề này, khi tớ không còn sống ở Parkview, bang Illinois nữa, hoặc khi tớ học xong tại trường Trung học McKinley, nhưng lúc này tớ sẽ không dính líu gì đến tụi con trai nữa. Tụi nó chỉ biết nói dối, lừa phỉnh. Đấy, tất tần tật. Toàn là quỷ dữ. Đúng là vẫn có vài người tử tế, nhưng ngay khi bọn họ đạt được mục đích, họ sẽ đá đít bạn và chạy theo mục tiêu mới. Vì thế tớ chán ngấy rồi. Không hẹn hò gì nữa. Chấm hết. Yesterday "Love is such an easy game to play…" *** “Hài hước, ấn tượng. Một cuốn sách cần phải đọc và thích hợp với bất kỳ ai đã từng yêu – hay thề sẽ vĩnh biệt tình yêu” (Stephen Meyer). 16 tuổi, hâm mộ ban nhạc The Beatles, Penny Lane phát ốm với đám con trai và chán ngấy việc hẹn hò sau khi mối tình với cậu bạn thanh mai trúc mã tan vỡ, mối tình khiến cô cảm thấy mình thật ngớ ngẩn. Bởi vậy cô nàng thề sẽ từ bỏ tình yêu và thành lập “Hội những trái tim cô đơn”, sẽ chỉ tập trung vào việc học và quan tâm tới bản thân mình. Nhưng Penny chẳng ngờ được là có bao nhiêu cô nàng cũng có tâm trạng giống mình và muốn gia nhập hội. Thậm chí cả những cô nàng trước giờ cô chưa từng nghĩ sẽ quan tâm tới nó cũng muốn tham gia. Và rồi có những điều không tưởng nổi đã xảy ra… Thế còn bạn, bạn sẽ làm gì khi bạn là thành viên sáng lập một cái hội chống-hẹn-hò nhưng lại bắt đầu rung rinh trước một anh chàng đẹp trai, dễ thương và quan trọng hơn cả anh ta rõ ràng là muốn hẹn hò với bạn? Đọc qua “Hội những trái tim cô đơn” thoạt tiên ta sẽ ngỡ cuốn sách viết cho lứa tuổi mới lớn và nó quá “trẻ” đối với những người đã trưởng thành, nhưng không hẳn vậy. Với văn phong thực sự hấp dẫn với những chủ đề xoay quanh tình bạn, tình yêu và cả những giá trị đích thực của bản thân mỗi người, Elizabeth Eulberg đã khiến mọi người cảm nhận được những điều thú vị và hấp dẫn mọi lứa tuổi trong tác phẩm của mình. “Hội những trái tim cô đơn” sẽ làm cho bạn đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác cùng với những chi tiết vui nhộn, đáng yêu. Một cuốn sách thú vị trong mùa Valentine dành tặng mọi lứa tuổi, những ai đã hẹn hò và cả những trái tim vẫn chưa tìm được nửa kia của mình. .... Mời các bạn đón đọc Hội Những Trái Tim Cô Đơn của tác giả Elizabeth Eulberg.