Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Án Tử Một Tình Yêu - The Death Of A Love

Thể loại: Tình cảm, tử tù + trại giam, đề tài xã hội, cuộc sống, nhân sinh Số chương: 19 chương full Nội dung: Một thiếu nữ mới hai mươi ba tuổi thế nhưng đã phải kết thúc cuộc đời tươi đẹp của mình, bước chân ngừng lại trong chốn lao tù... Vân Du đã giết hại hai mạng người, vừa vào Trại giam lại có định tự sát... Đồng Văn, một bác sĩ trẻ điều trị tâm lý cho tù nhân trong Trại giam, mang ác cảm đối với những tù nhân giết người. Và định mệnh đã sắp đặt cho hai con người mang nỗi đau trong quá khứ, bí mật không thể nói, được gặp gỡ nhau vào thứ ba hàng tuần, với tư cách bác sĩ điều trị tâm lý và bệnh nhân trong bộ áo tù nhân... Thông qua những dòng nhật ký trị liệu, họ - từ con người hứng chịu tổn thương - trở thành người chữa lành cho đối phương. "Yêu thương thật sự phải là thứ tình cảm có trách nhiệm." - ----------------------------- Đôi lời của tác giả: Tôi nhớ trước đây có tác giả nào đó đã nói thế này, trích lược thôi: "Con người thường gánh lấy nỗi đau do con người gây ra. Thế nhưng cũng nhờ con người mà những nỗi đau đó được xoa dịu...", có lẽ nó thích hợp với câu chuyện này. Đây không hề là câu chuyện tình lãng mạn, lâm li hay cao trào ngược luyến, mà chỉ là một tác phẩm rất thực, ý nghĩa nhất mà tôi viết từ trước đến nay. Một thứ tình lặng lẽ âm thầm giữa hai con người trong vai trò đặc biệt và cũng trong bối cảnh thật đặc biệt - Trại giam, nơi tối tăm lẫn tội lỗi. Là câu chuyện nước mắt của những phụ nữ trong buồng giam nữ số 5, của người mẹ trẻ vì cứu con mà giết người; của cô gái đôi mươi lầm lỡ; hay của người mẹ bụng mang dạ chửa bởi cái đói nghèo nên phạm tội... Khi hoàn thành tác phẩm, tôi cảm giác bản thân mình cũng đã trưởng thành hơn, cũng để hiểu: Làm người chưa bao giờ dễ dàng, phải dũng cảm đến dường nào để không phải làm tổn thương ai. Và rằng: Sống, chính là phải vượt lên trên những nỗi đau. Có lẽ đó cũng là nghĩa vụ của con người! "Án tử một tình yêu" hoàn thành vào năm 2017 nên thời gian trong truyện sẽ không phải năm 2019, và tôi cũng lấy mốc diễn ra câu chuyện là năm 2011 trước khi nhà nước ban hành luật tử hình bằng tiêm thuốc độc. *** Ngày... tháng... năm... Có một loài chim luôn hót vào đầu hạ, lúc sẩm tối, hoặc là sau cơn mưa hoặc vào các đêm trăng sáng. Tiếng hót lại nghe thê thiết, não nề. Nó khiến người ta nghĩ về nỗi mất mát, nhớ về những điều đã qua, thời gian và cả sự vô thường. Lần đầu tiên bước chân vào nơi lạnh lẽo âm u ấy, tôi đã không ngừng tự hỏi, lí do gì mình lại ở đây? Tôi đã gây ra tội lỗi gì để đến bước đường cùng này? Tôi phải chịu đựng sự giày vò, dằn vặt mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút. Chúng ám ảnh tôi trong những giấc ngủ chẳng tròn. Nước mắt không ngừng chảy mỗi đêm bằng cả ngàn ngày cộng lại, tôi chờ đợi đến lúc bản án tử được đề ra. Tôi sợ. Nhưng phải thanh thản đón nhận. Vì tôi, thật sự là kẻ có tội. Nhật kí tù nhân 3969. ***** Tháng 8 năm 2017. Buổi sớm đầu thu ở Trại giam nằm trên một con đường thuộc Sài Gòn, vang lên tiếng khua lịch kịch lạnh tanh từ ổ khóa gỉ sét, phá tan sự tĩnh lặng buồn bã ở nơi này. Bác sĩ Đồng Văn cầm theo chồng hồ sơ bệnh lí, khẽ lách mình đi qua khoảng trống vừa đủ giữa cửa hàng rào mục với bức tường ố vàng cao sững. Văn chậm rãi tiến vào bên trong khoảng sân vắng vẻ sau khi cảm ơn bảo vệ. Dưới làn gió thu mát dịu, Văn vận áo khoác xanh sậm với những đường sọc xám. Hai mép áo ép sát vào mỗi khi anh co người lại, giấu bên trong bộ blouse trắng, thứ màu riêng biệt và xa lạ giữa không gian lạnh lẽo âm u ở Trại giam. Vài phút băng qua bãi đất trống, tốc độ đôi chân nhanh hơn, Văn sắp đến nhà của quản giáo khu giam nữ. Dừng lại ở bậc tam cấp xi măng cao nhất, Văn gõ cửa bằng âm thanh thật đều, đôi vai hơi chùng xuống cho vài giây chờ đợi. Chẳng quá lâu cửa mở nhanh, xuất hiện một phụ nữ trung niên khoác bộ áo cảnh phục màu xanh lá cây quen thuộc thể hiện cho công lí và thật thi pháp luật. Đó là chị Ngà, cán bộ quản giáo khu giam nữ tại đây. Nhác thấy gương mặt Văn đứng trước cửa lúc trời còn tờ mờ sáng, chị ngạc nhiên hỏi: - Bác sĩ Văn đến tìm chị sớm vậy? Văn chậm rãi đưa chồng hồ sơ bệnh lí cho chị Ngà, mỉm cười bảo đây là kết quả kiểm tra của các phạm nhân nữ hồi tuần trước. Chị Ngà khẽ lướt mắt qua từng hồ sơ xem còn sót ai không, rồi tự dưng chậc lưỡi: - Bác sĩ Văn nhọc công quá, để lát chị qua khu bệnh xá lấy cũng được mà. - Em sắp đến gặp Phó giám thị Dũng, tiện thể qua đây đưa chị luôn. - Bác sĩ gặp Phó giám thị có chuyện gì sao? - Cũng chỉ là báo cáo tình hình tâm lí của một phạm nhân nam bên khu II. Lát, em phải đi gặp một người, sợ là không kịp đến lúc Phó giám thị đi họp về. Sự tò mò trong đôi mắt quản giáo Ngà hiện lên rõ rệt. Văn chẳng che giấu gì, nói rằng chốc nữa anh sẽ đi gặp Hoàng Oanh. Tức thì đôi mắt chị Ngà sáng lên do mừng rỡ trước cuộc tái ngộ sắp diễn ra giữa những người xưa: - Thế à? Mèn ơi, cũng lâu lắm rồi đấy! Bé Oanh vẫn khỏe chứ? - Bé Oanh sống với chú Thạch rất tốt, năm nay nó sẽ vào trường trung học. - Tốt rồi, thế này thì Vân Du cũng yên lòng... Chưa kịp nói hết câu thì sự ngập ngừng tràn ra đầu lưỡi khiến âm thanh mắc lại cuống họng, quản giáo Ngà phát hiện mình vừa nhắc lại cái tên không nên nhắc trước mặt Văn. Chị càng tự trách hơn khi thấy nỗi buồn xuất hiện trong mắt anh. Đối diện, như hiểu sự im lặng đột ngột đó, Văn cất tiếng: - Em cũng nghĩ vậy. Hẳn, Vân Du rất vui khi con gái có cuộc sống tốt. Dẫu khỏa lấp bằng nụ cười nhẹ nhàng thanh thản nhưng nỗi buồn sâu thẳm vẫn ngự trị trong đáy mắt tối đen do đứng ngược chiều sáng, Văn không thể che giấu được quản giáo Ngà. Người phụ nữ này chợt hiểu, có lẽ sau ngần ấy năm chàng bác sĩ trẻ thuở xưa chưa một lần thôi đau. Lẽ nào, có những yêu thương trải qua nhiều năm cách biệt chẳng hề vơi bớt mà ngày càng sâu đậm? Chị Ngà liền hỏi sang lí do Hoàng Oanh đến gặp Văn là gì. Chàng bác sĩ ba mươi ba tuổi trả lời với giọng đều đều: - Em cần đưa lại cho bé Oanh cuốn nhật kí của Vân Du, năm nay con bé đã mười hai tuổi rồi. Đó là lời hứa của em... Tiếng chuông điện thoại thình lình vang lên. Giấu tiếng thở dài đặc trưng, quản giáo Ngà đến bên bàn, nhấc máy nghe. Văn nhìn chị quay lại với nét mặt biểu hiện ý nghĩa rằng chị sẽ phải rời khỏi đây bây giờ. - Có rắc rối ở dãy nhà khu giam nữ, chị phải qua đó xem sao. Bác sĩ gặp bé Oanh thì gửi lời hỏi thăm của chị nhé. Dặn dò xong câu cuối cùng, quản giáo Ngà liền đi như chạy về phía dãy nhà khu giam nữ. Còn lại một mình, Văn bước chậm rãi xuống từng bậc tam cấp, thả bộ ra khoảng sân vắng vẻ. Nắng sớm lấp liếm sắp chảy tràn lên chân, Văn đảo mắt nhìn quanh. Không phải tò mò quan sát, mà chỉ để nhớ. Một thời gian dài, Văn ít khi đến đây. Mỗi lần có việc, quản giáo Ngà sẽ đến bệnh xá tìm anh. Văn nhìn cảnh vật hiện tại, cứ ngỡ khung cảnh sáu năm trước đang tái hiện. Vẫn lớp cỏ úa bên dưới bị giẫm đạp không mọc lên nổi. Vẫn bóng cây cao uể oải cho một cái vươn mình trong nắng sớm. Vẫn là những luống rau, bụi hoa do các phạm nhân nữ thay nhau trồng vào giờ lao động. Cuối cùng, vẫn bốn bức tường vàng ố bao bọc xung quanh, phía trên là dãy hàng rào kẽm sắc bén từng làm chùn chân nhiều kẻ liều lĩnh muốn bỏ trốn. Chỉ một bức tường, bên kia và bên này, ấy vậy tạo nên hai thế giới khác xa nhau. Tự do và tù đày. Chỉ một giây phút lầm lỡ thôi, ai đó sẽ mãi mãi bỏ lại sau lưng bầu trời rộng lớn xanh ngát, bỏ lại tháng ngày sống trọn vẹn kiếp người để bước chân vào đây. Trại giam, nơi không biết đã đón nhận bao nhiêu kẻ tội lỗi, dường như mất hẳn bốn mùa xuân hạ thu đông. Tồn tại duy nhất ở đây là ngày sang đêm, chờ đợi quyện với nước mắt. Đằng sau chấn song sắt đen, mỗi người mang trong mình câu chuyện riêng, bi kịch riêng mà chẳng ai giống ai. Gió nổi. Những đám mây bị đánh tan ra trôi lãng đãng vô tư lự, trả lại cho bầu trời vùng trong xanh yên ả, sắc màu đó mang đến sự an nhiên lạ lùng. Một cánh bướm màu xanh dương thẫm hiển hiện dưới đáy mắt Văn, bay chấp chới qua hàng rào kẽm trên bức tường. Con vật mê chơi bay lạc vào chốn tù đày u ám. Sự phát hiện thú vị làm chàng trai trẻ tiếp tục nhìn theo đôi cánh rực rỡ kia rung rinh trong gió. Con bướm đậu lên khóm hoa nghiêng ngả bên dưới, vui đùa là bản năng của loài phù du. Gió thổi mạnh hơn, mang theo những chiếc lá trên cành cây trụi lơ. Gió vô tình hất nhẹ con bướm xanh vướng vào cành hoa. Nó mắc kẹt, giãy cánh mãi. Cái nhìn của Văn đong đầy phân vân giữa việc giúp đỡ hay để con bướm tự thoát ra. Nhưng Văn sẽ không thể biết được kết quả của hai điều đó khi một bàn tay mềm mại luồn qua khóm hoa, nhẹ nhàng tháo đôi cánh xinh đẹp ra khỏi sự mắc kẹt. Con vật mang ơn, bay là là xung quanh người đó. Một cô bé mười sáu tuổi. Cho em tự do, không phải tù đày Quên đi năm tháng hao gầy thương anh Em ở bên này một bức tường ranh Đêm ngày trông ngóng mong manh chờ người... Cô bé cất tiếng hát, giọng trong trẻo bay vút. Tưởng chừng như thứ thanh âm réo rắt không bị xiềng xích đó vượt qua bức tường chết chóc lạnh lẽo, qua hàng rào kẽm giam cầm đến với bầu trời cao. Không gì bó buộc được cô. Văn đứng chết lặng, sững sờ đến mức không rõ hình ảnh đang thấy là thật hay mơ, là người hay chỉ là ảo ảnh nhóm lên từ nỗi thương nhớ tràn trề. Cô bé đứng gần bụi hoa mặc chiếc váy trắng dài qua đầu gối, gương mặt nghiêng nhẹ bừng sáng, mái tóc ngắn mềm mại phủ ót cùng một đôi vai mỏng manh. - Vân Du... Sau tiếng gọi thân thương phát ra từ bờ môi Văn, cô bé với chiếc váy trắng tung xòe đã quay qua nhìn với đôi mắt phẳng lặng tựa bờ hồ thu. Cô hơi nghiêng đầu, nở nụ cưởi êm đềm với anh. Điều ấy khiến Văn càng thêm choáng ngợp trong niềm hân hoan đường đột này. Với sự xúc động mãnh liệt, Văn đã không biết đôi chân mình đang tiến lại gần. Vân Du vẫn đứng yên, sự im lặng toát lên người cô tạo thành một lớp vỏ bọc đơn độc giống hệt năm xưa. Tại thời khắc này, Văn khao khát muốn ôm trọn lấy Du, cảm nhận hơi ấm da thịt lan tỏa vào nhau, điều mà khi Du còn sống anh không bao giờ được làm. Thế nhưng đôi tay xụi lơ, Văn mất hết sức lực để nhấc lên, để ôm cô... ***** Cuối tháng 3 năm 2011. Đêm mưa sáu năm trước thật khác với đêm mưa của những năm sau đó. Nó dữ dội, ướt át, vần vũ. Tiếng mưa nghe hệt âm thanh gào thét ai oán từ đất trời. Số phận có lẽ biết được một bi kịch thảm thiết sắp xảy đến nên để cơn mưa này là một điềm báo trước. Chẳng ai nhận ra giọng hét kinh hoàng của người phụ nữ len lỏi qua màn mưa buốt giá, tê tái. Thứ âm thanh ám ảnh phát ra từ bệnh viện đa khoa. Ngay cửa phòng bệnh, dáng cô hộ lí ngồi sững bất động, hoàn toàn lả đi như mất hết sự sống, riêng đôi mắt vẫn mở trừng trừng phản chiếu nỗi bàng hoàng và hai bàn tay bấu chặt vào thành cửa đến nỗi tươm máu. Những người xung quanh từ y tá, bệnh nhân cho đến người thăm bệnh, ngạc nhiên khi thấy cô hộ lí chẳng hiểu vì sao lại thét lên thất thanh rồi ngồi bệt dưới đất như bị đột qụy. Trước đó, ai nấy đều giật mình vì nghe tiếng la của những người trong phòng bệnh, họ chạy ra ngoài đầy sợ hãi. Tất cả liền chạy đến. Và khi đưa mắt nhìn vào phòng, lập tức họ đồng loạt mang những hành động không khác cô hộ lí ban nãy. Sững sờ. Hãi hùng. Thậm chí, có người yếu bóng vía đến nỗi ngất lịm. Ở giữa căn phòng trắng lạnh lẽo, được mô tả bằng mùi thuốc sát trùng nồng nặc và mấy dụng cụ y tế kim loại khô khốc, bóng dáng cô gái trẻ đứng nghiêng người toát lên hơi nồng tanh tưởi của máu. Dung dịch đậm đà mùi sắt đó vấy bẩn quần áo cô mặc, lên gương mặt từ mang tai xuống cằm, lên cả những sợi tóc ngắn lòa xòa hơi rối. Nơi nhuốm máu nhiều nhất, là bàn tay phải cô đang cầm kéo. Mũi kéo sắc lẹm, chết chóc. Dưới đất có hai thân thể nằm bất động. Mọi cử động trên người cô gái trẻ đều đứng yên, giống hệt bị hóa đá. Duy nhất một thứ nơi cô đang chuyển động, nhen nhúm sự nhận thức hiếm hoi. Đôi mắt. Với cái nhìn sâu, tăm tối như đáy hồ nhưng vẫn le lói chút hoang mang. Như kiểu, khung cảnh man rợ bày ra trước mặt lúc này không phải do cô cố ý gây nên. Dù vài phút trước thôi, chính cô đã đâm mạnh chiếc kéo vào hai cơ thể ấm nóng, kết thúc mạng sống của họ. Buông kéo. Cô xoay người thật chậm, chẳng khác gì khúc cây gãy bị đau, ánh mắt vô hồn sâu hun hút vô tình lướt qua mấy chục gương mặt xa lạ xuất hiện ngay cửa phòng, giờ đây chỉ còn những nét nhăn nhúm hãi hùng. Nhưng không có ý dọa họ, cũng không có ý thể hiện bản thân là kẻ cuồng sát, cô đang tìm kiếm một bóng hình nhỏ bé mà nãy giờ mình đã để vụt mất khỏi tầm mắt. Cái nhìn đau đáu mong mỏi khiến người ta nghĩ, thứ mà kẻ sát nhân đó đang tìm hẳn vô cùng quan trọng, biết đâu đấy là phần tốt đẹp duy nhất còn sót lại trong trái tim tội lỗi. Vài phút sau, bờ môi trắng bệch nứt nẻ chợt mấp máy, nụ cười nhẹ nhõm lướt qua khi cô thấy trong góc tường đứa con gái nhỏ đang ngồi co người, trông giống lưng tôm. Mái đầu của nó tựa lên hai đầu gối, đôi mắt tròn nhìn khung cảnh máu đổ người chết mà không chút sợ hãi, chỉ ngơ ngác. Bóng đổ từ chiếc tủ cao ngay bên cạnh chảy tràn trên thân hình và nhấn chìm nó vào màn tối. Mau chóng, con bé nghe tiếng ai gọi tên mình, bằng hơi thở mệt mỏi: - Hoàng Oanh, lại đây với mẹ. Bé Oanh ngước nhìn cô gái đứng trước mặt với cơ thể mềm ngặt nhưng vẫn cố đứng vững, như chống chọi lại bất hạnh do số phận đè xuống. Từ nãy đến giờ, nó thắc mắc không hiểu cô gái vừa giận dữ vừa đâm kéo vào hai người kia để rồi sau đó bị nhuốm máu trên quần áo ấy, có phải mẹ Du? Vì khi nghe tiếng la đau đớn của bà ngoại kế thì nó bỗng sợ. Tuổi còn nhỏ không cho phép nó nhận thức được ý nghĩa hành động mà mẹ gây ra cho bà. Nhưng giờ nghe tiếng gọi quen thuộc đó, bé Oanh chắc mẩm mẹ Du đây rồi. - Mẹ Du ơi! Vân Du đón con gái vào lòng, không bận tâm nó sẽ khó chịu với mùi tanh đeo bám trên người mình. Du vùi mặt vào mái tóc thơm ngát của con vì muốn lưu giữ mùi thơm êm đềm này thật lâu bởi hiểu rõ, lát nữa thôi cô phải rời xa Oanh. Một thời gian dài, hay cũng có thể suốt đời Du sẽ mãi mãi không gặp lại con được nữa. Không lâu sau, công an được gọi đến. Họ giải tán đám đông hiếu kỳ rồi ập vào căn phòng nơi diễn ra cuộc sát hại. Dáng vẻ ai nấy đều thận trọng dè dặt vì họ nghe người gọi điện nói với giọng đứt quãng về "một tên sát nhân cuồng loạn". Khung cảnh khiến người ta muốn choáng ngất vì mọi thứ đều nhuốm máu, bên dưới hai xác người nằm im lìm, cơ thể ngập trong dung dịch màu đỏ. Nhưng khi nhóm công an lia mắt sang tên giết người thì gương mặt họ được vẽ lên bởi sự ngạc nhiên, là một cô gái ngoài đôi mươi đang ôm đứa trẻ tầm sáu tuổi. Cả hai có vẻ quyến luyến không rời. Trông cứ như thể đây là cuộc đoàn viên mỹ mãn, và nó thật đối lập với không gian chết chóc ghê rợn. Nhóm công an đứng tần ngần vài giây, thình lình nghe tiếng giục gấp gáp của ai đó trong đám đông đang hồi hộp quan sát sự việc: - Con nhỏ tóc ngắn giết người đó! Gì mà ác dữ vậy trời! Công an mau bắt nó nhanh đi, kẻo nó điên lên giết luôn đứa trẻ, tội nghiệp! Hai người công an bước đến kéo xốc Du đứng dậy, để hai tay cô ra phía sau. Hai người khác đẩy bé Oanh lùi ra. Không hề kháng cự, Du đứng yên như khúc gỗ, mặc công an tra còng số tám lạnh ngắt vào tay mình. Khi người ta cảm nhận rõ rằng mọi thứ kể từ giờ đã kết thúc thì hành động kháng cự chẳng còn ý nghĩa nữa. Du đờ đẫn, mất luôn cảm giác đau dù bị những bàn tay thô cứng bấu siết vào người mình. Về phía bé Oanh, nó ngó cảnh mẹ mình tự dưng bị ba bốn người đàn ông xa lạ dẫn đi, vẻ mặt ngẩn ngơ. Ngay chính nó cũng đang bị kìm giữ. Bé Oanh bỗng liên tưởng đến mấy câu chuyện cổ tích mẹ Du hay kể, về việc kẻ xấu xa thường bắt những đứa trẻ nhỏ đi mất. Tức thì, nó gào khóc giãy giụa: - Bỏ ra! Bỏ ra đồ xấu xa! Mẹ Du, cứu con! Mẹ Du ơi! Nghe bé Oanh vừa khóc vừa gọi, bấy giờ Du mới sực tỉnh, hồn trở lại xác kéo theo sự tỉnh táo quay về. Lập tức đưa mắt nhìn con gái, Du thảng thốt: - Oanh! Oanh à! Chờ mẹ nhé! Nhận thấy nữ tội phạm có ý muốn chạy đến chỗ đứa bé gái, hai người công an bên cạnh giữ chặt Du hơn, đồng thời kéo cô ra khỏi phòng. Đám đông đứng xem dần tản ra tránh đường cho công an áp tải tội phạm ra ngoài xe. Vài âm thanh bàn tán trỗi dậy khe khẽ như tiếng vỗ cánh vo ve của lũ ruồi muỗi bay khắp không gian bốc mùi tử khí nơi đây. Họ đang tự hỏi nguyên do gì khiến cô gái trẻ măng này xuống tay giết chết hai mạng người. ***** Tiếng chuông điện thoại đổ vang nghe đứt quãng, giữa căn phòng tĩnh mịch chìm trong bóng tối, cùng lúc bên ngoài sấm rền vang não nề. Chuông kêu dai dẳng khô khốc làm bật tung một giấc ngủ mơ màng chỉ vừa thiếp đi khoảng vài phút. Mí mắt cục cựa kèm theo âm thanh trở mình uể oải, Đồng Văn xoay người nằm ngay ngắn trên giường, nén chặt giấc ngủ mà khó khăn lắm mới đến với mình, trong từng nhịp thở đều đều. Văn mở mắt chớp chớp vài cái cho quen với bóng tối, lòng tự nhủ chẳng rõ chủ nhân cuộc gọi là quản giáo Ngà bên khu giam nữ hay quản giáo Thái bên khu giam nam. Văn nhanh chóng ngồi dậy, đôi mắt vừa mới mở đang cố tìm kiếm trong bóng tối đen kịt chiếc điện thoại bàn với từng hồi chuông réo rắt. Đưa tay chụp lấy, anh bắt máy. Giọng của quản giáo Thái đầy thúc giục bên kia, bảo rằng có một phạm nhân tinh thần không ổn định nên Văn hãy qua khu phòng giam. Văn đứng dậy, vớ lấy áo khoác dày màu xám, bước ra khỏi phòng bệnh xá. Bên ngoài mưa giăng lối mịt mùng khiến đêm tối càng thêm tối đen như mực. Không tiếng động nào tồn tại giữa chuỗi âm thanh va đập của hàng ngàn giọt nước lạnh giá buông xuống đất. Mưa trong Trại giam thường lạnh lẽo, rét mướt hơn bên ngoài rất nhiều. Màn mưa dữ dội cũng không làm Văn bận tâm khi cầm dù chạy băng qua khoảng sân rộng ngập nước lênh láng. Dọc theo dãy hàng rào ngăn cách, bóng đèn neon vàng vọt trên cao hắt ra thứ ánh sáng leo lét, trở thành ngọn hải đăng giữa đêm mưa bão. Mặc mưa đổ xuống chiếc dù dữ dội như cú đánh của người lực lưỡng, Văn tiếp tục lội nước mưa ngập gần đến nửa ống quần, bằng những bước hối hả đến phân trại số II. Cùng thời điểm đó, người công an ấn mạnh Vân Du ngồi xuống ghế. Họ đang tiến hành làm giấy cho phạm nhân nhập trại. Lúc họ ngồi trên xe áp tải, mưa rất lớn và bây giờ vẫn chưa thuyên giảm, tiếng mưa rơi lộp bộp trên mái tôn của căn phòng không quá rộng nhưng yên ắng đến ngột ngạt này. Mời các bạn đón đọc Án Tử Một Tình Yêu - The Death Of A Love của tác giả Võ Anh Thơ.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Chị Đào Chị Lý
Đây là một tác phẩm không quá bi kịch hay nổi bật so với nhiều tác phẩm khác. Nhưng câu chuyện toát lên một vẻ rất riêng. Một bà Ngọc tao nhã nhưng u buồn, một cô Đào vui vẻ, xởi lởi, một cậu Khánh điển trai, trí thức, một cô Lý nhạy cảm, dịu dàng và nhiều nhiều nhân vật mang màu sắc sinh động vô cùng. Tính triết lí trong truyện nói lên hệ luật nhân-quả, những gì mà bất cứ ai, ở bất cứ thời điểm nào cũng đều sẽ hành động như thế, cũng đều sẽ cảm nhận những hỉ nộ ái ố mà nhân vật trong truyện. Có lẽ “Chị Đào chị Lý” của Hồ Biểu Chánh là một trong số những truyện hiếm hoi mà tác giả viết màu sắc khá sinh động, không quá buồn như các tác phẩm khác và cũng không quá mang tính hài hước, một tác phẩm khá bình dị và mộc mạc về người Nam Bộ. Truyện là một chuỗi những sắc thái khác nhau của các nhân vật: bà Ngọc, cô Đào, cô Lý…Truyện là một bài học về cách đối nhân xử thế và để chúng ta hiểu thêm rằng “Gieo nhân nào, gặp quả nấy” vẫn là quy luật muôn đời. *** Có buồn rồi mới có được vui; có cực rồi, mới biết sướng. Bà Ngọc trải qua những nỗi buồn rầu cực khổ. Từ đây bà mới vui sướng mà sống với cảnh đời thân ái giữa con trai con gái với dâu rể hòa thuận một nhà. Có một điều làm cho người không hiểu tâm sự của con rể bà, họ có hơi thắc mắc, là Khánh kêu vợ là chị Đào mà Hoài cũng kêu vợ là chị Lý. Ai muốn hiểu sao tự ý, bà Ngọc cứ vui cười tối ngày." Hồ Biểu Chánh tên thật là Hồ Văn Trung, là một trong những nhà văn tiêu biểu nhất của Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930. Tiểu thuyết của ông bao quát những mảng hiện thực, những nét văn hóa đặc trưng của Nam bộ vào những thập niên đầu thế kỷ 20. Đó là sự tha hóa của con người trước sự lớn lên vùn vụt của đầu óc trọng thương, là số phận đáng thương của những thường dân rơi vào cảnh cùng quẫn, là những câu chuyện thế sự giàu chất nhân văn của những con người trên vùng đất mới... Lối viết bình dị, ngôn ngữ gần với lời nói thường ngày là một ưu thế khiến tác phẩm của Hồ Biểu Chánh chiếm được cảm tình đặc biệt của người dân Nam Bộ. *** Thường nghe người ta nói "vật hoán tinh di, tang điền thương hải" 1 : mấy lời ấy thiệt không sai. Khúc đường từ chợ Thị Nghè sang chợ Bà Chiểu mới có mấy năm nay mà nó nổi danh xóm Hàng Sanh rộn rực tưng bừng. Quang cảnh đìu hiu ngày trước đã biến thành quang cảnh náo nhiệt không thua gì Phú Nhuận, Hòa Hưng, Vườn Lài hay Xóm Chiếu. Hai bên đường nhà phố cất liên tiếp giáp hết không còn chỗ trống mà chen vô ở được nữa. Tối ngày thiên hạ qua lại dập dìu, lại thêm đủ thứ xe tranh nhau chạy rần rần không ngớt. Đến đây ai cũng nhớ cách lối ba mươi năm về trước những người giàu có với những khách tầm hoa, chiều chiều hay mướn xe cyclo đi hứng gió. Hễ đi vòng chợ Bà Chiểu mà qua khỏi chợ Thị Nghè, thì từ mũi tàu, là chỗ sở Trường Tiền dượt thi đặng phát giấy phép lái xe hơi, vòng qua tới Cầu Mới, là ranh Châu Thành Bà Chiểu, hai bên đường đều là ruộng rẫy sình lầy, quang cảnh vắng vẻ im lìm, giống như quang cảnh thôn quê đồng bái. Nếu ở Thị Nghè mà ngó thẳng xuồng cầu kinh Thanh Đa thì thấy mấy đám dừa nước xơ rơ, gió chiều thổi tàu lá xổng lên rồi oặt xuống như chào khách nhàn du, lại có mấy cây bần rạch đứng chần ngần theo mé xẻo 2 , dưới gốc lác mọc bao chung quanh như lác trìu mến không nở bỏ bần, còn bần như tiếc nước ròng nên đứng ngóng trông nước mau lớn lại. Xóm bây giờ người ta gọi là xóm Hàng Sanh đó thì ngày trước chỉ có vài ba cái chòi lá nhỏ, lại nằm cách xa nhau, có lẽ chủ cố ý giấu kín đời sống nghèo khổ của mình nên không chịu ở gần nhau, tránh cho khuất mắt dòm ngó của thiên hạ. Cái chòi dựa bên đuờng; gần ngã ba quanh qua Bà Chiểu tuy có một căn lúm túm, song coi cao ráo sạch sẽ hơn mấy cái ngoài xa kia. Trước chòi có cái sân nhỏ trồng rau dừa 3 hai bên, trổ bông đủ bốn mùa, bông trắng chen với bông đỏ, coi có vẻ vui vui một chút. Bên hè có cây đu đủ ngọn lên cao gần ngang đầu song, cổ có tới vài chục trái, dưới lớn bằng cái chén ăn cơm, trên nhỏ như trái cau ăn trầu, chủ nhà bữa nào cũng thăm chừng, chồng trông mau chín mà ăn, vợ tính để dành mà bán. Chòi nầy là chòi của anh Lê Văn Thái, cất với vợ là Nguyễn Thị Hòa hơn ba năm rồi, phía trong có lót cái chõng để vợ chồng ngủ, có bếp để nấu cơm ăn và có một cặp thúng một đôi gióng và một đôi quang gánh, để cho chị Hòa mỗi ngày đi kiếm mua thơm, mít, ổi, gánh ra chợ bán. Phía ngoài một bên có lót một bộ ván dầu 4 nhỏ để nằm chơi, còn một bên để bàn lóc nhóc, với hai cái ghế đẩu để có ai tới thì mời ngồi nói chuyện. Cái chòi như vậy mà vợ chồng anh Thái hãnh diện, nói chuyện với ai anh cũng khoe "nhà của tôi". Mà vợ chồng anh khoe cũng phải, chòi dầu lớn dầu nhỏ, dầu tốt dầu xấu, không phải cướp giựt của ai, cũng đủ cho vợ chồng ảnh đụt nắng đụt mưa mấy năm rồi, cũng là cái tổ êm ấm cho vợ chồng ảnh hẩm hút giữa thân yêu hòa thuận. Anh Thái làm bên sở Ba Son. Vì anh không phải là thợ chuyên môn về nghề nào hết, nên không lãnh tiền công theo thầy hay thợ đuợc. Anh biết chữ Việt rành. Anh viết chữ tốt, lại biết nói tiếng Pháp cột quẹt. Người ta mới giao cho anh phát thẻ cho thợ thuyền, kiểm điểm số công nhân đi làm mỗi buổi đặng biên rồi giao cho xếp rồi xớ rớ coi dọn dẹp nhà giấy vậy thôi. Công việc của anh làm thì nhẹ nhàng, khoẻ khoắn, nhưng tại như vậy người ta cho anh lãnh tiền công có 9 cắc một ngày mà chúa nhựt nghỉ thì không được ăn tiền. Anh cực có một việc là mỗi buổi anh phải có mặt trước giờ sở mở cửa và mãn giờ anh phải chờ thợ thuyền ra hết rồi anh sẽ về sau. May anh là người biết lo, lại anh nhờ có chiếc xe máy cũ cỡi đi làm, bởi vậy không bao giờ anh đi trễ. Còn chị Hòa là vợ anh thì chị bãi buôi nhậm lẹ, chị giỏi nghề mua bán, tay bằng miệng miệng bằng tay. Hễ xế chồng đi làm rồi thì chị khóa cửa quảy thúng đi mua trái cây gánh về để sáng đem ra chợ Thị Nghè ngồi bán, kiếm lời mỗi bữa 5-7 cắc hoặc 1 đồng phụ với chồng mà sống cho no ấm. Vợ chồng đồng tâm hiệp ý sống với nhau trót ba năm trong cảnh đời tuy không phải trưởng giả song luôn no ấm an vui. Thời may chị Hòa có thai, vợ chồng đều mừng, mừng vì có dấu tích về tình yêu của vợ chồng khắng khít. Tuy nhiên mà rồi lại phải lo, lo dành cho có sẵn một số tiền để cho vợ ăn đẻ. Chị Hòa lại lo hễ có con thì chị mắc nuôi con, làm sao đi mua bán mà kiếm tiền thêm. Thái lo tiện tặn đến nỗi khuya ăn cơm nguội hoặc mua xôi hay bắp ăn đi làm, chớ không dám ngồi quán ăn hủ tiếu uống cà phê như trước nữa. Chiều cũng vậy, hễ làm việc mãn giờ thì tuốt về nhà ăn cơm, chớ không dám ta bà ăn nhậu với chúng bạn. Đến chừng chuyển bụng, may có anh Thái ở nhà anh đưa vợ vào nhà bảo sanh Thị Nghè mà nằm. Chị sanh một đứa con gái mạnh mẽ. Mới được một đứa con đầu lòng, dầu gái hay trai không cần, vợ chồng đều mừng rỡ, đặt cho con tên Đào, là tên một trái quí. Nhờ vợ chồng lo trước, nên chị Hòa đi sanh trong túi có sẵn 40 đồng bạc, khỏi bối rối chi hết, nhà nghèo nếu sanh mạnh giỏi thì nằm ba bốn bữa rồi thường người ta bồng con về. Tuy Hòa khoẻ khoắn, ăn cơm biết ngon, đủ sữa cho em bú, Thái muốn vợ nằm lâu cho có người săn sóc lại cô mụ cũng nài ép nằm cho đủ tám bữa, em rụng rún rồi sẽ về lại càng tốt hơn, bởi vậy Hòa ráng nằm cho đủ 6 bữa đi đứng cứng cát rồi chị cứ đòi về nhà nằm cho thong thả và lo cơm nước cho chồng. Thái phải chiều theo ý vợ mà thiệt anh cũng muốn vợ con về nhà đặng sum hiệp cho vui. Anh mới đóng tiền nhà thương và đền ơn cô mụ rồi kêu xe kéo rước vợ con về, trong túi còn được 9, 10 đồng bạc lại còn 6 bữa nữa tới kỳ lãnh tiền nên không lo gì lắm. Trót một tuần đầu vợ chồng vui vẻ cực điểm. Thái đi làm về hễ thấy con thức thì giành với vợ đặng bồng mà nựng nịu; còn nếu con ngủ thì đứng chống tay mà nhìn, thấy vợ còn non ngày anh không cho làm việc chi hết, mỗi bữa đi làm về anh ghé chợ mua thịt cá hoặc khô mắm đem về rồi phụ kho nấu đặng vợ chồng ăn với nhau. Mắc mừng vui với đứa con nằm ngoa ngoe, ngủ thì mụ bà dạy cười, thức thì huơi tay chòi cẳng, vợ chồng say sưa hạnh phúc, quên hết cảnh hẩm hiu, bần hàn. Vui được chừng mươi bữa, rồi không hiểu tại sao mà chị Hoà ăn cơm không biết ngon, lại còn thêm chứng nóng lạnh. Thái mua thuốc hoàn thuốc tán cho vợ uống mấy bữa không thấy công hiệu chút nào. Anh biểu vợ phải bồng em ra tiệm thuốc cho thầy coi mạch đặng hốt thuốc thang mà uống. Chị Hòa nói sợ tốn tiền nên nói đau sơ sịa ít bữa rồi mạnh, cần gì phải uống thuốc. Đã không có thuốc bổ để tiếp dưỡng sức khoẻ lại thêm nóng lạnh, miệng đắng nên mỗi bữa ráng lắm mới ăn được một chén cơm mà thôi, tự nhiên chị Hòa phải ốm, nước da phải mét. Mà đàn bà cho con bú hễ thiếu sức khoẻ thì sữa phải giảm. Sữa của Hòa lại giảm nhiều. Con nhỏ sanh tuy mới 20 ngày, nhưng không có đủ sữa cho nó bú nên ban đêm nó thức khóc hoài, làm cho Hòa phải bồng nó ngồi mà dỗ. Thái thấy vợ bịnh mà nghỉ không được nên mặc dầu không có tiền nhiều, đến chúa nhựt anh ép vợ bồng con đi với anh ra tiệm thuốc đặng thầy coi mạch hốt thuốc thang cho vợ uống. Uống liên tiếp ba bốn thang mà bịnh vẫn còn bịnh. Anh Thái đem toa ra than phiền với ông thầy thuốc. Ông đổi toa mới và uống luôn ba thang nữa, bịnh cũng trơ trơ, trưa cũng en en lạnh trùm mền rồi nóng ăn cơm không biết ngon, không đủ sữa con bú. Mỗi buổi đi làm về, Thái thấy vợ đau rề rề con khóc nhề nhệ, anh châu mày nhăn mặt, đi vo gạo nấu cơm, mà bận lòng rối trí muốn điên. Trong túi còn có mấy đồng bạc, nhưng ăn cơm rồi anh tuốt ra chợ mua một hộp sữa bò, một cái ve với cái núm vú rồi đem về khuấy sữa đổ vô ve cho con bú. Con nhỏ khát sữa nên nó chầm bú no bụng rồi nằm êm mà ngủ. Thái khuấy luôn một chén nữa rồi bưng ra ép vợ uống, anh ta nói ăn cơm không được thì uống sữa nó bổ cũng như cơm. Mời các bạn đón đọc Chị Đào Chị Lý của tác giả Hồ Biểu Chánh.
George Sand
Dịch giả : Đặng thị Hạnh và Lê Hồng Sâm Dịch nguyên bản tiếng Pháp George Sand   Cuốn sách này xuất bản trong khuôn khổ «  Chương trình hợp tác xuất bản, đưọc sự giúp đỡ của Trung tâm Văn hóa và Hợp tác Đại sứ quán Pháp tại nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam (Cet ouvrage, publié dans le cadre du Progamme de participation à la publication, bénéficie du soutien du Centre Culturel et de Coopération de l’Ambassade de France en République Socialiste du Vietnam) Béatrice Didier là một giáo sư trường Đại học Sư phạm ( Phố Uhm, Paris) ; tác giả của nhiều tiểu luận ( Nhật ký thầm kín, văn viết - phụ nữ… ) về văn học Pháp thế kỷ XVII và thế kỷ XIX, đặc biệt về Stendhal và George Sand. Năm 1998 bà đã xuất bản ở PUF một tác phẩm, đầu đề lấy nguồn cảm hứng từ Flaubert : George Sand. Một giòng sông lớn châu Mỹ. bà là người chủ trì việc xuất bản toàn tập George Sand ở Honoré Champion, một công việc từ trước tới nay chưa bao giờ được thực hiện. George Sand «Với tư cách người sáng tạo ra kiệt tác, bà là người thứ nhất trong giới phụ nữ, bà có thứ hạng độc nhất đó, trên phương diện nghệ thuật, không phải chỉ của thời đại chúng ta mà của mọi thời đại; bà có trí tuệ mạnh mẽ nhất và cũng đáng yêu nhất đã được trao tặng cho giới của bà. Thưa Bà, bà làm vẻ vang cho thế kỷ và cho đất nước chúng ta […] Tôi xin cảm tạ bà vì đã là một tâm hồn lớn lao đến thế”. VICTOR HUGO, Thư gửi George Sand, Paris 19 tháng sáu năm 1875 ° ° ° Beatrice Didier là giáo sư trường Đại học Sư phạm (phố Uhm, Paris); tác giả của nhiều tiểu luận (Nhật ký thầm kín, Văn viết - phụ nữ...) về văn học Pháp thế kỷ XVII và thế kỷ XIX, đặc biệt về Stendhal và George Sand. Năm 1998 bà đã xuất bản ở PUF một tác phẩm, đầu đề lấy nguồn cảm hứng từ Flaubert: George Sand. Một giòng sông lớn châu Mỹ. Bà là người chủ trì việc xuất bản toàn tập George Sand ở Honoré Champion, một công việc từ trước tới nay chưa bao giờ được thực hiện.   Mở đầu Ai sợ George Sand ? Các phản ứng khó thương của một Baudelaire có lẽ là bắng chứng rõ ràng nhất về nỗi lo âu do bà gây nên. Trong một thời gian dài người phụ nữ - tác giả đã khiến người ta sợ, đặc biệt nếu người ấy chẳng chịu thôi làm phụ nữ. Ngay từ đầu vinh quang của bà đã có vầng hào quang tai tiếng bao quanh.  Điều này có vẻ đáng ngạc nhiên, bởi rốt cuộc thì trong thế kỷ XVIII của chúng ta, đông đảo nữ văn sĩ từng có tình nhân ; nhưng giữa thời gian ấy đã diễn ra cuộc Cách mạng, rất ít chú ý đến nữ quyền, cần phải thừa nhận như vậy : sau đó nền Đế chế, thời Trùng Hưng và triều đại Louis –Philippe biểu thị bước thoái bộ rất rõ trong việc giải phóng phụ nữ. Và dư luận công chúng, ở thế kỷ XIX, với sự phát triển của báo chí, các phương tiện trung gian để làm rùm beng vụ tai tiếng, những phương tiện mà thế kỷ trước không có. Trong một thời gian dài nền phê bình văn học, chịu ảnh hưởng của dư luận này, cứ khăng khăng thấy George Sand là người tình của Musset hay của Chopin, thay vì thấy bà là một đại văn hào, như chúng ta hiện nay. Điều đó lý giải tình trạng tương đối thất sủng của sáng tác George Sand. Tuy nhiên, sinh thời bà, một Balzac, một Flaubert và nhiều bậc khác coi bà là đồng đẳng với mình. Tại nước ngoài ảnh hưởng của bà hết sức lớn lao, thí dụ như với Dostoievski và với tiểu thuyết Nga, cả với tiểu thuyết Ý. Bà từng được việndẫn bởi tất cả những phụ nữ nhìn thấy ở bà một ngưòi giải phóng. Trong những năm đầu thế kỷ XX, Alaine và đặc biệt Marcel Proust coi bà là một đại văn hào. Sau đó, nhờ nhiều công trình từng in dấu ở nửa sau thế kỷ, hình ảnh của George Sand và công trình của bà đã định hình rõ rệt. Trước hết chúng ta hãy tỏ bày niềm kính trọng đối với việc xuất bản Thư Tín do Georges Lubin phụ trách, gồm hai mươi sáu tập dày, cho phép chúng ta xem xét cuộc sống của George Sand ngày này qua ngày khác, cuộc sống khác hẳn với những sự đơn giản hóa mà bà là nạn nhân, cho ta thấy khả năng làm việc khó tin nổi và theo dỏi công việc sáng tác của bà trong những nét lớn. Chúng ta cũng lưu ý cả nỗ lực đã được thực hiện trong lĩnh vực xuất bản, tuy vẫn còn chưa đủ. Cho đến nay chưa nhà xuất bản nào ấn hành một bộ tổng tập : Honoré Champion là nhà xuất bản đầu tiên khởi sự công trình này, sẽ phải được tiến hành trong nhiều năm. Các trường đại học đã đi vào nghiên cứu văn hào một cách nghiêm túc : trường Đại học Grenoble, với các công trình của..Cellier và L.Guichard, được học trò của các ông tiếp nối, trường Đại học Vérone, với A. Poli, các trường Đại học Paris VII, Amsterdam, Hanovra, các trường Đại học Mỹ … Tuy vậy vẫn còn rất nhiều việc cần làm.   Tiểu thuyết của George Sand, được viết với sự dung dị mà người ta thường chê trách bà, dễ đọc ; tuy nhiên nắm bắt toàn thể công trình của bà lại khó, trước hết do tầm rộng lớn của nó. Rất hiếm người có thể tự phụ là đã đọc chín mươi cuốn tiểu thuyết, các tác phẩm tự thuật, kịch, các bài báo, thư từ trao đổi của bà : giá như muốm làm, phải bỏ vào đó cả cuộc đời. Cho nên người ta thích tái bản những gì tất cả mọi người đều biết, thí dụ như các tiểu thuyết gọi là « đồng nội », và bỏ qua phần kịch, bị đánh giá nhầm lẫn là khó diễn. Tự giới hạn ở vài hình ảnh về George Sand do các thế hệ trước truyền lại thì dễ hơn: người đàn bà định mệnh, rồi « bà phu nhân hiền hậu của Nohant ». Trong chừng mực bà từng gây ra và còn đang gây ra những cách lý giải say sưa sôi nổi, lại cũng khó có được một cái nhìn tương đối khách quan và đừng phóng chiếu lên bà các sơ đồ của thế kỷ XXI chúng ta. George Sand nhà đấu tranh vì phụ nữ ư ? Một số người sẽ cho rằng bà đấu tranh chưa đủ. Sáp nhập bà với các nhà đấu tranh vì phụ nữ những năm 1970 là một việc làm nguy hiểm : sự giải phóng phụ nữ mà bà yêu cầu xét cho cùng khá hạn chế, khi sẵn sàng chấp nhận là những người phụ nữ thuộc mọi đẳng cấp xã hội không có cùng một phận vị. Nhưng cần đặt cuộc đấu tranh của bà vào thời đại bà, chứ không phải thời đại chúng ta. Georges Sand xã hội chủ nghĩa, bạn của Pierre Leroux, ủng hộ 1848, thậm chí tham gia hoạt động trong đó ? Nhưng người ta sẽ thấy chủ nghĩa xã hội ấy là rụt rè, người ta sẽ chê trách thái độ của bà trong thời kỳ Công xã. Cả ở đây nữa, cũng cần xác lập lại các viễn cảnh : năm 1848 và năm 1871 tuổi bà đã khác đi: bà đã sống ngày này qua ngày khác những biến cố mà chúng ta biết một cách tổng quát và theo phương pháp quy nạp, đối với những biến cố đó chúng ta có thể có một cách nhìn khác với những người đương thời. Một điều cũng gây khó nghĩ, đó là trong cuộc sống thọ của bà, George Sand đã tự đổi mới, đã ứng dụng những thể loại rất khác biệt và thật khó đưa bà vào các phạm trù đã định giới hạn. Bà từng được một công chúng hết sức rộng rãi đọc trong suốt thế kỷ XIX. Bà có là nhà sáng tạo những hình thức mới hay không ? Nhiều hơn người ta nghĩ. Bà có quan tâm đến bút pháp, hay như người ta từng khẳng định, bà viết những gì lướt qua óc mình ? Việc nghiên cứu các bản thảo chứng tỏ rằng, dù không chữa kỹ lưỡng như một Flaubert, song bà dụng công, chỉnh sửa, nâng cao, hơn người ta thường bảo rất nhiều. Các bạn đã đọc George Sand chưa? Cuốn sách nhỏ này muốn xui bạn hãy làm điều đó và đặc biệt là hãy phiêu lưu ngay (nếu việc đọc toàn bộ hầu như bất khả thực hiện) đến với những tác phẩm ít nổi tiếng hơn. Như thế bạn sẽ có được một khái niệm về sự phong phú, về tính đa dạng, về chất quảng đại trong văn chương của người được Flaubert ví với “một dòng sông lớn châu Mỹ”. Chú ý đến tác phẩm hơn là cuộc đời, chúng tôi sẽ theo trật tự thời gian trên những nét lớn, nhưng đồng thời có những tập hợp về thể loại để giúp nắm bắt đồng thời cả tính phức hợp cả sự nhất quán của công trình.   *** George Sand ưa nhấn mạnh sự kiện là do chính nguồn gốc gia đình mà bà thuộc về hai giới hết sức khác biệt. Giới quý tộc về bên nội, giới bình dân về bên ngoại. Vào thời kỳ hậu – cách mạng mà người ta mơ hòa giải xã hội, bà thấy nguồn gốc của mình như một biểu trưng cho sự liên kết các cực, cho phép bà thừa kế mọi tiềm năng của một  dân tộc. Amandine – Aurore – Lucile Dupin sinh ngày 12 tháng Messidor năm XII (1 tháng Bảy năm 1840) ở số nhà 15 (ngày nay là nhà số 46) phố Meslée hay Meslay, tại Paris.  Về bên nội, Aurore là dòng dõi của Maurice de Saxe, vị anh hùng trận Fontenoy và của nhiều chiến thắng khác, sau thành Thống chế nước Pháp. Ông có với Marie Rainteau một con gái ngoài giá thú: đó là bà nội của George Sand; được nuôi dạy tại nữ học hiệu Saint – Cyr, bà kết hôn với Louis Claude Dupin de Francueil, sáu mươi mốt tuổi khi bà hai mười chín, và sống với ông rất hạnh phúc, như sau này bà tâm sự với cháu gái. Xuất thân từ giới đại tài chính, ông qua đời trước Cách Mạng ba năm, để lại cho bà một gia sản khá lớn. năm 1793, bà tậu cơ ngơi Nohant, nhưng có bị giam giữ ít lâu dưới thời Khủng bố. Con trai bà, Maurice Dupin, sinh năm 1778, ước mơ vinh quang trong ngành quân sự và gia nhập đội Cộng Hoà. Anh lập công trong cuộc viễn chinh sang Ý, đặc biệt ở Marengo. Cũng ở bên ý, Maurice gặp Antoinette Sophie – Victoire Delaborde, bấy giờ đang là tình nhân của một chuẩn tướng. Nguồn gốc tầm thường, quá khứ hơi lộn xộn của thiếu phụ khiến Maurice giữ bí mật việc kết hôn tiến hành ngày 5 tháng Sáu năm 1804, một tháng trước khi George Sand tương lai chào đời. Sự nghiệp quân sự của Maurice Dupin tiếp tục cùng Đại quân: các cuộc viễn chinh sang Bavière, sang Phổ, sang Ba Lan và Tây ban Nha (ở đó Maurice là trợ lý cho hoàng thân Murat). Người vợ, lại có mang, sang Tây Ban Nha với chồng cùng cô bé Aurore 4 tuổi. Vậy là George Sand, cũng như Victor Hugo, có tuổi thơ in dấu của bản anh hùng ca Napoléon và của cuộc chiến khủng khiếp tại Tây Ban Nha. Những hình ảnh không thể nào quên đã khắc sâu vào ký ức những đứa trẻ còn rất non nớt về sau sẽ trở thành các đại văn hào lãng mạn chủ nghĩa. Cuối tháng 7 năm 1808, trở về Nohant, tiếp theo là hai biến cố đau thương: tháng 9, em trai George Sand chết, được một tháng tuổi, rồi đến người cha, vì ngã ngựa ở gần La Châtre. (vùng Creusse) Sau này nhà văn sẽ dành một phần lớn trong Truyện đời tôi để kể câu chuyện của cha mẹ, nhất là người cha? Sự hòa hợp các tầng lớp xã hội mà Sand mơ ước, bà đã cảm nhận những khó khăn ngay từ thời thơ ấu, và cảm nhận một cách đau đớn. Bà Daupin de Francueil, muốn đảm trách việc giáo dục cô bé, đã khiến người mẹ từ bỏ quyền giám hộ. George Sand tương lai sống thời thơ ấu ở Nohant, với các cuộc đến thăm ngắn ngủi của mẹ, và những khi bà nội nghỉ đông tại Paris thì cô bé gặp mẹ nhiều hơn. Cô bé thấy mình bị giằng xé giữa hai người thể coi là hai bà mẹ, cô yêu mến cả hai, nhưng cảm nhận được sự thù địch sâu xa giữa họ. Cho nên bộ tự truyện sau này sẽ bị lôi kéo bởi những nẻo đường khác nhau: lý tưởng hóa mối tình của bố mẹ, thiên tình sử bên Ý và sự ra đời của mình (“Ngày hôm ấy mẹ tôi mặc một tấm áo dài đẹp màu hồng, còn cha tôi đang chơi vĩ cầm Crémone của ông”, một truyện thần tiên), nhưng cũng diễn tả cả nỗi đau thực sự sau này của mình và biện hộ cho mẹ về việc hầu như bỏ rơi con, sự bỏ rơi có lẽ do ưu thế kinh tế của bà nội nhiều hơn là do điều mà Sand không thể hình dung nổi như thái độ thờ ơ. George Sand, nhìn chung thường ít gạch xóa bản thảo, để lộ niềm bối rối này qua cách viết đầy khăn khoăn dằn vặt ở những đoạn liên tưởng đến mẹ. Nhà văn cũng muốn, một cách hết sức công bằng, bộc bạch món nợ đối với người bà mà tính cách mạnh mẽ đã in dấu lên mình. Nhờ bà nội; George Sand được biết chế độ cũ, về mặt thời gian hãy còn rất gần, nhưng sự đứt đoạn là Cách mạng đã đột ngột đẩy lùi thật xa vào dĩ vãng. Ngoài ra, Nohant là chốn buông neo đích thực của Sand. Bà sẽ du hành, bà sẽ ở Paris, nhưng giống như Antée, bà luôn cảm thấy cần lấy lại sức mạnh từ mảnh đất của thời thơ ấu nơi mà sau này bà muốn sẽ là chốn yên nghỉ cuối cùng cho mình. Chính từ Nohant mà bà cảm thấy niềm say mê đối với miền quê và chính xác hơn là đối với miền Berry, sẽ là khung cảnh cho nhiều tiểu thuyết của bà. Cũng từ nơi đây mà bà có được sức khoẻ cường tráng ít khi suy giảm. Jean Louis François Deschartres, trước kia là gia sư của người cha, trở thành gia sư cho cô con gái, và sự đào tạo về trí tuệ của Aurore, mặc dù lộn xộn đôi chút, về tổng thể vững vàng hơn sự đào tạo mà đa số các cô gái thời đó được hấp thụ. Thư viện của bà nội, người từng quen biết Jean Jacques Rousseau, có nhiều sách, và cô bé thỏa mãn được niềm đam mê đọc sách sẽ bền vững nơi cô. Bà nội chơi phong cầm và hát; chính nhờ bà mà Sand có được cơ sở của một sự giáo dục về âm nhạc nghiêm chỉnh hơn sự giáo dục của rất nhiều nhà văn lãng mạn. Nhưng trong Truyện đời tôi, bà chú ý nhắc nhở rằng mẹ bà thuộc một gia đình bán chim, rằng con chim như một vật tổ của bà: bà nội, đó là âm nhạc bác học, mẹ, đó là âm nhạc của thiên nhiên, cả âm nhạc dân gian nữa; chúng ta sẽ gặp lâi hai phương diền này của lĩnh vực âm nhạc trong sáng tác của bà, và chúng ta sẽ thấy Consuelo hoà giải các phương diện đó ra sao. Mời các bạn đón đọc George Sand của tác giả Beatrice Didier.
Cô Gái Chúc Sơn
Mới hạ tuần tháng chín, trời chưa hẳn sang đông mà đã giá căm căm. Trên mặt sông lạnh tanh từ sáng đến trưa, con đò ngang mới chở được vài ba chuyến, mỗi chuyến lèo tèo dăm sáu người. Cảnh ngược xuôi tấp nập trên đường đê rộng thênh thang lượn dài theo con sông Đáy cũng không còn nữa. Trong túp lều tranh nhỏ xíu dựng nép bên đường, bà hàng tóc bạc phơ buồn bã ngó con đê vắng ngắt, giòng sông lạnh lẽo với con đò bơ vơ. Ngồi co ro trong tấm áo bông cánh còn mới, bà cụ chít lại chiếc khăn vuông nâu cho thật kín và nhớ lại những ngày đông vui đã qua. Nào mấy bà người làng te tái từ dưới bến lên vào uống bát nước chè tươi cho ấm bụng, nào mấy ông khách buôn, tay nải khoác chĩu một bên vai, sà xuống ghế làm một cút 1 rượu nhắm với đĩa lòng béo ngậy… Bà cụ nhớ cả những tiếng dép da trâu lẹp kẹp trên mặt đường, những tiếng nói chuyện ồn ào của những ông lái, bà lái không bao giờ ghé vào trong quán. Họ phải gồng gánh nặng và luôn luôn phải chạy gằn từng thôi 2 thẳng cho kịp giờ họp chợ. Nhớ cả đám trẻ con nô đùa dức lác… Chỉ có nghịch, chỉ có phá, nhưng mà vui. Còn bây giờ, nguyên cả một nồi chè đậu đãi chưa ai động đến với già nữa chõ xôi ngon thật là ngon. Cứ cái cung cách này chắc tối nay cả nhà phải ăn xôi chè trừ bữa… Có tiếng vang lên cùng với tiếng chân người bước tới. - Có nắng rồi !... Cũng sắp có đò nữa ! Hai người đàn ông hăm hở bước vào trong quán. Cả hai cùng cao lớn, vạm vỡ. Nét mặt và cử chỉ cùng lanh lợi. Và họ cùng đảo mắt xoi mói khắp nơi trong quán hẹp trước khi bóc mấy tấm bánh nếp ra ăn. Họ chỉ đưa mắt cho nhau chứ không nói chuyện bằng lời và chỉ ậm ự khi bà hàng đon đả mời họ dùng thêm thứ này thứ khác. Dưới sông, con đò đã gần sang tới bến. Họ trả tiền, đứng dậy. Mấy chiếc lá gói bánh bay lào xào, đuổi nhau trên mặt đê. Bà hàng ngước mặt lên nhìn khách : - Hai ông sang đò ? - Phải ! Đó là tiếng nói độc nhất mà một trong hai người đã miễn cưỡng buông ra trong quán nước. Y có một bộ râu quai nón khá đẹp. Họ bước xuống con đường dốc. Một tên ngoái lại nhìn thấy có ba người từ phía nam đi tới sắp bước vào trong quán. Bà hàng vồn vã : - Mời ba ông vào nghỉ chân sơi nước. Nắng xiên khoai chiếu vào đầy quán. Cả chủ lẫn khách khoan khoái ngâm mình trong ánh vàng ấm áp. Bà hàng một tay vươn ra lật ngửa mấy chiếc bát ở sát mép chõng, một tay ngoái ra đàng sau cầm cái gáo dài múc nước chè tươi rót cho khách. Hình ảnh ngộ nghĩnh y như một người đang quờ quạng bơi trong nắng. Bà suýt soa : - Mới tháng chín mà trời đã rét ngọt ! Đi đường lúc này chắc vất vả lắm, thưa ba ông ? - Phải !... Hàng có gì ăn không, bà cụ ? Ông khách có gương mặt nho nhã nhất lên tiếng hỏi. Bà hàng ân cần đáp, vẻ mừng hiện rõ trên đôi môi ăn trầu cắn chỉ 3 : - Thưa có ạ. Xôi lạc ngon lắm. Cả chè đậu đãi nữa. Xôi tôi để nguyên trong chõ, nóng hôi hổi. Để tôi cơi 4 ra đĩa, ba ông sơi thử. Người cao lớn nhất ngồi ngoài cùng cười nói oang oang : - Thôi, bà cụ cơi cho ông thầy tôi đây một đĩa xôi và hai chén chè là đủ. Còn bao nhiêu bà cụ cứ để đấy, hai anh em tôi lo cho. Hai người lực lưỡng như hai ông hộ pháp ăn như rồng cuốn nước trước sự ngạc nhiên và mừng rỡ của bà hàng. Tuy nhiên, những gì xẩy ra chung quanh cũng không qua được tai mắt họ. Dưới bến, chiếc đò ngang đã tới. Cô lái, người cao dong dỏng, cắm chiếc sào dài xuống đất cho thuyền ghé sát bờ. Khách quá giang ngưng bặt câu chuyện đang nói dở khi họ thấy hai người bịt khăn tùm hụp từ mặt đê xuống tới nơi. Họ lên bờ, lặng lẽ. Tên có hàm râu quai nón nhẩy tót xuống thuyền, nhẹ như chiếc lá. Mặt y lầm lì trong khi gã bạn đồng hành nhe hàm răng trắng nhởn cười nham nhở và làm bộ quờ quạng nắm cổ tay trắng nõn của cô lái như phải có một điểm tựa mới bước được lên thuyền. Sợ hãi, người con gái vội rụt tay lại và kéo theo luôn cả con sào. Mũi thuyền quay ngang hắt tên vô lễ lăn tòm xuống nước. Tiếng cười khoái trá vang trên mặt đê. Cười lớn nhất là hai ông khách ăn mạnh như hùm trong quán. Ông khách nho nhã vuốt chòm râu đen nhánh khen : - Hà hà ! Cô bé cũng là tay đáo để đấy chứ, phải không hai chú ? - Dạ. Thân thủ 5 khá lắm. Người thứ hai tiếp lời : - Còn phải nói ! Con gái Chúc Sơn mà ! - Ờ, trông cách cô bé gỡ tay rồi bước xéo chân khiến cho con thuyền tạt ngang, êm cứ như ru, cũng biết cô bé có nghệ chân truyền. - Vâng. Ngón nghề cô bé vào hạng cừ khôi đó, thưa thầy. Bà hàng bỗng thấy cao hứng, tươi cười nói xen vô : - Con gái họ Hoàng mà, thưa ba ông. Lúc thường thì ăn nói dịu dàng, dễ thương hết sức. Nhưng lúc cần dụng võ thì, nói ba ông bỏ lỗi, con trai lực điền cũng không bằng. Ông khách ngồi ngoài cùng ngó xuống mé sông, thích chí cười ha hả : - Chả thế mà hai tên kia biết thân phải ngồi yên một phép ! - Rét mướt thế này mà tên kia ướt như chuột lột… Kìa, cu cậu phải ngồi thu hình vào một xó cho đỡ lạnh, trông thảm hại chưa ! - Cho thế mới đáng đời ! - Hai đứa cũng là tay võ nghệ, sao chúng không gây sự nhỉ ? Bà hàng tươi cười giải thích : - Chúng nó không dám đâu ông ơi ! Một thằng là người làng làm chó săn cho giặc. Tôi nhận ra ngay khi nó mới bước chân vào trong quán. Còn thằng kia là Tầu. Đánh nhau trên bộ không biết sao, chứ giở giỏi ra trên thuyền thì chết với cô gái. - À, ra thế ! Có phải cô ấy là cô Sơn Ca không bà cụ ? Bà hàng ngạc nhiên : - Phải. Mà sao ông biết ? - Chúng tôi nghe người ta đồn. Bà hàng nhỉ, sao từ nẫy đến giờ, không thấy cô ta hát ? Nở một nụ cười cởi mở khi thấy hai ông hộ pháp đã ăn sạch nhẵn cả chõ xôi lẫn nồi chè, bà hàng kể rành rọt : - “Sơn Ca” không phải là tên thật cô ấy đâu, ông thầy ạ. Tên thật cô bé ấy là Mai, con ông Hương trưởng Tùng. Ngày nhỏ, nó hay hát, hát véo von suốt ngày nên người làng gọi đùa là con Sơn Ca, lâu dần thành tên. Nhớn lên, thấy nước nhà hoạn nạn, giặc lại hay sục sạo làm điều càn rỡ, bọn con gái biết lo không cười đùa ca hát nữa. Họ theo gót cha anh tập võ. Cụ Cử Chúc Sơn khen con bé Sơn Ca giỏi vào hạng nhất nhì làng tôi đấy. Ba thầy trò chưa kịp gợi chuyện thêm, bà cụ đã ướm lời hỏi trước : - Tôi già nua lẫn cẫn hỏi thế này khí không phải, ba ông bỏ lỗi cho nhé. Nghe nói ở đường trong, Bình Định Vương đã đánh đến Tây Đô 6 chả biết đến bao giờ Người mới dẹp được Đông Quan 7 để cho con dân được yên ổn làm ăn ? Ông khách nho nhã cười khiêm tốn đỡ lời : - Ấy chết ! Sao cụ lại hỏi chúng tôi điều ấy ? Chúng tôi cũng là con nhà làm ăn buôn bán như cụ, biết đâu được những việc xa xôi. - Các ông giấu già này cũng chả được. Nhác trông một cái già biết liền. Có điều già muốn nói ra hay không nói ra mà thôi. Này nhé, ba ông là người ngoài ta nhưng ở lâu trong ấy, giọng đã hơi nặng, tinh ý một chút là nhận ra ngay. Bàn tay của ông thầy trông xa cũng thấy là bàn tay cầm bút. Còn hai ông đây đúng là hai ông hổ tướng. Đố ai dám bảo các ông là người buôn bán hay làm việc thổ mộc 8 ! Một người tấm tắc khen : - Bà cụ vậy mà cũng biết xem tướng nữa cơ đấy ! - Chẳng qua là thói quen đấy thôi, các ông ạ. Chả là tôi bán quán đã lâu, khách cũng đông, mỗi người một vẻ, chả ai giống ai, mà tôi nhận xét ít khi lầm lẫn. *** Chân Phương là tác giả, nhà thơ, hiện sống tại Hoa Kỳ. Tác phẩm đã in (dưới bút hiệu Phương Sinh): Chú thích cho những ngày câm nín (1992), Bản án cho các vĩ cầm (1992), Nghĩa đen (1993), Bổ túc lý lịch cho loài di dân (1994) và Biển là một tờ kinh (1996). Mời các bạn đón đọc Cô Gái Chúc Sơn của tác giả Chân Phương.
Chờ Em Đến San Francisco
Truyện viết về Sài Gòn những năm 1980, qua suy nghĩ, qua hồi ức của một nhân vật nay đã là một phụ nữ trưởng thành. Truyện cũng xen vào những bối cảnh rất hiện đại ở các quốc gia châu Âu và Mỹ. Các địa danh như Chicago và San Francisco cũng được nhắc đến nhiều trong truyện. Đọc "Chờ em đến San Francisco", bạn đọc sẽ một lần nữa, được trở lại với Sài Gòn xưa, với những con người xưa và những tình cảm thiêng liêng một khi đã bước vào thì rất khó dể thoát ra...Một kết thúc mở cho cuộc tình giữa một cô gái với 2 chàng trai, cô sẽ lựa chọn ai?... "Một cô gái nuôi dưỡng tình cảm si mê của mình suốt hai mươi năm trời, tưởng không thể gặp lại người trong mộng. Nhưng một ngày, người tình thời thơ ấu đột ngột trở lại. Cô sẽ làm gì để giữ được tình yêu cũ trong khi tim cô cũng đang rối bời vì một người đàn ông khác vừa xuất hiện. Những chuyến bay, những khung cảnh lãng mạn của Paris, Chicago... và đặc biệt là khung cảnh Sài Gòn của hai mươi năm trước bồng bềnh hiện ra, xen giữa câu chuyện tình nóng bỏng." *** Review Nguyễn Ngọc Ánh Bạn có tin vào duyên số không? Những cuộc gặp gỡ, những mối tình, những kỷ niệm xen lẫn nụ cười và nước mắt,… cùng tất cả những thứ mà bạn đã nếm trải trên cuộc đời này, chúng đều là duyên số. Tôi đã nghe ở đâu đó nói rằng “Kiếp trước phải quay đầu nhìn nhau 500 lần, kiếp này mới có duyên gặp gỡ hay ở cạnh nhau”. Và tôi tin vào duyên số mà ông trời đã sắp đặt. Tôi tin một ngày nào đó, chúng ta – những người yêu nhau, dù có cách xa hàng nghìn cây số rồi cũng sẽ trở về bên nhau. Có lẽ, Dương Thụy cũng vậy khi xây dựng tình yêu của nhân vật An và Bình trong cuốn sách “Chờ em đến San Francisco”. Dương Thụy đã nhắc trong Lời nói đầu rằng “Cuốn sách này không dành cho những bạn đọc tuổi teen hay những bạn trẻ dưới ba mươi tuổi” và tôi cũng không phải đối tượng của cuốn sách này. Thế nhưng, tôi vẫn khuyên các bạn nên đọc, cho cái tuổi trẻ “thanh xuân” đang tràn ngập, cho cái thời áo trắng ngây ngô nhưng khao khát tình yêu. Cuốn sách là một câu chuyện nhẹ nhàng và lãng mạn như nước Pháp, pha chút bồng bột của tuổi trẻ, nhưng vẫn rất đáng yêu và chân thành. Mạch kể câu chuyện đan xen giữa những ký ức trong quá khứ và hiện tại qua suy nghĩ cùng hồi ức của nhân vật nữ chính nay đã là một phụ nữ trưởng thành. Đọc “Chờ em đến San Francisco”, bạn sẽ được sống lại thời bao cấp ở Sài Gòn vào những năm 80 của thế kỷ trước, khi cuộc sống còn nhiều thiếu thốn nhưng tình người thì vô cùng bao la. Dưới ngòi bút của Dương Thụy, một Sài Gòn rất khác, một Sài Gòn hào hoa, không quá nhộn nhịp mà gần gũi hơn, Sài Gòn những ngày nắng và trái tim của một cô gái với những rung động đầu đời nhưng cuối cùng cũng có một kết thúc tốt đẹp. Các ký sự về hành trình châu Âu, châu Á không những cung cấp kiến thức về con người, văn hóa, lịch sử của nơi đến mà còn đan xen những cảm nhận rất riêng, rất thật, rất đặc biệt dưới con mắt của nhà văn. Tôi đã đọc lại cuốn sách rất nhiều lần, tôi không nhớ chính xác mình đã đọc nó bao nhiêu lần khi tôi được tặng nữa. Nó thực sự hay. Cũng như những câu chuyện trước của Dương Thụy, các nhân vật trong câu chuyện này cũng có những chức vụ, địa vị khá cao trong xã hội. Ở hiện tại, An là một nhân viên của công ty dược phẩm nổi tiếng, đi đây đi đó khắp nơi như cơm bữa. Ngoài ra, sự xuất hiện của hai chàng trai là John – một doanh nhân ấm áp và lịch lãm, tự tay xây dựng doanh nghiệp của riêng mình và Bình – mối tình đầu ngây thơ của An, anh làm ở Apple với một vị trí mà “không có người để cho phép anh nghỉ” – một vị trí khá cao theo suy nghĩ của tôi, cả hai chàng trai đều đã để lại trong tôi những cảm xúc khó có thể diễn tả xuyên suốt câu chuyện. Trong chuyến đi công tác của mình, An tình cờ quen biết với chàng trai độc thân tên John trên máy bay, giữa họ nảy sinh những rung động sau vài lần gặp gỡ ở Chicago, nhưng khi nhận ra những rung động đó, An bắt đầu băn khoăn, cô chưa sẵn sàng cho một tình yêu mới. Trong quá khứ, An là một cô nữ sinh khiến biết bao thằng con trai trong xóm “thèm” với vẻ ngoài non trẻ của thiếu nữ 18 của mình, nhưng người duy nhất cô trao tình cảm là Bình – mối tình đầu của cô. Cái cảm giác nóng rẫy khi ngồi sau chiếc xe Dream của Bình trước khi anh xuất ngoại đó mãi là phút giây ngất ngây nhất đã làm cô không thể quên trong suốt những ngày tháng sau này. Duyên số đưa đẩy, An và Bình gặp lại nhau vào mùa thu Paris với những cơn gió rét ngọn, tình cảm giữa họ năm ấy vẫn còn đó, những lần cùng nhau học tiếng pháp, thu âm những bài hát tiếng pháp lãng mạn như vừa mới xảy ra. Bình gắn với tuổi thơ của An, gắn với những hồi ức về một thời khốn khó nhưng luôn tràn ngập niềm vui. Bình là Sài Gòn trong An, và quan trọng nhất, Bình là…mối tình đầu. Mối tình đầu chỉ khiến ta thôi nhớ, chứ chẳng thể nào khiến ta mãi mãi quên. An cũng vậy. Sau một khoảng thời gian quá dài, tưởng chừng như bóng hình Bình đã phai mờ trong kí ức cô, nhưng không, anh vẫn luôn ở đấy, ở một góc sâu thẳm trong trái tim của cô gái Sài Gòn. Thật may khi cả hai đều vì những bấp bênh của cuộc sống mà chưa kết hôn. Kết thúc câu chuyện, giữa một chàng trai người Mỹ lịch lãm vừa quen như John và mối tình đầu không thể quên là Bình, An buộc phải đưa ra chọn lựa cho chính mình. Và cô đã chọn Bình. Truyện không chỉ nói về tình yêu, mà còn về những con người xóm Tân Định, cuộc sống thời bao cấp, chị Hương qua đèo, các anh “cu”, và “non-cu”,… Tôi chỉ tiếc rằng mình không sinh ra ở thời ấy để có thể cảm nhận hết những gì Dương Thụy đã viết. Nhưng khi đọc nó và nghiền ngẫm, tôi vẫn có thể tưởng tượng ra một rạp phim tồi tàn cũ kỹ mang cái tên Văn Hoa đầy ắp những kỷ niệm đẹp giữa các nhân vật, có thể tưởng tượng ra một xóm nghèo như vô số những xóm nghèo bây giờ nhưng đầy ắp tình người. Thế nhưng tôi không làm sao hiểu cảm giác bị rệp cắn là thế nào, cũng không làm sao hiểu những thái độ kỳ thị nhau chỉ vì chế độ chính trị ở thời xưa. Với lối viết văn nhẹ nhàng mà giản dị, Dương Thụy đã xây dựng tính cách nhân vật nữ chính mà tôi thực sự yêu thích. Thông qua câu chuyện của nhân vật chính, nó cho ta bài học về tự đối mặt với chính bản thân mình, đối mặt với những cảm xúc sâu thẳm nhất trong tâm hồn chúng ta để có thể đưa ra sự lựa chọn không phải đúng đắn nhất mà là khiến chúng ta hạnh phúc, vui vẻ nhất một cách thực sự từ trong trái tim. Và tôi cũng đã thực sự bị quyến rũ bởi những bức tranh được vẽ ra về những chuyến bay, những khung cảnh lãng mạn của Paris, Chicago… và đặc biệt là khung cảnh Sài Gòn của mấy mươi năm trước bồng bềnh hiện ra, xen giữa câu chuyện tình nóng bỏng. Thế nhưng có lẽ vì câu chuyện theo mô típ cũ trong những cuốn sách trước đây mà tôi từng đọc của Dương Thụy nên với tôi, nó vẫn chưa thực sự đặc sắc, cùng với những sự khó hiểu trong một vài chi tiết của câu chuyện mà cô ấy đã viết, nếu có sự sáng tạo hơn nữa trong cách sáng tác thì cuốn sách này của Dương Thụy sẽ được tôi đánh giá cao hơn. Tuy nhiên với tôi, nó vẫn là cuốn sách mà tôi thực sự yêu thích. Và tôi nghĩ rằng bạn cũng sẽ cảm nhận được như thế khi bạn đọc được nó. Hãy đọc và cùng tôi cảm nhận. Mời các bạn đón đọc Chờ Em Đến San Francisco của tác giả Dương Thụy.