Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Hoa Của Phế Tích

Hoa của phế tích là một trong bộ ba tiểu thuyết được phanbook phát hành vào năm nay. Từ câu chuyện một đôi vợ chồng trẻ tự sát vì những lí do bí hiểm mở ra một cuộc điều tra, theo đó là những bước chân lần theo những khu phố cũ, những đại lộ, những tòa nhà… đậm dấu tích của quá khứ. Giọng văn chậm rãi với những câu chữ buồn mà đẹp đến nao lòng của Modiano mang đến cho độc giả những dư âm mãi váng vất. Để từ đó người đọc có thể thấy được văn chương của Patick Modiano là văn chương của ký ức, bất định tương lai. *** Patrick Modiano là Nhà văn Pháp với hơn 30 tác phẩm bao gồm tiểu thuyết, kịch bản phim,... các tác phẩm của ông đã được dịch 36 thứ tiếng trên thế giới, đạt nhiều giải thưởng danh tiếng, phải kể đến giải Nobel Văn học năm 2014. "Lối viết văn của Modiano rất dễ đọc. Các tác phẩm của ông trông có vẻ đơn giản bởi vì nó tinh tế, thẳng thắn, đơn giản và rõ ràng. Bạn mở sách đọc một trang, và sẽ nhận ra ngay là sách của ông ta, rất thẳng thắn, câu văn ngắn gọn, không cầu kỳ - nhưng nó rất là tinh vi trong cách đơn giản của nó."_ Bí thư thường trực của học viện Nobel Peter Englund Con chó mùa xuân là một trong bộ ba tiểu thuyết được phanbook phát hành vào năm nay. Vẫn với lối viết đơn giản mà tinh tế, Patick Modiano đã dần người đọc vào một hành trình lạ lùng khi hai con đường ngược nhau, cắt nhau nơi ký ức. Như một tất định của đời sống, có tồn tại rồi sẽ có lãng quên, cuối cùng thì không gì có thể níu kéo được hiện hữu thuộc về quá khứ, và tất cả được chứa đựng trong lặng im vĩnh viễn. Để từ đó người đọc có thể thấy được văn chương của Patick Modiano là văn chương của ký ức, bất định tương lai. *** Kho đựng nỗi đau (tựa gốc: Remise de peine, viết năm 1988), Hoa của phế tích (tựa gốc: Fleurs de ruine, 1991), Con chó mùa xuân (tựa gốc: Chien de printemps, 1993) được nhà văn Patrick Modiano (giải Nobel Văn học, 2014) hoàn thành trong ba mốc thời gian khác nhau, nhưng mang đầy đủ những nét đặc thù của không khí, phong cách văn chương ông. Kho đựng nỗi đau lần đầu tiên bức chân dung thời thơ ấu của chú bé Patrick cùng em trai sống trong căn hộ của những diễn viên xiếc ở vùng ngoại vi Paris. Hoa của phế tích là cuộc lần theo manh mối về một vụ tự sát với lý do bí hiểm của đôi vợ chồng kỹ sư trẻ tuổi vào một ngày tháng 3 năm 1933. Còn Con chó mùa xuân là cuộc dò tìm của một người viết tiểu thuyết trẻ tuổi với nỗ lực phục dựng bản tiểu sử của Jasen - một nhiếp ảnh gia sống và ghi chép về Paris nhưng căn cước cá nhân lại nhiều điểm mù bởi dư chấn của thời Đức tạm chiếm… Ba cuốn tiểu thuyết này là dẫn chứng xuất sắc, thuyết phục cho điều mà Patrick Modiano viết trong diễn từ nhận giải Nobel Văn học vào năm 2014: “Người ta có thể lạc lối hoặc biến mất trong một đô thị. Người ta thậm chí có thể thay đổi căn cước và sống một đời khác. Người ta có thể lao mình vào một cuộc điều tra rất dài lâu để tìm lại những dấu vết của một ai đó, và lúc khởi đầu chỉ có một hoặc hai địa chỉ trong một khu phố đã mất biệt. Chỉ dấu ngắn ngủi đôi khi hiện lên trên những phiếu tra cứu luôn luôn tìm được một âm hưởng trong tôi: Nơi cư trú cuối cùng được biết.” Trong lần ấn hành ba tiểu thuyết này, Phanbook cũng phát hành hộp giấy đựng sách Patrick Modiano với thiết kế đẹp, trang nhã dành cho độc giả sưu tầm đủ ba tác phẩm. *** VỀ NHÀ VĂN PATRICK MODIANO Patrick Modiano là nhà văn người Pháp, sinh năm 1945. Ông đạt giải Nobel văn học năm 2014. Nhiều tác phẩm của Modiano đã được in tại Việt Nam. Ba tác phẩm của Patrick Modiano do Phanbook ấn hành: Kho đựng nỗi đau, Hoa của phế tích, Con chó mùa xuân, đều do Hoàng Lam Vân dịch. *** Buổi tối Chủ nhật tháng Mười một ấy, tôi ở trên phố Abbé-de-l’Épée. Tôi đi dọc theo bức tường lớn của Học viện dành cho người câm điếc. Bên trái là tháp chuông nhà thờ Saint-Jacques-du-Haut-Pas cao cao. Tôi còn giữ kỷ niệm về một quán cà phê nơi góc phố Saint-Jacques, tôi hay đến đó sau khi xem phim, rạp Studio des Ursulines. Trên vỉa hè, lá rụng. Hoặc cũng có thể là các trang đã cháy thui của một quyển từ điển Gaffiot[1] cũ. Đây là khu phố của các trường và các tu viện. Vài cái tên cổ kính quay trở lại trong ký ức tôi: Estrapade, Conttescarpe, Tournefort, Pot-de-Fer... Tôi cảm thấy e sợ khi phải băng ngang những chốn tôi chưa từng đặt chân kể từ tuổi mười tám, hồi tôi còn hay lai vãng một trường trung học trên đồi Sainte-Geneviève[2]. Tôi có cảm giác các địa điểm vẫn cứ ở trong tình trạng mà tôi đã để chúng lại từ đầu thập niên sáu mươi, chúng bị bỏ hoang cùng quãng đó, cách đây đã hơn hăm lăm năm. Phố Gay-Lussac - cái phố im lìm ấy, nơi trước đây người ta từng dỡ đá lát và dựng chiến lũy[3] - cửa ra vào một khách sạn đã bị xây bịt lại và phần lớn cửa sổ không còn kính. Nhưng biển hiệu thì vẫn gắn ở đó, trên tường: Khách sạn Tương lai. Tương lai nào? Là tương lai, đã chấm dứt, của một sinh viên hồi những năm ba mươi, thuê lấy một căn phòng nhỏ tại khách sạn ấy, lúc vừa rời trường Sư phạm, và tối thứ Bảy thì mời các bạn học cũ đến chơi. Và họ đi vòng qua mấy khối nhà để tới rạp Studio des Ursulines xem một bộ phim. Tôi đi qua trước rào sắt và ngôi nhà màu trắng nhiều chớp cửa sổ, với rạp chiếu phim chiếm tầng trệt. Sảnh vào sáng đèn. Hẳn tôi có thể đi tiếp tới Val-de-Grâce, cái vùng yên bình ấy, nơi chúng tôi từng trốn, Jacqueline và tôi, để ông hầu tước không có cơ may gặp được nàng. Chúng tôi sống tại một khách sạn nằm đầu phố Pierre-Nicole. Chúng tôi tằn tiện với số tiền mà Jacqueline kiếm được bằng cách bán chiếc măng tô lông thú của nàng. Phố ngập nắng, vào buổi chiều Chủ nhật. Đám thủy lạp của ngôi nhà gạch nhỏ, đối diện trường Sévigné. Dây thường xuân phủ kín các ban công khách sạn. Con chó ngủ trong hành lang lối vào. Tôi đi đến phố Ulm. Nó hoang vắng. Có tự nhủ rằng vậy thì đâu có gì kỳ cục vào một tối Chủ nhật, tại cái khu phố chuyên cần và nhiều chất tỉnh lẻ này, thì tôi vẫn tự hỏi mình có đang còn ở Paris hay không. Trước mặt tôi là vòm tròn của Panthéon. Tôi sợ lại thấy chỉ có độc mình tôi, dưới chân tòa công trình cho người chết ấy, dưới ánh trăng, thế là tôi vội rẽ sang phố Lhomond. Tôi dừng lại trước trường Ái Nhĩ Lan. Một cái chuông điểm tám tiếng, có lẽ chuông của giáo đoàn Thánh Linh mà mặt tiền đồ sộ đang ở kia, bên tay phải tôi. Thêm vài bước nữa, tôi bước vào quảng trường Estrapade. Tôi tìm số 26 phố Fossés-Saint-Jacques. Một tòa nhà hiện đại, kia, trước mặt tôi. Chắc hẳn tòa nhà cũ đã bị phá đi chừng hai mươi năm về trước. Ngày 24 tháng Tư năm 1933. Cặp vợ chồng trẻ tự sát vì những lý do bí hiểm. Đúng là một câu chuyện lạ thường, những gì đã xảy ra đêm qua trong tòa nhà số 26, phố Fossés-Saint-Jacques, gần Panthéon, ở nhà ông và bà T. Ông Urbain T., kỹ sư trẻ tuổi, tốt nghiệp thủ khoa trường Hóa học, cách đó ba năm lấy cô Gisèle S., hăm sáu tuổi, hơn ông một tuổi. Bà T. là một phụ nữ xinh đẹp tóc vàng, cao và thanh mảnh. Về phần chồng bà, ông thuộc típ đàn ông tóc nâu đẹp trai. Cặp vợ chồng hồi tháng Bảy vừa rồi chuyển vào sống ở tầng trệt số 26, phố Fossés-Saint-Jacques, trong một cái xưởng được họ cải tạo thành nhà ở. Cặp vợ chồng trẻ rất gắn bó với nhau. Dường như chẳng mối lo lắng nào nhuốm lên hạnh phúc của họ. Tối thứ Bảy, Urbain T. quyết định cùng vợ ra ngoài đi ăn tối. Họ rời khỏi nhà vào quãng bảy giờ. Mãi khoảng hai giờ sáng họ mới về, cùng hai cặp khác. Gây ồn ào chối tai, họ đánh thức các hàng xóm vốn dĩ chẳng mấy quen thuộc với những biểu hiện ầm ĩ như vậy từ phía những người thuê nhà thông thường rất kín đáo. Chắc hẳn bữa tiệc đã có các biến cố bất ngờ. Quãng bốn giờ sáng, những người khách đi khỏi. Trong vòng nửa tiếng sau đó, vốn dĩ trôi qua trong im lặng, hai phát nổ sượng đục vang lên. Chín giờ, một hàng xóm, ra khỏi nhà, đi qua trước cửa nhà của vợ chồng T. Bà ta nghe thấy có tiếng rên rỉ. Đột nhiên nhớ đến những tiếng nổ trong đêm, bà ta thấy lo lắng nên đập cửa. Cửa mở ra và Gisèle T. xuất hiện. Máu chầm chậm chảy từ một vết thương thấy rõ dưới vú trái. Cô thì thầm: “Chồng tôi! Chồng tôi! Chết rồi”. Một lúc sau, ông Magnan, cảnh sát trưởng, tới nơi. Gisèle T. rên rỉ, nằm trên một cái đi văng. Trong phòng bên cạnh, người ta phát hiện xác chồng cô. Anh vẫn giữ chặt một khẩu súng ngắn trong bàn tay co quắp. Anh ta đã tự sát bằng một viên đạn bắn thẳng vào tim. Bên cạnh anh, một bức thư nguệch ngoạc: “Vợ tôi đã tự sát. Chúng tôi đã say rượu. Tôi tự sát đây. Đừng tìm...”.   Dường như, theo cuộc điều tra, Urbain và Gisèle T., sau bữa tối, đã đến một quán bar ở Montparnasse. Tối hôm trước, từ phố Fossés-Saint-Jacques, tôi đã đi bộ tới giao lộ nơi có quán Dôme và quán Rotonde, sau khi để lại sau lưng khu vườn Đài Thiên văn tối tăm. Vợ chồng T. hẳn đã đi theo cùng con đường như tôi, vào cái đêm năm 1933 ấy. Tôi chợt thấy mình đang ở một cái nơi mà tôi đã tránh kể từ những năm sáu mươi. Cũng như khu Ursulines, khu Montparnasse làm tôi nghĩ đến tòa lâu đài của nàng công chúa trong khu rừng ngủ. Tôi từng có cùng cảm giác ấy, hồi hai mươi tuổi, khi thuê phòng để trú vài đêm tại một khách sạn trên phố Delambre: Thời ấy Montparnasse đối với tôi đã có dáng vẻ của một khu phố sống sót sau chính nó và đang chậm rãi thối rữa, cách xa khỏi Paris. Những lúc trời mưa trên phố Odessa hay phố Khởi Hành, tôi thấy như thể mình đang ở một bến cảng vùng Bretagne, dưới làn mưa phùn. Từ nhà ga, hẵng còn chưa bị phá hủy, bốc lên những bụm không khí của Brest hay Lorient. Bữa tiệc, ở đây, đã kết thúc từ lâu. Tôi còn nhớ rằng biển hiệu của quán Jimmy’s ngày xưa vẫn còn treo trên bức tường của phố Huyghens, và nó bị rơi mất dăm ba chữ, gió ngoài khơi đã thổi tung chúng đi mất. Đó là lần đầu tiên - theo các báo hồi tháng Tư năm 1933 - cặp vợ chồng trẻ bước vào một quán ban đêm của khu Montparnasse. Họ đã hơi quá chén trong bữa tối chăng? Hoặc giả, hết sức đơn giản, họ muốn phá vỡ, dẫu chỉ trong một buổi tối, dòng chảy êm đềm cuộc đời họ? Một nhân chứng khẳng định đã trông thấy họ, quãng mười giờ tối, tại quán Café de la Marine, một sàn dancing, ở số 243, đại lộ Raspail; một người khác, ở quán cabaret tên là Isles, trên phố Vavin, đi cùng hai phụ nữ. Cảnh sát cho công bố ảnh họ nhằm kêu gọi những lời chứng rất có nguy cơ cần phải được thẩm tra kỹ vì có rất nhiều phụ nữ trẻ tóc vàng và chàng trai tóc nâu, như Urbain và Gisèle T. Trong vòng vài ngày, người ta tìm cách xác định hai cặp trai gái mà vợ chồng T. đã đưa về nhà họ, trên phố Fossés-Saint-Jacques, rồi cuộc điều tra được khép lại. Gisèle T., trước khi chết vì các vết thương, đã cất tiếng nói, nhưng những kỷ niệm của cô mơ hồ. Đúng, họ đã gặp, tại Montparnasse, hai phụ nữ, hai người xa lạ mà cô chẳng hề biết gì... Và những người đó đã lôi kéo họ tới Le Perreux, tại một sàn dancing nơi có hai người đàn ông đến với họ. Rồi họ tới một ngôi nhà, ở đó có một cái thang máy màu đỏ. Tối nay, tôi đi theo dấu chân họ trong một khu phố ủ dột được tòa tháp Montparnasse phủ tấm màn tang tóc. Trong ngày, nó che giấu mặt trời và phóng cái bóng của nó lên đại lộ Edgar-Quinet cùng các phố lân cận. Tôi để lại sau lưng quán Coupole mà người ta đang phá đi dưới một mặt tiền bằng bê tông. Tôi thấy thật khó mà tin rằng Montparnasse xưa kia từng biết đến một cuộc sống về đêm... Chính xác thì vào thời nào tôi từng sống ở cái khách sạn trên phố Delambre kia? Quãng năm 1965, khi tôi làm quen với Jacqueline và không lâu trước khi tôi lên đường đi Viên, bên Áo. Căn phòng bên cạnh phòng tôi được thuê bởi một người đàn ông trạc ba lăm tuổi, một người đàn ông tóc vàng mà tôi hay gặp trong hành lang, rốt cuộc tôi cũng bắt đầu quen biết ông ta. Tên ông ta? Cái gì đó giống như Devez hay Duvelz. Lúc nào ông ta cũng ăn vận hết sức chỉn chu và đính một huy chương trên hàng cúc áo. Nhiều lần, ông ta từng mời tôi uống một cốc, rất gần khách sạn, tại một quán bar, Rosebud. Tôi không dám từ chối, ông ta có vẻ rất thích nơi đó. - Ở đây tuyệt quá... Ông ta nói giọng nhiều âm răng, giọng của một người con nhà gia giáo, ông ta đã kể với tôi là ông ta từng ở hơn ba năm “vùng bưng biền”[4] và tại đó, ông ta đã kiếm được tấm huy chương kia. Nhưng cuộc chiến tranh Algérie khiến ông ta thấy lộn mửa. Ông ta đã cần rất nhiều thời gian thì mới hồi phục được từ đó. Ông ta sắp sửa kế tục bố ông ta làm chủ một doanh nghiệp dệt sợi lớn trên miền Bắc. Rất mau chóng, tôi nhận ra rằng ông ta không nói cho tôi sự thật: Về “doanh nghiệp dệt sợi” ấy, ông ta luôn luôn mơ hồ. Và ông ta tự nói ngược với chính mình, một hôm khẳng định với tôi là từng tốt nghiệp trường Saint-Maixent, ngay trước khi sang Algérie, rồi, tới hôm sau, rằng ông ta đã hoàn toàn học bên Anh. Đôi khi, cái giọng đầy âm răng của ông ta nhường chỗ cho giọng đớt của một kẻ bán hàng rong. Chắc cần phải có chuyện tôi bước đi, tối Chủ nhật ấy, trong khu Montparnasse, thì cái tay Duvelz - hay Devez - kia mới có thể đột nhiên hiện ra từ hư vô như thế. Một hôm, tôi còn nhớ, chúng tôi đã tình cờ gặp nhau trên phố Rennes, và ông ta đã mời tôi một bốc bia - như ông ta nói - tại một trong những quán cà phê thuộc giao lộ Saint-Placide buồn thảm. Quán cabaret tên Isles, trên phố Vavin, nơi hẳn người ta phải để ý thấy sự hiện diện của cặp vợ chồng, chiếm tầng hầm của tiệm Vikings. Bầu không khí đậm màu sắc Scandinavia cùng gỗ ốp tường sáng màu của Vikings trông thật tương phản với cái quán rượu nhọ nhem ấy. Chỉ cần đi xuống hết cầu thang: Từ những ly cocktail và các món nhẹ Na-uy ở tầng trệt, người ta sục thẳng vào giữa những điệu nhảy Martinique. Có phải vợ chồng T. đã gặp hai người phụ nữ ở đó? Tôi có cảm giác phải là tại Café de la Marine, đại lộ Raspail, về phía Denfert-Rochereau. Tôi còn nhớ căn hộ nơi Duvelz từng dẫn chúng tôi, Jacqueline và tôi, đến, cũng nằm ở đầu đại lộ Raspail đó. Cả lần ấy nữa, tôi cũng không dám từ chối lời mời của ông ta. Trong vòng gần một tuần, ông ta đã nằn nì cả hai chúng tôi một tối thứ Bảy nào đó cần phải tới nhà một người bạn gái của ông ta, ông ta rất muốn giới thiệu chúng tôi với người ấy. Bà mở cửa cho chúng tôi và, trong bóng tối lờ mờ của tiền phòng, tôi không nhìn rõ khuôn mặt bà. Phòng khách lớn, nơi chúng tôi bước vào, khiến tôi choáng váng vì vẻ xa xỉ của nó, chẳng hề tương hợp với căn phòng nhỏ của Duvelz, trên phố Delambre. Ông ta ở đó. Ông ta giới thiệu chúng tôi với nhau. Tôi đã quên mất tên bà: Đó là một phụ nữ tóc nâu đường nét hài hòa, một bên mặt, ở đoạn gò má, có vết sẹo lớn. Chúng tôi, Jacqueline và tôi, ngồi xuống trường kỷ. Duvelz và người phụ nữ, trong phô tơi, đối diện với chúng tôi. Chắc bà khoảng ba lăm, cùng độ tuổi với Duvelz. Bà tò mò nhìn chúng tôi. - Em có thấy họ thật duyên dáng không, cả hai?, Duvelz hỏi, bằng giọng nói nhiều âm răng của mình. Bà chăm chăm nhìn chúng tôi. Bà hỏi chúng tôi: - Hai người có muốn uống gì không? Giữa chúng tôi xuất hiện một quãng ngại ngần. Bà rót rượu porto mời chúng tôi. Duvelz uống một ngụm lớn. - Thoải mái đi, ông ta nói. Đây là một người bạn lâu năm... Bà ném về phía chúng tôi một nụ cười rụt rè. - Thậm chí chúng tôi từng đính hôn với nhau. Nhưng cô ấy đã phải lấy người khác... Bà không hề nhíu mày. Bà vẫn ngồi rất thẳng ở phô tơi, tay cầm ly rượu. - Chồng cô ấy hay đi vắng... Chắc chúng ta có thể tận dụng điều đó để đi chơi chung cả bốn người... Các bạn nghĩ sao? - Đi chơi đâu? Jacqueline hỏi. - Nơi nào các bạn muốn... Thậm chí chúng tôi còn không có nhu cầu ra ngoài. Ông ta nhún vai. - Ở đây thật hay... Phải không? Bà vẫn ngồi rất thẳng ở phô tơi. Bà châm một điếu thuốc lá, có lẽ để che giấu sự căng thẳng. Duvelz đã lại làm thêm một ngụm porto nữa. Ông ta đặt ly của mình lên cái bàn thấp, ông ta đứng dậy và bước về phía bà. - Cô ấy thật xinh đẹp, phải không? Ông ta đưa ngón tay trỏ lướt trên vết sẹo ở má. Rồi ông ta cởi cúc cái áo của bà và vuốt ve hai vú. Bà không hề động cựa. - Hồi trước chúng tôi đã gặp một tai nạn ô tô rất nghiêm trọng, ông ta nói. Bà hất tay ông ta ra bằng một động tác dữ tợn. Bà lại mỉm cười với chúng tôi. - Chắc hai người đói rồi... Giọng bà trầm và thoáng có âm sắc nước ngoài, dường như vậy. - Anh có thể giúp em mang bữa tối vào đây không? bà hỏi ông ta, giọng khá xẵng. - Tất nhiên rồi. Họ đứng dậy, cả hai. - Toàn đồ lạnh thôi, bà nói. Hai người thấy có được không? - Rất được, Jacqueline đáp. Ông ta đã choàng tay quanh vai bà và kéo bà ra khỏi phòng khách, ông ta thò đầu qua khe cửa mở. - Các bạn có thích sâm banh không? Ông ta đã đánh mất cái giọng nhiều âm răng. - Rất thích, Jacqueline đáp. - Có ngay đây. Chỉ còn lại chúng tôi trong phòng khách, vài phút, và tôi dồn hết nỗ lực ký ức để tập hợp lại càng nhiều chi tiết càng tốt. Những cửa sổ bệ thấp nhìn xuống đại lộ mở hé vì trời nóng. Đó là số 19 đại lộ Raspail. Năm 1965. Một cây đàn piano loại có đuôi đặt tận về cuối phòng. Trường kỷ và hai phô tơi đều làm bằng cùng một thứ da màu đen. Cái bàn thấp, bằng kim loại dát bạc. Một cái tên như là Devez hay Duvelz. Vết sẹo trên má. Cái áo bị cởi cúc. Một làn ánh sáng rất rực của đèn chiếu, hay nói đúng hơn là của đèn pin. Nó chỉ rọi sáng một mảnh nhỏ của décor, một giây phút đơn lẻ, mà để những gì còn lại trong bóng tối, bởi chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được đoạn sau các sự kiện và nói cho đúng thì hai người kia là ai. Chúng tôi lẻn ra khỏi phòng khách và, thậm chí còn không khép cửa lại, chúng tôi đi xuống cầu thang. Lúc nãy, chúng tôi đã dùng thang máy để lên, nhưng nó không màu đỏ, giống cái thang máy mà Gisèle T. từng nhắc đến. Mời các bạn đón đọc Hoa Của Phế Tích của tác giả Patrick Modiano & Hoàng Lam Vân (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Người Đầu Tiên Trong Danh Sách
MagdalenaWitkiewicz- tác giả các cuốn sách đã in tại Nhà xuất bản Trẻ: Trường học dành cho các bà vợ, Lâu đài cát… hiện vẫn đang là tác giả có sách bán chạy nhất của văn học Ba Lan hiện đại. Tác phẩm mới của chị - Người Đầu Tiên Trong Danh Sách - là một tác phẩm ấm áp, xúc động về tình yêu, tình bạn. Thông điệp của tác phẩm: Không bao giờ là quá muộn để thay đổi một điều gì đó trong cuộc sống. Tình cảm thiêng liêng sẽ đưa con người vượt qua mọi lốc xoáy của số phận "Bạn không thể thay đổi quá khứ, nhưng bạn vẫn còn cơ hội để thay đổi tương lai…" *** Magdalena Witkewicz là nữ nhà văn Ba Lan đã có 9 cuốn sách được xuất bản, chuyên viết về những vấn đề quan trọng với văn phong nhẹ nhàng. Magdalena Witkiewicz hiện vẫn đang là tác giả có sách bán chạy nhất của văn học Ba Lan hiện đại. Magdalena Witkiewicz có một số tiểu thuyết rất hay về hôn nhân như: Trường Học Cho Các Bà Vợ Lâu Đài Cát Chuyện kể của người đàn bà không chung thủy, Người đầu tiên trong danh sách ... *** Nếu như hỏi một trong số những phụ nữ đang ngồi bên đống lửa trại kia, rằng tình bạn hay tình yêu quan trọng hơn, thì chỉ mới cách đây chưa lâu thôi, ai cũng sẽ trả lời rằng, tình yêu. Tình yêu, mà đôi khi thường là sự say mê, quyến rũ đã được đẩy lên vị trí số một. Nhiều khi phải trả giá bằng cả một tình bạn lớn. Song, gần đây có những sự kiện đã chỉ ra rằng, không một người đàn ông nào đáng giá cho hai mươi năm bị mất đi. Nhưng đôi khi phải cần đến hai mươi năm để có được một điều gì đó quan trọng nhất. - Thế thì cái gì ở vị trí số một? - người đàn bà cao đang quấn chiếc túi ngủ cho chặt hơn và hít điếu thuốc lá mỏng, hỏi. Chị ta với lấy chai rượu vang. - Đừng hút nữa! - Tất cả những người còn lại đồng thanh nói. Người trẻ nhất giữ chiếc cặp màu hồng. Những tờ giấy được cất trong đó một cách cẩu thả lộ cả ra, như thể bị ai đó vội vàng nhét vào cặp. Có thể thấy rõ là chúng đã được đọc nhiều lần. Cô gái ôm nó như ôm một tài sản quý giá nhất. Ngồi cạnh cô bên đống lửa là ba phụ nữ. Một người ngồi co chân, quấn chiếc chăn len, hai người kia quấn chung một chiếc túi ngủ, nhìn nhau hoài nghi. Giống như những người quen biết nhau trước đây, đã lâu không gặp và giờ bỗng nhiên tìm thấy nhau trong đám đông. Hay là đúng như vậy? - Đây sẽ là điếu cuối cùng - người đàn bà tóc vàng cười và e dè nói. - Cần phải khép lại chương này. - Chị ta lại hít sâu một hơi thuốc và kéo chiếc túi ngủ mạnh hơn. - Tôi quên mất là vào tháng Tám, buổi tối trời đã lạnh, và có lẽ phải đến cả trăm năm rồi tôi không nằm trong lều trại. - Ờ, một trăm năm thì chưa - người phụ nữ ngồi cạnh cười vang. - Chắc chắn là phải trên hai mươi - người đàn bà tóc vàng trầm ngâm. - Có thể thế... Khi ấy trăng cũng chiếu sáng như thế này, bà nhớ chứ? - Piotr chơi guitare... - Ina! - những người đàn bà lại đồng thanh lên tiếng. - Ok! Sẽ lần lượt. Ai đầu tiên nào? - Ina nhắc lại câu hỏi. - Bà. - Tại sao lại là tôi? - Người phụ nữ dập điếu thuốc, vẻ tức giận. - Tại sao à? Vì bà là người đầu tiên trong danh sách. Mời các bạn đón đọc Người Đầu Tiên Trong Danh Sách của tác giả Magdalena Witkiewicz.
Cuộc Thử Thách Trí Tuệ
Cuộc thử thách trí tuệ là một tập truyện tưởng tượng khoa học dịch của nhiều nước, trong đó có Liên Xô, Mỹ, Ba Lan … là những nước rất phát triển thể loại này. Nội dung của tập sách khá đa dạng, bao gồm nhiều chủ đề khác nhau. Nếu như truyện “Con ngỗng đẻ trứng vàng” có thể coi là một giả thuyết khoa học độc đáo, táo bạo, thì các truyện “Thần dược Cơpphin”, “Cuộc đuổi bắt ban đêm” lại là lời cảnh báo đối với cá phát minh khoa học đẻ non, dẫn đến những hậu quả tai hại; nếu các truyện “Sợi râu của Môhamet”, “Cuộc thử thách trí tuệ” đề cấp tới khả năng tồn tại của những nền văn minh khác ngoài Trái Đất, thì các truyện “Một cuộc thí nghiệm”, “Mối tình ngoài thời gian” lại trở về những đề tài muôn thuở là tình yêu và lẽ sống ở đời; nếu ở truyện “Vụ giết người bằng tinh thể”, tri thức khoa học là phương tiện để tìm ra chân lý, thì ở truyện “Lời giải”, phẩm chất của nhà khoa học lại là yếu tố được nhấn mạnh… Những truyện trên có thể khác nhau về chủ đề, phong cách tác giả, nhưng tựu trung lại đều là những bài học bổ ích về phương pháp tư duy lôgic, khoa học trong các vấn đề đặt ra. Tuy vậy, đây chưa phải là một tập tuyển với đầy đủ các yêu cầu nghiêm ngặt của nó, mà chỉ là một tập hợp các truyện được chọn dịch ít nhiều mang tính ngẫu nhiên. Trong quá trình làm, chắc chắn tập sách không tránh khỏi nhiều thiếu sót. Mong bạn đọc lượng thứ và cho ý kiến giúp đỡ. NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT Nguồn sách, chụp ảnh: 4DHN Xử lý file pdf: @putin503 *** Không thể quay ngược kim đồng hồ, sống trong thời gian đã trôi qua trước khi chúng ta được sinh ra. Quá khứ đối với chúng ta là không thể nào đảo ngược được. Tuy vậy tôi đã có dịp đến thăm thời kỳ xa xưa và sống trên Trái Đất hàng trăm nghìn năm trước. Đó là tôi và cũng không phải là tôi. Tôi đã nhìn thấy tất cả bằng chính “mắt mình”, mặc dù đó là mắt của một người khác không quen biết. Một người ư? Liệu có thể gọi đó là người được không? Có một lần, Strashimir Lozev đến thăm tôi. Trước đây, lúc ở trường trung học chúng tôi là bạn thân với nhau. Rồi cuộc sống đã chia lìa hai đứa. Mãi sau này ngẫu nhiên gặp lại nhau trên đường phố, chúng tôi quyết định nhất thiết phải đến thăm nhau để hồi tưởng lại “cái thời xưa ấy”. Sau những câu đùa thân mật theo thông lệ, Lozev lấy từ trong túi áo ra một chiếc lọ con và đặt nó lên bàn. – Cậu hãy nhìn kỹ cái vật này và nói cho mình biết nó được làm từ chất liệu gì và dùng để làm gì? Mình muốn biết ý kiến cậu. Thoạt đầu tôi nhìn anh bạn tôi rồi đến đồ vật. Đó là một ống trụ nhỏ trong suốt. Phía trong hiện rõ một cái lõi mảnh trăng trắng. Hình như chiếc lọ có vẻ rất nặng so với kích thước của nó. Tôi lật đi lật lại chiếc lọ trên tay, đoạn hỏi: – Cậu lấy nó ở đâu ra thế? – Hượm đã, đừng vội – Lozev cầm lấy chiếc lọ, mở ra với vẻ thành thạo và đưa cho tôi cái lõi. – Xem này, đây mới là cái quan trọng nhất. Một sợi dây trắng quấn quanh cái lõi mảnh. Tôi tìm thấy đầu sợi dây và bắt đầu gỡ ra. Mềm, dễ uốn giống như một sợi dây thép mảnh, nó nặng một cách lạ lùng. Lozev bật diêm, đốt một đầu sợi dây. Rồi cậu ta đề nghị tôi cũng làm như vậy. Sợi dây không những không cháy mà vẫn còn lạnh nguyên, thậm chí không hề bị đen đi. Tiếp đến Lozev bắt tôi tìm dao và đề nghị tôi cắt lấy một mẩu. Nhưng cố gắng của tôi chỉ vô ích: sợi dây uốn mình, trượt ra. Tôi cố gắng hết sức nhưng chỉ làm đứt ngón tay. – Nào, cậu nói gì nào? – anh bạn tôi hỏi. – Giống như một sợi tơ gì đó mặc dầu mình chưa bao giờ thấy một cái gì tương tự. Ống trụ và lõi như làm bằng thủy tinh, nhưng rất nặng, còn sợi dây... Mình không thể xác định được nó làm bằng vật liệu gì. Có thể đó là một loại chất dẻo mới có tính chất đặc biệt chăng?... – Không, – Lozev phản đối một cách tin chắc, – nó không phải là chất dẻo. – Thế thì mình chịu. Cậu nói xem nào. – Được, mình sẽ nói. Đó là sợi râu của Mohammed*. • Mohammed: nhà tiên tri, sáng lập ra đạo Hồi – ND. – Sợi râu nào? Mohammed nào? – Đây là sợi râu của nhà tiên tri Mohammed. Đoạn Lozev kể cho tôi nghe một câu chuyện kỳ lạ. Bác của Lozev là đại úy Proinov, chỉ huy một đại đội trong thời kỳ chiến tranh ở vùng Balkan, đã lấy sợi râu này từ nhà thờ đạo Hồi trong thành phố nhỏ Keshan vào mùa thu năm 1912. Sợi râu đó đã làm nổi danh thành phố này trong toàn đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ. Tương truyền nó có đặc tính rất kỳ diệu: tự mọc, tự cuốn quanh cái lõi và chứa đựng một kho tàng thông thái lớn ngang tất cả các nhà thông thái trên Trái Đất cộng lại. Viên đại úy không giữ chiến lợi phẩm đó bên mình: làm sao mà lường được cái gì sẽ xảy ra trong chiến tranh. Bởi vậy, ông gửi chiếc lọ con có sợi tóc cho chị ông là mẹ bạn mình. Chẳng bao lâu sau đại úy Proinov chết trận. Bà chị ông không đưa cho ai xem chiếc lọ, hình như bà sợ. Chỉ sau khi bà chết nó mới đến tay bạn mình. Lozev lặng im và cẩn thận cuốn sợi tóc vào cái lõi. – Mình hy vọng, – tôi lên tiếng, – cậu cũng chẳng cần thiết phải chứng minh, nó không thể là sợi râu. – Đấy chỉ là lai lịch của nó. Bây giờ hãy nghe mình nói tại sao mình lại tìm đến cậu. Mình muốn cậu giữ lấy chiếc lọ kỳ lạ này. Không, đây hoàn toàn không phải là sự mê tín. Đơn giản là mình muốn đề nghị cậu nghiên cứu nó trong phòng thí nghiệm. Quả thực, chính tôi cũng muốn đề nghị với anh bạn tôi điều đó: tôi rất muốn hiểu rõ sợi dây bí ẩn này. Lúc đầu tôi sẽ không hé răng nói nửa lời với các bạn đồng nghiệp của tôi ở Viện hóa kỹ thuật (mà tôi là phụ giảng bộ môn điện hóa ở đó), bởi vì việc nghiên cứu sợi râu của Mohammed, chỉ có thể làm cho mọi người cười nhạo mà thôi. Trước hết, tôi muốn cắt lấy một mẩu của sợi dây bí ẩn đó. Nhưng thất bại hoàn toàn. Tôi dùng kéo, sau đến rìu, và kết thúc bằng chiếc máy lớn dùng để thử sức chịu kéo của vật liệu. Sợi dây dày gần 0,07mm (vừa bằng chiều dày của một sợi tóc) chịu được một tải trọng khổng lồ – năm tấn. Nó không đứt mà chỉ bị trượt ra khỏi trục gá. Tôi tiến hành vô số những phương thức nghiên cứu khác nhau đối với sợi dây. Nó không bị đứt, không chịu tác động của bất kỳ hoạt chất hóa học nào, không bị nóng chảy dưới ngọn lửa đèn khí, không dẫn điện, không nhiễm từ, không... và không... Tóm lại, trong tay tôi là một vật được cấu tạo từ một chất mà khoa học chưa biết đến. Nhưng đó là cái gì? Làm bằng chất liệu nào? Đúng như dự đoán, khi tôi thông báo với ban lãnh đạo Viện về “sợi râu của Mohammed”, họ đã không tin. Tôi đề nghị họ làm lại các thí nghiệm của tôi. Kết quả đúng như đã xảy ra. Có lẽ sự việc kết thúc ở đó, nếu tôi không có dịp được sang Liên Xô. Tôi quyết định chia xẻ những băn khoăn của mình với các đồng nghiệp Xô viết. Sau khi tới Moskva tôi chuyển chiếc lọ đến phòng thí nghiệm của một viện nghiên cứu và kể tất cả mọi điều tôi biết về nó. Sau hai tuần người ta gọi điện thoại cho tôi và báo rằng viện trưởng muốn gặp tôi. Ông là một nhà bác học có tên tuổi trên thế giới. Tất nhiên, tôi vội vã đến gặp ông: Mời các bạn đón đọc Cuộc Thử Thách Trí Tuệ của tác giả Nhiều Tác Giả.
Trên Mảnh Đất Người Đời
Trên Mảnh Đất Người Đời là tác phẩm văn học kinh điền nổi tiếng của Nga. Câu chuyện như được gói trong một không khí phũ phàng của cái ác và bất hạnh lồng trong một điều gì đó giống như là tình yêu tam giác. Hai người đàn ông rất khác nhau về tính cách cùng quan hệ với một phụ nữ. Và một người đàn ông bị kẻ kia hãm hại tán độc phải vào tù, mất đi người yêu và mọi thứ trên đời, gần như mất cả niềm tin đối với con người. Anh ta phải làm gì trong quãng đời hiu quạnh và ngang trái còn lại khi mà đã tắt hết mọi niềm hy vọng? Tác giả Anatoli Stepanovich Ivanov nổi tiếng với những tác phẩm Những bài hàt của Anka, Những bóng đen biến mất giữa ban ngày, Tiếng gọi vĩnh cửu, Thù địch, Trên mảnh đất người đời, Truyện một mối tình tan vỡ. *** Anatoli Stepanovich Ivanov (Anatôli Xtêpanôvits Ivanôp) sinh năm 1928 tại làng Sêmônaikha, miền đông Kazaxtan. Sau khi học hết phổ thông ở làng quê, ông vào học khoa Báo chí trường Đại học Tổng hợp mang tên Kirôp ở Alma - Ata. Tốt nghiệp đại học, ông vào làm cho tờ báo Sự thật Irtưs và nhập ngũ tại đây. Sau khi giải ngũ, Anatôli Ivanôp làm biên tập cho báo Nôvôxibir, sau đó cho nhà xuất bản ở Nôvôxibir. Từ 1958 đến 1964 là phó tổng biên tập tạp chí Những ngọn lửa Xibir. Năm 1956 Anatôli Ivanôp cho ra mắt tập truyện ngắn đầu tiên lấy tên là Những bài hát của Anka, năm 1963 bắt đầu nổi tiếng với tiểu thuyết Những bóng đen biến mất giữa ban ngày. Bộ tiểu thuyết hai tập Tiếng gọi vĩnh cửu (1970 - 1976) được tặng giải thưởng quốc gia Liên Xô năm 1979, đã đem lại tiếng tăm và vinh dự to lớn cho nhà văn. A. Ivanôp còn cho ra mắt một loạt truyện nổi tiếng như Thù địch, Trên mảnh đất người đời, Truyện một mối tình tan vỡ và các tác phẩm khác. Chủ đề quán xuyến hầu như toàn bộ sáng tác của A. Ivanôp là sự ngợi ca giá trị tinh thần, khẳng định cái thiện, lên án và đấu tranh không khoan nhượng với mọi biểu hiện của cái ác trong xã hội loài người. Truyện của ông phần lớn đề cập đến những tình huống hết sức gay cấn, đôi khi đến mức bi kịch tàn nhẫn, song bao giờ cũng thấm đượm tinh thần lạc quan, tin tưởng vào bản chất tốt đẹp của con người. Truyện Trên mảnh đất người đời, là một trong những truyện hay nhất, đồng thời cũng có ý nghĩa xã hội nhất trong văn học Xô Viết. Câu chuyện xoay quanh số phận của một con người, tuy phải trải qua những cảnh ngộ hết sức éo le nhưng vẫn giữ được bản chất nhân hậu và độ lượng, giữ được lòng tin vào tình yêu, vào cuộc sống, tin vào một xã hội công bằng. Giới thiệu truyện này của Anatôli Ivanôp, chúng tôi muốn bạn đọc làm quen với một tác giả tài năng của văn học Nga và hy vọng bạn đọc sẽ còn có dịp biết thêm về ông qua một số tác phẩm khác đang và sẽ được dịch sang tiếng Việt. *** Buổi ngày, khi mặt trời lạnh vừa sà xuống thấp thì sương mù bắt đầu lan trên bãi cỏ bên kia sông trên những cánh đồng đã gặt ở phía xa, dâng lên trên những khu đất trũng ngập nước. Đến chiều, những cụm sương thấm lạnh, trở nên dầy đặc và mỗi lúc một nở to hơn. Cuối cùng, chúng lặng lẽ kết lại với nhau. Màn hơi nước mờ đục ngày càng nặng hơn, trườn dần về phía đông, thoạt tiên nó phủ kín bờ bên kia, sau đó che khuất nửa dòng sông Ôbi rộng lớn nhưng đã yếu hẳn đi sau một mùa hè oi ả, rồi cứ thế lan dần sang ngôi làng bên này, đe dọa phủ kín và đè lên ngôi làng bằng cái sức nặng không trọng lượng của nó. - Cậu nói phét, Samian ạ, - Paven Đêmiđôp thốt lên. Cũng như mọi hôm, ông đang ngồi bên vách túp lều đất của mình, nhìn sang phía những cánh đồng sẫm tối bên kia sông. - Bố vừa nói gì đấy? - cậu bé Grinka, lên tám, con nuôi của Đêmiđôp, bước vào sân hỏi. Hai bàn tay dính đầy mực của cậu ôm chiếc cặp học trò đã sờn da. - Bố bảo ai nói phét cơ? - À, bố nói gã sương mù! - Đêmiđôp hất hàm về phía sông Ôbi. - Hắn đúng là thằng bịp. Grinka khịt một cái, đưa ngón tay lên quệt mũi ngẫm nghĩ. - Nó bịp thế nào ạ? - Thì nó đang dọa chúng ta đấy, con không thấy sao? Cả hai lại im lặng một lúc. Grinka - nhỏ bé, đội mũ lưỡi trai rộng thùng thình của bố, mặc chiếc áo vét dạ vừa mua ở cửa hàng bách hóa xã trước hôm khai trường. Đêmiđôp - người khô gầy, thô kệch, hai đầu gối khẳng khiu nhô hẳn ra phía trước, dưới tấm áo bông dầy cũng thấy rõ đôi vai nhọn. Tuy đã ngoài sáu mươi tuổi, đã về hưu nhưng vẫn không thể gọi ông là ông già được. Mặt ông vẫn cạo, tuy rất họa hoằn, hôm nay ông cũng vừa cạo xong, và đôi má vẫn còn đầy đặn, chưa hề bị nhăn nheo của ông bóng lên dưới ánh nắng nhạt lúc trời chiều. - Có, con có thấy, - Grinka nói, - Buổi chiều sương càng dầy bao nhiêu, thì sáng hôm sau trời càng trong bấy nhiêu. Bố vẫn bảo thế. - Đúng. Nhưng con còn thấy gì nữa không? - Không, không thấy gì nữa. - Lắng tai nghe thật kỹ xem. Thế nào, có thấy gì không? Grinka nhíu hẳn trán lại, đứng im không nhúc nhích. - Không thấy gì cả. Chỉ thấy tiếng chó đực sủa thôi. - Đồ ngốc, đấy là tiếng chó cái. Của anh đội trưởng MitrôFan. Còn gì nữa không? - Hình như có tiếng xe tải ở sân sau. Cả tiếng gì như tiếng con gái la hét. - Đấy là tiếng cô con gái bác Artamôn chăn ngựa cho nông trang, tiếng cô Klapka. - Cả tiếng những cô khác, vì có nhiều tiếng cười khúc khích. - Grinka cãi lại. - Nhưng có cả tiếng cô Klapka. Trong số đó có cả tiếng cô Klapka. Giờ là tiếng đàn phong cầm của anh lái máy kéo Lenka. Cái anh chàng Lenka khốn khổ. Có cái đàn đắt tiền, bóng như gương, thế mà không biết chơi. Nghe cứ như tiếng cưa gỗ ấy… Nhưng anh chàng cũng là tay khá, có mớ tóc trông cũng bảnh. Quả nhiên, chỉ một lát sau bắt đầu vẳng đến những âm thanh rời rạc, sai điệu, nghe rất nhỏ vì khoảng cách quá xa của chiếc phong cầm. - Đấy, thấy chưa? Thế mà hắn ta lại đe dọa, - Đêmiđôp lại hất đầu về phía bên kia sông, nơi sương mù đang lan đến. - Hắn dọa cái gì ạ? - Grinka vẫn chưa hiểu. - Hắn dọa ai? Mà làm sao hắn dọa được hả bố? - Đồ ngốc! - Mắt Đêmiđôp ánh lên giận dữ. - Thôi đi vào nhà. Có khoai tây luộc để phần con đấy. Cả hũ sữa trên bậu cửa sổ nữa… Bố còn ngồi đây lúc nữa đã… - Bố ơi, nhưng bố đừng đến cửa hàng cô Marka nhé, - Grinka van nài bố giống như Nađegiơđa, người chị nuôi đã hai năm nay vào làm ở trại quy hoạch rừng của cậu, vẫn thường van nài. Rồi cũng bắt chước chị, cậu nói thêm: - Bố đừng uống cái thứ vốtka chết tiệt ấy nữa, bố nhé! - Thôi, bước đi cho khuất mắt! - Đêmiđôp quát lên. - Đã bảo là bố sẽ ngồi đây, không đi đâu cả. Grinka bỏ vào trong nhà, và trong lúc ngồi ăn một mình, cậu thầm nghĩ, như đã thành lệ, hễ khi nào cái “mắt sói” sáng lên (“mắt sói” là tên lúc đầu bố cậu đặt ra, sau cả làng bắt chước dùng theo để gọi cái cửa sổ thấp của nhà Maria Maksêeva, cứ tối tối lại sáng ánh đèn và mụ chủ nhà dùng ô cửa ấy làm chỗ bán rượu vốtka “chẵn tiền” cho khách, nghĩa là bốn rúp một chai!), là thế nào bố cậu cũng mò đến đó; những lúc say, bố cậu thường tỏ ra hiền lành, có khi hiền hơn cả lúc tỉnh, ông thường mang về cho cậu có lúc thì những cái kẹo hay bánh đa rẻ tiền, lúc thì một chai nước chanh cũng mua ở ô cửa đó. Và trong lúc chất men chưa giã hẳn, bố cậu cứ đi vòng quanh căn buồng hẹp bảo rằng ông uống thế là đủ rồi, và hứa với cậu, với Grinka, rằng ông sẽ thôi không uống nữa, ông hay xoa đầu cậu, và có lần hình như còn khóc. Nhưng sợ Grinka nhìn thấy nước mắt, nên ông cứ phải lắc đầu thật mạnh, rồi vừa lảo đảo đi hết góc này sang góc kia, vừa lầu bầu trong cổ họng một câu hát kỳ lạ, khó hiểu: Ta là ai? Ta chẳng là ai, ta chỉ là kẻ ấy… Kẻ lạ lùng, kỳ quặc chính là ta. Ông lầu bầu một lúc mấy câu như thế rồi thôi, lăn ra ngủ. Nhưng dù sao Grinka cũng không muốn tối nào bố cậu cũng say. Cậu vẫn thích bố cậu tỉnh táo hơn là say. Vừa dọn bàn, Grinka vừa nghĩ: cậu có ông bố quả là kỳ lạ. Và mấy câu hát kia đúng là ông tự hát về ông. Cách đây ba năm ông nhận cậu từ nhà trẻ mồ côi ở Marsanikha về nuôi với một điều kiện kỳ quặc: - Tên con là Vôpka à? Từ nay ta sẽ gọi con là Grinka! - Cháu không muốn thế! - Grinka, mà lúc đó hãy còn là Vôpka nói. - Phải thế thôi. Nếu không thì không xong đâu, ta sẽ nhận đứa khác, mặc dù con có vẻ là đứa bé kháu khỉnh và cũng ngang ngạnh ra trò đấy. Rồi ông im lặng rít hết một điếu thuốc lá cuốn rõ dài, sau đó dụi mẩu thuốc lá xuống đất, họ nói chuyện với nhau trong vườn của nhà trẻ, rồi bắt đầu nói một tràng dài mà có đến một nửa những điều ông nói cậu chẳng hiểu gì cả. - Ta là người coi rừng, con ạ, nghĩa là ta canh giữ cây cối ấy mà, ta trông không cho bất cứ loại thú nào được phá rừng. Cái chòi canh của ta ở ngay trong rừng. Cây cối lúc nào cũng rì rào, rì rào… Con tưởng chúng rì rào vì gió phải không? Ồ, không đâu, con ạ. Đó là chúng chuyện trò với ta đấy. Chúng kể cho ta nghe chúng có chuyện gì vui, hay chuyện gì buồn… Hoặc giả chúng báo cho ta biết có kẻ nào vừa đi qua, kẻ đó là người tốt hay xấu. Dĩ nhiên, nếu đó là người tốt thì xin mời, cứ việc đi tự nhiên. Nhưng nếu là người xấu thì, anh bạn ạ, đừng có đùa, phải coi chừng! Rừng báo cáo lại với ta tất cả. Cây cối ấy mà. Con biết không, chúng không chỉ là cây cối đâu, mà là người sống thật sự đấy. Chỉ khi nào bị đẵn đi rồi, chúng mới là cây, là khúc gỗ chết, tóm lại là… Ta sống trong túp lều ấy cùng với con gái ta tên là Nađegiơđa. Nó cũng là con nuôi ta. Vì suốt đời ta sống một mình, chưa bao giờ có vợ cả. Tại sao ấy à? Câu hỏi ấy có khi gần hết đời mới giải đáp được con ạ. Có thể là vì ngu ngốc… Ừ, thế cũng được. Ta cứ suy nghĩ mãi, rồi cuối cùng cũng nghĩ ra chuyện đến trại trẻ mồ côi nhận đứa con gái về nuôi. Sau chiến tranh có nhiều trẻ mồ côi lắm… Nhiều hơn bây giờ. Thế là ta đến xem. Ta thích một cô bé, một cô bé thò lò mũi. Mặt cũng đầy tàn nhang như con ấy. Không hiểu sao ta thích những đứa bé mặt tàn nhang. Mỗi tội tên cô bé đó là Anna. Anka - Anka, ăn nhanh cho lớn mà đi lấy chồng. Khi nói chuyện với cô bé lúc ấy như ta đang nói với con bây giờ đây này, không hiểu sao ta bỗng nhớ đến những câu hát ngu ngốc ấy. Ta nghĩ, mình nuôi cho nó lớn rồi nó đi lấy chồng, thế là mình lại ở một mình… Ta bảo cô bé: bây giờ con sẽ là Nađegiơđa. Đối với con đó chỉ là cái tên, nhưng đối với ta nó là cả ý nghĩa cuộc đời. Ta bảo với cô bé như thế. Cứ làm như khi mang cái tên mới thì cô bé sẽ không lo đi kiếm chồng nữa không bằng mà sẽ ở lại mãi mãi với ta. Hồi đó ta ngốc quá, phải không? Con nghĩ thế nào? - Sao lại ngốc ạ? Không, bác nghĩ thế đúng lắm. Vì một khi bác đã lấy cô ấy về làm con, thì cô ấy phải là con của bác! - Đấy, ta biết ngay con là cậu bé ghê gớm lắm mà! Nhưng có điều, người anh em ạ, trách nhiệm thì đã đành là trách nhiệm, nhưng là con người thì vẫn phải sống theo tình người, cho ra con người. Mùa xuân thì nở hoa sung sướng, cả mùa hè thì sinh sôi, rồi sau đó lại đến mùa đông gặt hái. Nghĩa là sau đó phải để lại hạt giống của mình. Chỉ có ta là một mình cô độc - một con người kỳ lạ. Phải, cô bé của ta là đứa con gái tốt, Nađegiơđa lớn lên là một đứa con nết na hiền thảo. Có điều bây giờ nó hay bỏ đi Marsanikha quá - lúc thì đến đó xem phim, lúc thì đi nhảy. Ở đó có một anh chàng, con trai của một người kỹ sư trồng rừng, tên là Valentin. Chàng trai ấy, con biết không, cũng là một tay tài ba, nhưng thế mới phải coi chừng… Tóm lại là con biết chuyện đó sẽ đi đến kết thúc thế nào rồi chứ? - Con gái họ bao giờ chả thế! - Grinka, lúc ấy hãy còn là Vôpka, lại thốt ra một câu. - Nhưng cháu thì không bao giờ cháu bỏ bác đâu. - A ha, vậy là con bằng lòng rồi phải không? - Thì ở nhà trẻ mồ côi này có gì thích đâu. Nhưng cháu là Vôpka, thì bác cứ để cháu mang tên ấy. - Ồ không, không được. Dứt khoát là không thể như thế được, con ạ. - Sao lại không được ạ? Người bố tương lai của cậu lúc đó lại im lặng và rít thêm một điếu thuốc lá cuốn nữa. - Con Nađegiơđa của ta sẽ đi lấy chồng, đó là dĩ nhiên rồi. Nó sẽ lấy Valentin, hay một chàng nào đó… Ta đã nói với con là con bé lớn lên trông khá lắm - xinh xẻo, khoẻ mạnh, đùi phốp pháp. Còn mắt của nó, con biết không, Grinka - ôi cái tên Grinka mới hay làm sao - mắt của nó cứ sáng rực lên, trông thấy phải nheo mắt lại, không thì chói. Nhưng biết làm sao - ông thở dài - ta đã làm tròn bổn phận, ta đã nuôi cho nó khôn lớn. bây giờ hãy để cho nó làm bổn phận của nó. Phải làm sao trên trái đất này có nhiều người có đôi mắt trong sáng như của nó. Nó ra đi, và ta sẽ lại có một mình. Một mình ư? Không được. Nửa đêm tỉnh giấc ta bỗng nghe thấy tiếng gì kêu grin-grin-grin… Tiếng gì vậy? Tiếng cửa kính bị gió đập chăng? Không, đó là tên của con trai ta. Ta đi trong rừng và xung quay chỗ nào cũng nghe thấy grin-grin-grin. Ai thế nhỉ? Hay là tiếng chim hót? Có lẽ đúng là chim hót thật. Nhưng chúng hót về ai? Chúng hót về con trai ta…Vì thế, không thể nào giữ cái tên Vôpka được, con ạ. …Grinka dọn bàn xong, lấy cái đĩa con úp lên miệng vò sữa mà cậu vừa rót ra uống. Ngoài cửa sổ màn tối đã dầy đặc từ lâu, tựa như có người nào lấy giấy đen bịt cửa kính lại. Bố cậu vẫn chưa thấy về. Thở dài một tiếng, Grinka thu dọn chỗ ngủ, ra tắt đèn rồi chui vào trong chăn, tiếp tục nhớ lại cái quá khứ chưa xa của cậu. khi ấy, mặc dù rất tiếc rẻ phải bỏ cái tên của mình, nhưng không hiểu sao cậu thấy mến người đàn ông đứng tuổi này, và mấy lần nghe ông ta nói hai tiếng “con ơi” dịu dàng, cậu thấy ngỡ ngàng và cảm động ứa nước mắt. - Thế những con thỏ con… bác có che chở chúng không? - Lúc ấy, cậu cúi mái đầu cắt ngắn xuống để giấu ánh mắt và hỏi. - Thỏ con ấy à? Tất nhiên ta phải che chở chứ. Vì chúng là những con vật hiền lành và yếu đuối nhất mà. Chúng chơi đùa nhảy nhót xung quanh lều của ta, như bầy chim sẻ nhảy nhót xung quanh đồng cỏ xuân ấy. - Vậy thì được, cháu đồng ý. Mặc dù cậu bé đã đồng ý. Nhưng sau đó còn đẻ ra nhiều chuyện phiền phức, người ta chùng chình mãi không giao cậu cho người này nuôi. - Nhưng tuổi đồng chí hơi quá nhiều, đồng chí Đêmiđôp ạ. - ông giám đốc trại nói. - Tuổi tôi thì sao? Tôi còn khỏe lắm, tôi còn chạy trong rừng nhanh như thỏ hai chục năm nữa ấy chứ? - Người bố nuôi của cậu lúc ấy chứng minh với ông ta như thế - Mà giả dụ có chuyện gì, thì đứa con gái Nađegiơđa của tôi sẽ nuôi dạy thằng bé. Tôi sẽ dẫn nó đến đây để ông xem nó là đứa con gái như thế nào? Rồi ông dẫn con gái đến. Đó là cô gái cao lớn, khỏe mạnh, cương quyết và quả thực có đôi mắt hiền hậu và trong sáng một cách kỳ lạ, cô ta cũng chứng minh điều gì đó với ông giám đốc, sau đó cô còn phải nhiều lần chạy đến mấy cơ quan trong tỉnh để xin quyết định. Và cuối cùng xin được. Grinka sống trong túp lều coi rừng với bố và chị Nađegiơđa được vẻn vẹn có hai năm. Sống ở đó thì tuyệt nhất rồi, chả phải bàn. Có điều những con thỏ không còn đùa nghịch xung quanh lều, và nói chung chúng không dám đến gần ngôi nhà của cậu - có lẽ chúng sợ bầy chó, nhưng được cái ngay cạnh nhà có dòng suối nhỏ nước rất trong, nơi cậu cùng người chị thường câu được những con cá bống rất to, còn hai bên bờ sông thì tha hồ hái quả mâm xôi và phúc bồn tử. Nađegiơđa là cô gái hoạt bát nhanh nhẹn, lúc nào cũng cười, cả túp nhà nhỏ và cánh rừng lúc nào cũng tràn ngập tiếng cười ròn tan trong trẻo của cô. Lúc nào cô cười mắt cô lại càng rực rỡ hơn. Nhưng thường cứ tối đến thì ánh mắt cô lại thôi cười. Lúc đầu Grinka không hiểu vì sao, nhưng sau cậu đoán ra - Nađegiơđa lo lắng cho bố. Và cũng phải vì, cứ tối đến là bố cậu lại đi rất lâu không thấy về, mà lúc về thường là say. Nhưng không bao giờ ông quát tháo hay chửi rủa om sòm, còn hôm nào say quá thì ông đi nằm ngay. Cũng có hôm ông cứ đi đi lại lại trong gian nhà bếp rộng rãi và i ỉ hát trong họng cái bài quen thuộc cho đến tận sáng. Một hôm Grinka nghe thấy Nađegiơđa vừa mếu máo vừa nói với bố: - Bố đừng uống cái rượu vốtka chết tiệt ấy nữa. Bố thôi uống đi. Con trai của bố bây giờ hãy còn nhỏ, bố còn phải gây dựng cho nó khôn lớn thành người. - Chúng ta sẽ nuôi nó khôn lớn, Nađegiơđa, nhất định rồi… Bố uống, nhưng bố không để mất trí khôn đâu. - Bố nói thế. Mùa đông năm ngoái bố chả suýt chết cóng là gì. Giá con không tìm thấy bố ở đống tuyết thì bố đã chết cóng rồi. - Ừ, quả có thế, con gái của bố ạ. Bố dại dột quá. Hôm ấy thằng Maksêep làm bố điên tiết, thằng chồng của Maria ấy, cầu trời cho nó chết quách đi cho rồi. Nhưng chỉ có mỗi lần ấy thôi. Còn bố bao giờ cũng uống có chừng mực. - Nhưng sao bố cứ phải uống cái thứ nước chết tiệt ấy. - Tại bố quen mất rồi… Đời bố khổ quá, đáng ra không nên sống nữa, nhưng bố vẫn phải sống. - Bố nói đến tay Maksêep ấy không biết đến lần thứ mấy rồi. Giữa bố với tay ấy có chuyện gì vậy? Sao bố không giải quyết cho xong đi? Và lập tức Grinka cảm thấy bố cậu bỗng nhiên hầm hầm nổi giận, điều chưa bao giờ thấy ở ông cả. - Thôi câm ngay! Sao mi dám tra khảo ta? Trí óc non choẹt biết gì mà nói vào… Nađegiơđa oà lên khóc nức nở làm bố cậu phải dịu ngay và bắt đầu xin lỗi: - Con gái của bố… Bố biết là bố dại dột… Bố sẽ ghìm mình, sẽ bỏ rượu. Hơn nữa bố cũng sắp về hưu, thằng Grinka cũng sắp đến tuổi đi học rồi. Phải, chúng ta sẽ chuyển về ở Đubrôvinô, sẽ mua một túp nhà ở đó. Và bố sẽ thôi không uống nữa. Đúng là uống rượu có gì vui thú đâu! Và thế là họ đã chuyển về làng sống được hơn một năm. Nađegiơđa đã đi lấy chồng, lấy anh chàng Valentin của mình, bố bây giờ thôi không làm việc nữa mà sống bằng tiền hưu. Nhưng rượu rút cuộc ông vẫn không bỏ. Mắt Grinka díp lại, giấc ngủ bắt đầu làm nhoà ý nghĩ của cậu. Trong lúc mơ màng cậu lại nghĩ rằng bố cậu là con người kỳ quặc khó hiểu. Sương mù thì ông gọi là Samian, mưa thì gọi là Mumianchê, bão tuyết là Akulia, còn ngày ảm đạm thì gọi là MitroFan. “Sương mù - Saminan thì dễ hiểu thôi, vì nghe cũng hơi giống nhau. Mưa - Mumianchê, cũng bắt đầu cùng một chữ cái. Nhưng tại sao bão tuyết lại là Akulina? Hay trời giá buốt là Filaret? A ha, hình như ông đang về…” Grinka không sao tỉnh dậy được. Dường như từ nơi nào trong thế giới xa xôi và huyền bí, vẳng đến tai Grinka câu hát quen thuộc mà riêng cậu mới phân biệt được: Ta là ai? Ta chẳng là ai. Ta chỉ là… kẻ ấy. Mời các bạn đón đọc Trên Mảnh Đất Người Đời của tác giả Anatoli Stepanovich Ivanov.
Gái Một Con
Gái Một Con - bộ truyện tâm lý xã hội đời thực hay của tác giả Nguyễn Nhật Thương.  Thùy là cô gái nhà quê thiếu hiểu biết, bị cưỡng hiếp trong một đêm mưa và từ đó mang thai không biết ai là cha đứa bé. Cuộc sống cơ cực khi cái thai ngày càng lớn dần, hàng xóm miệt thị cha mẹ ruồng bỏ, cô bỏ lên thành phố khi mang thai tháng thứ 8, chuỗi ngày đầy tủi nhục lại tiếp diễn.. *** - Kìa, con nhà bà Loan đấy, tí tuổi đầu mà bụng đã ỉnh lên rồi. - Con Thuỳ đấy hả, nghe nói nó chửa hoang mà, không biết bố đứa bé là ai luôn. - Ôi dào, bọn mới lớn bây giờ đàn đúm lắm, cứ tụ bạ với mấy thằng thanh niên làng bên rồi ỉnh ra, biết được của đứa nào. Những lời bàn tán, vài cái chỉ trỏ, ánh nhìn miệt thị đều chĩa thẳng vào tôi, một cô gái chỉ mới 17 tuổi nhưng đã chửa ở tháng thứ 8. Nghiệt ngã 1 chỗ tôi lại chẳng biết bố đứa trẻ là ai. Nhà tôi thuộc loại hộ nghèo của xã, bố mẹ tôi cũng đã có tuổi nhưng vẫn phải đi cày ruộng thuê cho người ta, ai có sai gì thì làm nấy. Dưới tôi còn 2 đứa em, 1 trai, 1 gái. Đứa em trai đã học lớp 8 hay gọi nó là Tèo, còn đứa em gái mới chỉ 5 tuổi, đứa con muộn của bố mẹ tôi nên tôi hay gọi nó là Út. Tôi lên lớp 10 đã nghỉ học để đi làm thêm, chứ nhà đã nghèo còn nuôi 5 miệng ăn thì mình bố mẹ tôi không đủ. Hoàn cảnh của nhà tôi thường xuyên phải chạy sang hàng xóm vay từng bò gạo, xin từng cọng rau. Nói thật, với độ tuổi như tôi bảo tôi đi xin xỏ như vậy cũng có chút xấu hổ. Rồi vào 1 cái đêm mưa tầm tã cách đây khoảng 8 tháng, mẹ tôi sai tôi cầm 2 bò gạo sang trả cho bà Lý ở làng bên. Tôi nói trời mưa nên để mai nhưng mẹ tôi nói bà ấy sang đòi nhiều lần rồi nên không kéo dài nữa. Tôi với tạm chiếc nón đã nát che lên đầu rồi chạy vội sang làng bên, trời mưa, đường làng lại đất bùn dễ trơn trượt, đèn thì lại yếu, tôi phải dò dẫm từng bước mới đến được cái nhà 2 tầng đang bật đèn sáng trưng mà gọi cửa: - Bà Lý ơi! Tiếng chó ở trong nhà sủa vang lên cả xóm, người phụ nữ có hình dáng mập mạp ì ạch đi ra: - Đứa nào đấy? - Cháu Thuỳ, con mẹ Loan. Mẹ cháu bảo sang trả cho bà 2 bò gạo tuần trước vay. Bà ta nghe vậy liền lấy cái ô bật lên rồi đi ra: - Cả buổi thì đéo đến, mưa gió lại mò đến. Tôi đưa 1 túi bóng đựng 2 bò gạo được buộc kỹ qua song cửa cổng cho bà. Bà Lý cầm lấy nó rồi quát lên: - Giời ạ, trời mưa thì phải cho nó vào cái gì chứ, mày để như thế này thì còn đéo gì là gạo nữa. Tôi nghe vậy liền lấy bàn tay lên vuốt gương mặt đã ướt như chuột lội rồi nói với bà: - Cháu buộc kỹ rồi, không sao đâu bà. - Thế này mà không sao à? Tao cho nhà mày mượn gạo tử tế, giờ mày trả cái đồ vứt đi như thế này à? Tôi nghe vậy cũng thấy khó chịu nhưng vẫn cố nhịn vì nhà tôi cũng thường xuyên vay mượn của bà: - Sao lại đồ vứt đi ạ? Gạo này nhà cháu vẫn nấu ăn bình thường, gạo ngon đấy ạ. - Nhà mày thì làm đéo gì có tiền mà mua gạo ngon. Nói rồi bà quăng túi gạo kia vào cái xô rác để ngay đấy rồi nói: - Thôi, về bảo với mẹ mày là tao cho. Đi về đi. Vay mượn kiểu này thì lần sau ai dám cho vay. Nói rồi bà liền đi vào nhà, còn tôi đứng đấy nhìn chằm chằm vào túi gạo đã nằm im ở trong xô rác đấy mà đôi mắt đỏ hoe. Cái cảm giác uất ức và nhục nhã sộc thẳng lên mũi, đi vay thì bị xỉ vả, đi trả thì cũng bị lăng mạ. Giữa con người với nhau, tôi tự hỏi họ có cần phải cay nghiệt đến như vậy không? Lững thững đi bộ trở về mà hai hàng nước mắt chua chát vẫn cứ chảy dài theo màn mưa. Bỗng 1 cơn gió lớn kéo đến thổi bay chiếc nón tôi đang đội, mưa trút xuống đầu làm tôi vội vã chạy đến 1 cái chòi bỏ hoang gần đấy. Cả người lúc này đã ướt nhẹp, gió thổi làm tôi lạnh mà run rẩy. Sấm chớp bắt đầu đánh ầm ầm khiến tôi khiếp sợ, cái bóng đèn vàng duy nhất thắp sáng đường đi bỗng nhiên vụt tắt, xung quanh chỉ 1 màu tối đen. Tôi run rẩy tìm chiếc điện thoại để bật đèn pin, nhưng sơ qua mới biết lúc đi không có mang theo. Đang định tính bỏ chạy 1 mạch về nhà thì từ 1 phía phát lên tiếng hát say sỉn của 1 gã nào đấy. Tôi sợ quá đứng lùi vào bên trong, gã say sỉn kia tay cầm 1 chiếc đèn pin nhỏ soi qua soi lại rồi chĩa thẳng vào người tôi làm tôi chói mắt phải đưa tay lên che: - Ế, em gái....trời mưa mà đứng đây làm gì? Đợi người yêu à? Đường thì vắng, lại tối đen, gặp một gã say ỉn thì đứa con gái nào chẳng sợ. Tôi không nhìn gã, cũng không trả lời định quay người chạy đi thì ai ngờ lão vứt chiếc đèn pin sang 1 bên rồi lao đến ôm chầm lấy tôi: - Ấy...chạy đi đâu...ở lại đây trú mưa với anh! Tôi lúc này hoảng sợ cực độ, cố gắng vùng vằng đẩy gã ra rồi la lên: - Bỏ tôi ra, đồ khốn nạn. Khi tôi đẩy được gã ra liền chạy đi, ai ngờ gã túm lấy tóc tôi giật ngược lại về sau rồi tát tôi 1 cái đau khủng khiếp: - Mẹ mày, mày nói ai là đồ khốn nạn đấy? Bố mày lại băm chết cụ mày giờ. Tôi đã bắt đầu có những tiếng khóc, trời lại tối chẳng rõ được mặt gã, 2 tay chỉ biết vung loạn xạ mà đánh trả lão rồi la lớn lên: - Cứu tôi với, làm ơn...có ai không? Gã vẫn không chịu buông tôi ra, thêm phần trời mưa to, sấm chớp đánh mạnh nên hầu hết mọi nhà đều đóng cửa không nghe thấy. Lúc này gã liền đấm mạnh vào bụng tôi, cơn đau khủng khiếp kéo đến khiến tôi không còn sức kháng cự. Gã túm đầu tôi kéo vào bên trong cái chòi, đẩy tôi ngã xuống đất. Tôi gào khóc khủng khiếp, lồm cồm ngồi dậy muốn bỏ chạy khỏi con thú hoang này nhưng gã nhanh tay túm được chân tôi kéo lại, 2 bàn tay bẩn thỉu dùng sức cởi khoá quần của tôi. Tôi kinh hãi cố gắng dẫy đạp, rồi gào lên: - Cút, thằng chó, tránh xa khỏi tao.....Có ai ngoài đó không? Cứu tôi. Lời vừa dứt, lão tát tôi thêm 1 cái nữa, sức của đàn ông làm tôi choáng váng: - Con đĩ, câm mồm cho bố mày không tao giết đấy. Tiếng sấm lớn vang trời, cơn mưa rào khủng khiếp, trời tối đen như mực, tất cả như đang hùa với gã mà chống lại tôi. Thi thoảng vài tia chớp loé lên, tôi chỉ kịp nhìn thấy đôi mắt đỏ ngàu như mãnh thú của gã, bàn tay vơ vội nắm đất ném vào mặt gã. Ông trời không có mắt, gã ra sức tát tôi rồi lại đấm vào bụng, cả người đau ê ẩm làm tôi chẳng còn sức chống cự. Chiếc áo sơ mi ướt nhẹp bị cởi phăng ra, quần bò cũng được kéo xuống đến cẳng chân, từng khấc da thịt tôi bị gão bấu xé đến đau nhức. Tôi còn chỉ biết gào khóc với trời, ai đó làm ơn giúp tôi thoát khỏi tên súc vật này. Nhưng trời cao chẳng nghe thấy, cái cảm giác đau đến xé da thịt khi gã đưa cái thứ bẩn thỉu ấy vào trong người tôi, nó thật khủng khiếp. 2 bàn tay tôi cào xuống mặt đất đến tứa máu, nước mắt với mưa ngoài kia phả vào làm người run rẩy và đau xót. Lần đầu tiên của tôi, cuối cùng cũng đã mất, mất bởi 1 kẻ say không rõ mặt, ở một nơi bẩn thỉu đến ngay cả chiếc giường cũng chẳng có, nó thê thảm và nhục nhã vô cùng. Con súc vật ấy ở trên người tôi mà bộc lộ thú tính, giọng nói của gã làm tôi ghê tởm, cơn đau từ phía dưới vẫn kéo đến từng đợt quặn thắt. Sau khi thoả mãn, gã mặc lại quần áo rồi bỏ đi như chưa có chuyện gì. Cả người tôi đau nhức gắng gượng ngồi dậy, giữa trời đen mà mò mẫm từng cái áo, cái quần mặc vào. Nước mắt suốt từ khi ấy đến giờ vẫn chưa ngừng lại, tôi thất thần lê từng bước dưới trời mưa giông đấy, ngửa mặt lên nhìn 1 mảng đen uất hận mà nức nở khóc. Tôi trở về nhà, cố giấu bố mẹ truyện này. Mẹ tôi thấy tôi ướt nhũn cũng lên tiếng hỏi: - Mưa sao không ở lại trú lúc rồi về? Tôi cố quay mặt mình về phía không ánh sáng mà nói: - Con thấy mưa lâu tạnh nên không trú nữa, giờ vào tắm 1 cái là được. Nói rồi tôi cũng né nhất có thể đi vào lấy quần áo rồi chạy vội vào nhà vệ sinh, đã phải dùng hết mấy chậu nước mới cảm thấy mình sạch sẽ 1 chút rồi mới trở về phòng mình. Thấy con Út đang nằm say sưa ngủ, tôi vẫn phải nhẹ nhàng trèo lên giường rồi quay lưng về phía nó, nước mắt lại chảy trào ra trong sự cố kìm nén của tôi. Tháng ngày về sau qua đi, tôi cố gắng quên cái đêm ám ảnh đấy nhưng có lẽ kiếp trước tôi gây nghiệp nên kiếp này phải gánh lấy hậu quả. Bụng tôi qua thời gian mỗi lúc 1 lớn lên, đến khi mẹ tôi sinh nghi và đưa đi khám mới biết thai đã được 6 tháng. Tôi còn nhớ cái ngày hôm ấy, bà mặc kệ tôi manh bụng chửa cầm cán chổi vụt vào người tôi rồi chửi: - Mẹ mày, đúng là con mất dạy, mày còn không nói là của đứa nào? Tôi khóc lóc đến sưng húp cả mắt, 2 tay cứ ôm lấy người minh mà nức nở nói: - Mẹ ơi, con xin lỗi, nhưng con thật sự không biết? Con là bị cưỡng bức. Bố tôi lúc này ở trong nhà ném cái ghế gỗ ra ngoài rồi quát lớn: - Mày còn già mồm à? Hay là ngủ với nhiều thằng quá nên không biết? Đúng là loại con gái hư hỏng, mày cút khỏi đây đi. Đừng bôi tro chát trấu vào mặt bố mẹ mày. Con Út thấy tôi bị đánh chạy lại ôm lấy chân mẹ tôi mà gào khóc: - Mẹ ơi, mẹ đừng đánh chị Thuỳ nữa, chị Thuỳ rất thương Út. Mẹ tôi vì giận quá cũng đẩy con Út ra làm nó ngã xuống rồ gào lên, tôi thấy vậy khóc lóc định chạy lại đỡ lấy nó thì bà lại cầm cán chổi vụt vào người tôi: - Loại mất nết, tao phải đánh chết mày! Thằng Tèo lúc này đi học về thấy vậy liền chạy lại đỡ lấy con Út rồi dỗ dành, nó đủ lớn cũng đủ sợ bởi những trần đòn từng chịu nên chẳng dám lao vào can ngăn. Bà con hàng xóm đã bắt đầu kéo sang đông rồi xúm lại, lúc này cô Hiền, nhà bên cạnh nhà tôi liền chạy đến can ngăn: - Thôi, đừng đánh nó nữa, chuyện đã lỡ rồi, giờ nó còn đang bụng mang dạ chửa, không may có như thế nào hỏng cả mẹ lẫn con thì lúc đấy hối không kịp. Bố tôi nghe vậy gương mặt tức giận rõ rệt mà quát lên: - Loại nó là phải đánh chết, sống làm gì cho xấu mặt. Tôi lúc này chỉ biết ôm cái bụng to của mình mà đứng đấy khóc. Không ai hiểu cho tôi, không ai tin tôi, tất cả chỉ trong phút chốc đều quay lưng lại, tôi đau ghê gớm, đau cả thể xác, đau lẫn tinh thần. Sau vài lời khuyên của mấy người hàng xóm, bố mẹ tôi mới dần xuôi, tôi cũng từ đấy mang thêm cái mác "con chửa hoang" ở trong cái làng này, để rồi đi đâu cũng bị mấy bà tám chuyện lôi ra bàn tán như vậy đấy. Mới đầu bị nói tôi còn tủi thân khóc, nhưng sau quen rồi nên cũng cố chai lỳ mà lờ họ đi. Giống như hôm nay, mấy bà vừa nói vừa chỉ trỏ đấy, tôi còn đi lại cười rồi chào từng người, sau đó còn thêm cho câu: "Hôm nay cháu thấy con A/thằng B nhà cô/nhà bác mới đi với ai vào nhà nghỉ ấy. Không nói khéo lại ỉnh ra thì khổ." Đấy, cứ phải đáp trả như vậy tôi mới hả dạ được. Con người mà, kẻ nào yếu thì kẻ đó thua thôi. Tôi đi trở về căn nhà mái ngói lụp xụp, con Út thấy bóng tôi từ trong nhà chạy ra ôm lấy chân tôi rồi xoa cái bụng đang lớn: - Chì Thuỳ, em bé sắp ra ngoài chưa? Tôi vòng tay xoa lấy đầu nó rồi dẫn vào trong nhà nói: - Sắp rồi, còn 1 tháng nữa là Út được bế cháu. Con bé nghe vậy thích lắm nhảy tưng tưng. Mẹ tôi lúc này từ trong bếp đi ra nói: - Làm sao rồi? Tôi nghe vậy nét mặt có chút buồn nhìn bà: - Con hỏi vài nơi nhưng không ai nhận cả. Bà lúc này cáu lên: - Ai mà nhận con chửa như mày làm. Rồi không may làm việc có sao thì họ gánh cục nợ à? Tôi nghe bà nói vậy cũng tủi thân lắm nhưng cố nhịn mà cúi mặt đi vào nhà thì bà lại lẽo đẽo theo sau: - 5 cái miệng ăn chưa đủ còn rước thêm cục nợ về nhà. Rồi đẻ đái thì bán nhà đi, con với cái, không biết kiếp trước tao gây ra nghiệp gì nữa! Tôi lúc này đã không nhịn được nữa mà ứa nước mắt ra rồi nói: - Mẹ không phải lo, con tự lo được! - Mày lo cái thân mày còn chưa xong thì mày đòi lo cái gì? Việc làm không có, rồi ôm cả cái cục nợ kia, đời chỉ có bốc cứt mà ăn. Tôi thực sự không thích bà nói đứa bé trong bụng là cục nợ. Cho dù nó không có bố, nhưng nó cũng là máu mủ của tôi, là cháu ngoại của bà, tại sao bà lại có thể cay nghiệt như vậy: - Con lo thế nào thì kệ con, mẹ không phải quan tâm. Có bốc cứt thì cũng là con chứ không phải ai cả mà mẹ phải lên tiếng. - A, con này, tao đang nuôi 2 đứa mày mà nói mày còn cãi lại à? Bố tôi lúc này từ ngoài đi vào lại quát: - Vả vào mồm nó, đúng là cái loại mất nết, loại bất hiếu. Tôi nghe đến đấy đã chẳng thể nào kìm chế nổi. Đi ra ngoài thì thiên hạ chửi bới, trở về nhà thì bố mẹ mỉa mai. Bao nhiêu uất ức tôi cố nhẫn nhịn liền bùng phát lên. Tôi gào trong nước mắt: - Bố mẹ cứ hở tí là đòi đánh con, ngày không đánh thì ngày lại chửi. Dù sao đứa bé cũng là cháu ngoại của bố mẹ mà. Ai ngờ tôi vừa dứt, bố tôi đi lại tát vào mặt tôi một cái rồi giận dữ nói: - Tao không có cái loại cháu hoang này. Gương mặt tôi đã đầm đìa nước mắt, tôi đưa tay lên ôm lấy 1 bên má đỏ rộp mà nhìn ông uất ức rồi gào lên: - Con không ở cái nhà này nữa? Con sẽ đi khỏi đây cho bố mẹ vừa lòng. Nói rồi tôi cũng bỏ chạy ra phía ngoài, bố tôi ở sau còn nói với theo: - Mày đi được thì mày đi luôn đi, đừng mò về đây nữa. Tôi khó lóc chạy ra đến phía cổng, thì con Út đang chơi bên hàng xóm chạy về thấy tôi liền túm lấy: - Chị Thuỳ, chị đi chơi à, cho Út đi với. Tôi nhìn thấy nó mà lòng đau khủng khiếp, từ từ ngồi xuống rồi đưa tay lên ôm lấy má nó, nói trong nước mắt: - Út ở nhà ngoan, nghe lời bố mẹ. Chị Thuỳ đi làm về sẽ mua nhiều đồ chơi cho Út nhé. Con bé nghe vậy lại không chịu liềm túm lấy tay tôi rôi mếu máo: - Không, Út không chịu đâu. Chị Thuỳ đừng đi. Nghe nó nói vậy mà cổ họng tôi nghẹn đắng, chậm rãi quay đầu lại phía sau nhìn căn nhà cũ kỹ đã từng là mái ấm mà chợt thấy đau lòng. Tôi quay lại hôn nhẹ vào trán con Út rồi nói: - Út ngoan, Út sẽ nghe lời chị Thuỳ nhé. Nói rồi tôi cũng đẩy con bé ra mà chạy đi, con Út thấy vậy lại khóc lóc đuổi theo 1 đoạn rồi ngồi phịch xuống đất mà gào lên. Tôi lúc này cứ phải tự nhủ lòng mình "không được quay lại, không được quay lại" mà cứ chạy thẳng về phía trước, về một tương lai mờ mịt mà tôi cũng chẳng thể nào rõ nữa.   Mời các bạn đón đọc Gái Một Con của tác giả Nguyễn Nhật Thương.