Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Hoa Của Phế Tích

Hoa của phế tích là một trong bộ ba tiểu thuyết được phanbook phát hành vào năm nay. Từ câu chuyện một đôi vợ chồng trẻ tự sát vì những lí do bí hiểm mở ra một cuộc điều tra, theo đó là những bước chân lần theo những khu phố cũ, những đại lộ, những tòa nhà… đậm dấu tích của quá khứ. Giọng văn chậm rãi với những câu chữ buồn mà đẹp đến nao lòng của Modiano mang đến cho độc giả những dư âm mãi váng vất. Để từ đó người đọc có thể thấy được văn chương của Patick Modiano là văn chương của ký ức, bất định tương lai. *** Patrick Modiano là Nhà văn Pháp với hơn 30 tác phẩm bao gồm tiểu thuyết, kịch bản phim,... các tác phẩm của ông đã được dịch 36 thứ tiếng trên thế giới, đạt nhiều giải thưởng danh tiếng, phải kể đến giải Nobel Văn học năm 2014. "Lối viết văn của Modiano rất dễ đọc. Các tác phẩm của ông trông có vẻ đơn giản bởi vì nó tinh tế, thẳng thắn, đơn giản và rõ ràng. Bạn mở sách đọc một trang, và sẽ nhận ra ngay là sách của ông ta, rất thẳng thắn, câu văn ngắn gọn, không cầu kỳ - nhưng nó rất là tinh vi trong cách đơn giản của nó."_ Bí thư thường trực của học viện Nobel Peter Englund Con chó mùa xuân là một trong bộ ba tiểu thuyết được phanbook phát hành vào năm nay. Vẫn với lối viết đơn giản mà tinh tế, Patick Modiano đã dần người đọc vào một hành trình lạ lùng khi hai con đường ngược nhau, cắt nhau nơi ký ức. Như một tất định của đời sống, có tồn tại rồi sẽ có lãng quên, cuối cùng thì không gì có thể níu kéo được hiện hữu thuộc về quá khứ, và tất cả được chứa đựng trong lặng im vĩnh viễn. Để từ đó người đọc có thể thấy được văn chương của Patick Modiano là văn chương của ký ức, bất định tương lai. *** Kho đựng nỗi đau (tựa gốc: Remise de peine, viết năm 1988), Hoa của phế tích (tựa gốc: Fleurs de ruine, 1991), Con chó mùa xuân (tựa gốc: Chien de printemps, 1993) được nhà văn Patrick Modiano (giải Nobel Văn học, 2014) hoàn thành trong ba mốc thời gian khác nhau, nhưng mang đầy đủ những nét đặc thù của không khí, phong cách văn chương ông. Kho đựng nỗi đau lần đầu tiên bức chân dung thời thơ ấu của chú bé Patrick cùng em trai sống trong căn hộ của những diễn viên xiếc ở vùng ngoại vi Paris. Hoa của phế tích là cuộc lần theo manh mối về một vụ tự sát với lý do bí hiểm của đôi vợ chồng kỹ sư trẻ tuổi vào một ngày tháng 3 năm 1933. Còn Con chó mùa xuân là cuộc dò tìm của một người viết tiểu thuyết trẻ tuổi với nỗ lực phục dựng bản tiểu sử của Jasen - một nhiếp ảnh gia sống và ghi chép về Paris nhưng căn cước cá nhân lại nhiều điểm mù bởi dư chấn của thời Đức tạm chiếm… Ba cuốn tiểu thuyết này là dẫn chứng xuất sắc, thuyết phục cho điều mà Patrick Modiano viết trong diễn từ nhận giải Nobel Văn học vào năm 2014: “Người ta có thể lạc lối hoặc biến mất trong một đô thị. Người ta thậm chí có thể thay đổi căn cước và sống một đời khác. Người ta có thể lao mình vào một cuộc điều tra rất dài lâu để tìm lại những dấu vết của một ai đó, và lúc khởi đầu chỉ có một hoặc hai địa chỉ trong một khu phố đã mất biệt. Chỉ dấu ngắn ngủi đôi khi hiện lên trên những phiếu tra cứu luôn luôn tìm được một âm hưởng trong tôi: Nơi cư trú cuối cùng được biết.” Trong lần ấn hành ba tiểu thuyết này, Phanbook cũng phát hành hộp giấy đựng sách Patrick Modiano với thiết kế đẹp, trang nhã dành cho độc giả sưu tầm đủ ba tác phẩm. *** VỀ NHÀ VĂN PATRICK MODIANO Patrick Modiano là nhà văn người Pháp, sinh năm 1945. Ông đạt giải Nobel văn học năm 2014. Nhiều tác phẩm của Modiano đã được in tại Việt Nam. Ba tác phẩm của Patrick Modiano do Phanbook ấn hành: Kho đựng nỗi đau, Hoa của phế tích, Con chó mùa xuân, đều do Hoàng Lam Vân dịch. *** Buổi tối Chủ nhật tháng Mười một ấy, tôi ở trên phố Abbé-de-l’Épée. Tôi đi dọc theo bức tường lớn của Học viện dành cho người câm điếc. Bên trái là tháp chuông nhà thờ Saint-Jacques-du-Haut-Pas cao cao. Tôi còn giữ kỷ niệm về một quán cà phê nơi góc phố Saint-Jacques, tôi hay đến đó sau khi xem phim, rạp Studio des Ursulines. Trên vỉa hè, lá rụng. Hoặc cũng có thể là các trang đã cháy thui của một quyển từ điển Gaffiot[1] cũ. Đây là khu phố của các trường và các tu viện. Vài cái tên cổ kính quay trở lại trong ký ức tôi: Estrapade, Conttescarpe, Tournefort, Pot-de-Fer... Tôi cảm thấy e sợ khi phải băng ngang những chốn tôi chưa từng đặt chân kể từ tuổi mười tám, hồi tôi còn hay lai vãng một trường trung học trên đồi Sainte-Geneviève[2]. Tôi có cảm giác các địa điểm vẫn cứ ở trong tình trạng mà tôi đã để chúng lại từ đầu thập niên sáu mươi, chúng bị bỏ hoang cùng quãng đó, cách đây đã hơn hăm lăm năm. Phố Gay-Lussac - cái phố im lìm ấy, nơi trước đây người ta từng dỡ đá lát và dựng chiến lũy[3] - cửa ra vào một khách sạn đã bị xây bịt lại và phần lớn cửa sổ không còn kính. Nhưng biển hiệu thì vẫn gắn ở đó, trên tường: Khách sạn Tương lai. Tương lai nào? Là tương lai, đã chấm dứt, của một sinh viên hồi những năm ba mươi, thuê lấy một căn phòng nhỏ tại khách sạn ấy, lúc vừa rời trường Sư phạm, và tối thứ Bảy thì mời các bạn học cũ đến chơi. Và họ đi vòng qua mấy khối nhà để tới rạp Studio des Ursulines xem một bộ phim. Tôi đi qua trước rào sắt và ngôi nhà màu trắng nhiều chớp cửa sổ, với rạp chiếu phim chiếm tầng trệt. Sảnh vào sáng đèn. Hẳn tôi có thể đi tiếp tới Val-de-Grâce, cái vùng yên bình ấy, nơi chúng tôi từng trốn, Jacqueline và tôi, để ông hầu tước không có cơ may gặp được nàng. Chúng tôi sống tại một khách sạn nằm đầu phố Pierre-Nicole. Chúng tôi tằn tiện với số tiền mà Jacqueline kiếm được bằng cách bán chiếc măng tô lông thú của nàng. Phố ngập nắng, vào buổi chiều Chủ nhật. Đám thủy lạp của ngôi nhà gạch nhỏ, đối diện trường Sévigné. Dây thường xuân phủ kín các ban công khách sạn. Con chó ngủ trong hành lang lối vào. Tôi đi đến phố Ulm. Nó hoang vắng. Có tự nhủ rằng vậy thì đâu có gì kỳ cục vào một tối Chủ nhật, tại cái khu phố chuyên cần và nhiều chất tỉnh lẻ này, thì tôi vẫn tự hỏi mình có đang còn ở Paris hay không. Trước mặt tôi là vòm tròn của Panthéon. Tôi sợ lại thấy chỉ có độc mình tôi, dưới chân tòa công trình cho người chết ấy, dưới ánh trăng, thế là tôi vội rẽ sang phố Lhomond. Tôi dừng lại trước trường Ái Nhĩ Lan. Một cái chuông điểm tám tiếng, có lẽ chuông của giáo đoàn Thánh Linh mà mặt tiền đồ sộ đang ở kia, bên tay phải tôi. Thêm vài bước nữa, tôi bước vào quảng trường Estrapade. Tôi tìm số 26 phố Fossés-Saint-Jacques. Một tòa nhà hiện đại, kia, trước mặt tôi. Chắc hẳn tòa nhà cũ đã bị phá đi chừng hai mươi năm về trước. Ngày 24 tháng Tư năm 1933. Cặp vợ chồng trẻ tự sát vì những lý do bí hiểm. Đúng là một câu chuyện lạ thường, những gì đã xảy ra đêm qua trong tòa nhà số 26, phố Fossés-Saint-Jacques, gần Panthéon, ở nhà ông và bà T. Ông Urbain T., kỹ sư trẻ tuổi, tốt nghiệp thủ khoa trường Hóa học, cách đó ba năm lấy cô Gisèle S., hăm sáu tuổi, hơn ông một tuổi. Bà T. là một phụ nữ xinh đẹp tóc vàng, cao và thanh mảnh. Về phần chồng bà, ông thuộc típ đàn ông tóc nâu đẹp trai. Cặp vợ chồng hồi tháng Bảy vừa rồi chuyển vào sống ở tầng trệt số 26, phố Fossés-Saint-Jacques, trong một cái xưởng được họ cải tạo thành nhà ở. Cặp vợ chồng trẻ rất gắn bó với nhau. Dường như chẳng mối lo lắng nào nhuốm lên hạnh phúc của họ. Tối thứ Bảy, Urbain T. quyết định cùng vợ ra ngoài đi ăn tối. Họ rời khỏi nhà vào quãng bảy giờ. Mãi khoảng hai giờ sáng họ mới về, cùng hai cặp khác. Gây ồn ào chối tai, họ đánh thức các hàng xóm vốn dĩ chẳng mấy quen thuộc với những biểu hiện ầm ĩ như vậy từ phía những người thuê nhà thông thường rất kín đáo. Chắc hẳn bữa tiệc đã có các biến cố bất ngờ. Quãng bốn giờ sáng, những người khách đi khỏi. Trong vòng nửa tiếng sau đó, vốn dĩ trôi qua trong im lặng, hai phát nổ sượng đục vang lên. Chín giờ, một hàng xóm, ra khỏi nhà, đi qua trước cửa nhà của vợ chồng T. Bà ta nghe thấy có tiếng rên rỉ. Đột nhiên nhớ đến những tiếng nổ trong đêm, bà ta thấy lo lắng nên đập cửa. Cửa mở ra và Gisèle T. xuất hiện. Máu chầm chậm chảy từ một vết thương thấy rõ dưới vú trái. Cô thì thầm: “Chồng tôi! Chồng tôi! Chết rồi”. Một lúc sau, ông Magnan, cảnh sát trưởng, tới nơi. Gisèle T. rên rỉ, nằm trên một cái đi văng. Trong phòng bên cạnh, người ta phát hiện xác chồng cô. Anh vẫn giữ chặt một khẩu súng ngắn trong bàn tay co quắp. Anh ta đã tự sát bằng một viên đạn bắn thẳng vào tim. Bên cạnh anh, một bức thư nguệch ngoạc: “Vợ tôi đã tự sát. Chúng tôi đã say rượu. Tôi tự sát đây. Đừng tìm...”.   Dường như, theo cuộc điều tra, Urbain và Gisèle T., sau bữa tối, đã đến một quán bar ở Montparnasse. Tối hôm trước, từ phố Fossés-Saint-Jacques, tôi đã đi bộ tới giao lộ nơi có quán Dôme và quán Rotonde, sau khi để lại sau lưng khu vườn Đài Thiên văn tối tăm. Vợ chồng T. hẳn đã đi theo cùng con đường như tôi, vào cái đêm năm 1933 ấy. Tôi chợt thấy mình đang ở một cái nơi mà tôi đã tránh kể từ những năm sáu mươi. Cũng như khu Ursulines, khu Montparnasse làm tôi nghĩ đến tòa lâu đài của nàng công chúa trong khu rừng ngủ. Tôi từng có cùng cảm giác ấy, hồi hai mươi tuổi, khi thuê phòng để trú vài đêm tại một khách sạn trên phố Delambre: Thời ấy Montparnasse đối với tôi đã có dáng vẻ của một khu phố sống sót sau chính nó và đang chậm rãi thối rữa, cách xa khỏi Paris. Những lúc trời mưa trên phố Odessa hay phố Khởi Hành, tôi thấy như thể mình đang ở một bến cảng vùng Bretagne, dưới làn mưa phùn. Từ nhà ga, hẵng còn chưa bị phá hủy, bốc lên những bụm không khí của Brest hay Lorient. Bữa tiệc, ở đây, đã kết thúc từ lâu. Tôi còn nhớ rằng biển hiệu của quán Jimmy’s ngày xưa vẫn còn treo trên bức tường của phố Huyghens, và nó bị rơi mất dăm ba chữ, gió ngoài khơi đã thổi tung chúng đi mất. Đó là lần đầu tiên - theo các báo hồi tháng Tư năm 1933 - cặp vợ chồng trẻ bước vào một quán ban đêm của khu Montparnasse. Họ đã hơi quá chén trong bữa tối chăng? Hoặc giả, hết sức đơn giản, họ muốn phá vỡ, dẫu chỉ trong một buổi tối, dòng chảy êm đềm cuộc đời họ? Một nhân chứng khẳng định đã trông thấy họ, quãng mười giờ tối, tại quán Café de la Marine, một sàn dancing, ở số 243, đại lộ Raspail; một người khác, ở quán cabaret tên là Isles, trên phố Vavin, đi cùng hai phụ nữ. Cảnh sát cho công bố ảnh họ nhằm kêu gọi những lời chứng rất có nguy cơ cần phải được thẩm tra kỹ vì có rất nhiều phụ nữ trẻ tóc vàng và chàng trai tóc nâu, như Urbain và Gisèle T. Trong vòng vài ngày, người ta tìm cách xác định hai cặp trai gái mà vợ chồng T. đã đưa về nhà họ, trên phố Fossés-Saint-Jacques, rồi cuộc điều tra được khép lại. Gisèle T., trước khi chết vì các vết thương, đã cất tiếng nói, nhưng những kỷ niệm của cô mơ hồ. Đúng, họ đã gặp, tại Montparnasse, hai phụ nữ, hai người xa lạ mà cô chẳng hề biết gì... Và những người đó đã lôi kéo họ tới Le Perreux, tại một sàn dancing nơi có hai người đàn ông đến với họ. Rồi họ tới một ngôi nhà, ở đó có một cái thang máy màu đỏ. Tối nay, tôi đi theo dấu chân họ trong một khu phố ủ dột được tòa tháp Montparnasse phủ tấm màn tang tóc. Trong ngày, nó che giấu mặt trời và phóng cái bóng của nó lên đại lộ Edgar-Quinet cùng các phố lân cận. Tôi để lại sau lưng quán Coupole mà người ta đang phá đi dưới một mặt tiền bằng bê tông. Tôi thấy thật khó mà tin rằng Montparnasse xưa kia từng biết đến một cuộc sống về đêm... Chính xác thì vào thời nào tôi từng sống ở cái khách sạn trên phố Delambre kia? Quãng năm 1965, khi tôi làm quen với Jacqueline và không lâu trước khi tôi lên đường đi Viên, bên Áo. Căn phòng bên cạnh phòng tôi được thuê bởi một người đàn ông trạc ba lăm tuổi, một người đàn ông tóc vàng mà tôi hay gặp trong hành lang, rốt cuộc tôi cũng bắt đầu quen biết ông ta. Tên ông ta? Cái gì đó giống như Devez hay Duvelz. Lúc nào ông ta cũng ăn vận hết sức chỉn chu và đính một huy chương trên hàng cúc áo. Nhiều lần, ông ta từng mời tôi uống một cốc, rất gần khách sạn, tại một quán bar, Rosebud. Tôi không dám từ chối, ông ta có vẻ rất thích nơi đó. - Ở đây tuyệt quá... Ông ta nói giọng nhiều âm răng, giọng của một người con nhà gia giáo, ông ta đã kể với tôi là ông ta từng ở hơn ba năm “vùng bưng biền”[4] và tại đó, ông ta đã kiếm được tấm huy chương kia. Nhưng cuộc chiến tranh Algérie khiến ông ta thấy lộn mửa. Ông ta đã cần rất nhiều thời gian thì mới hồi phục được từ đó. Ông ta sắp sửa kế tục bố ông ta làm chủ một doanh nghiệp dệt sợi lớn trên miền Bắc. Rất mau chóng, tôi nhận ra rằng ông ta không nói cho tôi sự thật: Về “doanh nghiệp dệt sợi” ấy, ông ta luôn luôn mơ hồ. Và ông ta tự nói ngược với chính mình, một hôm khẳng định với tôi là từng tốt nghiệp trường Saint-Maixent, ngay trước khi sang Algérie, rồi, tới hôm sau, rằng ông ta đã hoàn toàn học bên Anh. Đôi khi, cái giọng đầy âm răng của ông ta nhường chỗ cho giọng đớt của một kẻ bán hàng rong. Chắc cần phải có chuyện tôi bước đi, tối Chủ nhật ấy, trong khu Montparnasse, thì cái tay Duvelz - hay Devez - kia mới có thể đột nhiên hiện ra từ hư vô như thế. Một hôm, tôi còn nhớ, chúng tôi đã tình cờ gặp nhau trên phố Rennes, và ông ta đã mời tôi một bốc bia - như ông ta nói - tại một trong những quán cà phê thuộc giao lộ Saint-Placide buồn thảm. Quán cabaret tên Isles, trên phố Vavin, nơi hẳn người ta phải để ý thấy sự hiện diện của cặp vợ chồng, chiếm tầng hầm của tiệm Vikings. Bầu không khí đậm màu sắc Scandinavia cùng gỗ ốp tường sáng màu của Vikings trông thật tương phản với cái quán rượu nhọ nhem ấy. Chỉ cần đi xuống hết cầu thang: Từ những ly cocktail và các món nhẹ Na-uy ở tầng trệt, người ta sục thẳng vào giữa những điệu nhảy Martinique. Có phải vợ chồng T. đã gặp hai người phụ nữ ở đó? Tôi có cảm giác phải là tại Café de la Marine, đại lộ Raspail, về phía Denfert-Rochereau. Tôi còn nhớ căn hộ nơi Duvelz từng dẫn chúng tôi, Jacqueline và tôi, đến, cũng nằm ở đầu đại lộ Raspail đó. Cả lần ấy nữa, tôi cũng không dám từ chối lời mời của ông ta. Trong vòng gần một tuần, ông ta đã nằn nì cả hai chúng tôi một tối thứ Bảy nào đó cần phải tới nhà một người bạn gái của ông ta, ông ta rất muốn giới thiệu chúng tôi với người ấy. Bà mở cửa cho chúng tôi và, trong bóng tối lờ mờ của tiền phòng, tôi không nhìn rõ khuôn mặt bà. Phòng khách lớn, nơi chúng tôi bước vào, khiến tôi choáng váng vì vẻ xa xỉ của nó, chẳng hề tương hợp với căn phòng nhỏ của Duvelz, trên phố Delambre. Ông ta ở đó. Ông ta giới thiệu chúng tôi với nhau. Tôi đã quên mất tên bà: Đó là một phụ nữ tóc nâu đường nét hài hòa, một bên mặt, ở đoạn gò má, có vết sẹo lớn. Chúng tôi, Jacqueline và tôi, ngồi xuống trường kỷ. Duvelz và người phụ nữ, trong phô tơi, đối diện với chúng tôi. Chắc bà khoảng ba lăm, cùng độ tuổi với Duvelz. Bà tò mò nhìn chúng tôi. - Em có thấy họ thật duyên dáng không, cả hai?, Duvelz hỏi, bằng giọng nói nhiều âm răng của mình. Bà chăm chăm nhìn chúng tôi. Bà hỏi chúng tôi: - Hai người có muốn uống gì không? Giữa chúng tôi xuất hiện một quãng ngại ngần. Bà rót rượu porto mời chúng tôi. Duvelz uống một ngụm lớn. - Thoải mái đi, ông ta nói. Đây là một người bạn lâu năm... Bà ném về phía chúng tôi một nụ cười rụt rè. - Thậm chí chúng tôi từng đính hôn với nhau. Nhưng cô ấy đã phải lấy người khác... Bà không hề nhíu mày. Bà vẫn ngồi rất thẳng ở phô tơi, tay cầm ly rượu. - Chồng cô ấy hay đi vắng... Chắc chúng ta có thể tận dụng điều đó để đi chơi chung cả bốn người... Các bạn nghĩ sao? - Đi chơi đâu? Jacqueline hỏi. - Nơi nào các bạn muốn... Thậm chí chúng tôi còn không có nhu cầu ra ngoài. Ông ta nhún vai. - Ở đây thật hay... Phải không? Bà vẫn ngồi rất thẳng ở phô tơi. Bà châm một điếu thuốc lá, có lẽ để che giấu sự căng thẳng. Duvelz đã lại làm thêm một ngụm porto nữa. Ông ta đặt ly của mình lên cái bàn thấp, ông ta đứng dậy và bước về phía bà. - Cô ấy thật xinh đẹp, phải không? Ông ta đưa ngón tay trỏ lướt trên vết sẹo ở má. Rồi ông ta cởi cúc cái áo của bà và vuốt ve hai vú. Bà không hề động cựa. - Hồi trước chúng tôi đã gặp một tai nạn ô tô rất nghiêm trọng, ông ta nói. Bà hất tay ông ta ra bằng một động tác dữ tợn. Bà lại mỉm cười với chúng tôi. - Chắc hai người đói rồi... Giọng bà trầm và thoáng có âm sắc nước ngoài, dường như vậy. - Anh có thể giúp em mang bữa tối vào đây không? bà hỏi ông ta, giọng khá xẵng. - Tất nhiên rồi. Họ đứng dậy, cả hai. - Toàn đồ lạnh thôi, bà nói. Hai người thấy có được không? - Rất được, Jacqueline đáp. Ông ta đã choàng tay quanh vai bà và kéo bà ra khỏi phòng khách, ông ta thò đầu qua khe cửa mở. - Các bạn có thích sâm banh không? Ông ta đã đánh mất cái giọng nhiều âm răng. - Rất thích, Jacqueline đáp. - Có ngay đây. Chỉ còn lại chúng tôi trong phòng khách, vài phút, và tôi dồn hết nỗ lực ký ức để tập hợp lại càng nhiều chi tiết càng tốt. Những cửa sổ bệ thấp nhìn xuống đại lộ mở hé vì trời nóng. Đó là số 19 đại lộ Raspail. Năm 1965. Một cây đàn piano loại có đuôi đặt tận về cuối phòng. Trường kỷ và hai phô tơi đều làm bằng cùng một thứ da màu đen. Cái bàn thấp, bằng kim loại dát bạc. Một cái tên như là Devez hay Duvelz. Vết sẹo trên má. Cái áo bị cởi cúc. Một làn ánh sáng rất rực của đèn chiếu, hay nói đúng hơn là của đèn pin. Nó chỉ rọi sáng một mảnh nhỏ của décor, một giây phút đơn lẻ, mà để những gì còn lại trong bóng tối, bởi chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được đoạn sau các sự kiện và nói cho đúng thì hai người kia là ai. Chúng tôi lẻn ra khỏi phòng khách và, thậm chí còn không khép cửa lại, chúng tôi đi xuống cầu thang. Lúc nãy, chúng tôi đã dùng thang máy để lên, nhưng nó không màu đỏ, giống cái thang máy mà Gisèle T. từng nhắc đến. Mời các bạn đón đọc Hoa Của Phế Tích của tác giả Patrick Modiano & Hoàng Lam Vân (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Cốt Cách Phụ Nữ - Huyền Trang Bất Hối
Một cuốn sách nói về cuộc sống của phụ nữ với những sự thật rất đời thường, nỗi cô đơn, sự đau khổ và hạnh phúc.   “Cốt cách phụ nữ”, một cái tên nghe rất lạ, rất phụ nữ cũng rất đàn bà. Cảm giác của tôi khi lật giở trang đầu cuốn sách, là những lời giới thiệu một cách chân thật về tác giả, là cảm nhận được sự từng trải và nỗi cô đơn thấm nhuần vào lời văn. Tác giả viết: “Tôi, bạn hay ai khác, đều có những bí mật riêng, những nỗi đau và những điều bất lực. Chỉ hơn nhau ở chỗ, ai giấu kỹ hơn, ai che giấu hỏi hơn…”.   Cuốn sách đã gây sốt trong thời gian qua bởi những câu chuyện rất đời thường của phụ nữ. Huyền Trang Bất Hối, một tác giả mới trong làng văn trẻ hiện nay. Nhưng lại là một cái quen quá đỗi quen thuộc với cộng đồng mạng, một cô gái khắc họa nỗi lòng của những người phụ nữ từng trải, tạc lên sự cô độc và viết ra nỗi đau mà phái yếu đều cố gắng che đậy. Một cô gái lấy đi nước mắt của rất nhiều người. Một giọng văn không thể hòa lẫn, có chút tư vị mềm yếu, pha thêm vài phần đắng cay, nhưng nhiều nhất có lẽ tôi cảm nhận là sự quật cường của một người con gái đứng dậy sau bao giông bão. Từng câu chuyện ngắn, từng dòng văn tâm sự, từng lời chia sẻ chân thật và những tình huống chân thực nhất tạo nên một “Cốt cách phụ nữ”. Tôi tin mỗi độc giả khi cầm trên tay cuốn sách tâm trạng sẽ men theo từng cung bậc cảm xúc được viết lên. Vui có, buồn có, hạnh phúc có, nhiều hơn là đau khổ. Nhưng tôi tin, mỗi một độc giả khi khép cuốn sách lại, mặc dù rơi lệ nhưng trong lòng trăm mối suy nghĩ ngổn ngang đều đã được sắp xếp gọn gàng lại. Tôi tin, mỗi người đều sẽ tìm được bình yên khi đọc hết cuốn sách này. “Cốt cách phụ nữ” được viết lên bởi một tác giả trẻ nhưng không vì thế mà lời văn non nớt hay có phần ngông cuồng, cao ngạo. Lời văn thấu hiểu tâm tư đối phương, thấu hiểu chính mình. Cuốn sách mang tên “Cốt cách phụ nữ” nhưng không vì thế mà độc giả cho rằng chỉ dành cho phụ nữ. Tôi nghĩ, phụ nữ đọc để thấu hiểu chính mình. Đàn ông đọc để thấu hiểu người phụ nữ của mình. Trong sách, tác giả nói rằng: “Phụ nữ, yêu và sống đừng quá đặt nặng vấn đề, đừng quá để tâm mọi chuyện. Càng để tâm lòng càng thêm phiền muộn, càng chú ý càng khiến bản thân trở nên hèn mọn. Mọi sự đều là nên đến, cưỡng cầu là vô ích. Phụ nữ yêu cũng được, buông cũng được, nhưng nên giữ cho lòng an tĩnh, dù sóng gió hay bão táp cũng tuyệt đối đừng ngả nghiêng. Dù người thật lòng hay dối trá, coi nó như mọi sự tùy duyên, thế nào cũng được. Điều quan trọng dù đang rơi lệ cũng vẫn phải mỉm cười, bởi với người không thương ta, đừng để họ thấy ta khóc”. Cuốn sách được Bão xuất bản và phát hành toàn quốc, được đánh giá 9/10 theo nhận định của nhiều người. Tôi tin, mỗi độc giả khi lựa chọn cuốn sách này, cũng đồng thời lựa chọn nó là người bạn đồng hành trong suốt quá trình trưởng thành và quá trình tìm được hạnh phúc thuộc về mình.  “Bạn muốn bình yên, trước tiên phải thấu hiểu bản thân mình”, trên đời này có bao nhiêu người thấu hiểu được chính bản thân mình cần gì, muốn gì, thích gì. Bao nhiêu người can đảm bước qua được giông bão, bao nhiêu người có thể mạnh mẽ đứng dậy sau những tổn thương? Đến với “Cốt cách phụ nữ”, bạn không tìm được màu hồng, không tìm được sự lãng mạn ngôn tình, nhưng điều bạn tìm thấy có lẽ là sự thật. Sự thật mà bản thân luôn muốn phủ nhận, những sự thật mà chúng ta không muốn chấp nhận được khắc họa rõ nét trong “Cốt cách phụ nữ”. Cuốn sách viết về những nỗi đau, những mặt trái phía sau hạnh phúc.  Trước đây, những câu truyện lãng mạn, những tiểu thuyết vẽ đầy màu hồng luôn thu hút giới trẻ. Nhưng đến với cuốn sách này, bạn sẽ chỉ tìm thấy được những điều chân thực nhất, không có hoàng tử, không có công chúa, mà chỉ có đàn ông và đàn bà. Thế thôi! Cuộc đời này, có những người chúng ta cho rằng sẽ đi cùng mình hết một đời người, nhưng sự thực thì họ chỉ đi cùng mình hết một đoạn đường. Mỗi người đến bên cuộc đời, dù dài hay ngắn, dù đi hay ở, ít nhiều họ sẽ dạy cho ta một điều gì đấy. “Cốt cách phụ nữ” sẽ đưa bạn đến nhiều cung bậc cảm xúc, nhưng nhiều nhất có lẽ chính là những nỗi đau bạn muốn chôn vùi. Và tôi tin, đến khi cuốn sách khép lại, trăm mối suy tư ngổn ngang trong lòng bạn đều đã được giải tỏa. Đến cuối cùng, đi đến một quãng đường nhất định nào đấy, chúng ta, đều sẽ hiểu một điều. Không có điều gì là mãi mãi, đàn ông cũng vậy, không có đàn ông tốt một đời, chỉ có đàn ông tốt một thời. Có những ngày bản thân tưởng như sẽ chết đi, sẽ gục ngã, nhưng không, chúng ta vẫn ổn. Bởi tổn thương không thể làm phụ nữ chết đi, chỉ khiến họ thêm mạnh mẽ và kiên cường. “Cốt cách phụ nữ” dành cho những cô gái đang tổn thương và dành cho những người phụ nữ đã đi qua tổn thương, để có thể thêm mạnh mẽ bước qua và để nhìn lại nỗi đau mình đã từng can đảm đi qua như thế nào. Cuốn sách dành cho những người đàn ông, đọc và cảm nhận những điều mà người phụ nữ của mình không thể nói ra, đọc để hiểu nỗi khổ tâm của họ. Và để hiểu, có được bình yên của hôm nay, họ đã phải gồng gánh và trả giá nhiều như thế nào. Phụ nữ, buồn nhưng đừng buồn quá lâu, yêu nhưng đừng yêu quá sâu. Đừng đặt nặng vấn đề, đừng để tâm quá nhiều chuyện. Suy tư lòng càng phiền muộn, mọi chuyện đều là nên đến, cưỡng cầu vô ích. Viết những dòng này, tôi muốn tặng cho các cô gái của tôi, tặng cho những người phụ nữ mạnh mẽ! Tặng cho thành phố tôi yêu thương, thành phố tôi trở về sau sáu năm cách biệt. Và sau cùng, tặng cho người đàn ông đã bao dung và nắm tay tôi trong suốt tháng ngày trưởng thành. N.L - emdep.vn
Không Lấm Máu - Alessandro Baricco
Alessandro Baricco đã dệt nên một tấn thảm kịch pha trộn bạo lực và máu lửa, khiến người đọc thoạt tiên có thể nhầm lẫn nó với loại truyện báo thù theo kiểu gangster. Nhưng những trang viết tiếp nối nhau đã hé lộ dần một câu chuyện nhân sinh. Đó là bi kịch của những con người, vì lỗi lầm của chính mình hay của người thân của mình, đã vĩnh viễn bị giam cầm trong mê cung không lối ra của những xung đột không hề liên quan đến mình. Đó là ám ảnh về chiến tranh cũng như tội ác và hệ quả của nó. Đó là sự giằng xé nội tâm giữa nỗi khao khát phục thù và lòng khoan dung tha thứ... *** ... Vào một ngày xa xưa sau khi kết thúc chiến tranh, ở một trang trại tồi tàn nơi vùng quê hẻo lánh, đã xảy ra một vụ thảm sát mà nạn nhân là Roca, người chủ trang trại đang sống với hai đứa con nhỏ. Một nhóm người lạ mặt từ xa tìm đến, kết tội Roca đã giết hại nhiều tù binh khi ông ta còn là bác sĩ trong một bệnh viện thời chiến. Roca và con trai bị hạ sát tại chỗ. Riêng Nina, đứa con gái hơn 10 tuổi, được cha kịp thời giấu xuống hầm, đã may mắn thoát chết sau khi bọn sát thủ phóng hỏa thiêu hủy trang trại. Năm mươi năm sau, có một cuộc gặp gỡ giữa hai người luống tuổi trong một nhà hàng ở thủ đô: người phụ nữ chính là cô bé năm xưa sống sót sau thảm họa, và người đàn ông - Pedro Cantos, tên trẻ tuổi nhất trong đám sát thủ, người vào phút cuối đã quyết định cứu đứa bé bằng cách không tiết lộ với đồng bọn về chỗ ẩn nấp của nó. Cuộc đối thoại nhẹ nhàng diễn ra trong khung cảnh yên tĩnh không tiếng súng nổ và máu loang hôm nay xem ra khốc liệt hơn rất nhiều so với tấn thảm kịch năm xưa. Quá khứ được tái hiện, những biến cố kinh hoàng được giải thích từ cái nhìn của hai phía. Và cùng với việc làm sống lại quá khứ, là sự phơi bày những số phận bị vùi dập, bị hủy diệt trong cơn lốc của tội ác và hận thù, mặc dầu chiến tranh đã thực sự lùi xa... “Đất nước đang tiến về phía trước, bỏ xa chiến tranh đằng sau, với một vận tốc đáng kinh ngạc, quên đi tất cả. Nhưng có một đám người không bao giờ ra khỏi chiến tranh, và họ không sao làm lại cuộc đời trong cái đất nước hạnh phúc này.” ... Khi đặt bút xây dựng tiểu thuyết này, Alessandro Baricco không dự định viết về chiến tranh, như lời bộc bạch của ông với độc giả The New Yorker, một tờ báo nổi tiếng ở Mỹ. Trong ý đồ sáng tác của ông, chiến tranh chỉ đơn thuần là cái nền, còn cốt truyện chính lại xoay quanh việc một đứa bé được cứu thoát nhờ chỗ ẩn nấp, đã dành suốt cuộc đời còn lại của mình để đi tìm một chỗ trú ẩn tương tự với ước ao được cứu rỗi vĩnh viễn. Tuy nhiên, khi câu chuyện nên hình nên vóc và đến với độc giả, nó đã được đón nhận như là một trong những tiểu thuyết đặc sắc viết về chiến tranh. Alessandro Baricco đã dệt nên một tấn thảm kịch pha trộn bạo lực và máu lửa, khiến người đọc thoạt tiên có thể nhầm lẫn nó với loại truyện báo thù theo kiểu gangster. Nhưng những trang viết tiếp nối nhau đã hé lộ dần một câu chuyện nhân sinh. Đó là bi kịch của những con người, vì lỗi lầm của chính mình hay của người thân của mình, đã vĩnh viễn bị giam cầm trong mê cung không lối ra của những xung đột không hề liên quan đến mình. Đó là ám ảnh về chiến tranh cũng như tội ác và hệ quả của nó. Đó là sự giằng xé nội tâm giữa nỗi khao khát phục thù và lòng khoan dung tha thứ... Với Không lấm máu, Alessandro Baricco đã đưa người đọc đến với lời cảnh báo nóng bỏng: mối quan hệ giữa lịch sử của một đất nước với thân phận từng cá thể trong cộng đồng ấy. Cho dẫu là quốc gia nào, ở bất cứ thời kỳ nào, những tham vọng và tội ác tập thể mù quáng đều có nguy cơ như những quả đại bác có sức hủy diệt khó lường cho các thế hệ mai sau. Tác giả lại đặt câu chuyện trong một bối cảnh không xác định về cả thời gian lẫn không gian, phải chăng nhằm truyền đi một ẩn dụ sâu xa, rằng tội ác có thể xảy ra ở bất cứ nơi đâu trên hành tinh này, rằng con người trong chiến tranh thường phạm phải những lỗi lầm giống nhau, như hiệu ứng dây chuyền lây lan từ đời này sang đời khác, gây nên tấn thảm kịch triền miên cho toàn nhân loại! Những chủ đề ấy làm cho quyển tiểu thuyết chỉ vỏn vẹn có hai chương, tràn ngập bạo lực ở phần 1 và hồi hộp căng thẳng ở phần 2, với cuộc đối thoại chông chênh giữa tình thương và căm hận, lại thấm đẫm màu sắc nhân văn và mang dáng dấp của một ngụ ngôn với kết thúc đầy chất thơ, khi tình người sau cùng đã thực sự chiến thắng những cừu oán riêng tư. Với thông điệp trên, rất dễ hiểu vì sao Không lấm máu lại nhanh chóng nhận được sự đồng cảm sâu sắc của công chúng văn học và được giới thiệu ở nhiều nước trên thế giới. Nhân loại vốn đã có quá nhiều trải nghiệm xương máu trong chiến tranh, giờ đây cần nỗ lực hàn gắn mọi vết thương quá khứ và cùng chung tay xây dựng “một thế giới công bằng, trong đó người thấp cổ bé họng không phải đau khổ vì cái ác của người khác, nơi mà ai ai cũng có thể có quyền hưởng hạnh phúc”. ... Mời các bạn đón đọc Không Lấm Máu của tác giả Alessandro Baricco.
Hảo Nữ Trung Hoa - Hân Nhiên
Khinh Phong Dạ Thoại như ngọn gió được đêm đen ôm ấp, chỉ khi thân phận được che giấu và được lắng nghe thật sự, những người phụ nữ Trung Hoa mới dám cất tiếng nói nhỏ nhoi yếu ớt đã bị đè nén suốt cả trăm năm ròng, tiết lộ thế giới bí mật mang đầy những đau thương và tủi nhục. Trong cái thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa đen tối và hỗn loạn của lịch sử Trung Quốc, không chỉ một mà có cả trăm, nghìn, thậm chí cả triệu người phụ nữ bị đã chà đạp, lăng nhục, và hủy hoại. Những câu chuyện đau lòng đã được kể trong Hảo Nữ Trung Hoa sẽ ám ảnh và làm day dứt tâm hồn của cả những con người cứng rắn nhất. Những người con gái, những người vợ, những người mẹ, đặt trong mối quan hệ giữa những người đàn ông và xã hội đã phải gánh chịu quá nhiều bất công đàn áp. Những cô gái bị cưỡng hiếp, bạo hành đến mức tâm thần không còn ổn định, những người vợ bị đối xử như một công cụ thỏa mãn sinh dục và những cái máy đẻ rệu rã, những người con gái bị tước đoạt tình yêu, những người mẹ phải tận mắt nhìn con mình lìa bỏ cuộc đời… Khi đàn ông là những kẻ vũ phu bội bạc, những tên cuồng dâm, những tên đội lốt Cách Mạng để làm những việc dơ bẩn, đớn hèn thì phụ nữ vẫn phải lặng im chịu đựng. Vì họ không có cách bảo vệ chính mình, và cũng không ai bảo vệ họ. Hàng nghìn số phận phụ nữ bị vùi dập và nhấn chìm dưới những quy định cổ hủ và tàn nhẫn của xã hội, trong những biến động lịch sử dữ dội của đất nước Trung Hoa, trong sự thờ ơ và bàng quan của nhân loại. Hân Nhiên đã đem nỗi đau của chính bản thân bà, và nỗi đau của những người phụ nữ khác, giãi bày qua từng trang giấy. Chính sự thật quá phũ phàng mới làm lòng người lay động mạnh mẽ vô cùng khi đọc Hảo Nữ Trung Hoa. Nhưng không chỉ có nỗi đau và niềm uất ức, Hảo Nữ Trung Hoa còn là bức tranh ghép đa màu về những khát khao tình yêu, quan niệm hạnh phúc và nhân sinh quan của phụ nữ, những đức tính tốt đẹp vô cùng của họ. Những trang sách đẹp nhất của Hảo Nữ Trung Hoa là những trang viết về những người mẹ. Người mẹ với một tình cảm mẫu tử thiêng liêng cao cả có thể làm tất cả chỉ mong cho con mình hạnh phúc. Người mẹ với kí ức đau thương sẽ không bao giờ phai mờ về đứa con đã mất. Những khổ đau lớp lớp của phụ nữ Trung Quốc qua lối kể mộc mạc và chân thực của Hân Nhiên gợi lên trong lòng người đọc một mỹ cảm vô cùng về vẻ đẹp trong tâm hồn mỗi người phụ nữ. Như chính bà đã từng phát biểu: Phụ nữ là lực lượng sáng tạo trong vũ trụ này. Họ đem đến cho cuộc sống cái đẹp, cảm xúc và sự nhạy cảm. Họ tinh khiết và trong sạch. Phụ nữ là những tạo vật tuyệt vời nhất… Hãy thật can đảm khi đọc Hảo Nữ Trung Hoa, vì trái tim bạn sẽ run rẩy và bị bóp nghẹt bởi sự thật phũ phàng và những đau đớn nghẹn ngào ẩn trong trang sách. Một bức tranh đa chiều được viết nên bằng máu và nước mắt, sẽ mãi khắc sâu ấn tượng với bất kì ai đã từng chiêm ngưỡng nó. Hảo Nữ Trung Hoa đã vẽ lại hình ảnh một đất nước Trung Quốc khác, không phải đất nước vĩ đại với hàng ngàn năm văn hiến, cũng không phải đất nước với những kỳ quan kỳ vĩ khiến thế giới ngưỡng mộ. Trung Quốc của Hân Nhiên đầy rẫy những mảnh đời bị bỏ quên, những Hảo Nữ vẫn đang sống từng ngày trong đau thương. Hân Nhiên (Xinran) sinh năm 1958 tại Bắc Kinh. Bà là nhà báo, người dẫn chương trình Khinh Phong Dạ Thoại của Đài phát thanh Nam Kinh. Khi làm chương trình, bà được lắng nghe những cuộc gọi đến của rất nhiều thính giả cũng như chia sẻ về câu chuyện cuộc đời họ. Hân Nhiên không chỉ trò chuyện mà còn gặp gỡ, thu thập tư liệu từ hàng ngàn phụ nữ bà đã phỏng vấn. Chương trình này đã đưa Hân Nhiên trở thành một trong những nhà báo thành công nhất của Trung Quốc. Năm 1997, bà tới Luân Đôn cùng con trai. Chính tại nơi đây, Hân Nhiên mới có thể viết lại những câu chuyện thành một pho sách gây nhức nhối và đầy ám ảnh. Đã từng nghe, phỏng vấn hơn 200 phụ nữ. Bà đã gom góp những cuốn sách bí mật trong từng gia đình, những nỗi đau riêng tư, những cam chịu đè nén trong đau thương và uất hận, những bi kịch thầm kín, từng chứng kiến trong 8 năm làm việc tại Trung Quốc. Tháng 7 năm 2002, lần đầu tiên những câu chuyện này xuất hiện tại Anh trong cuốn sách có tên Hảo Nữ Trung Hoa (The good women of China: Hidden Voices). Hiện nay, Hảo Nữ Trung Hoa đã đến tay bạn đọc trên toàn thế giới và được dịch ra trên 30 thứ tiếng. Hảo Nữ Trung Hoa là tập hồi ký mà nhà báo Hân Nhiên đã thay những người phụ nữ vô danh ở khắp nơi trên đất nước Trung Quốc rộng lớn kể lại cuộc đời họ với mọi đau đớn và bi thảm. *** Chín giờ tối ngày 3 tháng Mười một năm 1999, tôi đang trên đường về nhà sau buổi dạy tối ở Khoa Phương Đông và Châu Phi thuộc Đại Học Luân Đôn. Khi ra khỏi ga tàu điện ngầm Stamford Brook bước vào bóng tối của đêm thu, tôi nghe thấy có tiếng động hối hả ở phía sau. Tôi chưa kịp phản ứng thì đã có ai đó đập mạnh vào đầu và đẩy tôi ngã nhào xuống đường. Theo bản năng, tôi nắm chặt lấy chiếc túi xách đang đựng bản duy nhất của bản thảo tôi mới hoàn thành. Nhưng kẻ tấn công kia vẫn không bỏ cuộc. “Đưa tao cái túi,” hắn liên tục hét lên. Tôi chống trả với sức mạnh mà tôi chưa từng nghĩ mình lại có. Trong bóng tối, tôi không thấy một ai. Tôi chỉ biết rằng mình đang chiến đấu với hai bàn tay khỏe mạnh và còn vô hình. Tôi gắng tự vệ đồng thời đá vào chỗ mà tôi nghĩ có lẽ là háng của hắn. Hắn đá lại và tôi cảm thấy đau nhói ở lưng và cẳng chân, và vị mằn mặn của máu trong miệng. Những người đi ngang bắt đầu chạy về phía chúng tôi và hét lên. Một đám đông giận dữ nhanh chóng vây lấy gã đàn ông. Khi loạng choạng đứng lên, tôi thấy hắn cao hơn mét tám. Sau đó, cảnh sát hỏi tôi tại sao lại liều mạng chống trả chỉ vì một chiếc túi xách. Run rẩy và đau đớn, tôi giải thích, “Tôi để cuốn sách của mình trong đó.” “Một cuốn sách?” viên cảnh sát kêu lên. “Chẳng lẽ một cuốn sách còn quan trọng hơn mạng sống của cô sao?” Đương nhiên là tính mạng quan trọng hơn cuốn sách rồi. Nhưng ở nhiều khía cạnh, cuốn sách đó chính là mạng sống của tôi. Nó là lời chứng về cuộc sống của người phụ nữ Trung Quốc, là kết tinh của nhiều năm làm việc với tư cách nhà báo của tôi. Tôi biết mình đã thật dại dột: Nếu bị mất bản thảo, tôi vẫn có thể cố viết lại được. Tuy nhiên, tôi không dám chắc mình có thể vượt qua được những cảm xúc cực độ trào dâng lên khi tôi viết lại cuốn sách hay không. Trải nghiệm lại câu chuyện của những người phụ nữ tôi từng gặp quả là đau đớn, song sắp xếp các ký ức và tìm ra ngôn từ thích đáng để viết còn khó hơn. Khi chiến đấu để giữ bằng được chiếc túi, tôi đang bảo vệ cho những cảm xúc của mình và của những người phụ nữ Trung Quốc. Cuốn sách là kết quả của quá nhiều điều một khi mất đi sẽ không bao giờ có thể tìm lại. Khi bước vào ký ức của mình, bạn đang mở ra một cánh cửa dẫn tới quá khứ; con đường trong đó có rất nhiều ngã rẽ và mỗi lần đi lại là một lộ trình khác nhau. ... Mời các bạn đón đọc Hảo Nữ Trung Hoa của tác giả Hân Nhiên.
Skulduggery Vui Vẻ Phần 1: Thám Tử Xương Vui Tính - Derek Landy
Cuộc hành trình lôi cuốn giữa một vị thám tử vốn là một bộ xương di động cùng cộng sự là một cô bé 11 tuổi. Một câu chuyện kỳ bí về phép thuật, những bảo bối thần kỳ cùng những vụ ám sát và các phi vụ đen tối khác. Khi người bác đột ngột qua đời, Stephanie Edgley đã không nghĩ rằng mình sẽ được gặp một chú thám tử xương, nhưng chuyện phi thường đã xảy ra. Skulduggery đã mở ra trước mắt Stephanie một thế giới mới mà nó chưa từng nghĩ là có thật và bắt đầu dạy cho nó những gì anh biết, dẫn đến những cuộc phiêu lưu kỳ thú. Điều khiến tác phẩm này trở nên nổi bật so với những tác phẩm khác cùng thể loại chính là vì Skulduggery. Ngoài việc anh là một thám tử xương đầy quyền năng phép thuật - một điều quả là phi thường, những câu bông đùa, giễu cợt đầy sắc sảo và thông minh của thám tử xương vui tính sẽ lôi cuốn người đọc không thể rời mắt khỏi cuốn sách. *** Bộ sách Skulduggery Vui Vẻ gồm có: Skulduggery Vui Vẻ - Phần 1: Thám Tử Xương Vui Tính Skulduggery Vui Vẻ - Phần 2: Vờn Lửa Skulduggery Vui Vẻ - Phần 3: Những Kẻ Vô Diện Skulduggery Vui Vẻ - Phần 4: Những Ngày Đen Tối *** Cái chết bất ngờ của Gordon Edgley khiến cho mọi người không khỏi bàng hoàng – thậm chí chắc ông Gordon cũng bất ngờ không kém. Mới vài giây trước ông còn ngồi trong phòng làm việc, chỉ mới đọc được bảy chữ đầu dòng thứ hai mươi lăm trong chương cuối của cuốn tiểu thuyết Bóng Tối Bủa Vây mới phát hành. Vậy mà ông tắt thở ngay sau đó. “Một sự mất mát đau thương”, câu văn Gordon đọc trước khi chết vẫn còn vang trong tâm trí mê mụ khi ông lịm dần đi. Tang lễ có mặt gia quyến và người quen nhưng bạn bè thì ít lắm. Gordon không phải là mẫu người được ưa thích trong giới xuất bản, vì mặc dù những tác phẩm của ông – những truyện kinh dị về phép thuật và những điều dị thường – thường xuyên ló mặt trong bảng những sách bán chạy nhất, ông có một thói quen không thể khống chế đó là lăng mạ người khác mà không hề cố ý, và cười trên sự bàng hoàng của họ. Nhưng dù sao đám tang của Gordon cũng cho Stephanie Edgley có dịp lần đầu gặp người đàn ông mặc áo bành tô da nâu sậm. Anh đứng dưới bóng râm của một tán cây rộng, tách hẳn đám đông, chiếc áo khoác được cài nút kín mít dù trưa hôm đó khá nóng bức cộng thêm khăn choàng cổ quấn quanh che kín nửa mặt phía dưới. Và dù anh ta đứng cách xa mộ huyệt một quãng, Stephanie vẫn có thể thấy được những lọn tóc bù xù xoăn tít xòa dưới vành nón rộng sùm sụp sát cặp kính râm to tướng. Bị vẻ ngoài kỳ dị kích thích tính hiếu kỳ, nó không rời mắt khỏi anh ta. Như thể cũng biết mình bị theo dõi, anh quay lưng băng ngang qua những hàng bia đá, và biến mất dạng. Sau buổi lễ, Stephanie cùng bố mẹ quay về nhà ông bác, tọa lạc phía bên kia cây cầu cong cong trên một con đường nhỏ hẹp ngoằn ngoèo băng ngang nền đất rừng dày đặc. Cánh cổng to bè nặng nề mở toang, đón chào họ bước vào phía trong dinh thự, một căn nhà cổ khổng lồ đến lố bịch trên mảnh đất rộng mênh mông. Phòng khách nhà này có một cánh cửa phụ được ngụy trang trông giống một kệ sách. Hồi bé, Stephanie luôn nghĩ rằng không ai khác, ngay cả ông Gordon, biết có cánh cửa này. Đó là một con đường bí mật, hệt như trong những mẩu truyện nó từng đọc, và nó tự sáng tạo ra những cuộc phiêu lưu trong những ngôi nhà ma ám và những kho tàng bí mật được giấu kỹ. Con đường bí mật này sẽ luôn là lối thoát cho nó, và những kẻ gian ác tưởng tượng trong những cuộc phiêu lưu này sẽ phải kinh ngạc bởi sự biến mất đột ngột và kỳ bí của nó. Nhưng giờ đây cánh cửa mở ra con đường bí mật này mở toang cho dòng người chầm chậm bước vào. Stephanie cảm thấy buồn khi thấy chút phép mầu này bị tước đi. Tiệc nhẹ hôm nay ngoài trà còn có các loại đồ uống khác dùng chung với bánh kẹp nhỏ bày trên đĩa bạc được mang đi khắp phòng. Stephanie thấy có mấy người đi đưa ma thẳng thừng bình phẩm đồ đạc trong nhà. Nhưng chủ đề chính của cuộc bàn luận kín lại là bản di chúc. Khi còn sống, ông Gordon không có, thậm chí không hề tỏ ra đặc biệt yêu thích một ai, nên không ai đoán được người nào sẽ thừa hưởng gia tài kếch xù này. Stephanie không thể nhầm lẫn lòng tham vô độ hiện rõ trên cặp mắt ướt mèm của ông bác nhỏ thó khó ưa tên Fergus. Ông này gục gặc đầu vẻ sầu não cho hợp với tông điệu ảm đạm của buổi tang lễ, nhưng đôi tay tắt mắt sẵn sàng nhét túi một món đồ bạc bất kỳ khi không có ai để ý. Vợ của Fergus là một người phụ nữ có một vẻ ngoài hoàn toàn khó ưa cùng gương mặt góc cạnh tên Beryl. Bà ta lướt qua đám đông, đắm chìm trong nỗi âu sầu giả tạo, tìm kiếm các cuộc tán gẫu và sục sạo đào bới những vụ xì căng đan. Mấy đứa con gái của mụ thì làm như không có Stephanie trên đời. Carol và Crystal là chị em sinh đôi, mười lăm tuổi, cũng chanh chua và xấu bụng không thua gì bố mẹ chúng. Ngược với Stephanie tóc đen, cao, gầy và khỏe mạnh, chúng tóc vàng nhạt, thấp bè và mặc những bộ đồ khiến những nơi thiếu thẩm mỹ càng phình ra. Nếu không có đôi mắt nâu có lẽ không ai có thể nghĩ chúng có họ hàng với Stephanie. Cô bé thích màu mắt ấy. Đó thứ duy nhất của chúng mà nó thích. Không thèm chấp những cái lừ mắt đanh đá cùng những lời thì thầm cạnh khóe của chúng, nó quyết định đi dạo một vòng. Nhà ông Gordon có nhiều hành lang dài hai bên tường treo đầy tranh. Dưới chân Stephanie là ván sàn bóng lộn, và căn nhà toát lên một mùi cũ kỹ. Không hẳn là mùi mốc, mà là mùi của... trải nghiệm. Những bức tường và sàn nhà này đã chứng kiến nhiều sự kiện trong quá khứ mà so với chúng, Stephanie không hơn gì một tiếng thì thầm thoảng qua. Đến rồi lại đi trong phút chốc. Gordon là một người bác tốt. Kiêu ngạo và thiếu trách nhiệm, đúng là như vậy, nhưng cũng rất vui và trẻ con nữa, ánh mắt ông hiện lên một đốm sáng, một tia nhìn đầy nghịch ngợm. Trong khi tất cả mọi người còn lại đều nghiêm nghị với ông, Stephanie luôn để ý đến những cái chớp mắt và gật đầu và những nụ cười nửa vời ông luôn dành cho nó mỗi khi họ không để ý. Ngay cả khi còn là một đứa trẻ, nó cảm thấy nó hiểu ông hơn ai hết. Nó thích sự thông minh và tài ăn nói dí dỏm, cùng với cách ông không quan tâm đến những gì người khác nghĩ về mình. Ông còn là một người bác tốt. Khi còn sống, ông thường dạy bảo nó nhiều điều hay. Stephanie biết có thời điểm mẹ nó và bác Gordon từng “phải lòng” nhau (mẹ nó gọi đó là “tìm hiểu”). Nhưng lúc bác Gordon giới thiệu bà với em trai ông, thì đó đích thực là tình yêu sét đánh. Gordon thích kể lể về việc ông chưa hề được gì ngoại trừ một cái hôn nhẹ lên má, Nhưng sau đó ông rút lui một cách ôn hòa, và say sưa trong những cuộc tình nồng nhiệt với hàng tá phụ nữ xinh đẹp khác. Ông từng bảo đó là sự trao đổi khá công bằng, tuy nhiên người thiệt thòi vẫn là ông. ... Mời các bạn đón đọc Thám Tử Xương Vui Tính của tác giả Derek Landy.